1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn

93 433 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 707,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hay nói một cách khác rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG ÁI QUYÊN

QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN SÀI GÒN

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS – TS TRƯƠNG QUANG THÔNG

TP Hồ Chí Minh, năm 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan bản luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện dựa trên khảo sát thực tế Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, bộ số liệu điều tra do chính tác giả thực hiện, chưa từng được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây Các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ theo hướng dẫn trong phạm vi hiểu biết của tác giả Các kết quả nghiên cứu của đề tài chưa được sử dụng cho mục đích khác

Học viên

Nguyễn Hoàng Ái Quyên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU – BIỂU ĐỒ – PHỤ LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1  

CHƯƠNG 1: QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3  

1.1.  Tổng quan về thanh khoản: 3 

1.2.1.  Thanh khoản: 3 

1.2.2.  Rủi ro thanh khoản: 3 

1.2.3.  Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 5 

1.2.4.  Cung và cầu về thanh khoản 5 

1.2.5.  Đánh giá trạng thái thanh khoản 6 

1.2.  Tổng quan về quản trị rủi ro thanh khoản 7 

1.2.1.  Nhận dạng và phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản 8 

1.2.1.1.  Nhận dạng rủi ro thanh khoản 8 

1.2.1.2.  Phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản 10 

1.2.2.  Đo lường rủi ro thanh khoản 10 

1.2.2.1.  Phương pháp tiếp cận nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản 11  1.2.2.2.  Phương pháp cung cầu thanh khoản 11 

1.2.2.3.  Phương pháp chỉ số thanh khoản 13 

1.2.2.4.  Một số phương pháp đo lường khác 14 

1.2.3.  Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro thanh khoản 14 

Trang 4

1.2.4.  Tài trợ rủi ro thanh khoản 17 

1.3.  Kinh nghiệm quản trị rủi ro thanh khoản của một số ngân hàng trên thế giới và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam 17 

1.3.1.  Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số ngân hàng trên thế giới 17 

1.3.1.1.  Kinh nghiệm QTRRTK của Ngân hàng Thương mại cổ phần SMBC Nhật Bản 18 

1.3.1.2.  Rủi ro thanh khoản tại Northern Rock năm 2007 19 

1.3.2.  Bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam 20 

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 23  

2.1.  Giới thiệu về SCB 23 

2.1.1.  Lịch sử hình thành và phát triển 23 

2.1.2.  Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại SCB 24 

2.2.  Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của SCB 27 

2.2.1.  Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn của NHNN 27 

2.2.2.  Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn trước và sau hợp nhất 30 

2.2.2.1.  Nhận diện và phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản 30 

2.2.2.2.  Đo lường rủi ro thanh khoản 31 

−  Chỉ số trạng thái tiền mặt (H3) 31 

−  Chỉ số năng lực cho vay (H4) 33 

−  Chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng (H5) 34 

−  Chỉ số chứng khoán thanh khoản (H6) 36 

Trang 5

−  Chỉ số trạng thái ròng đối với các tổ chức tín dụng (H7) 37 

−  Chỉ số (tiền mặt + tiền gửi tại các tổ chức tín dụng)/tiền gửi khách hàng (H8) 39 

2.2.2.3.  Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro thanh khoản 40 

2.2.2.4.  Tài trợ rủi ro thanh khoản 41 

2.3.  Đánh giá chung về hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của SCB qua các năm (2008-2012) 42 

2.3.1.  Những thành tựu 42 

2.3.2.  Những tồn tại 51 

2.3.3.  Nguyên nhân những tồn tại 52 

2.3.3.1.  Nguyên nhân khách quan: 52 

2.3.3.2.  Nguyên nhân chủ quan: 53 

2.4.  Kế hoạch dự phòng thanh khoản của SCB 2013 54 

2.4.1.  Công tác dự phòng thanh khoản chung 55 

2.4.2.  Công tác dự phòng thanh khoản cụ thể 55 

2.4.3.  Kế hoạch thực hiện khi có khủng hoảng thanh khoản xảy ra 58 

2.4.4.  Điều chỉnh kế hoạch dự phòng thanh khoản khi khủng hoảng được giải quyết 61 

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 63  

3.1.  Định hướng phát triển của SCB trong lộ trình đến năm 2020 63 

3.2.  Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản của SCB 64 

3.2.1.  Giải pháp về hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản 64 

3.2.2.  Giải pháp về tăng cường khả năng thanh khoản 65 

3.2.3.  Các giải pháp hỗ trợ trong công tác đo lường rủi ro thanh khoản 69 

Trang 6

3.2.4.  Các giải pháp hỗ trợ kiểm soát và phòng ngừa rủi ro thanh khoản

71 

3.2.5.  Các giải pháp về tài trợ rủi ro thanh khoản 72 

3.2.6.  Các giải pháp hỗ trợ khác 73

3.3 Một số kiến nghị nhằm cải thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn 75

KẾT LUẬN 80  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81  

PHỤ LỤC 83  

Các nguyên tắc đánh giá công tác quản lý khả năng thanh khoản của các ngân hàng (Basel) 83  

Trang 7

FCB : Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTW : Ngân hàng Trung ương

QTRR : Quản trị rủi ro

QTRRTK : Quản trị rủi ro thanh khoản

SCB : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

TNB : Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa TCTD : Tổ chức tín dụng

TT1 : Thị trường 1

TT2 : Thị trường 2

Trang 8

Bảng 2.1: Bảng tính chỉ số H3 của SCB qua các năm 31  

Bảng 2.2: Bảng tính chỉ số H4 của SCB qua các năm 33  

Bảng 2.3: Bảng tính chỉ số H5 của SCB qua các năm 35  

Bảng 2.4: Bảng tính chỉ số H6 của SCB qua các năm 36  

Bảng 2.5: Bảng tính chỉ số H7 của SCB qua các năm 37  

Bảng 2.6: Bảng tính chỉ số H8 của SCB qua các năm 39  

Bảng 2.7: Tổng hợp một số chỉ tiêu thể hiện mức độ an toàn vốn của SCB 42  

Bảng 2.8: Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính chủ yếu năm 2012 43  

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu tài chính trong đề án hợp nhất của SCB 64  

Bảng 3.2: Ví dụ về các cấp độ cảnh báo thanh khoản 70  

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Chỉ số H3 của SCB qua các năm 32  

Biểu đồ 2.2: Chỉ số H4 của SCB qua các năm 34  

Biểu đồ 2.3: Chỉ số H5 của SCB qua các năm 35  

Biểu đồ 2.5: Chỉ số H7 của SCB qua các năm 38  

Biểu đồ 2.6: Chỉ số H8 của SCB qua các năm 39  

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của SCB 45  

Biểu đồ 2.8: Cơ cấu huy động TT1 theo kỳ hạn của SCB 46  

Biểu đồ 2.9: Cơ cấu huy động TT1 theo loại tiền của SCB 47  

Biểu đồ 2.10: Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn của SCB 49  

Biểu đồ 2.11: Cơ cấu cho vay theo nhóm nợ của SCB 50  

PHỤ LỤC Các nguyên tắc đánh giá công tác quản lý khả năng thanh khoản của các ngân hàng (Basel) 83  

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tỷ lệ cho vay/huy động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam nói chung luôn ở mức trên 90% Chưa bao giờ vấn

đề nợ xấu và rủi ro thanh khoản lại thu hút sự quan tâm của các ngân hàng, các nhà đầu

tư và những nhà quản lý điều hành vĩ mô như hiện nay Sau một thời gian hệ thống ngân hàng tăng trưởng nóng về mặt số lượng, mạng lưới hoạt động, đa dạng về hình thức sở hữu, phong phú về loại hình dịch vụ, thì nổi bật một vấn đề là khi phát triển các ngân hàng chỉ tập trung vào số lượng nhưng chất lượng lại bị bỏ quên hoặc cố tình bỏ qua để chạy theo mục tiêu lợi nhuận, giành giật thị phần vốn đã hạn hẹp Hậu quả có thể thấy trong giai đoạn từ 2008 đến nay mà đỉnh điểm là 2011 đã bộc lộ những yếu kém như nợ xấu tăng lên, tính thanh khoản kém, chỉ số tín nhiệm ngân hàng giảm sút…

Điều này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn tác động đến thị trường tiền tệ và toàn bộ nền kinh tế nói chung Đứng trước những vấn đề đó, các ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình Do đó, hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Ngân hàng

có đáp ứng được thanh khoản thì mới có thể đầu tư có hiệu quả nhằm tối đa hoá lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro và tránh được nguy cơ phá sản Trên cơ sở đó, tôi chọn đề tài:

“Quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Sài Gòn” để đánh giá khả

năng chuyển hóa thành tiền của SCB trước và sau hợp nhất; làm rõ những nguyên nhân khiến ngân hàng gặp vấn đề về thanh khoản và đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm giúp SCB làm tốt hơn công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong điều kiện hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 10

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại Trên cơ sở phân tích các chỉ số đo lường tính thanh khoản của SCB qua các năm, luận văn đánh giá về hoạt động công tác quản trị rủi ro thanh khoản, sau đó rút ra những thành tựu và tồn tại Đồng thời cũng đề xuất giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp mô tả - giải thích, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp các số liệu qua các năm (2008-2012)

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn trước và sau hợp nhất trong thời gian từ 2008 đến 2012

5 Nội dung nghiên cứu

Nội dung đề tài được cơ cấu thành 3 chương:

Chương 1: Quản trị rủi ro thanh khoản tại các Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Trang 11

CHƯƠNG 1: QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về thanh khoản:

1.2.2 Rủi ro thanh khoản:

Rủi ro thanh khoản xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng các yêu cầu của các hợp đồng thanh toán Hay nói một cách khác rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt

Sự mất cân đối giữa tài sản nợ (Tài sản nợ của ngân hàng gồm: nguồn vốn huy động được, vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác) và tài sản có (Tài sản có của ngân hàng gồm: tiền mặt, nguồn tín dụng, tiền gửi ở các ngân hàng khác, đầu tư, chứng khoán và các tài sản khác) là trạng thái chênh lệch, không cân đối giữa nguồn vốn huy động được và cho vay trên thị trường, giữa dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn, giữa nguồn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn Việc cơ cấu tài sản

nợ và tài sản có phù hợp nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra là việc hết sức quan trọng để quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Nếu các ngân

Trang 12

hàng thương mại để xảy ra trạng thái mất cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có thì ngân hàng sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản

Dựa theo nguồn gốc dẫn tới rủi ro thanh khoản ngân hàng, có thể chia rủi ro thanh khoản thành ba nhóm sau:

- Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản nợ có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi người

gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn Với một lượng tiền gửi được yêu cầu rút ra lớn và đột ngột buộc Ngân hàng phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ và huy động vốn đột xuất với chi phí vượt trội, hoặc bán bớt tài sản với giá thấp hơn thị trường để chuyển hóa thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả

- Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có chủ yếu phát sinh liên quan đến việc thực

hiện cam kết tín dụng, cho vay Khi nhu cầu vay tiền của khách hàng tăng, nếu ngân hàng không đảm bảo đủ tiền ngay lập tức thì uy tín ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng và có nguy cơ đối mặt với mất khả năng thanh khoản

- Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng có thể phát sinh khi các nghĩa vụ

thanh toán bất thường xảy ra như cam kết bảo lãnh, các hợp đồng kỳ hạn - hoán đổi - quyền chọn đến hạn Sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh sẽ khiến cho rủi ro thanh khoản của ngân hàng cũng ngày càng gia tăng

Dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang có vấn đề về thanh khoản

- Lãi suất huy động vốn của các ngân hàng có những diễn biến bất thường: Lãi

suất huy động các kỳ hạn ngắn lại cao hơn lãi suất huy động các kỳ hạn dài, các ngân hàng chỉ tập trung huy động vốn ngắn hạn Hiện tượng này phản ánh việc

hệ thống ngân hàng đang thiếu thanh khoản, mục đích huy động vốn lúc này chủ yếu là nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản chứ không phải vì mục tiêu sinh lời

- Lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng tăng lên nhanh chóng: Có những

thời điểm lãi suất vay qua đêm rất cao, những cũng không có ngân hàng nào cho

Trang 13

vay Nguyên nhân chính là do tình hình huy động vốn từ dân cư và doanh nghiệp không thuận lợi buộc ngân hàng phải chấp nhận vay với lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng để giải quyết nhu cầu thanh khoản trước mắt

1.2.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

Thanh khoản có vấn đề của một ngân hàng có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

Một là, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân

và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn Cho nên, đã xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn

Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi

có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, những xu hướng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán

để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ

Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả

1.2.4 Cung và cầu về thanh khoản

Yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét bằng mô hình cung - cầu về thanh khoản

- Cung về thanh khoản:

Trang 14

Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:

+ Các khoản tiền gửi đang đến

+ Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi

+ Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp

+ Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng

+ Vay mượn trên thị trường tiền tệ

- Cầu về thanh khoản:

Cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của

ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm:

+ Khách hàng rút tiền từ tài khoản

+ Yêu cầu vay vốn từ những khách hàng có chất lượng tín dụng cao

+ Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi

+ Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ

+ Thanh toán cổ tức bằng tiền

1.2.5 Đánh giá trạng thái thanh khoản

Trạng thái thanh khoản ròng NPL (net liquidity position) của một ngân hàng được xác định như sau:

NPL = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản

Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây:

Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NPL>0),

ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần được sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai

Trang 15

Thừa thanh khoản là một trạng thái mất căn bằng của các ngân hàng thương mại, xảy ra khi kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay

Thanh khoản thừa thường được ngân hàng sử dụng như sau:

- Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó

- Cho vay trên thị trường tiền tệ

- Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng khác…

Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản (NPL<0),

ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản Khi ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, của nền kinh tế… có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối Điều này dẫn đến dễ mất các cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, thậm chí có khả năng mất khách hàng khi họ phải đến ngân hàng khác để đáp ứng kịp thời các món vay Khi mất khách hàng vay sẽ dẫn đến mất khách hàng tiền gửi, vì khi ngân hàng thiếu vốn sẽ làm giảm lòng tin của người gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng kém đi

Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất Ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp sau để xử lý khi thiếu hụt thanh khoản:

- Sử dụng dự trữ bắt buộc dư ra (nếu có)

- Bán dự trữ thứ cấp

- Vay qua đêm, tái chiết khấu tại ngân hàng Nhà nước

- Huy động từ thị trường tiền tệ: phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn…

Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản

NPL=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế

1.2 Tổng quan về quản trị rủi ro thanh khoản

Trang 16

Quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn

Bản chất của công tác quản trị thanh khoản trong ngân hàng có thể đúc kết ở hai nội dung sau:

- Tại một thời điểm, hiếm khi tổng cung bằng với tổng cầu thanh khoản, do đó vấn đề thiếu hụt hoặc thặng dư thanh khoản thường xuyên xảy ra

- Thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch nhau: một tài sản

có tính thanh khoản cao thì khả năng sinh lời càng thấp và ngược lại; một nguồn vốn có tính thanh khoản cao thường có chi phí huy động lớn

Nội dung cơ bản của quản trị rủi ro thanh khoản

1.2.1 Nhận dạng và phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản

1.2.1.1 Nhận dạng rủi ro thanh khoản Điều kiện tiên quyết để QTRR là phải nhận dạng được rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm: Việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng rủi ro phù hợp

Không một ngân hàng nào có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng dự trữ thanh khoản của họ là hợp lý và đủ để không bị rơi vào tình trạng RRTK nếu chưa vượt qua những thử thách của thị trường Những thử thách này được biểu hiện qua những dấu hiệu nhận dạng sau:

Lòng tin của công chúng: Sự tin tưởng của công chúng là một trong những dấu

hiệu quan trọng để đánh giá khả năng thanh khoản của một ngân hàng tốt hay xấu Nếu công tác QTRRTK của ngân hàng yếu kém, không duy trì đủ lượng tiền mặt hoặc không có khả năng hoàn trả các khoản tiền mà khách hàng yêu cầu ngay lập tức thì điều này sẽ xói mòn lòng tin của công chúng vào ngân hàng Do vậy, ngân hàng sẽ mất

Trang 17

dần những khách hàng là người gửi tiền Ngược lại, nếu một ngân hàng có được sự tin tưởng của người gửi tiền thì điều này có nghĩa rằng khách hàng đã đặt niềm tin vào khả năng hoàn trả cả gốc và lãi của ngân hàng hay đồng thời với việc ngân hàng đó thừa nhận là có khả năng thanh khoản cao

Sự biến động giá cổ phiếu của ngân hàng: Khi giá cổ phiếu của ngân hàng có

xu hướng giảm, chứng tỏ tính hấp dẫn của chúng đối với nhà đầu tư đã giảm đi, ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người gửi tiền Người dân có xu hướng rút tiền khỏi ngân hàng để gửi tiền sang ngân hàng khác hoặc đầu tư vào những kênh có lợi nhuận cao hơn, trong khi đó các khoản cho vay đến hạn thanh toán không được thanh toán hoặc không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản, dẫn đến cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản khiến cho ngân hàng rơi vào tình trạng RRTK Ngược lại, giá cổ phiếu hoặc tăng hoặc giữ nguyên được thì sẽ củng cố lòng tin và tâm lý nơi công chúng vào khả năng thanh toán của ngân hàng

Áp dụng mức lãi suất huy động cao hơn thị trường: Tại sao một ngân hàng lại

chấp nhận áp dụng mức lãi suất huy động tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và chấp nhận mức lãi suất đi vay cao hơn mức lãi suất trên thị trường một cách bất thường hoặc phải

đi vay với điều kiện về tài sản đảm bảo chặt chẽ hơn? Nếu xảy ra tình trạng như vậy thì chứng tỏ một dấu hiệu là ngân hàng đang gặp khó khăn thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình

Lỗ từ việc bán tài sản: Khi ngân hàng bán tài sản một cách vội vã và sẵn sàng

chịu lỗ lớn chứng tỏ ngân hàng đang gặp phải một vấn đề nào đó trong vấn đề thanh khoản Bán tài sản có nghĩa là ngân hàng sẽ phải chấp nhận mất đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tương lai cũng như các chi phí giao dịch trả cho người môi giới liên quan đến việc bán tài sản

Thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là một

trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTM vì hoạt động này tạo nhiều lợi nhuận nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển Do đó, khi ngân hàng không đáp

Trang 18

ứng đầy đủ và kịp thời các cam kết tín dụng thì chứng tỏ ngân hàng đang thiếu nguồn cung thanh khoản

Thường xuyên vay vốn từ ngân hàng trung ương (NHTW): NHTW giữ vai trò

là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM Cho nên, khi một ngân hàng có dấu hiệu buộc phải đi vay NHTW với khối lượng lớn và thường xuyên thì ngân hàng đó cần phải xem xét lại chính sách quản lý thanh khoản của mình để lấy lại niềm tin của công chúng

Nếu như xuất hiện bất cứ một dấu hiệu thị trường nào nêu trên đây mà không có các biện pháp củng cố khả năng thanh khoản kịp thời thì nguy cơ ngân hàng đó rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản là không nhỏ Các nhà quản trị ngân hàng cần phải tập trung xem xét lại một cách các chính sách và thực tiến công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng để giải quyết xem những thay đổi gì cần phải thực hiện để cải thiện khả năng thanh khoản và lấy lại niềm tin nơi công chúng

1.2.1.2 Phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản Muốn phân tích, phòng ngừa, hạn chế hay tài trợ rủi ro, nhà quản trị sau khi nhận diện được rủi ro, phải tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản của ngân hàng, xác định đó là nguyên nhân khách quan hay chủ quan Từ đó, nhà quản trị

có thể đề ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro

1.2.2 Đo lường rủi ro thanh khoản

Theo Peter Rose, tác giả cuốn Commercial Banking Management, trong những

năm gần đây, một số phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản đã được phát triển bao gồm: Phương pháp tiếp cận nguồn và sử dụng thanh khoản; phương pháp cung cầu thanh khoản; phương pháp chỉ số thanh khoản và một số phương pháp khác Mỗi phương pháp nêu trên đều được xây dựng dựa trên một số giả định là ngân hàng chỉ có thể ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định Đó chính là lý do vì sao nhà quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản mỗi khi ngân hàng nhận được thông tin mới

Trang 19

1.2.2.1 Phương pháp tiếp cận nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản

Phương pháp này dựa trên một thực tế là: Khả năng thanh khoản của ngân hàng tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm Ngược lại, nó giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng

Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, NHTM đều phải đối mặt với khe hở thanh khoản Các bước chính trong phương pháp

này gồm:

• Bước 1: Ước lượng nhu cầu vay vốn và lượng tiền gửi trong giai đoạn ngân

hàng ước tính trạng thái thanh khoản (giai đoạn kế hoạch)

• Bước 2: Tính toán những thay đổi dự tính về cho vay và tiền gửi trong giai đoạn

kế hoạch

• Bước 3: Ước lượng trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng bằng cách so sánh mức độ thay đổi dự tính trong cho vay và mức thay đổi dự tính trong tiền gửi Một công cụ hữu ích là lập bản báo cáo thanh khoản ròng, ghi chép thống kê tất cả luồng tiền phản ánh nguồn tạo nên thanh khoản và số tiền ngân hàng đã thực sự sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản

1.2.2.2 Phương pháp cung cầu thanh khoản Một cách tổng quát, thanh khoản ngân hàng có thể phân tích trong khuôn khổ cung thanh khoản (LS- Liquidity Supply) và cầu thanh khoản (LD – Liquidity Demand)

LS bao gồm: Tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD khác, thu nhận tiền gửi từ khách hàng, khách hàng tín dụng hoàn trả các khoản gốc và lãi, bán các TSC của NHTM, vay từ thị trường liên ngân hàng, thu từ các khoản nợ phải thu khác

Trang 20

LD bao gồm: Hoàn trả tiền gửi cho khách hàng, giải ngân các khoản tín dụng cho khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chuyển tiền thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, chi các khoản chi phí hoạt động, chi trả các khoản nộp Ngân sách Nhà nước (Thuế, phí, lệ phí…), trả cổ tức (NHTM cổ phần), chi trả các khoản nợ khác

Trạng thái thanh khoản ròng (NLP –Net Liquidity Position) hay còn gọi là khe

hở thanh khoản của NHTM được tính bằng:

NPL = Cung thanh khoản – cầu thanh khoản

Nếu NLP>0 thì có nghĩa tổng cung lớn hơn tổng cầu thanh khoản và được gọi là

thặng dư thanh khoản Nếu NHTM ở trạng thái thặng dư thanh khoản thì nhà quản lý

cần quyết định xem khi nào và vào đâu để đầu tư sinh lãi khoản tiền thặng dư

Nếu NLP<0 thì có nghĩa tổng cung nhỏ hơn tổng cầu thanh khoản và được gọi

là thâm hụt thanh khoản Nếu ngân hàng có trạng thái thâm hụt thanh khoản, nhà quản

trị cần quyết định khi nào và ở đâu có thể tăng được nguồn cung thanh khoản bổ sung (chú ý là cầu thanh khoản độc lập tương đối với ý chí của NHTM nên NHTM không thể muốn giảm là có thể giảm được)

Thực chất, vấn đề QTRRTK của ngân hàng có thể khái quát trong hai ý cơ bản sau:

- Hiếm khi cung thanh khoản và cầu thanh khoản lại bằng nhau tại bất cứ thời điểm nào Điều này hàm ý, NHTM phải thường xuyên liên tục xử lý các trạng thái

“thâm hụt thanh khoản” hay “thặng dư thanh khoản”

- Giải quyết vấn đề thanh khoản chứa đựng sự đánh đổi giữa “thanh khoản” và

“khả năng sinh lời” của NHTM Các nhân tố khác không đổi, dự trữ càng nhiều tài sản

có tính lỏng cao để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng thấp

Trang 21

1.2.2.3 Phương pháp chỉ số thanh khoản Việc sử dụng các chỉ số tài chính cũng là một cách để ước tính yêu cầu thanh khoản dựa trên kinh nghiệm và mức bình quân ngành Mỗi chỉ số thể hiện một khía cạnh về năng lực thanh khoản của ngân hàng:

Tiền mặt + tiền gửi tại các TCTD khác

• Chỉ số trạng thái tiền mặt= x 100%

Tổng tài sản

Về mặt lý thuyết, chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh toán tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này trên thực tế quá cao thì sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống bởi vì các tài sản tiền mặt hoặc tương đương tiền thường ít đem lại lợi tức cao cho ngân hàng

Chứng khoán thanh khoản

• Chỉ số chứng khoán thanh khoản = x100%

Tổng tài sản

Các chứng khoán thanh khoản (CKTK) trên bảng cân đối tài sản bao gồm các chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán Nếu chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản càng lớn thì rủi ro thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt càng giảm

• Chi số năng lực cho vay =(Dư nợ/ tổng tài sản) x100%

Vì tín dụng và cho thuê tài chính được xem là những tài sản ít thanh khoản nhất,

do đó nếu chỉ tiêu “năng lực cho vay” càng lớn thì ngân hàng càng bộc lộ là kém thanh khoản tuy nhiên lại đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng

• Chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng: Chỉ tiêu này thể hiện việc ngân hàng đã sử dụng

bao nhiêu phần trăm tiền gửi khách hàng để cung ứng tín dụng Chỉ tiêu này càng thấp thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao và ngược lại

Lưu ý rằng, để nhận định đúng về trạng thái thanh khoản của một ngân hàng bằng phương pháp chỉ số thanh khoản, thì mỗi chỉ số nêu trên đều cần phải được so

Trang 22

sánh với giá trị trung bình của các chỉ số này tại các ngân hàng tương đương trong

cùng khu vực, hoạt động trong môi trường tương tự

1.2.2.4 Một số phương pháp đo lường khác: Bao gồm: Phương pháp khe hở tài trợ, phương pháp cấu trúc nguồn vốn, phương pháp nấc thang đến hạn

1.2.3 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro thanh khoản

Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro là trọng tâm của QTRR Đó chính là việc sử dụng các biện pháp, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mong muốn có thể xảy ra đối với ngân hàng Thông thường, để phòng ngừa RRTK, NHTM sẽ dự trữ một lượng thanh khoản hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM Qua nhiều năm, các nhà quản lý ngân hàng đã phát triển một số chiến lược nhằm giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng: Chiến lược quản lý TSC, chiến lược quản lý TSN và chiến lược quản lý phối hợp

1.2.3.1 Phương pháp quản lý TSC

Ở hình thức đơn giản nhất, chiến lược này kêu gọi ngân hàng tích lũy thanh

khoản bằng cách nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán Khi xuất hiện cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ bán một số tài sản tới khi đáp ứng đủ yêu cầu Những tài sản có tính thanh khoản cao nhất của ngân hàng thường là tiền mặt, tiền gửi tại các TCTD khác, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu kho

bạc…

Chiến lược này được các ngân hàng áp dụng vì nó mang lại ít rủi ro Nhưng nó lại không phải là chiến lược QTRRTK có chi phí thấp Vì bán tài sản có nghĩa là ngân hàng chấp nhận mất đi những lợi nhuận mà tài sản đó tạo ra, bên cạnh đó việc bán tài sản sẽ còn liên quan đến chi phí giao dịch cho người môi giới Không những vậy, thường thì để tối thiểu hóa chi phí cơ hội cho việc không nhận được thu nhập từ tài sản,

Trang 23

ngân hàng trước hết phải bán hết những tài sản có mức thu nhập tiềm năng thấp nhất Tuy nhiên việc bán tài sản để tăng cường thanh khoản sẽ làm hình ảnh của ngân hàng yếu đi thể hiện qua bảng cân đối tài sản Bởi tài sản bán đi thường là các chứng khoán

ít rủi ro của Chính phủ, cái thường tạo cho công chúng lòng tin rằng ngân hàng lành mạnh về mặt tài chính

1.2.3.2 Chiến lược quản lý TSN Chiến lược quản lý TSN là chiến lược mà ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản phát sinh bằng cách vay những nguồn vốn khả dụng tức thời trên thị trường tiền

tệ Vay thanh khoản có nhiều lợi thế:

Thứ nhất, ngân hàng có thể lựa chọn vay khi thực sự cần vốn Khác với chiến lược trên là ngân hàng luôn phải dự trữ một số tài sản thanh khoản cao tại bất cứ thời điểm nào làm giảm thu nhập tiềm năng

Thứ hai, biện pháp quản lý TSN không làm thay đổi quy mô bảng cân đối tài sản và kết cấu TSC, nhưng làm thay đổi kết cấu TSN Hay nói cách khác, mọi điều chỉnh của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản chỉ diễn ra bên TSN Điều này gợi ý rằng, nếu ngân hàng quản lý TSN một cách hiệu quả, thì chiến lược kinh doanh bên TSC sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự rút tiền gửi quá mức thông thường

Cuối cùng là, quản lý TSN có khả năng tự điều chỉnh theo chi phí – mức lãi suất đưa ra để vay vốn Nếu NHTM đi vay cần thêm vốn, nó chỉ cần nâng lãi suất huy động cho tới khi nhận đủ vốn NHTM cũng có thể giảm lãi suất nhằm hạn chế dòng vốn đổ vào

Đây là một trong những lý do giải thích tại sao kỹ thuật quản lý TSN lại phát triển nhanh và nhiều như hiện nay Tuy nhiên, vay thanh khoản cũng tiềm ẩn một số rủi

ro nhất định, ví dụ nếu lãi suất ngân hàng tăng đột ngột, khi đó phương pháp này tỏ ra kém hiệu quả bởi chi phí đi vay cũng đồng nghĩa sẽ tăng cao Thông thường khi đi vay, ngân hàng phải mua thanh khoản trong điều kiện khó khăn – cả về giá cả và tính sẵn

Trang 24

có Chi phí vay vốn của ngân hàng thường khó xác định chắc chắn, làm giảm tính ổn định của thu nhập Hơn nữa, những ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính thường có nhu cầu vay thanh khoản lớn nhất, người gửi tiền dần nhận thức được khó khăn của ngân hàng và bắt đầu thực hiện rút vốn Cùng lúc đó, các tổ chức tài chính khác cũng không muốn cho vay đối với ngân hàng vì sợ rủi ro

1.2.3.3 Chiến lược quản trị thanh khoản phối hợp

Do những nhược điểm nêu trên của mỗi phương pháp, hầu hết các ngân hàng

đã kết hợp sử dụng đồng thời cả chiến lược quản trị thanh khoản TSC và thanh khoản TSN để có thể phát huy tối đa mọi lợi thế và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra Theo chiến lược này, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản (chủ yếu là các giấy tờ có giá và tiền gửi tại các TCTD khác) trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được đáp ứng bằng cách vay vốn trên thị trường tiền tệ Những nhu cầu thanh khoản bất thường hoặc mang tính thời vụ thì sẽ được xử lý bằng việc vay vốn trên thị trường tiền tệ, còn những nhu cầu thanh khoản mang tính chu kỳ thì sẽ được xử lý bằng việc dự trữ các tài sản mang tính thanh

khoản cao

Vì rủi ro thanh khoản có mối liên hệ mật thiết với các loại rủi ro khác, cho nên, hiện nay, để thực hiện chiến lược quản trị thanh khoản phối hợp, hầu hết các NHTM áp dụng mô hình CAMELS trong QTRR nói chung và QTRRTK nói riêng

Theo bài nghiên cứu của các tác giả R.Alton Gilbert, Andrew P Meyer và Mark

D Vaughan về mô hình CAMELS trong quản trị rủi ro ngân hàng: Hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng An toàn được hiểu là khả năng của ngân hàng bù đắp được mọi chi phí

và thực hiện được các nghĩa vụ của mình và được đánh giá thông qua đánh giá mức độ

đủ vốn, chất lượng tín dụng và chất lượng quản lý Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là:

Trang 25

- C: Capital Adequacy (Mức độ an toàn vốn)

- A: Asset Quality (Chất lượng tài sản có)

- M: Management (Quản lý)

- E: Earnings (Lợi nhuận)

- L: Liquidity (Thanh khoản)

- S: Sensitivity to Market Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường)

Tuy nhiên, đây chỉ là một kênh phân tích, để có thể thu được kết quả đúng và hữu ích, cần kết hợp việc phân tích theo CAMELS với những đánh giá định tính khác của ngân hàng

1.2.4 Tài trợ rủi ro thanh khoản

Mặc dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra Khi đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: Tự khắc phục và chuyển giao rủi ro

- Tự khắc phục rủi ro: Là một số biện pháp như lập quỹ dự phòng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản, vay trên thị trường liên ngân hàng thông qua nghiệp vụ REPO, vay của NHTW

- Chuyển giao rủi ro: Để chuyển giao hoặc chia sẻ RRTK, ngân hàng sẽ ký kết những hợp đồng bảo hiểm tiền gửi (BHTG) với công ty BHTG những điều khoản đặc biệt

1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro thanh khoản của một số ngân hàng trên thế giới và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số ngân hàng trên thế giới

Cuộc khủng hoảng thị trường tài chính toàn cầu từ mùa hè năm 2007 một lần nữa lại làm nổi bật tầm quan trọng của việc QTRRTK tại các định chế tài chính ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển và các quốc gia có nền kinh tế mới nổi

Trang 26

1.3.1.1 Kinh nghiệm QTRRTK của Ngân hàng Thương mại cổ phần SMBC Nhật Bản

Ngân hàng thương mại cổ phần Sumitomo Mitsui (SMBC-Nhật Bản) thành lập năm 1919, không chỉ là một trong những NHTM hàng đầu của Nhật Bản, có uy tín, tiềm lực tài chính và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng tài chính tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương mà còn là một trong những ngân hàng hàng đầu trên thế giới

về quy mô và mức độ tín nhiệm SMBC đã thực hiện chiến lược QTRRTK tiêu biểu sau:

Thứ nhất, để QTRRTK, NHTW Nhật Bản đưa ra những yêu cầu đối với cơ cấu

TSC như một tỷ lệ tối ưu nhất đảm bảo sự ổn định, khả năng thanh khoản và khả năng chi trả của NHTM Theo quy định đó, SMBC luôn duy trì một lượng vốn cấp 1 và cấp

2 bằng 30% tổng tiền gửi

Thứ hai, SMBC thực hiện QTRRTK theo mô hình CAMELS bằng cách phối

hợp quản trị giữa vốn tự có, chất lượng TSC, quản lý, thu nhập, thanh khoản và độ nhảy cảm

Thứ ba, SMBC còn chủ động thiết lập Hội đồng quản lý TSN và TSC (ALCO)

nhằm nâng cao công tác QTRRTK thông qua chiến lược quản trị thanh khoản TSC và TSN Một số biện pháp nhằm QTRRK của SMBC như: Hợp nhất tài khoản: Hợp nhất các tài khoản vào một ngân hàng sẽ giúp đơn giản hoá việc giám sát và quản lý các khoản phải thu và phải trả, đồng thời giúp kịp thời huy động vốn Tập trung tiền mặt tự động: Tự động huy động tiền nhàn rỗi từ các tài khoản phụ vào một tài khoản chính Các giải pháp tối ưu hoá lãi suất: Gửi tiền nhàn rỗi vào tài khoản tiền gửi kỳ hạn để tối

đa hoá lợi nhuận

Thứ tư, SMBC còn thực hiện chiến lược quản trị phối hợp giữa TSC – TSN một

cách thống nhất và nhịp nhàng Với chiến lược quản trị TSC, SMBC đã luôn chủ động trong công tác phòng chống rủi ro thanh khoản ví dụ như luôn dự trữ một lượng thanh khoản dự phòng hợp lý, ký kết thực hiện các điều khoản với tổ chức bảo hiểm nhằm tài

Trang 27

trợ cho RRTK Bên cạnh đó, SMBC còn thực hiện chiến lược phát triển thị trường bán

lẻ nhằm tăng thu nhập và phân tán rủi ro, mở rộng chi nhánh khắp Châu Á, tăng vốn điều lệ để mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, xâm nhập thị trường mới và đa dạng hóa các nguồn vốn huy động từ dân cư trong và ngoài nước, từ thành thị đến địa phương…

1.3.1.2 Rủi ro thanh khoản tại Northern Rock năm 2007

RRTK xảy ra tại Ngân hàng Northern Rock năm 2007 vừa qua đã gây xôn xao lớn trong dư luận do đây là hiện tượng khách hàng ồ ạt rút tiền tại một ngân hàng Anh trong vòng 100 năm qua

Northern Rock thành lập năm 1997 tại Gorsforth, Newcastle upon Tyne, Anh Trái với dự đoán ban đầu đây chỉ là một ngân hàng nhỏ và sẽ sớm bị các ngân hàng khác thôn tính, Northern Rock vẫn hoạt động khá hiệu quả cho đến khi xảy ra khủng hoảng nghiêm trọng và bị chính phủ Anh quốc hữu hóa vào tháng 2/2008 Northern Rock là một trong số 5 ngân hàng dẫn đầu ở Anh trong kinh doanh dịch vụ cho vay cầm cố Các khoản cho vay cầm cố của Northern Rock trị giá 47 tỷ Bảng Anh, chiếm 40% tài sản của ngân hàng này

Cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn trên thị trường Mỹ mùa hè năm 2007 có ảnh hưởng đến cung thanh khoản của Northern Rock do ngân hàng này

có 150 triệu USD trong các khoản cho vay trên thị trường Mỹ Ngày 12/9/2007, Northern Rock đã đề nghị NHTW Anh cho vay 3 tỷ Bảng Anh vốn ngắn hạn để chi trả các nghĩa vụ tài chính đến hạn của mình Trước tình hình lợi nhuận dự kiến giảm, việc thanh toán trong ngắn hạn bị ảnh hưởng đã khiến báo chí đưa nhiều tin giật gân:

“Northern Rock đang thiếu tiền mặt trầm trọng”; “Northern Rock đang gánh chịu hậu quả do cho vay cầm cố tràn lan”; “Northern Rock bị ảnh hưởng nặng nề sau vụ khủng hoảng cho vay cầm cố dưới chuẩn của Mỹ”…

Ngày 14/9, ngày làm việc đầu tiên từ khi Northern Rock đề nghị NHTW Anh cho vay vốn, 1 tỷ Bảng Anh đã bị rút ra từ các tài khoản tiền gửi tại Northern Rock,

Trang 28

chiếm 5% tổng số dư tiền gửi tại Northern Rock, website của Northern Rock cũng bị quá tải vì quá nhiều khách hàng truy cập vào tài khoản của mình Ngày 17/09, giá cổ phiếu của Northern Rock giảm 45.5%, từ 483 pence xuống còn 263 pence Northern Rock sau đó đứng bên bờ phá sản và Bộ Tài chính Anh phải lên tiếng kêu gọi các tập đoàn hỗ trợ vực dậy, song không đại gia nào dám mạo hiểm trong bối cảnh khủng hoảng tín dụng như hiện nay Không còn lựa chọn nào khác, Chính phủ Anh đành quốc hữu hóa Northern Rock Đây là vụ quốc hữu hóa đầu tiên tại Anh trong vòng vài chục năm nay

Nguyên nhân đầu tiên và trực tiếp dẫn đến RRTK của Northern Rock chính là rủi ro tín dụng mà ngân hàng này phải đối mặt Theo tính toán thì Northern Rock không hề cho vay bừa bãi, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng này chỉ là 0.47%, bằng một nửa

so với các TCTD khác Nhưng việc Northern Rock có tham gia vào thị trường cho vay cầm cố dưới chuẩn của Mỹ đã khiến Northern Rock gặp khó khăn khi thị trường này bị khủng hoảng

Tuy nhiên, về mặt chủ quan, Northern Rock khá bị động và lúng túng trong việc đối phó với rủi ro Đây không phải là ngân hàng duy nhất cho vay cầm cố ở Anh, và cũng không phải là ngân hàng duy nhất chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng trên thị trường Mỹ Một kế hoạch kiểm soát rủi ro tốt hơn và hoạt động quảng bá tốt hơn, tránh

sự thổi phồng của báo chí có thể sẽ khiến Ngân hàng tránh được phá sản và bị quốc hữu hóa

1.3.2 Bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tế, trong lý luận và phương diện luật pháp, đến nay chưa có một mô hình nào về QTRRTK riêng cho một chi nhánh trực thuộc ngân hàng mẹ Tuy nhiên, việc quản lý thanh khoản ở ngân hàng các nước khác nhau có những nguyên tắc và cơ sở khoa học giống nhau Vì vậy, kinh nghiệm QTRRTK nói chung có thể nghiên cứu áp dụng cho việc tổ chức và quản lý thanh khoản trong các đơn vị trực thuộc của hệ thống

ngân hàng

Trang 29

Thứ nhất, các NHTM cần đo lường, phân tích và tính toán con số hợp lý về dự

trữ thanh khoản để vừa không dư thừa một lượng tiền mặt trong ngân quỹ, lại vừa có

thể đảm bảo được an toàn thanh khoản Điều kiện thanh khoản thường được đảm bảo không những bằng các khoản tín dụng ngắn hạn, có chất lượng mà còn bằng các khoản đầu tư vào giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền trên thị trường

Thứ hai, các NHTM cần phải tỉnh táo và chủ động trong nhận dạng và phòng ngừa RRTK Ban quản trị RRTK cần có các biện pháp nhằm phối hợp giữa quản lý

thanh khoản TSN và quản lý thanh khoản TSC để có thể tận dụng được giá trị của tiền mặt trong ngân quỹ vừa có thể đảm bảo huy động vốn trong trường hợp cầu thanh khoản tăng cao Trong đó, NHTM cần nhận thức rõ rủi ro nào cũng có thể ảnh hưởng đến an toàn thanh khoản của ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với tốc độ tăng trưởng tín dụng như mấy năm trở lại đây, các NHTM lại càng phải lưu tâm đến quản trị rủi ro thanh khoản

Thứ ba, áp dụng bài học kinh nghiệm quản trị của SMBC, các NHTM cần thực hiện chiến lược quản trị rủi ro theo mô hình CAMELS, từ đó có thể phối hợp các yếu tố

nhằm quản trị rủi ro thanh khoản một cách hiệu quả nhất

Thứ tư, các NHTM luôn phải nâng cao công tác dự báo kinh tế vĩ mô nhằm

chuẩn bị tinh thần cho những biến động thị trường tài chính tiền tệ, những biến động xảy ra một cách bất ngờ có thể ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động kinh doanh của ngân

hàng

Thứ năm, để giảm thiểu ảnh hưởng của RRTK nếu có, các NHTM cần có các biện pháp tài trợ cho RRTK ví dụ như ký kết các hợp đồng bảo hiểm tiền gửi, nâng cao

công tác quản trị RRTK trong toàn hệ thống nhằm nhận diện, đo lường và phân tích

chính xác mức độ rủi ro thanh khoản

Trang 30

Cuối cùng, NHTM cần có công tác quản trị thông tin minh bạch, tránh những

tin đồn thất thiệt xảy ra gây ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng và khủng hoảng lòng tin trong công chúng

Tóm lại, thanh khoản và QTRRTK là vấn đề thường xuyên, then chốt quyết định sự tồn tại của các ngân hàng Tùy vào phạm vi, quy mô hoạt động, năng lực quản

lý và môi trường kinh tế vĩ mô, nhà quản trị NHTM nên lựa chọn một chiến lược QTRRTK tốt nhất Các NHTM Việt Nam, nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả an toàn trong hoạt động thì không thể xem nhẹ vấn đề thanh khoản Trong thời gian qua, NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam đã gặp khó khăn nhất định Luận văn sẽ đề cập vấn đề này trong chương 2 Qua đó, một số kiến nghị sẽ được đưa ra nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QTRRTK trong hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản là vấn đề thường xuyên, then chốt quyết định đến sự tồn tại của các ngân hàng Về lý thuyết, có nhiều phương pháp quản trị rủi ro thanh khoản Tùy vào đặc điểm về phạm vi, quy mô hoạt động, năng lực quản

lý và môi trường kinh tế vĩ mô mà ngân hàng lựa chọn chiến lược, phương pháp quản trị thanh khoản tương ứng Các ngân hàng thương mại Việt Nam nếu mong muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả, an toàn trong hoạt động, nhất là trong điều kiện hội nhập hiện nay, vấn đề thanh khoản, quản trị rủi ro thanh khoản không thể xem nhẹ Trong thời gian qua, khi Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã gặp khó khăn nhất định

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN

Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank)

NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa tiền thân là NHTMCP Tân Việt được thành lập vào năm 1992, sau một lần đổi tên thành NHTMCP Thái Bình Dương vào năm 2006 Tính đến cuối tháng 9/2011, TinNghiaBank có vốn điều lệ đạt 3,399 tỷ đồng; tổng tài sản đạt 58,939 tỷ đồng Mạng lưới hoạt động gồm 83 điểm giao dịch từ Nam ra Bắc

Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank)

NHTMCP Đệ nhất được thành lập vào năm 1993 Tính đến 30/09/2011, Ficombank có vốn điều lệ đạt 3,000 tỷ đồng Đến cuối quý 3/2011 tổng tài sản đạt hơn 17,100 tỷ đồng Mạng lưới hoạt động gồm 26 điểm giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số thành phố lớn

Tóm tắt tiến trình thực hiện hợp nhất

Sáng ngày 06/12/2011, NHNN Việt Nam đã chính thức công bố tiến trình thực hiện hợp nhất ba NHTMCP Sài Gòn, Việt Nam Tín Nghĩa và Đệ Nhất, dưới sự hỗ trợ toàn diện từ NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Sáng ngày 15/12/2011, ba NHTMCP Sài Gòn, Việt Nam Tín Nghĩa và Đệ Nhất

đã tổ chức đại hội cổ đông bất thường thông qua các nội dung của kế hoạch hợp nhất,

tỷ lệ đồng ý đều lớn hơn 90%

Trang 32

Ngày 16/12/2011, Thống đốc NHNN có văn bản số 9666/NHNN-TTGSNH về việc chấp thuận nguyên tắc việc hợp nhất ba ngân hàng

Sáng ngày 23/12/2011, Đại hội đồng cổ đông của ngân hàng hợp nhất NHTMCP Sài Gòn được tổ chức và đã thông qua cơ cấu nhân sự, kế hoạch và định hướng phát triển trong thời gian tới Theo đó, ngân hàng hợp nhất kế thừa toàn bộ quyền hạn và trách nhiệm của ba ngân hàng hợp nhất

Ngày 26/12/2011, NHNN Việt Nam đã ra Quyết định số 2716/QĐ-NHNN chấp thuận việc hợp nhất ba ngân hàng thành NHTMCP Sài Gòn

Kể từ ngày 01/01/2012 NHTCMP Sài Gòn sau hợp nhất chính thức hoạt động theo Giấy phép số 238/GP-NHNN do NHNN Việt Nam cấp ngày 26/12/2012

2.1.2 Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại SCB

Để giảm thiểu rủi ro thanh khoản và hiệu ứng lây lan cho toàn hệ thống, SCB đã phối hợp kịp thời với NHNN, các NHTM để nhanh chóng xử lý nhu cầu thanh khoản Đồng thời công tác đảm bảo an toàn thanh khoản đã được chú trọng, cụ thể là ban hành các quy định, quy chế, hướng dẫn để đảm bảo các chỉ số thanh khoản ở mức an toàn và đưa ra các phương án dự phòng rủi ro thanh khoản xảy ra

Trước năm 2010, SCB đã không có quy định về quản trị thanh khoản cụ thể mà chỉ lồng ghép quản trị thanh khoản thông qua quy định về quản lý rủi ro thị trường vào tháng 12/2008 và quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Quản lý Tài sản nợ - Tài sản Có (ALCO) vào tháng 4/2009 Sau thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010

và thông tư 19/2010/TT-NHNN sửa đổi thông tư 13 thì SCB ban hành quy định về các

tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động trên tinh thần các thông tư trên cùng với quy định về quản trị rủi ro thanh khoản

Trong chính sách quản trị rủi ro thanh khoản, SCB quy định trách nhiệm và nhiệm vụ chi tiết, cụ thể từng phòng ban Trong đó phòng Quản lý rủi ro thị trường có trách nhiệm chính trong việc xây dựng và triển khai các quy trình và phương pháp nhận dạng, đo lường, đánh giá, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro thanh khoản, phân tích

Trang 33

đánh giá dự báo rủi ro thanh khoản tiềm ẩn, cơ cấu nguồn vốn và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh khoản trong điều hành thanh khoản của SCB

Sơ đồ tổ chức Phòng Quản lý rủi ro thị trường:

Nhiệm vụ của Phòng Quản lý rủi ro thị trường

- Bộ phận quản lý rủi ro thị trường: đo lường, giám sát mức độ rủi ro thị trường hàng ngày; xây dựng các công cụ và phương pháp nhận dạng rủi ro thị trường

để đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh; đồng thời giám sát, xác nhận phần vượt mức và báo cáo kịp thời các vấn đề liên quan đến rủi ro thị trường lên các cấp có thẩm quyền

- Bộ phận quản lý tỷ lệ an toàn hoạt động: giám sát, báo cáo các tỷ lệ an toàn hoạt động của Ngân hàng và đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn hoạt động theo quy định của NHNN

- Bộ phận quản lý rủi ro thanh khoản: phân tích thanh khoản toàn hệ thống và đề xuất giới hạn, hạn mức rủi ro thanh khoản định kỳ và đột xuất

SCB quản trị thanh khoản dựa trên sự kết hợp 2 phương pháp: phương pháp phân tích thanh khoản tĩnh là phương pháp quản lý thanh khoản bằng cách phân tích các chỉ số thanh khoản rút ra từ bảng tổng kết tài sản và cơ sở dữ liệu hiện tại từ đó đưa

ra giới hạn cho các chỉ số đảm bảo thanh khoản; phương pháp phân tích thanh khoản

PHÒNG QUẢN LÝ RỦI RO THỊ TRƯỜNG

BỘ PHẬN QUẢN

LÝ RỦI RO THANH KHOẢN

Trang 34

động là phương pháp quản lý thanh khoản bằng cách dự đoán cung, cầu thanh khoản và

độ lệch thanh khoản từ đó đưa ra các biện pháp quản lý Việc xây dựng hai phương pháp này dựa trên phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản và phương pháp tiếp cận nguồn và sử dụng nguồn

Phương pháp phân tích thanh khoản tĩnh: SCB sử dụng các chỉ số thanh khoản như: Chỉ số tiền mặt tại quỹ, chỉ số dự trữ sơ cấp, chỉ số dự trữ thứ cấp

Tiền mặt tại quỹ

Dự trữ thứ cấp bao gồm chứng khoán ngắn hạn và giấy tờ có giá ngắn hạn

Các khoản phải trả bao gồm các khoản huy động trên TT1, TT2, vay NHNN, các khoản cam kết phải trả khác

SCB cũng xây dựng bảng phân tích các tài sản có có thể thanh toán ngay và các tài sản nợ phải thanh toán đối với từng loại tiền tệ Căn cứ vào thời hạn còn lại của các tài sản nợ và tài sản có mà SCB lập ra cung cầu thanh khoản trong khoảng thời gian ngày hôm sau, sau 1 tuần, sau 1 tháng… từ đó dự trữ thanh khoản thích hợp hay có biện pháp xử lý đối với nhu cầu thanh khoản trong thời gian đó Bên cạnh đó, SCB tính toán các tỷ lệ đảm bảo theo quy định NHNN như: Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR);

Trang 35

hệ số cơ cấu nguồn – sử dụng nguồn, tỷ lệ ngắn hạn đã sử dụng cho vay trung và dài hạn…

Phương pháp phân tích thanh khoản động: xây dựng các báo cáo đo lường rủi ro thanh khoản, trong đó xây dựng các kịch bản thanh khoản trong điều kiện tốt, trung bình, xấu và xây dựng mô hình độ lệch thanh khoản giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản Dựa trên kết quả của hai phương pháp trên, Hội đồng ALCO sẽ quyết định các biện pháp xử lý thích hợp

2.2 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của SCB

2.2.1 Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn của NHNN theo Thông tư

13/2010/TT-NHNN, 19/2010/TT-NHNN, 22/2011/TT-NHNN

Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện với nhiều điều luật điều chỉnh chung và luật chuyên ngành được ban hành Việc ban hành Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật Thanh tra thay thế cho các văn bản dưới luật đã góp phần hoàn thiện một bước quan trọng trong khuôn khổ pháp lý về giám sát và cảnh báo rủi ro tại các ngân hàng thương mại Theo đó, việc giám sát không chỉ tập trung vào các yếu tố định lượng mang tính truyền thống như vốn tự có, giới hạn tín dụng, chất lượng tín dụng, mà còn được mở rộng cho các yếu tố định tính như: theo dõi diễn biến cơ cấu tài sản nợ, tài sản có, xem xét các mối quan hệ giữa vốn và sử dụng vốn; việc đảm bảo khả năng chi trả hay đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng Các tỷ

lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng cũng đã được tính toán dựa trên các

cơ sở khoa học do các tổ chức tài chính quốc tế đưa ra, đảm bảo tính thống nhất trong quản lý vĩ mô, phân loại ngân hàng, đánh giá so sánh nhóm ngân hàng cùng loại và toàn hệ thống ngân hàng Điều này thể hiện rõ nét qua: Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN về xếp loại ngân hàng thương mại cổ phần, được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá CAMELS để đưa ra các thang điểm cho các chỉ tiêu xếp loại cụ thể; Thông tư 13/2010/TT- NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, lần lượt được sửa đổi, bổ sung bởi

Trang 36

Thông tư số 19/2010/TT-NHNN và Thông tư số 22/2011/TT-NHNN, trong đó Ngân hàng Nhà nước đã chính thức hủy bỏ tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động và điều chỉnh lại hệ số rủi ro đối với một số tài sản “Có” bằng ngoại tệ khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, có hiệu lực kể từ ngày 1/9/2011; Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về việc phân loại nợ và tiêu chuẩn trích lập dự phòng được NHNN ban hành để thay thế cho các Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 780/QĐ-NHNN, có hiệu lực từ ngày 01/06/2014 Sau đây là một số quy định cụ thể trong việc quản trị thanh khoản tại các Ngân hàng thương mại:

− Quy định về tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu:  

Ngân hàng thương mại, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ

lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của ngân hàng thương mại

Vốn tự có

Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ =

Tổng tài sản Có rủi ro Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Pháp luật, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của Ngân hàng thương mại và công ty trực thuộc

Trang 37

Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng thương mại đối với một nhóm khách hàng

có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng thương mại Tổng

dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của ngân hàng thương mại đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng

− Quy định giới hạn cho thuê tài chính

Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính

Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính

− Quy định tỷ lệ về khả năng chi trả

Cuối mỗi ngày, tổ chức tín dụng phải xác định và có biện pháp để đảm bảo tỷ

lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau như sau:

Tỷ lệ tối thiểu 15% giữa giá trị các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tổng

Nợ phải trả

Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay trong 7 ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh

− Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn

SCB bảo đảm việc sử dụng nguồn vốn để cho vay trung hạn, dài hạn theo nguyên tắc thứ tự sau đây:

Trang 38

+ Sử dụng nguồn vốn trung hạn, dài hạn

+ Sử dụng nguồn vốn ngắn hạn

Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn của SCB là 30% Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn tính theo công thức sau đây:

[(A-B)/C] x 100%

Trong đó:

A: tổng dư nợ cho vay trung dài hạn

B: tổng nguồn vốn trung dài hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn sau khi trừ đi các khoản phải trừ

C: tổng nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn

2.2.2 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn

trước và sau hợp nhất

2.2.2.1 Nhận diện và phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản Việc nhận diện và phân tích các nguyên nhân RRTK là bước đầu tiên trong quy trình QTRRTK và nó đóng vai trò hết sức quan trọng Trong thời điểm 2008 – 2012, SCB cùng với các NHTM khác tham gia vào cuộc đua lãi suất huy động bất chấp các quy định, thông tư của NHNN về trần lãi suất; lợi nhuận giảm sút, nợ xấu tăng cao, huy động vốn từ dân cư ngày càng khó khăn, giá cổ phiếu SCB liên tục giảm, thậm chí từ cuối 2010 trở đi giá cổ phiếu của SCB thấp hơn cả mệnh giá… Đây là một trong những dấu hiệu của rủi ro thanh khoản Nguyên nhân của tình trạng thiếu hụt thanh khoản này xuất phát từ việc ảnh hưởng của khó khăn kinh tế, các chính sách của NHNN cũng như chính bản thân của SCB do mất cân đối trong tốc độ tăng nguồn vốn huy động và cho vay, vốn huy động chủ yếu ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tăng trưởng tín dụng nóng, tập trung vào tín dụng phi sản xuất, dự trữ thanh khoản thấp… Bên cạnh đó buông lỏng QTRR, không tuân thủ các tỷ lệ an toàn thanh khoản một cách bài bản, khoa học

Trang 39

2.2.2.2 Đo lường RRTK Theo lý thuyết chương 1, có nhiều phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản

Tuy nhiên tác giả chọn phương pháp phân tích chỉ số thanh khoản do phương pháp này

đơn giản, ít tốn kém, dễ tiếp cận số liệu, có tính khả thi cao, dễ dàng so sánh, phân tích

để xác định khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản của SCB

− Chỉ số trạng thái tiền mặt (H3)

Chỉ số trạng thái tiền mặt phản ánh mức độ an toàn của NHTM thông qua việc

ngân hàng dự trữ bao nhiêu tài sản có tính thanh khoản cao Tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong các tài sản có, do đó nắm giữ càng nhiều mặt thì rủi ro thanh khoản càng thấp Tuy nhiên việc nắm giữ nhiều tiền sẽ không mang lại hiệu quả

H3 Tổng

TSC

Tiền mặt+Tiền gửi TCTD

H3 Tổng

TSC

Tiền mặt+Tiền gửi TCTD

Trang 40

Biểu đồ 2.1: Chỉ số H3 của SCB qua các năm

Trước thời điểm hợp nhất, trong năm 2009 và 2010, SCB cũ và TNB có tỷ lệ dự trữ tiền mặt rất thấp Như vậy khi có nhu cầu thanh khoản lớn, đột xuất thì hai ngân hàng này phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao Đóng vai trò là chủ thể đi vay ròng trên thị trường liên ngân hàng, huy động vốn trên TT2 luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động, SCB cũ và TNB không thể phát triển bền vững vì vốn dĩ vay vốn trên liên ngân hàng chỉ hỗ trợ thanh khoản tạm thời, không có tính thường xuyên và ổn định như nguồn huy động từ khách hàng Trái lại, FCB lại có chỉ số trạng thái tiền mặt cao hơn SCB cũ và TNB (22.5% ở năm 2009 và 25.51% ở năm 2010), nhưng so với các ngân hàng khác trong cùng thời điểm thì con số này chỉ bằng phân nữa

Trong tình thế nguồn huy động vốn bị sụt giảm, SCB, TNB và FCB và các ngân hàng khác bước vào cuộc đua lãi suất Do tâm lý khách hàng, đồng thời sợ rủi ro lãi suất của các NHTM cho nên nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn Trong cơ cấu nguồn vốn huy động, tỷ trọng vốn kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm 76.56% (trong đó kỳ hạn dưới

3 tháng là chủ yếu)

020,000

Ngày đăng: 06/04/2017, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính Phủ, 2011. Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015
3. Nguyễn Đăng Dờn, 2012. Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại. Nhà xuất bản Phương Đông – TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông – TPHCM
4. Nguyễn Văn Tiến, 2009. Ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Thốn kê – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Thốn kê – Hà Nội
5. Nguyễn Xuân Thành, Trần Thị Quế Giang, Đỗ Thiên Anh Tuấn, Nguyễn Đức Mậu, 2012. Hợp nhất ba ngân hàng thương mại, Tài liệu nghiên cứu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp nhất ba ngân hàng thương mại
7. SCB, 2011. Đề án hợp nhất và tái cơ cấu, Tài liệu của SCB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án hợp nhất và tái cơ cấu
8. Trần Huy Hoàng, 2011. Quản trị ngân hàng thương mại. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
9. Trương Quang Thông, 2010. Quản trị ngân hàng thương mại. Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.Danh mục tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
1. Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên cuả SCB, TNB, FCB các năm Khác
6. NHNN, 2010. Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD Khác
10. Basel Committee on Banking Supervision, 2008. Principles for sound liquidity risk management and supervision Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w