LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo người dân tộc thiểu số tại huyện khánh vĩnh, tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo người dân tộc thiểu số tại huyện khánh vĩnh, tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Tác giả luận văn
Nguyễn Nhi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, các quý thầy cô và bạn bè học viên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Phạm Hồng Mạnh đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này đến:
- TS Phạm Hồng Mạnh người hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Thầy cô Khoa Sau Đại Học đã giúp đỡ tôi trong liên hệ công tác
- Thầy cô Khoa Kinh Tế đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
- Anh, Chị, Bạn bè trong lớp Cao học Kinh tế 2013 đã giúp đỡ tôi trong học tập
và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang , ngày 02 tháng 10 năm 2016
Nguyễn Nhi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1 Kinh tế học hộ gia đình 7
1.1 Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình 7
1.1.1 Khái niệm hộ gia đình 7
1.1.2 Kinh tế hộ gia đình 7
1.2 Hoạt động kinh tế của hộ gia đình 8
1.2.1 Các đặc điểm về hoạt động kinh tế của hộ gia đình 8
1.2.2 Hàm sản xuất hộ gia đình 9
1.2.3 Thu nhập kinh tế hộ gia đình: 11
1.2.4 Chi tiêu hộ gia đình 13
1.3 Các quan điểm và khái niệm về nghèo 14
1.3.1 Quan điểm về nghèo 14
1.3.2 Khái niệm về nghèo 17
1.3.3 Phân loại nghèo 17
1.3.4 Nghèo tương đối 17
1.3.5 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều 18
1.3.6 Các chỉ số đo lường và đánh giá nghèo đơn chiều 19
1.4 Nghèo đa chiều 21
1.5 Yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình 23
1.6 Tổng quan về một số công trình có liên quan 25
1.6.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 25
1.6.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 26
1.7 Khung phân tích nghiên cứu 27
Trang 6Tóm lược chương 1: 28
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Qui trình nghiên cứu 29
2.2 Nghiên cứu sơ bộ 30
2.3 Nghiên cứu chính thức 30
2.3.1 Mô hình kinh tế lượng 30
2.3.2 Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu 35
2.3.3 Xây dựng phiếu điều tra 35
2.3.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 35
2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu 36
Tóm lược chương 2: 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 38
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 38
3.1.2 Đặc điểm dân số 40
3.1.3 Đặc điểm kinh tế 41
3.1.4 Giáo dục và y tế 44
3.1.5 Tình hình đời sống dân cư và tình trạng nghèo 45
3.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ NGHÈO TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH TỈNH KHÁNH HÒA 47
3.2.1 Khái quát về mẫu nghiên cứu 47
3.2.2 Đặc điểm tình trạng nghèo của hộ gia đình người dân tộc thiểu số ở huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa 51
3.2.3 Nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo cho hộ gia đình trong cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số ở huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa 58
3.3 PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ NGHÈO TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA 59
3.3.1 Cấu trúc thu nhập của hộ gia đình người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 59
3.3.2 Kết quả phân tích tương quan 68
Trang 73.3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình người dân tộc thiểu
số nghèo tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 70
3.3.4 Những vấn đề đặt ra cho việc nâng cao thu nhập và cải thiện tình trạng nghèo cho hộ gia đình người đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 74
Tóm lược chương 3: 77
CHƯƠNG 4 GỢI Ý CHÍNH SÁCH NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA 78
4.1 CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO VÀ NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN KHÁNH VĨNH 78
4.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO CÁC HỘ NGHÈO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA 81
4.2.1 Tăng cường tuyên truyền trong chính sách dân số để giảm tỉ lệ sinh nhằm giảm qui mô hộ gia đình và tỷ lệ phụ thuộc 81
4.2.2 Rà soát lại diện tích đất canh tác trên địa bàn để phân phối cho những hộ nghèo 82
4.2.3 Nâng cao trình độ dân trí cho lao động của hộ gia đình nghèo khu vực Khánh Vĩnh 84
4.2.4 Có chính sách tạo việc làm và công tác đào tạo nghề cho những hộ gia đình 85
4.2.5 Chuyển đổi cơ cấu sản xuất đối với hộ gia đình tại Khánh Vĩnh 85
4.2.6 Hỗ trợ đồng bào dân tộc có đạo, đặc biệt là đạo Thiên Chúa 86
4.2.7 Tiếp tục ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho khu vực Miền núi tại Khánh Hòa để tạo điều kiện cho hộ gia đình dân tộc thiểu số tiếp cận thị trường 87
4.3 NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TỈNH KHÁNH HÒA 87
4.4 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 88
Tóm lược chương 4: 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTTS : Dân tộc thiểu số
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức
Nông Lương Liên Hiệp Quốc) MPI : Multidimentional Poverty Index (Chỉ số nghèo đa chiều)
NGOs : Non-governmental organization (Tổ chức phi Chính phủ)
OPHI : Oxford Poverty & Human Development Initiative (Nghèo đói & Sáng
kiến Phát triển con người Đại học Oxford) PPA : Participatory Poverty Appraisal (Đánh giá nghèo đói có sự tham gia) UBND : Ủy ban nhân dân
UNDP : United Nations Development Programme (Chương trình phát triển Liên
Hiệp Quốc) VHLSS : Vietnam - Household Living Standards Survey (Bộ dữ liệu điều tra
mức sống hộ gia đình Việt Nam)
WB : World Bank (Ngân hàng Thế giới)
Trang 9DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Các chiều nghèo trong đánh giá nghèo đa chiềuError! Bookmark not defined
Bảng 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo 24
Bảng 2.1 Tổng hợp các biến trong mô hình hồi qui Error! Bookmark not defined Bảng 3.1 Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số năm 2015 40
Bảng 3.2 Hộ, nhân khẩu năm 2015 phân theo thành phần các dân tộc 41
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất lâm nghiệp của huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2011 – 2015 43
Bảng 3.4 Số trường, số lớp, số học sinh số giáo viên mầm non của huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2011 – 2015 44
Bảng 3.5 Số cơ sở y tế, số gường bệnh và cán bộ y tế nhà nước của huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2011 – 2015 45
Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 phân theo xã, phường, thị trấn của huyện Khánh Vĩnh năm 2016 46
Bảng 3.7 Đặc điểm dân tộc của hộ trong mẫu nghiên cứu 47
Bảng 3.8 Đặc điểm tôn giáo của hộ trong mẫu nghiên cứu 48
Bảng 3.9 Đặc điểm học vấn của hộ trong mẫu nghiên cứu 48
Bảng 3.10 Đặc điểm qui mô của hộ trong mẫu nghiên cứu 48
Bảng 3.11 Đặc điểm nghèo của hộ trong mẫu nghiên cứu 49
Bảng 3.12 Đặc điểm hoạt động kinh tế của hộ trong mẫu nghiên cứu 50
Bảng 3.13 Nguồn thu nhập của hộ từ các hoạt động kinh tế 51
Bảng 3.14 Giới tính chủ hộ và tình trạng nghèo 51
Bảng 3.15 Đặc điểm dân tộc và tình trạng nghèo của hộ gia đình 52
Bảng 3.16 Trình độ học vấn của chủ hộ và tình trạng nghèo 53
Bảng 3.17 Đặc điểm tôn giáo và tình trạng nghèo của hộ 53
Bảng 3.18 Qui mô hộ gia đình và tình trạng nghèo của hộ 54
Bảng 3.19 Số người sống phụ thuộc và tình trạng nghèo của hộ 55
Bảng 3.20 Đất đai và tình trạng nghèo của hộ 55
Bảng 3.21 Khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 56
Bảng 3.22 Đặc điểm tiếp cận tín dụng và tình trạng nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 57
Trang 10Bảng 3.23 Đặc điểm hoạt động kinh tế của của hộ gia đình và tình trạng nghèo 58
Bảng 3.24 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của hộ gia đình 59
Bảng 3.25 Qui mô thu nhập của hộ gia đình đồng bào dân tộc trong mẫu nghiên cứu 60
Bảng 3.26 Cấu trúc thu nhập của hộ gia đình 60
Bảng 3.27 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm dân tộc của hộ 61
Bảng 3.28 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm tôn giáo của hộ 62
Bảng 3.29 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm qui mô của hộ 63
Bảng 3.30 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm học vấn của chủ hộ 64
Bảng 3.31 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm tiếp cận đất đai của hộ 65
Bảng 3.32 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm tiếp cận tín dụng của hộ 66
Bảng 3.33 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm tiếp cận thị trường bán sản phẩm của hộ 67
Bảng 3.34 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với đặc điểm việc làm thêm của hộ 68
Bảng 3.35 Kết quả phân tích tương quan 69
Bảng 3.36 Kết quả kiểm định các giả thuyết cổ điển của mô hình hồi qui 72
Bảng 3.37 Kết quả mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nghèo người đồng bào dân tộc tại huyện Khánh Vĩnh 72
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Qui trình nghiên cứu 29 Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Khánh Vĩnh 38 Hình 3.2 Ngã 5 thị trấn Khánh Vĩnh .39 Biểu đồ 3.1 Giá trị và tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực công nghiệp của huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2011 – 2015 (theo giá hiện hành) 42 Biểu đồ 3.2 Đóng góp của các khu vực kinh tế trong cơ cấu sản xuất công nghiệp của huyện Khánh Vĩnh theo các khu vực kinh tế giai đoạn 2011 – 2015 42 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Khánh Vĩnh giai đoạn
2011 – 2015 (theo giá hiện hành) 43 Biểu đồ 3.4 Thông tin cá nhân của hộ gia đình 47 Biểu đồ 3.5 Đặc điểm đất đai của hộ trong mẫu nghiên cứu 50
Sơ đồ 3.1 Các nguồn thu nhập của hộ gia đình dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 59
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa là khu vực tập trung nhiều cộng đồng người dân tộc thiểu số đang sinh sống, và là một trong những khu vực được cho là có nhiều khó khăn Bên cạnh đó, chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn cùng với Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới đang trong quá trình triển khai Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp thiết thực, cơ bản và lâu dài để những cộng đồng người dân tộc thiểu số nói chung và cộng đồng người dân tộc thiểu
số cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa nói riêng thật
sự thoát nghèo, chống tái nghèo, được tiếp cận với những cơ hội mới và được hưởng lợi từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là một thách thức lớn đối với khu vực này Vấn đề tạo thu nhập cho các hộ dân tộc nghèo là một trong những hướng chủ yếu góp phần giảm tình trạng nghèo cho các hộ đồng bào dân tộc của nước ta nói chung và tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa nói riêng
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết về kinh tế hộ gia đình, đói nghèo
và việc vận dụng lý thuyết này nhằm phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân tộc nghèo tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Thông qua điều tra 189 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hộ gia đình sinh sống chủ yếu tại địa bàn huyện Khánh Vĩnh là đồng bào các dân tộc Trong 189 hộ gia đình đồng bào dân tộc được điều tra, đồng bào là dân tộc RaGay chiếm đa số với 149 hộ (tương ứng với 78,8%); đồng bào đân tộc Cơho chiếm 36 hộ (tương ứng với 19%), đồng bào dân tộc Tày chiếm 1 hộ (tương ứng với 0,5%), đồng bào dân tộc Ê đê chiếm 1 hộ (tương ứng với 0,5%) và kinh với 2 hộ (tương ứng với 1,1%) Kết quả này phản ánh khá tương đồng với cấu trúc dân số của huyện Khánh Vĩnh hiện nay
Trình độ học vấn của các chủ hộ đồng bào người dân tộc tại khu vực này nhìn chung còn thấp, vẫn còn một tỉ lệ lớn chủ hộ không học qua trường lớp nào, chiếm tỉ lệ 30,2% Chủ hộ học hết cấp 3 chiếm 4,2%, hết cấp 2 là 18% và chủ hộ chỉ học hết bậc tiểu học chiếm 47,6% Phần lớn các hộ gia đình đồng bào khu vực dân tộc tại khu vực này không theo đạo chiếm 53,4% trong mẫu nghiên cứu, số hộ gia đình đồng bào theo đạo Thiên Chúa chiếm 20,1% và Tin Lành là 26,5% Qui mô hộ gia đình khá lớn, số
hộ có thành viên nhiều nhất là 13, nhỏ nhất là 2, trung bình mỗi hộ có 5 thành viên
Trang 13Kết quả điều tra cho thấy rằng, tỉ lệ nghèo theo đánh giá của các hộ gia đình tỉ lệ
hộ nghèo chiếm 86,8% trong khi đó tỉ lệ nghèo hộ gia đình theo đánh giá của địa phương theo chuẩn nghèo đa chiều chiếm 87,8% Sở dĩ có sự khác biệt khá lớn là do mục tiêu của nghiên cứu và khảo sát hộ nghèo là chủ yếu
Các hoạt động kinh tế của hộ khá đa dạng, từ hoạt động trồng lúa, làm rẫy, trồng rừng, buôn bán… Trong các hộ gia đình người dân tộc thiểu số ở huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa, ngoài hoạt động trồng rừng, làm rẩy, chăn nuôi, các công việc làm thuê của hộ để tạo thu nhập tập trung vào chủ yếu là phát rẫy, khai thác keo, phụ việc buôn bán, v.v ; Vì vậy, nguồn thu nhập của hộ gia đình khá đa dạng Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân tộc thiểu số nghèo tại huyện Khánh Vĩnh cho thấy, bộ dữ liệu đã giải thích được 40,6% về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Trong các yếu tố của mô hình, có 6 biến có ý nghĩa thống kê, ở các mức
ý nghĩa 1%, 5% và 10% Các yếu tố ảnh hưởng tới đến thu nhập của các hộ nghèo người đồng bào dân tộc tại huyện Khánh Vĩnh bao gồm: Qui mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ thuộc của hộ, hộ có đất, diện tích đất, việc làm thêm và hộ có đạo Thiên Chúa; Trong
đó, yếu tố đất đai có tác động mạnh nhất đến thu nhập của hộ Tỉ lệ phụ thuộc và hộ theo đạo Thiên Chúa có tác động ngược chiều đến thu nhập của hộ gia đình
Từ kết quả nghiên cứu này, luận văn đã đề xuất các giải pháp chính nhằm cải thiện thu nhập cho hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, tại khu vực này
Từ khóa: thu nhập, hộ nghèo, dân tộc, Khánh Vĩnh
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Cơ sở hình thành đề tài
Vấn đề xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, là sự quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm qua Đây là vấn đề luôn được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ vào tháng 9 năm 2000 Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã trở thành nước có mức thu nhập bình quân đầu người xếp ở nhóm nước có mức trung bình của thế giới thì bản chất của nghèo đói
ở nước ta đã có những thay đổi nhanh chóng, không chỉ thể hiện ở lượng và còn đòi hỏi cả về chất Mặc dù công cuộc phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể và được quốc tế đánh giá cao; Tỉ lệ nghèo giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004 và đặc biệt kể từ năm
2006 đến nay, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 15,9% năm 2006 xuống 14,7% năm 2007, 9,45 % năm 2010 và năm 2015 tăng lên gần 10%
Đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi, Đảng và Nhà nước ta
đã dành sự quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án và tổ chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực trong nhiều năm qua, đã góp phần phát triển
hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo cơ sở cho sự phát triển Ngân sách của Nhà nước đầu tư khá lớn cho khu vực miền núi; Tuy nhiên, kinh
tế - xã hội tại miền núi vẫn còn rất nhiều khó khăn, bất cập
Đối với tỉnh Khánh Hòa, trong những năm qua, cùng với việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì giải quyết các vấn đề an sinh xã hội luôn được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và UBMTTQVN tỉnh quan tâm và đã đặt thành một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển và được cụ thể hóa bằng một loạt các chính sách
cụ thể Nhờ đầu tư có trọng điểm với các chính sách phù hợp với tình hình thực tế, trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Khánh Hòa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong công tác giảm nghèo, kết quả giảm nghèo vượt kế hoạch đề ra Trong 5 năm, toàn tỉnh Khánh Hòa đã giảm được 20.991 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm được 8% (từ 9,41% đầu năm 2011 xuống còn 1,4% cuối năm 2015), bình quân mỗi năm giảm được 1,6%/năm Các chính sách, dự án giảm nghèo được triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả, góp phần thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo và an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh
Trang 15Tuy nhiên, tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Khánh Hòa có nhiều kết quả, nhưng chuyển biến chưa mạnh, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và yêu cầu của quản lý Cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã có, nhưng trong giai đoạn hiện nay cần tập trung nhiều hơn nữa cho miền núi, nhất là việc nghiên cứu, triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP để giảm nghèo nhanh và bền vững Vấn đề này cần phải có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học để đề xuất một số giải pháp đồng bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển miền núi trong sự phát triển chung của tỉnh
Huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa là khu vực tập trung nhiều cộng đồng người dân tộc thiểu số đang sinh sống và là một trong những khu vực được cho là có nhiều khó khăn Bên cạnh đó, Chiến lược Phát triển Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn cùng với Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới đang trong quá trình triển khai Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp thiết thực, cơ bản và lâu dài để những cộng đồng người dân tộc thiểu số nói chung và cộng đồng người dân tộc thiểu
số cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa nói riêng thật
sự thoát nghèo, chống tái nghèo, được tiếp cận với những cơ hội mới và được hưởng lợi từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là một thách thức lớn đối với khu vực này
Từ nhiều năm qua, vấn đề nghèo đói nói chung và nghèo đói của cộng đồng người dân tộc thiểu số của huyện Khánh Vĩnh nói riêng đã được đưa ra thảo luận, bàn bạc và đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới nghèo đói và các yếu tố ảnh hưởng từ các góc độ và phạm vi khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đói đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây của Ngân hàng Thế giới Những nghiên cứu này đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm để làm nền tảng cho việc xây dựng
cơ sở lý thuyết về phân tích thu nhập và nghèo đói và đến năm 2009, Ngân hàng Thế giới đã bổ sung đầy đủ hơn những cơ sở lý thuyết bởi nhóm tác giả Jonathan, Haughton và Shahidur R Khader (2009)
Bên cạnh đó, đã có những nghiên cứu điển hình trong phân tích nghèo đói tại Việt Nam như: Kinh tế vĩ mô của giảm nghèo, nghiên cứu trường hợp của Việt Nam; Việt Nam tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng; Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích định lượng; Các yếu tố quyết định phúc lợi gia đình, xã hội và bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam; So sánh giữa phân tích nghèo đói bằng phương pháp định tính và
Trang 16định lượng tại Việt Nam; Nghiên cứu ứng dụng các mô hình kinh tế lượng trong phân tích các nhân tố tác động nghèo đói và đề xuất giải pháp xóa đói giảm nghèo; Báo cáo đánh giá nghèo đói và quản lý nhà nước có sự tham gia: Vùng ven biển Miền Trung Một số công trình nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á cũng chỉ dừng lại ở mức độ phân tích
về tổng quan trong đánh giá nghèo đói ở Việt Nam, chưa nghiên cứu một cách cụ thể đối với hộ gia đình trong cộng đồng dân cư dân tộc thiểu số; một số nghiên cứu khác chỉ khảo sát thực trạng đói nghèo và xóa đói giảm nghèo ở miền núi tại một số địa phương mang tính chất ý niệm và định tính
Các nghiên cứu trên đã đã tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố với tình trạng nghèo đói Tuy nhiên, tùy theo mục tiêu, thời gian, nguồn lực của nhà nghiên cứu mà tiến hành bằng những phương pháp khác nhau cũng mới chỉ nghiên cứu một cách rời rạc các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đói (qui mô hộ gia đình, các đặc điểm về nhân khẩu học, v.v ) và quan trọng hơn những nghiên cứu này chưa phản ảnh hết được những đặc trưng nghèo đói của hộ gia đình trong cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Trong các nghiên cứu thực nghiệm đã được đề cập trước đây, vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách cụ thể, đầy
đủ và có hệ thống về cải thiện thu nhập cho các hộ nghèo, đặc biệt các hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh
Trước thực tế và yêu cầu bức thiết đó mà cần phải có thêm nhiều nghiên cứu về nghèo đói ở cả cấp quốc gia, cấp vùng, cấp địa phương và đặc biệt là nghèo đói của hộ gia đình trong cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Thực hiện nhiều nghiên cứu hơn với những thông tin chi tiết hơn, chính xác hơn sẽ là bước đầu tiên và là cơ sở quan trọng trong mọi chiến lược phát triển ở cấp địa phương, ngành và trên bình diện quốc gia Điều này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá được tác động của những chiến lược phát triển đã thực hiện để rồi từ đó vạch ra những đường hướng mới cho sự tăng trưởng vì người nghèo nhằm thực hiện một cách có hiệu quả hơn mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Việt Nam đã ký kết Thông qua những nghiên cứu, người làm chính sách có thể thấy được các giải pháp hỗ trợ giúp cộng đồng người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa nâng cao thu nhập và nhanh chóng thoát nghèo một cách bền vững
Trang 17Với những lý do trên đề tài được hình thành nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo người dân tộc tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa nhằm giúp cho cơ quan quản lý, chính quyền các địa phương có cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số sinh sống có những giải pháp thiết thực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, mang lại hiệu quả và đảm bảo được mục tiêu phát triển của mỗi địa phương trong tiến trình xóa đói giảm nghèo tại khu vực này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Trên cơ sở yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, mục tiêu nghiên cứu bao trùm của đề tài là tìm ra những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ nghèo người dân tộc thiểu số huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cơ bản và cần thiết nhằm nâng cao thu nhập cho những đối tượng này
- Đề xuất các gợi ý về chính sách và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân cư tại khu vực này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập của những hộ gia đình người dân tộc thiểu số nghèo tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Đối tượng khảo sát tập trung vào các hộ nghèo của địa phương bao gồm: Xã Khánh Thượng, xã Sông Cầu, xã Giang Ly, xã Cầu Bà, xã Liên Sang, xã Khánh Phú và xã Sơn Thái Các lý do chọn các địa phương trên để điều tra đó là:
Thứ nhất, những xã của huyện Khánh Vĩnh đa phần đều xa trung tâm của các địa
phương và nguy cơ tụt hậu, khả năng tiếp cận các điều kiện về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục thấp
Trang 18Thứ hai, sự gia tăng dân số nhanh trong các cộng đồng dân cư người dân tộc
thiểu số có thể gây ra tình khó khăn về việc làm và thu nhập cho các hộ gia đình người dân tộc thiểu số
Thứ ba, các chính sách của Chính phủ trong việc phân bố đất sản xuất, đất trồng
rừng… có thể tạo ra sự xáo trộn khá lớn về điều kiện kinh tế và khả năng sẽ làm cho nhiều hộ gia đình người dân tộc thiểu số tại địa bàn có sự thay đổi về thu nhập theo chiều hướng tiêu cực
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình người dân tộc thiểu số nghèo tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả
- Phương pháp phân tích kinh tế lượng
Nội dung của phương pháp nghiên cứu luận văn được trình bày chi tiết trong chương 2 của luận văn
Thứ nhất, đề tài bổ sung và làm phong phú thêm thực tiễn và kinh nghiệm nghiên
cứu đối với vấn đề thu nhập của hộ gia đình tại khu vực miền núi, đặc biệt là nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình người dân tộc thiểu số
Thứ hai, đề tài sẽ phác họa bức tranh toàn diện về đặc điểm thu nhập của hộ gia
đình người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa hiện nay, đồng
Trang 19thời xác định được những nguyên nhân chủ yếu có tính chất rất đặc thù ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ gia đình người dân tộc thiểu số tại khu vực này, thông qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực góp phần nâng cao thu nhập cho những đối tượng này góp sức chung cho công cuộc chống đói nghèo tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và huyện Khánh Vĩnh nói riêng
Thứ ba, đề tài là một công trình nghiên cứu có thể làm làm tài liệu tham khảo cho
các nhà quản lý, sinh viên và học viên trong các cơ quan quản lý, các trường Đại học
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu
Chương 3: Trong chương 3, sẽ trình bày về kết quả nghiên cứu bao gồm: khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, thực trạng về thu nhập của cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số; Kết quả phân tích mẫu nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình người dân
tộc thiểu số tại khu vực này
Chương 4: Trong chương 4, sẽ đề cập tới những gợi ý giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
Trang 20CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Kinh tế học hộ gia đình
1.1 Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình
1.1.1 Khái niệm hộ gia đình
Gia đình là nhóm người cùng huyết tộc và hôn nhân Gia đình hạt nhân: 1 vợ, 1 chồng và các con – là đơn vị cơ bản của xã hội Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ khác nhau sống dưới một mái nhà; một gia đình có thể bao gồm nhiều hộ Gia đình có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo đời sống cho các thành viên của nhóm Gia đình là
cơ sở của hộ vì chứa đựng các yếu tố để hình thành các loại hộ khác nhau Tác giả Hương Dịu (2012), đã phân biệt hộ và gia đình như sau: (i) Gia đình: có mối tương quan về mặt xã hội như khía cạnh sinh học truyền thống, hôn nhân; (ii) Hộ: là một đơn
vị kinh tế nhỏ nằm trong một nền kinh tế nói chung; (iii) Hộ được coi là Gia đình khi các thành viên có quan hệ huyết thống và hôn nhân; (iv) Gia đình được coi là Hộ khi các thành viên có chung cơ sở kinh tế
Vương Thị Vân (2009) đưa ra 3 tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: có quan hệ huyết thống và hôn nhân, cùng cư trú, có cơ sở kinh tế chung Tác giả cũng cho rằng, đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình Trong khi đó, Võ Thành Nhân (2011) lại cho rằng hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua
và có chung quỹ thu chi
1.1.2 Kinh tế hộ gia đình
Ở Việt Nam, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, với mục đích giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, thì các hộ nông dân đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, tức là thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh
tế cơ sở (gọi là kinh tế hộ gia đình) Từ đó, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật
Trang 21tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác
do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)
Kinh tế hộ gia đình đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ khi chúng ta thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là một nội dung quan trọng của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 491 ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới Bộ Tiêu chí quy định việc thực hiện nông thôn mới ở nước ta gồm 7 vùng, với 5 nội dung, 19 tiêu chí Trong đó, phát triển kinh tế hộ gia đình, đa dạng hóa ngành nghề, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn là những nội dung của Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
1.2 Hoạt động kinh tế của hộ gia đình
Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, khái niệm kinh tế hộ gia đình được hiểu rằng đây là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ (Đỗ Văn Quân, 2014)
1.2.1 Các đặc điểm về hoạt động kinh tế của hộ gia đình
Đặc điểm nổi bật của kinh tế hộ gia đình theo Đinh Văn Quảng (2006) là một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh
tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ
hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, còn ở thành thị gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp
Để phân biệt kinh tế hộ nông dân với các hình thức kinh tế khác thì Vương Thị Vân (2009) đã đưa ra 3 đặc điểm chính như sau: tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai; lao động sản xuất chủ yếu là các thành viên trong hộ tự đảm nhận và sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hóa, họ không có
Trang 22khái niệm tiền công, tiền lương và cuối cùng là tiền vốn chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền (2013) đã tổng kết và đưa ra các đặc điểm để có thể nhận diện kinh tế hộ gia đình như sau: Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Các thành viên trong
hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ, tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau Chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng
là người lao động trực tiếp, tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động Về quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít Sản xuất của kinh
tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống; do đó, năng suất lao động thấp Vì vậy, tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau
1.2.2 Hàm sản xuất hộ gia đình
Hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
và sản lượng đầu ra được tạo ra từ quá trình này Nó cho chúng ta biết lượng đầu ra tối
đa có thể sản xuất được từ bất cứ một tổ hợp các yếu tố sản xuất xác định nào đó Có thể viết hàm sản xuất dưới dạng:
Q = F(K, L, )
Trong đó Q là số lượng đầu ra tối đa có thể sản xuất ra được từ tổ hợp nhất định vốn (K) (vốn ở đây được hiểu là vốn hiện vật, tồn tại dưới dạng nhà xưởng, máy móc, thiết bị hay hàng tồn kho), lao động (L) cũng như các đầu vào khác; F biểu thị Q là một hàm số của các yếu tố đầu vào K, L Khi đề cập đến số lượng đầu ra tối đa, người
ta muốn nhấn mạnh rằng, vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp không sử dụng các phương pháp sản xuất lãng phí hay không hiệu quả về phương diện kỹ thuật Chúng có khả năng tận dụng được những kỹ thuật sản xuất có hiệu quả Khi đó, từ một
tổ hợp yếu tố sản xuất đầu vào xác định, chỉ có thể tạo ra một mức sản lượng đầu ra tối
đa duy nhất Tuy nhiên, điều ngược lại có thể là không đúng, để sản xuất ra một sản
Trang 23lượng đầu ra như nhau, người ta có thể sử dụng các kết hợp đầu vào khác nhau Chỉ có điều, khi không sử dụng các phương pháp sản xuất lãng phí, để tạo ra cùng một mức sản lượng, nếu một đầu vào nào đó được sử dụng nhiều hơn, chắc chắn một loại đầu vào khác phải được sử dụng ít hơn Ví dụ để tạo ra 100 đơn vị sản phẩm trong một ngày, người ta có thể sử dụng hoặc 10 giờ máy (vốn) và 8 giờ lao động hoặc 6 giờ máy
và 18 giờ lao động Một cách kết hợp nhất định các yếu tố đầu vào thể hiện một cách thức hay một kỹ thuật sản xuất Ở ví dụ vừa nêu trên, người ta có thể sản xuất ra 100 đơn vị đầu ra từ hai kỹ thuật khác nhau: một kỹ thuật sử dụng tương đối nhiều vốn và một kỹ thuật sử dụng tương đối nhiều lao động Một hàm sản xuất thực chất khái quát các kỹ thuật sản xuất có hiệu quả khác nhau trong giới hạn của một trình độ công nghệ nhất định (tức một trình độ kiến thức hay hiểu biết nhất định về các kỹ thuật sản xuất khác nhau mà người ta có thể sử dụng để tạo ra các hàng hóa) Tiến bộ công nghệ (hay tiến bộ kỹ thuật) cho phép người ta có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa hơn từ những lượng đầu vào như cũ Nó có thể biến các kỹ thuật sản xuất hiệu quả trước đây thành
kỹ thuật sản xuất không hiệu quả Nó tạo ra những kỹ thuật sản xuất mới có năng suất cao hơn Vì thế, nếu một hàm sản xuất gắn liền với một trình độ công nghệ nhất định thì tiến bộ công nghệ làm thay đổi cả hàm sản xuất
Hàm sản xuất trong ngắn hạn: Trong ngắn hạn, doanh nghiệp không điều chỉnh
được tất cả các yếu tố sản xuất; một số yếu tố có thể thay đổi được trong khi một số khác là cố định Để đơn giản hóa, chúng ta giả định doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu
tố sản xuất có tính chất đại diện là vốn hiện vật K và lao động L Khi đó, hàm số sản xuất có dạng: Q = F(K,L) Trong ngắn hạn, giả sử K là cố định Trong trường hợp này, sản lượng đầu ra Q chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi của lượng đầu vào lao động L được
sử dụng Có thể biểu diễn hàm sản xuất ngắn hạn của doanh nghiệp một cách đơn giản như sau:
Q = f(L)
Số lượng đầu vào cố định K không còn xuất hiện trong hàm sản xuất chỉ nói lên rằng, khi K được giữ nguyên mọi biến thiên của sản lượng Q chỉ gắn liền với sự biến thiên của đầu vào lao động L Trong ngắn hạn, muốn tăng sản lượng, phương cách duy nhất là tăng cường sử dụng yếu tố đầu vào khả biến Tuy nhiên, khi K thay đổi (chẳng
hạn, khi doanh nghiệp lại dịch chuyển đến một khoảng thời gian ngắn hạn khác), ở
mỗi mức lao động L được sử dụng, mức sản lượng Q được tạo ra cũng thay đổi Vì thế,
Trang 24toàn bộ hàm sản xuất Q = f(L) sẽ thay đổi, số lượng đầu vào K sẽ quy định hình dạng của hàm sản xuất f(L)
Hàm sản xuất trong dài hạn: Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể điều chỉnh
được tất cả các yếu tố sản xuất, với giả định đơn giản hóa về việc doanh nghiệp chỉ sử
dụng hai yếu tố sản xuất K và L, hàm sản xuất Q=F(K,L) cho thấy sản lượng Q phụ thuộc cả vào K lẫn L, và để tạo ra các sản lượng Q, doanh nghiệp có quyền cân nhắc sự kết hợp tối ưu giữa chúng Một mặt, để sản xuất ra cùng một mức sản lượng Q, có thể lựa chọn một sự đánh đổi nào đó giữa K và L Có thể tăng K và giảm L hoặc ngược lại, theo nhiều phương án khác nhau mà vẫn tạo ra cùng một mức sản lượng Q Mặt khác, khi cả K và L đều tăng, đương nhiên, sản lượng đầu ra Q được sản xuất ra cũng tăng;
có ba khả năng xảy ra: Thứ nhất, khi quy mô tất cả các yếu tố đầu vào của sản xuất
đều tăng lên n lần, song sản lượng đầu ra lại tăng nhiều hơn n lần, tức F(nK,nL)
> n.F(K,L), ta nói, doanh nghiệp đang hoạt động ở miền hiệu suất tăng dần theo quy
mô Ở đây, quy mô sản xuất của doanh nghiệp lớn hơn cho phép nó có thể khai thác
được những lợi thế của việc chuyên môn hóa sản xuất hoặc sử dụng được các máy móc, thiết bị tinh vi hơn, có hiệu suất cao hơn Nếu việc mở rộng quy mô không làm thay đổi nhiều giá cả các yếu tố sản xuất, điều đó cũng làm cho chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp giảm xuống Thứ hai, khi số lượng tất cả các yếu tố đầu vào
được sử dụng đều tăng lên một cách cân đối n lần kéo theo sản lượng đầu ra Q cũng tăng lên đúng n lần, tức F(nK,nL) = n.F(K,L), ta nói doanh nghiệp đang hoạt động trên miền hiệu suất không đổi theo quy mô Trong trường hợp này, nếu giá cả các yếu tố
sản xuất vẫn giữ nguyên, việc mở rộng quy mô không làm thay đổi chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp Thứ ba, khi lượng tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng
đều tăng lên n lần song sản lượng đầu ra Q lại tăng thấp hơn n lần, tức F(nK,nL)
< n.F(K,L); Ta nói, doanh nghiệp đang hoạt động ở miền hiệu suất giảm dần theo quy
mô Nếu giá cả các yếu tố sản xuất vẫn không thay đổi, trong trường hợp này, càng
tăng quy mô sản xuất, chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp cũng càng tăng Quá một ngưỡng nào đó, quy mô lớn lại trở thành một bất lợi đối với doanh nghiệp
1.2.3 Thu nhập kinh tế hộ gia đình:
FAO (2007), đã xác định thu nhập của nông hộ như sau:
Trang 25Thu nhập của hộ gia đình = Tổng giá trị nông sản thu về – Tổng chi phí cho các yếu tố đầu vào – chi phí thuê lao động – chi phí lãi vay – chi phí thuê đất (các khoản chi phí này không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất) Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2014) đã đưa ra phương pháp tự xác định thu nhập
từ trồng trọt trong năm của hộ gia đình như sau:
Thu nhập của hộ = Tổng thu – Tổng chi phí
Trong đó:
- Tổng thu là: ghi giá trị tất cả các nguồn thu từ trồng trọt của hộ trong năm bao
gồm cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ (đối với cây hàng năm đó là giá trị sản phẩm thu hoạch của vụ Đông, vụ Chiêm xuân và vụ Mùa năm cần tính toán, đối với các cây lâu năm tính giá trị sản phẩm thực tế thu được trong năm)
- Tổng chi là: bao gồm các khoản chi để có các khoản thu trong năm tính toán, như chi về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuê làm đất, thuê nhân công, thuê máy móc, trả lãi tiền vay cho sản xuất, vật dụng rẻ tiền mau hỏng (xác định chi cho từng
vụ rồi cộng lại) Chi phí tính theo giá mua thực tế Không ghi những khoản chi phí do
hộ tự túc được (không phải mua) Chỉ tính các khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm cho thu hoạch trong năm tính toán; không tính chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cho cây trồng, vật nuôi chưa cho thu hoạch
Đối với các khoản chi phí có liên quan đến thu nhập của nhiều năm thì cần phải phân bổ chi phí cho các năm sản xuất và cho thu hoạch như: khấu hao máy làm đất, máy phát điện, máy bơm tiền thuê đất, mặt nước để sản xuất trong nhiều năm Trường hợp hộ có đầu tư chi phí nhưng chỉ thu được một phần hoặc mất trắng như mất mùa, dịch bệnh thì toàn bộ chi phí mang tính chất chi phí một lần (như: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, trả công lao động thuê ngoài) sẽ được tính vào chi phí sản xuất Cây trồng dở dang chưa thu hoạch không được tính vào thu nhập của hộ
Lê Thị Nghệ và cộng sự (2006) đưa ra cách tính tổng sản phẩm trồng trọt chỉ cần tính cho từng cây trồng của hộ trong chu kỳ sản xuất trên cơ sở xác định:
Giá trị tổng sản phẩm = Diện tích gieo trồng của cây trồng * năng suất trên đơn
vị diện tích * giá đơn vị sản phẩm của cây trồng
Trang 26+ Chí phí trung gian: Để có được các sản phẩm này, nông dân phải sử dụng các hàng hoá và dịch vụ đi mua từ bên ngoài: giống, phân bón, một phần thức ăn gia súc, nước, năng lượng, các dịch vụ khác đã được sản xuất ra bởi các cơ sở sản xuất khác
- Giá trị gia tăng thô (VAB) = Giá trị tổng sản phẩm - Chi phí trung gian
- Giá trị gia tăng thuần = Giá trị tăng thô – Giá trị khấu hao
- Thu nhập thuần nông nghiệp = Giá trị gia tăng thuần – Tiền thuê đất – lãi tiền vay – Thuế các loại – Lương của lao động làm thuê
Chi phí trung gian:
- Vật chất
- Dịch vụ: làm đất, thuỷ lợi phí, bảo
vệ mùa màng
Khấu hao tài sản cố định
(máy móc, nhà xưởng, con nái )
Chi phí xã hội:
- Lãi tiền vay, tín dụng
- Tiền thuê đất, đấu thầu đất
- Các loại thuế
- Lương của người làm thuê
Thu nhập thuần
Giá trị tổng sản phẩm thô
Giá trị gia tăng thô Giá trị gia
tăng thuần
Trợ cấp cho sản xuất
Thu nhập thuần
Sơ đồ 1.1: Phương pháp tính thu thập thuần trong nông nghiệp
Nguồn: Lê Thị Nghệ và cộng sự, 2006
1.2.4 Chi tiêu hộ gia đình
Đo lường bằng giá trị tiền tệ dưới dạng thu nhập hay chi tiêu của hộ gia đình được sử dụng phổ biến để đo lường phúc lợi khi tính toán chỉ số về nghèo đói Những thông tin về chi tiêu có thể thu thập một cách dễ dàng từ quá trình điều tra các hộ gia đình và phản ánh tốt hơn tiêu chí về thu nhập trong việc đo lường nghèo đói bởi các lý
do sau:
Một là, chi tiêu là tiêu chí phản ánh tốt hơn thu nhập trong việc đo lường phúc lợi
kinh tế hộ gia đình Chi tiêu phản ánh thực tế phúc lợi tốt hơn vì nó liên quan chặt chẽ
Trang 27tới mọi thành viên trong gia đình, điều này có nghĩa là nó sẽ phản ánh được các điều kiện sống cơ bản tốt hơn
Hai là, trong hoạt động khai thác hải sản, thu nhập phụ thuộc vào nghề khai thác,
năng lực tàu thuyền và thời gian đánh bắt Bên cạnh đó, một số hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp, thu nhập của các hộ gia đình này có thể dao động trong năm do phụ thuộc vào mùa vụ thu hoạch Điều này cho thấy một khó khăn tiềm năng khi các
hộ gia đình nhớ lại thu nhập của họ, trong đó có thể những thông tin về thu nhập của
hộ gia đình từ quá trình khảo sát này có thể dẫn tới chất lượng thấp
Ba là, chi tiêu có thể phản ánh tốt hơn tiêu chuẩn thực tế của một hộ gia đình sinh
sống và khả năng để đáp ứng nhu cầu cơ bản Đối với các hộ gia đình ở Việt Nam nói chung, hộ gia đình đình ngư dân nói riêng thường có những đặc điểm rất đặc thù, như:
vì tâm lý, người dân thường có xu hướng khai thấp thu nhập của mình, thu nhập càng cao càng khai thấp; các hộ gia đình thường không nhớ tất cả các khoản thu của mình; thu nhập từ các loại cây lâu năm là không thể tính được dù có chi phí chăm sóc Thu nhập từ các loại gia súc không thể tính được hàng năm vì có thể nhiều năm hộ gia đình mới bán và những loại chi tiêu tăng cao bất thường cũng có khi xảy ra; chẳng hạn như chi tiêu cho việc chữa bệnh, mua các vật dụng đắt tiền, sửa chữa hay xây nhà nhưng những loại chi tiêu này chỉ thường có ở những hộ không nghèo
Phương pháp tiếp cận này đã được Ngân hàng Thế giới sử dụng trong các báo cáo phân tích của mình Rõ ràng, chi tiêu không những ít bị khai thấp hơn thu nhập mà
nó còn ổn định hơn từ năm này qua năm khác, do đó có đủ cơ sở và căn cứ lý thuyết
để sử dụng các thước đo chi tiêu nhằm phản ánh mức sống
1.3 Các quan điểm và khái niệm về nghèo
1.3.1 Quan điểm về nghèo
Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 1991) nghèo là tình trạng không có khả năng có mức sống tối thiểu; với cách đánh giá này thì điểm khởi đầu để xác định ranh giới đói nghèo là nhu cầu kcalo (năng lượng) tối thiểu được dùng cho mỗi người mỗi ngày
Mức tối thiểu mà WB sử dụng là 2100 kcalo/người/ngày với rổ lương thực thực phẩm
gồm 40 sản phẩm WB gọi đây là chỉ số phúc lợi - thước đo chất lượng cuộc sống và được biểu hiện ở mức thu nhập hay mức chi tiêu của hộ gia đình Trong nghiên cứu và thu thập thông tin, WB dựa trên số liệu về chi tiêu là chính vì cho rằng thu nhập, bản
Trang 28thân nó không phản ánh trực tiếp chất lượng cuộc sống như là chi tiêu, và hơn nữa các
hộ gia đình do nhiều lý do thường kê khai không đầy đủ thu nhập Bên cạnh đó, chuẩn nghèo mà WB đưa ra cho các nước đang phát triển là 1,25$/ngày và các nước có thu nhập ở mức trung bình là 2$/ngày theo sức mua tương đương
Trong khi đó, Tổ chức Lao động Quốc tế đưa ra 3 tiêu chí cần phải có để ước tính các chuẩn đói nghèo là: (i) dựa trên mức tối thiểu về vật chất, lương thực, thực phẩm và các nhu cầu cần thiết khác; lương thực thực phẩm phải chiếm đa số trong chuẩn đói nghèo vì đây là nhu cầu thiết yếu nhất và nhu cầu tối thiểu về kcalo đối với một người/một ngày phải đảm bảo 2100 kcalo, nhưng rổ lương thực thực phẩm đó phải gồm các loại lương thực thực phẩm rẻ nhất, thông dụng nhất và với một lượng tối thiểu các thực phẩm khác để làm phong phú cho đời sống của họ
Trong báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc có ba quan điểm khác nhau về nghèo đói:
- Quan điểm thu nhập (hoặc tiêu dùng);
- Quan điểm nhu cầu cơ bản;
- Quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người
Theo quan điểm thu nhập thì đây là một cách hiểu vấn đề hẹp nhất Một người được cho là nghèo nếu như mức thu nhập của họ ta dưới một ngưỡng xác định
Tiếp cận vấn đề nghèo đói theo quan điểm nhu cầu cơ bản của người dân có cách hiểu rộng hơn Quan điểm này không xuất phát từ mức thu nhập, mà xuất phát từ khả năng mà xã hội có thể cung cấp cho người dân để họ ngăn ngừa nghèo đói Nghĩa là với thu nhập không nhiều, người dân có thể tự mình sản xuất một phần sản phẩm nào đấy, còn những nhu cầu khác sẽ được thoả mãn nhờ các dịch vụ miễn phí của Nhà nước trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, v.v…
Quan điểm thứ ba xem xét vấn đề nghèo đói từ quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người; Người dân không thể có được khả năng thoả mãn một cách đầy
đủ mọi nhu cầu căn bản của mình như: ăn, mặc, ở, v.v Ngoài ra, họ còn bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục, tham gia vào các hoạt động đoàn thể và không được thoả mãn cả nhu cầu về văn hoá xã hội, v.v Nói tóm lại, sự lựa chọn của người dân bị hạn chế Áp dụng quan điểm tiếp cận này cho phép định
Trang 29nghĩa nghèo đói như là một sự thiếu vắng hàng loạt nhu cần cơ bản và hạn chế sự lựa chọn của con người
Quan điểm này không loại trừ hai quan điểm trên, mà bao trùm lên cả hai quan điểm ấy Nghĩa là bao gồm cả mức thu nhập thấp và hạn chế khả năng con người thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mình Cách nhìn vấn đề từ quan điểm phát triển con người cho phép khảo sát nghèo đói như là một hiện tượng đa chiều, có nguồn gốc sâu
xa Nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu đã xác định "nghèo" là phần dân số mà không thể đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cơ bản; các tác giả khác xem nghèo đói là một hàm của các biến số như giáo dục hoặc sức khỏe, bao gồm các biến số như tuổi thọ hoặc tử vong ở trẻ em và qui mô hộ gia đình Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, đói nghèo được được hiểu trong phạm vi rất rộng như: không thể đáp ứng "nhu cầu cơ bản" Nhu cầu cơ bản được đề cập bao gồm nhu cầu vật chất (thực phẩm, sự chăm sóc
về y tế, giáo dục, chỗ ở, v.v…), phi vật chất (sự tham gia, danh dự) và đòi hỏi “một cuộc sống có ý nghĩa" Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới lại xem nghèo là một vấn
đề đa chiều nên rất khó để đưa ra một định nghĩa và tổ chức này trong thời gian qua cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình Trong báo cáo năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng Đến năm 2000 -2001, báo cáo đã thêm vào khái niệm những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề
xã hội hay tính dễ bị tổn thương
Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng Nghèo có nghĩa là túng thiếu, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường; nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ; họ thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra bên lề xã hội nên ít có tiếng nói và quyền lực trong xã hội Cách tiếp cận phổ biến nhất
để đo lường tình trạng nghèo thông qua chỉ số phúc lợi Trong đo lường phúc lợi (kinh tế) thường dựa vào chi tiêu trong tiêu dùng hay thu nhập của hộ gia đình, nếu chi tiêu/ thu nhập được chia đều cho tất cả các thành viên trong hộ thì được chi tiêu tiêu dùng hay thu nhập bình quân đầu người (chỉ số phúc lợi kinh tế của cá nhân)
Hầu hết, các nước phát triển sử dụng thu nhập (income) để xác định nghèo đói, trong khi các nước đang phát triển sử dụng chi tiêu (expenditure) Đối với các nước
Trang 30phát triển, thu nhập phần lớn là từ tiền lương nên dễ xác định, trong khi chi tiêu thì phức tạp và khó xác định Ngược lại, ở các nước đang phát triển thu nhập khó tính toán hết bởi phần lớn thu nhập đến từ công việc tự làm nhưng rất khó tách biệt, trong khi chi tiêu thì dễ thấy hơn, rõ ràng hơn
1.3.2 Khái niệm về nghèo
Ở nước ta, khái niệm về đói nghèo được sử dụng chính thức trong chiến lược giảm nghèo của Chính phủ trên cơ sở khái niệm được đưa ra tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP)
tổ chức tại Thái Lan vào tháng 09 năm 1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất Khái niệm này cho rằng: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
1.3.3 Phân loại nghèo
1.3.3.1 Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tương đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối
là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta"
1.3.4 Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan
Trang 31Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng
1.3.5 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều
Cơ sở xác định nghèo
Thu nhập là chỉ báo kinh tế đánh giá phúc lợi của con người đạt được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã áp dụng phương pháp này để xác định ngưỡng nghèo Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp tính theo thu nhập do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội đưa ra để đo lường mức nghèo có thể xếp vào loại này Phương pháp của
Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài sản và
về thu nhập từ các nguồn khác nhau; thu nhập từ tất cả các nguồn này được cộng lại, chia cho số người trong hộ và so sánh với chuẩn nghèo được qui định
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã xây dựng chuẩn nghèo tuyệt đối cho từng giai đoạn Kể từ 1993 đến nay, Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh mức chuẩn nghèo Chuẩn nghèo đã được điều chỉnh năm lần vào các năm
1993, 1997, 1998, 2001, 2005 Chuẩn nghèo được áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 đối với khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, còn ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000đồng/người/tháng (dưới 3.120.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Tuy nhiên, trong những năm qua đặc biệt là giai đoạn 2006 – 2010, sự tăng trưởng kinh tế nhanh đã làm cho các biến số vĩ mô của nền kinh tế có những thay đổi lớn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã làm cho chuẩn nghèo tuyệt đối không còn phù hợp trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình Điều này, một lần nữa Chính phủ phải có chỉ thị điều chỉnh chuẩn nghèo mới để phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội hiện nay Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015, mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau: ở khu vực nông thôn những
hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; khu vực thành thị thì những hộ có mức thu
Trang 32nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000đồng/người/năm) trở xuống
là hộ nghèo
Phương pháp phân loại của địa phương
Theo bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trên thực tế, tại các địa phương
đã không tuân thủ một cách cứng nhắc phương pháp dựa vào thu nhập nêu trong tài
liệu hướng dẫn Điểm căn bản trong việc xác định đối tượng nghèo để phân bổ các
khoản trợ giúp ở địa phương là có sự chi phối của cộng đồng dân cư, mà đại diện là
thôn, mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo và đói thông qua sự bàn bạc của
người dân
Phương pháp xếp hạng giàu nghèo
Trong thực tế phương pháp này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về
nghèo đó là đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) bao gồm một tập hợp
những nhận xét về hiện trạng của tất cả các hộ trong một cộng đồng Ở Việt Nam,
cộng đồng tiêu biểu nhất là thôn Một tỉ lệ đáng kể các hộ trong cộng đồng sẽ tập hợp
nhau lại để xếp thứ tự, hoặc thường là phân loại các hộ trong số đó
1.3.6 Các chỉ số đo lường và đánh giá nghèo đơn chiều
Khi đã xác định được các nhóm chi tiêu của hộ gia đình, có thể tính toán một chỉ
tiêu thống kê phản ánh quy mô, mức độ và tính nghiêm trọng của nghèo đói Những
chỉ tiêu thống kê này bao gồm: (i) chỉ số đếm đầu người (headcount index) – xác định
tỉ lệ nghèo đói theo số lượng trong dân số; (ii) khoảng cách nghèo đói (poverty gap) -
xác định độ sâu của nghèo đói và; (iii) bình phương khoảng cách nghèo đói, phản ánh
phân phối trong thu nhập giữa các nhóm nghèo - xác định tính nghiêm trọng của nghèo
q: là số người dưới chuẩn nghèo Chỉ số đếm đầu người là một chỉ số rất đơn giản và chỉ đếm được số người nghèo
và tính tỉ lệ phần trăm của số người nghèo trong tổng dân số Các chỉ số có thể rất hữu
ích trong trường hợp đo lường hiệu quả của các chính sách xóa đói giảm nghèo theo
Trang 33thời gian như giảm tỉ lệ phần trăm hoặc số của người nghèo Tuy nhiên, chỉ số đếm đầu người không thể phản ánh được sự khác biệt trong phân phối thu nhập và mức độ nghèo của người dân
- Khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)
Giả sử ta gọi y là thu nhập trung bình của người nghèo và z là chuẩn nghèo thì
I = z - y là khoản thu nhập thiếu hụt trung bình Chỉ tiêu này đo lường mức tiền thiếu hụt cần gia tăng từ mức nghèo đến mức chuẩn nghèo Hạn chế chủ yếu của chỉ số khoảng cách nghèo đói là thất bại trong việc phản ánh số lượng người nghèo trong tổng dân số
- Mức độ nghiêm trọng của nghèo đói (bình phương khoảng cách nghèo đói), chỉ
số này đo lường khoảng cách từ mức nghèo đến mức chuẩn nghèo cùng với sự bất bình đẳng giữa các nhóm nghèo Foster, Greer và Thorbecke đã tìm ra một công thức
để đo lường sự nghèo đói bao gồm sự thay đổi trong tổng số người nghèo, thay đổi trong tình trạng thiếu hụt thu nhập và sự nhạy cảm của nghèo đói như sau:
1
1),
1
1( , )
q
t t
gi:là khoảng cách nghèo đói của hộ gia đình thứ i
yi:là thu nhập của hộ nghèo thứ i z:là chuẩn nghèo
Khi 0 thì P0 chính là chỉ số đếm đầu người (Headcount Index) Chỉ số này phổ biến nhất và dễ tính nhưng không phản ảnh mức độ nghiêm trọng từ thu nhập (chi tiêu) của người nghèo so với ngưỡng nghèo
0
1 0
t
z
g n
n q
Trang 34Khi 1, P1 là chỉ số đo lường khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)
1
1 1
t
z
g n
t
z
y z
Khi 2, P1 là chỉ số đo lường mức độ nghiêm trọng của nghèo đói Đây là chỉ
số khoảng cách đói nghèo bình phương (Squared poverty gap index) hay chỉ số nhạy cảm nghèo (Sensitive gap ratio of poverty) Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của nghèo đói và làm tăng thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo
2
1 1
t
z
g n
t
z
y z
n
là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những người nghèo
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
Theo các nghiên cứu (Abdulai & CroleRees, 2001; Demurger & cs., 2010; Janvry & Sadoulet, 2001; Klasen & cs, 2013; Marsh & cs., 2007; Yang, 2004; Yu & Zhu, 2013), thu nhập của nông hộ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm vốn, đất đai, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, số lao động, khả năng đa dạng hóa thu nhập, cơ hội tiếp cận thị trường
Nói đến sản xuất, vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu bởi nông hộ cần vốn để mua vật tư, giống, máy móc, thuê lao động,… nhằm đảm bảo tính thời vụ và giảm thiểu rủi ro, qua đó làm tăng thu nhập Ngoài ra, vốn còn giúp nông hộ đầu tư phát triển hệ thống tưới tiêu cũng như áp dụng kỹ thuật mới đa dạng hóa loại hình sản xuất
để tránh phải bán sản phẩm với giá thấp (Mink & cs., 2004)
Thực tế hiện nay, thu nhập của nông hộ nước ta còn thấp nên không đủ tích lũy
để tái đầu tư, các nguồn vốn tài trợ từ ngân sách rất hạn chế bởi phải san sẻ cho các
Trang 35khu vực ưu tiên, trong khi nguồn vốn bán chính thức và phi chính thức lại nhỏ lẻ nên ít được sử dụng cho sản xuất Do đó, tín dụng chính thức trở nên hết sức quan trọng đối với các nông hộ, Tuy nhiên, thực tế cho thấy nông hộ gặp không ít khó khăn khi vay tín dụng chính thức do các tổ chức tín dụng thường hạn chế cho vay ở nông thôn bởi phải đối mặt với chi phí giao dịch và rủi ro cao trong khi người vay lại thiếu tài sản thế chấp và thường gặp bất trắc khó lường ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch bệnh, giá nông sản bấp bênh,… (Lê Khương Ninh, 2011)
Hệ quả của việc các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở nông thôn là các nông hộ bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức hạn chế cho vay ở nông thôn là các nông hộ bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức nên phải chịu lãi suất rất cao Đặc biệt, nhiêu khoản cho vay bằng tiền được thực hiện trước khi thu hoạch (thời điểm giá nông sản cao) phải được hoàn trả bằng hiện vật sau khi thu hoạch (thời điểm giá nông sản thấp), khiến cho lãi suất vay càng cao Lãi suất cao làm tăng chi phí sản xuất, do đó làm giảm thu nhập của nông hộ (Klasen & cs., 2013)
Nông sản có đặc tính mau hỏng, khó bảo quản và thu hoạch đại trà (thời vụ) nên nông hộ thường bán sản phẩm với giá rẻ cho thương lái ngay sau khi thu hoạch (cung vượt cầu) Điều này cho thấy, các nông hộ sống gần đô thị (thị tứ, thị trấn, thị xã hay thành phố) sẽ có điều kiện bán sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng với giá cao hơn, chi phí chuyên chở thấp hơn và sản phẩm ít hư hỏng hơn nên thu nhập sẽ cao hơn (Marsh & cs., 2007; Klasen & cs., 2013)
Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp và khó thay thế Do phần lớn thu nhập của nông hộ phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, mà sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là thủ công và dựa vào đất nên quy mô đất đai sẽ quyết định thu nhập Việc không có hoặc có ít đất sản xuất làm hạn chế khả năng cải thiện thu nhập, bởi diện tích nhỏ hẹp thì sẽ khó áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại; Do đó sản phẩm có chất lượng thấp, không đồng đều nên giá trị thấp nhưng giá thành lại cao (Manjunatha
& cs., 2013)
Lao động cũng là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất nông nghiệp, không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng Trong điều kiện sản xuất ít được cơ giới hóa, số lượng lao động sẽ là yếu tố cơ bản giúp làm tăng thu nhập cho nông hộ (Abdulai & CroleRees, 2001; Yang, 2004) Tuy nhiên, do tính thời vụ và trình độ của người lao
Trang 36động còn hạn chế, khó tham gia các hoạt động phi nông nghiệp nên tình trạng lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn khá phổ biến; Do đó, nông hộ có thể có nhiều lao động nhưng thu nhập không cao bởi một số lao động không trực tiếp làm ra thu nhập
Học vấn đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của một cá nhân, một tổ chức cũng như một quốc gia (Foster & Rosenzweig, 1996; Pitt & Sumodiningrat, 1991; Yang, 2004) Học vấn quyết định lợi thế của mỗi người trong việc tạo ra thu nhập bởi học vấn cao sẽ dễ tiếp thu, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác Bên cạnh đó, học vấn cũng giúp tăng cường khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường để tạo ra cơ hội tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, qua đó làm tăng thu nhập
Bên cạnh học vấn, thời gian sống ở địa phương cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Nông hộ sống lâu năm ở địa phương thường được người thân cũng như các tổ chức xã hội giúp đỡ (vốn và kinh nghiệm sản xuất) khi cần thiết nhờ các mối quan hệ thân tộc và cộng đồng Bên cạnh đó, các hộ này cũng có điều kiện sinh sống, sản xuất và tích lũy tốt hơn bởi “an cư thì lạc nghiệp” (Phan Đình Nghĩa, 2010)
1.5 Yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình
Những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơ cấu chính trị (thí dụ như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công bằng), cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh tế không có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được), thất bại quốc gia, tụt hậu về công nghệ, tụt hậu về giáo dục,thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và không có bình đẳng nam nữ
Yếu tố nguy hiểm chính cho sự nghèo tương đối là thất nghiệp và thiếu việc làm Ngoài ra, những yếu tố nguy hiểm khác là phân bố thu nhập quá mất cân bằng, thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tính
Cho đến thế kỷ 19, sự nghèo nàn phần lớn không được xem như là có nguyên nhân từ xã hội mà là do lỗi lầm cá nhân hay "trời muốn" Cùng với công nghiệp hóa và các tranh cãi chung quanh "câu hỏi xã hội" tại Châu Âu, quan điểm cho rằng hiện tượng nghèo nàn phổ biến là kết quả của sự thất bại của thị trường và có thể được làm giảm thiểu bằng các biện pháp quốc gia Ví dụ như ở Liên Hiệp Anh, việc chống nghèo chính là khởi điểm của một chính sách xã hội hiện đại Thế nhưng trong thời
Trang 37gian gần đây hiệu quả của việc chống nghèo bằng chính sách xã hội tại nhiều nước công nghiệp đã bị đặt câu hỏi vì nhiều hình thức nghèo mới xuất hiện
Một cách khái quát, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra 4 nhóm đặc điểm chính ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình:
Thứ nhất, các đặc điểm của cấp độ vùng: những đặc điểm này bao gồm các vấn đề
như: sự cách biệt, sự cách biệt về địa lý, xã hội do thiếu hạ tầng cơ sở; hạn chế trong việc tiếp cận các loại thị trường và các dịch vụ xã hội, nguồn lực cơ bản như đất đai và chất lượng đất đai, điều kiện tự nhiên (thời tiết, v.v ), quản lý nhà nước và bất bình đẳng
Thứ hai, các đặc điểm về cấp độ cộng đồng bao gồm: hạ tầng cơ sở (điện, nước,
đường giao thông, v.v ), phân bổ đất đai, khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ công (y tế, giáo dục)
Thứ ba, những đặc điểm của hộ gia đình bao gồm: quy mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ
thuộc (phần trăm số người trưởng thành không có hoạt động tạo thu nhập), giới tính của chủ hộ, tài sản của hộ gia đình (đất đai, phương tiện sản xuất, nhà cửa, v.v ), tỉ lệ
có việc làm của những thành viên trưởng thành trong hộ (loại việc làm chính, tự làm hay làm thuê, v.v và theo nguồn thu nhập nhập chính của hộ, v.v ), trình độ học vấn trung bình của hộ
Thứ tư, là những đặc điểm của các cá nhân như: tuổi, giáo dục (số năm đi học,
bằng cấp cao nhất), việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc), dân tộc (có hay không có thuộc nhóm dân tộc thiểu số)
Những yếu tố chính ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình được thể hiện trong Bảng 1.2 dưới đây:
Bảng 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo
Phân theo đặc điểm Các yếu tố ảnh hưởng
- Nguồn lực cơ bản như đất đai và chất lượng đất đai
- Điều kiện tự nhiên (thời tiết…)
Trang 38Những đặc điểm của
hộ gia đình
- Quy mô hộ gia đình
- Tỉ lệ phụ thuộc (phần trăm số người trưởng thành không
có hoạt động tạo thu nhập)
- Trình độ học vấn trung bình của hộ
Đặc điểm cá nhân
- Tuổi
- Giáo dục (số năm đi học, bằng cấp cao nhất)
- Việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc)
- Dân tộc (dân tộc thiểu số)
Nguồn: WB, 2009
1.6 Tổng quan về một số công trình có liên quan
1.6.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Trong thời gian gần dây báo cáo phân tích xã hội quốc gia năm 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB, 2009), trong đó đã tổng kết các nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) đang gặp bất lợi ở 6 yếu tố cơ bản dẫn đến kết quả sinh kế thấp hơn so với nhóm đa số,
đó là bất lợi về tiếp cận giáo dục, di chuyển lao động, tín dụng, đất sản xuất, tiếp cận thị trường và định kiến của nhóm đa số
Các số liệu về nghèo DTTS tại Việt Nam (theo số liệu VHLSS) không bao gồm người Kinh và người Hoa Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số đối với các nhóm DTTS Không có một yếu tố duy nhất giải thích sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm DTTS và nhóm đa số, mà 6 yếu tố trên kết hợp lại tạo thành một
“vòng luẩn quẩn” dẫn đến nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm
Mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, tính dễ tổn thương ở các cộng đồng DTTS tại Việt Nam với biến đổi khí hậu và thiên tai đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu của các cơ quan phát triển Liên Hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) Tổng hợp ý kiến từ các nghiên cứu đó, Gay McDougall (2010), một chuyên gia độc lập về các vấn đề DTTS của Liên Hiệp quốc, chỉ rõ: “Biến đổi khí hậu có thể làm cho mực nước biển tăng lên, có khả năng ảnh hưởng đến hàng triệu người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển, đòi hỏi phải tái định cư hàng loạt ở các khu vực miền núi… Và điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến diễn biến kinh tế - xã
Trang 39hội của các cộng đồng DTTS” Dựa trên kết quả khảo sát tại các tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương, Kon Tum, Bình Thuận và An Giang, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS 2011) đã phân tích bối cảnh nghèo của đồng bào DTTS, trong đó đề cập đến những khó khăn chính về cơ sở hạ tầng, tạo việc làm, khả tiếp cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ Nghiên cứu của Baulch và Vũ (2012) phân tích vai trò của đặc điểm (gồm đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã…) và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm (do ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được qua điều tra mức sống; ví dụ như chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với đồng bào DTTS…) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm DTTS, dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010) (cập nhật một nghiên cứu tương tự trước đó dựa trên số liệu VHLSS 2006) Khác biệt về đặc điểm đóng góp gần một nửa vào khác biệt về mức sống giữa nhóm đa số và các nhóm DTTS; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên một nửa vào sự khác biệt về mức sống Nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong thu nhập của nhóm DTTS so với nhóm đa số Báo cáo của Oxfam và AAV (2012) tổng hợp kết quả theo dõi nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2011 cũng cho thấy mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ tại các vùng DTTS giảm chậm và còn ở mức rất cao Cuộc sống của đồng bào DTTS còn khó khăn với những bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống (nước sinh hoạt, nhà vệ sinh), tiếp cận thị trường, việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro Tỷ lệ hộ thuần làm nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng theo cảm nhận của người dân Tình trạng “thiếu ăn” vào thời điểm giáp hạt, gặp thiên tai dịch bệnh vẫn là thách thức lớn đối với một bộ phận dân cư ở vùng DTTS Ngay trong một cộng đồng cũng có nhiều nhóm gặp khó khăn đặc thù, như nhóm nghèo kinh niên, nhóm nghèo tạm thời, nhóm nghèo dễ bị tổn thương, và nhóm cận nghèo hoặc mới thoát nghèo, cần có chính sách
hỗ trợ phù hợp với từng nhóm
1.6.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Trong nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (2004, 2009), của Wane Nafiger (2002) đã có những bằng chứng về các yếu tố vĩ mô tác động đến nghèo
Trang 40đói bao gồm: lạm pháp có thể sẽ dẫn tới gia tăng đói nghèo, trong khi tăng trưởng/thu nhập và việc làm dẫn tới giảm đói nghèo Nghiên cứu này cũng kết luận rằng một chính sách thành công là chính sách dẫn đến giảm nghèo
Theo kết quả công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là mức chi tiêu (hay thu nhập) để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp
xã hội Sự khác nhau chung nhất thường là ở chỗ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Những đề tài và công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quan điểm từ những phương pháp tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau trong việc nghiên cứu nghèo đói, nhất là tình hình nghèo đói của cộng đông dân cư người dân tộc thiểu số
1.7 Mô hình nghiên cứu
Xuất phát từ cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình người dân tộc thiểu số nghèo được thể hiện trong Hình 1.1 sau đây:
Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ quá trình lược khảo tài liệu
Đặc điểm hộ gia đình
Thời gian thiếu việc làm
Tỉ lệ thời gian nhàn rỗi
Làm thêm (phi nông nghiệp)
Giới tính chủ
hộ
Đặc điểm phân bổ nguồn lực
Tiếp cận thị trường