1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO CHƯƠNG 7: NGHIÊN CỨU TÂM LÍ HỌC TRONG HIỂU XÁC SUẤT XAC SUAT THONG KE CAO HOC DHCT

56 561 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG 1.1. Học xác suất 1.2. Sửa đổi Bayesian 1.3. Xác suất tuyển và xác suất hội 1.4. Sự tương quan2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU HIỆN TẠI 2.1. Những phỏng đoán đánh giá 2.2. Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy 2.3. Xác suất hiệu chuẩn 2.4. Sự kiện liên quan đến nghiên cứu tiềm năng não 2.5. Tổng quan về những mô hình nghiên cứuNHỮNG KÍCH THƯỚC QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHÙ HỢP GIÁO DỤC 3.1. Quan niệm của nhiệm vụ 3.2. Quan niệm của chủ thể 3.3. Quan niệm về mối quan hệ chủ thể nhiệm vụ4. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN THỰC NGHIỆM TRONG SỰ TIẾP THU KHÁI NIỆM XÁC SUẤT 4.1. Cách tiếp cận nhận thức thực nghiệm của Piaget và Inhelder 4.2. Cách tiếp cận học tập thực nghiệm của Fischbein 4.3. Các cách tiếp cận xử lí thông tin 4.4. Cách tiếp cận kiến thức ngữ nghĩa khái niệm và hoạt động 4.5. Thảo luận về các cách tiếp cận thực nghiệm5. KẾT LUẬN

Trang 1

*GVHD: TS Bùi Anh Kiệt

*Nhóm thực hiện: nhóm 7

1. Triệu Hoà Tâm

2. Nguyễn Thị Kim Trang

3. Dương Thị Ngọc Hiền

4. Đặng Nguyễn Xuân Hương

5. Kim Thị Minh Thươne

Trang 2

1 NHỮNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG

2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU HIỆN TẠI

3 NHỮNG KÍCH THƯỚC QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHÙ HỢP GIÁO DỤC

4 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN THỰC NGHIỆM TRONG SỰ TIẾP THU KHÁI NIỆM XÁC SUẤT

5 KẾT LUẬN

Trang 3

1 NHỮNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG

1.1 Học xác suất

1.2 Sửa đổi Bayesian

1.3 Xác suất tuyển và xác suất hội

1.4 Sự tương quan

2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU HIỆN TẠI

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.2 Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

2.4 Sự kiện liên quan đến nghiên cứu tiềm năng não

2.5 Tổng quan về những mô hình nghiên cứu

Trang 4

3 NHỮNG KÍCH THƯỚC QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHÙ HỢP GIÁO DỤC

3.1 Quan niệm của nhiệm vụ

3.2 Quan niệm của chủ thể

3.3 Quan niệm về mối quan hệ chủ thể - nhiệm vụ

4 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN THỰC NGHIỆM TRONG SỰ TIẾP THU KHÁI NIỆM XÁC SUẤT

4.1 Cách tiếp cận nhận thức thực nghiệm của Piaget và Inhelder

4.2 Cách tiếp cận học tập thực nghiệm của Fischbein

4.3 Các cách tiếp cận xử lí thông tin

4.4 Cách tiếp cận kiến thức ngữ nghĩa khái niệm và hoạt động

4.5 Thảo luận về các cách tiếp cận thực nghiệm

5 KẾT LUẬN

Trang 5

1.1 Học xác suất 1.1.1 Nhiệm vụ

Mô hình: Có hai bóng đèn, đặt trái phải, vấn đề là dự đoán

xem bóng đèn nào sẽ sáng Giả sử hai bóng đèn sáng theo chuỗi Bernoulli, gọi H là biến cố có xác suất cao hơn và L là biến cố có xác suất thấp hơn

Học xác suất số hạng được bắt nguồn từ Brunswik và Herma

Theo chuỗi Markov, những xác suất áp dụng được trên phép thử n phụ thuộc vào phép thử n-1

Trang 6

1.1 Học xác suất 1.1.2 Hành vi đối tượng

Các đối tượng thường bắt đầu với tần suất hồi đáp cho xác suất của biến cố H là khoảng 0,5 và điều chỉnh theo hướng xác suất kích thích đúng P(H)

Chỉ có nhóm dữ liệu trung bình được báo cáo

Một câu hỏi được thảo luận nhiều là sự hợp lý và phù hợp của

sự lựa chọn trung bình của cá nhân

Trang 7

1.1 Học xác suất 1.1.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

Việc học xác suất đã là một trong những mô hình được yêu thích của nghiên cứu tâm lý học hành vi, phù hợp với mô hình hộp đen của hệ thống nhận thức, cá nhân được nhận thức như điều khiển bởi quá trình tự nhiên

Trang 8

1.2 Sửa đổi Bayesian 1.2.1 Nhiệm vụ

Theo phương pháp Bayesian thì nghiệm quy phạm được cung cấp bởi quy tắc Bayes

Trang 9

1.2 Sửa đổi Bayesian 1.2.2 Hành vi đối tượng

Hành vi của đối tượng đã được so sánh với nghiệm Bayesian, được xem là tối ưu Trong ví dụ về cái túi ở trên, hầu hết vấn đề

đã đưa ra là đánh giá giữa 0,7 và 0,8 ngược lại với 0.97 theo báo cáo của Rapoport và Wallsten (1972) trong hầu hết các nghiên cứu

“Những ước lượng chỉ liên quan đến những số lượng đó”

Trang 10

1.2 Sửa đổi Bayesian 1.2.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

Trong những nghiên cứu đó, con người được xem như cỗ máy

tự động điều chỉnh xác suất theo quy tắc Bayes

Slovic và những người khác (1986) tuyên bố kinh nghiệm hỗ trợ rằng tư tưởng bảo thủ của đối tượng được cho là: Hiểu lầm quá trình phát sinh dữ liệu; Không có khả năng tập hợp thông tin nhận được; Miễn cưỡng “xài hết” những dữ liệu

Trang 11

1.3 Xác suất tuyển và xác suất hội 1.3.1 Nhiệm vụ

Những nghiên cứu dẫn đến hồi đáp cá nhân để xác suất tuyển

và xác suất hội bị hạn chế bởi những phép thử có căn cứ vững chắc của các phép toán xác suất Một trong những quy tắc cơ bản là định lí bổ sung

Trang 12

A: lũ lụt nghiêm trọng ở

Bắc Mỹ năm 1989

B: động đất ở California

năm 1989 Hầu hết những nghiên cứu chủ quan về xác suất hội đều tập

trung vào quy tắc nhân: P(AB)=P(A)P(A|B)

Trang 13

1.3 Xác suất tuyển và xác suất hội 1.3.2 Hành vi đối tượng

Tversky và Kahneman (1983): sự tàn phá của lũ lụt có thể là

do tác động của động đất, dẫn đến hợp của động đất và lũ lụt

có lẽ xuất hiện nhiều hơn lũ lụt

Khi phân loại mô hình hồi đáp điển hình, Ross và Groot (1982) báo cáo rằng lỗi sai chính là đang xem xác suất đúng ngang với một trong những bộ phần cấu thành của nó

Trang 14

1.3 Xác suất tuyển và xác suất hội

1.3.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

Những vi phạm của quy tắc mở rộng được kí hiệu như

là “nguỵ lí hội”

Tâm lí học lại lần nữa khám phá ra những vi phạm

nghiêm trọng của hầu hết các quy tắc cơ bản của xác

suất

- Những độ lệch đó được giải thích như thế nào?

- Những lí thuyết nào được đưa ra cho hiện tượng

này?

Trang 15

1.4 Sự tương quan

- Có hai đặc điểm của nhiệm vụ thực nghiêm được xem xét lúc này khác với những báo cáo trong phần “hiểu xác suất”

- Đối tượng được yêu cầu để biểu thị mức độ của chúng trong

sự tương quan nhận thức của hai biến cố thay cho dự đoán sự xuất hiện của tổ hợp biến cố tương lai

- Hầu hết nghiên cứu đều sử dụng ngữ cảnh từ môi trường xung quanh của đối tượng

Trang 16

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.1.1 Nhiệm vụ

Nó đã được chứng minh rằng sự phỏng đoán

và xử lý thông tin của con người được dẫn dắt bởi

kỳ vọng, niềm tin và kinh nghiệm của một người

Những phỏng đoán đánh giá cung cấp một vài cách tiếp cận khác nhau; trong nghiên cứu thực nghiệm của họ Kahneman và Tversky (1973) đã

cố gắng để chứng minh rằng xác suất đánh giá

cá nhân là hệ thống chệch (không đối xứng) bởi

sử dụng một vài phỏng đoán suy luận

Trang 17

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.1.1 Nhiệm vụ

- Trong 'vấn đề niên lịch' tần suất của các chữ cái trong ngôn ngữ tiếng Anh đã được nghiên cứu Các hướng dẫn đọc như sau Hãy xem xét chữ R R là có nhiều khả năng xuất hiện ở vị trí đầu tiên? vị trí thứ ba? Ước tính của tôi cho tỉ số hai giá trị là: :1

Trang 18

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.1.2 Hành vi đối tượng

Trong số 152 chủ thể trong vấn đề niên lịch, 105 đánh giá vị trí đầu tiên có nhiều khả năng và 47 đánh giá vị trí thứ ba có nhiều khả năng cho một phần lớn của các chữ cái

Hơn nữa, mỗi năm chữ đã được đánh giá bởi một phần lớn các chủ thể thường xuyên trong vị trí đầu tiên hơn ở vị trí thứ

ba Tỷ lệ ước tính trung bình là 2: 1 cho mỗi năm chữ (Tversky

và Kahneman, 1979)

Nghiên cứu thực nghiệm phân tích các chủ thể bỏ quên của thông tin cơ sở-tỷ lệ, khi họ tiếp xúc với thông tin chẩn đoán Hiện tượng này được gọi là sai lầm (ngụy biện) cơ sở-tỷ lệ

Trang 19

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.1.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

- Theo Tversky và Kahneman, xác suất phỏng đoán là một hệ thống chệch (không đối xứng), bởi vì người ta thường áp dụng những phỏng đoán đánh giá Điều quan trọng nhất trong số này là phỏng đoán sẵn có, phỏng đoán đại diện, lược đồ quan hệ nhân quả, và các cấu trúc đặc trưng phỏng đoán đại diện được thảo luận rộng rãi nhất

- Một người sau dựa trên kinh nghiệm này đánh giá xác suất của một sự kiện không chắc chắn, hoặc một mẫu, bởi mức độ mà nó là (i) tương tự như trong các thuộc tính cần thiết cho tập hợp tổng quát của nó; và (ii) phản ánh đặc điểm nổi bật của quá trình mà nó được tạo ra "(Kahneman và Tversky, 1972)

Trang 20

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.1.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

- Trong mô hình Tom W., câu trả lời của chủ thể có thể là do phỏng đoán đại diện là người dẫn đến đánh giá hợp lý của Tom W là một kỹ sư bởi mức độ mà những mô tả của người

đó là tương tự như một kỹ sư; họ không xem xét các thông tin thống kê

- Một người được cho là sử dụng phỏng đoán sẵn có bất cứ khi nào ông ấy ước tính tần suất hoặc xác suất của sự dễ dàng

mà trường hợp hoặc các hiệp hội đến tâm." (Tversky và Kahneman, 1973, p.208)

Trang 21

2.1 Những phỏng đoán đánh giá

2.1.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

- Các cấu trúc đặc trưng cũng có thể giải thích những sai lầm cơ sở-tỷ lệ (Bar-Hillel, 1980), theo đó mà thông tin đã cụ thể hơn

và chi phối các thông tin khác, nếu nó dùng để chỉ một nhóm nhỏ hơn

- Theo cấu trúc quan hệ nhân quả, sau đây giữ Nếu các thông tin cơ sở-tỷ lệ liên kết với các biến cố, mà một phỏng đoán xác suất là cần tìm,nó được tính đến

Trang 22

2.2 Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy

2.2.1 Nhiệm vụ

- Đối với việc phân tích suy luận và nhận thức của con người,

sự hiểu biết của đối tượng và đại diện nội bộ của văn bản, mục tiêu của anh ấy/cô ấy, và xử lý thông tin và kết luận của

cá nhân, là những đối tượng không thể thiếu của nghiên cứu

- Nếu ai muốn nghiên cứu xem thông tin là nguyên nhân giải thích, cho dù xác suất được biến đổi hoặc có trọng lượng, hoặc cho dù phỏng đoán xác suất thực sự dựa trên các tính đại diện, người ta phải thiết kế các phương pháp thử nghiệm

để sản xuất dữ liệu đó cho phép truy tìm một quá trình suy nghĩ của đối tượng

Trang 23

2.2 Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy

2.2.1 Nhiệm vụ

Quan niệm về một vấn đề ngẫu nhiên không chỉ phụ thuộc vào các mô hình toán học cơ bản Khái quát Bar-Hillel (1980) phân biệt giữa một cuốn sách giáo khoa và một mô hình phỏng đoán xã hội, chúng tôi giới thiệu các cấu trúc của một khung giải quyết vấn đề và khung phỏng đoán xã hội của một nhiệm vụ, xác định đặc điểm điển hình của cả hai nội dung và các trường hợp trong đó một nhiệm vụ là trình bày cho một

cá nhân Sự phân biệt này là điều cần thiết cho một giải thích hoạt động của người học

Trang 24

2.2 Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy

2.2.1 Nhiệm vụ

- Trong một khung giải quyết vấn đề, nhiệm vụ có một hình thức được hệ thống hóa với một thiết lập toán học, nơi mà thông tin đã được đưa cho các cấp

- Trong một khung phỏng đoán xã hội, nội dung xuất hiện là thực tế và lấy từ thế giới không biết kỹ thuật Các thông tin không hoàn toàn chính xác; có một số lượng lớn các gợi ý dư thừa, trong đó có thể được liên kết với kinh nghiệm cá nhân khác nhau và do đó dẫn đến các giải pháp khác nhau

Trang 25

2.2 Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy

2.2.2 Hành vi đối tượng

-Một loạt các đối tượng được điều tra, bao gồm cả học sinh lớp 7, sinh viên đại học và mười giáo sư đại học, những người chuyên gia trong ngẫu nhiên Đối tượng đã có thể tái tạo các văn bản của vấn đề theo nghĩa đen Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng

kể trong số họ bắt đầu từ cách diễn giải khác của câu hỏi so với cái dự định của các nhà nghiên cứu

Trang 26

2.2 Mô hình cấu trúc và mô hình quy trình của tư duy

Trang 27

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

Lý thuyết Quyết định hành vi đang là một lĩnh vực phức tạp được tổ chức nhằm vào mô tả việc phán đoán, suy luận,

và quyết định kỹ thuật

Xác suất là chỉ có một thành phần của việc ra quyết định; Tuy nhiên một phần đáng kể của nghiên cứu vào phỏng đoán xác suất được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu quyết định và phân tích quyết định

Trang 28

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

Dựa trên một mô hình cấu trúc của quá trình giải quyết, các nhà phân tích quyết định thường tách riêng ra đo (chủ quan) tiện ích và xác suất

Sau đó, các thực thể này kết hợp ví dụ của mô hình tuyến tính hoặc trong khuôn khổ của khung quyết định

Một đánh giá về phạm vi của các phương pháp và các công cụ phần mềm cho cơ cấu và phân tích các vấn đề quyết định

Trang 29

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

2.3.1 Nhiệm vụ

Để có được những giá trị đúng, một loạt các kỹ thuật trực tiếp hoặc gián tiếp được phát triển Các nhà phân tích quyết định chuyên nghiệp thường xuyên sử dụng các tác vụ con quay để đo xác suất cho các sự kiện nhị phân, các bánh xe được điều chỉnh cho đến khi các phỏng đoán có sự bất đồng giữa hai sự đánh cuộc:

Trang 30

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

2.3.1 Nhiệm vụ

Ví dụ: Bạn giành chiến thắng mười đô la nếu trời mưa vào

ngày mai, không có gì nếu trời không mưa (Gamble 1) Bạn

giành chiến thắng 10 đô la, nếu một con quay, quay trên

một bánh xe, rơi xuống khu vực màu đen mà bao phủ 80%

của vòng tròn (Gamble 2)

Trang 31

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

 Sử dụng ví dụ, các phương pháp nửa phạm vi trên, xác suất chủ quan được so sánh với tỷ lệ hồi đáp đúng

Trang 32

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

2.3.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

Các nhà nghiên cứu quyết định tin vào (cả tin) hiện

tượng trong một thời gian dài và chắc chắn; do đó nó

không phải là đáng ngạc nhiên, đó là một loạt các lời hướng

dẫn được cung cấp Pitz (1974) Những người khác tin vào

hiện vật quy mô đáp ứng hoặc giả thuyết thiếu sót suy luận

nói chung Một biến thể phổ biến là mọi người trở nên quá

tự tin khi họ tìm kiếm bộ nhớ của họ chỉ để xác nhận bằng

chứng, trong khi bỏ qua bằng chứng mâu thuẫn

Trang 33

2.3 Xác suất hiệu chuẩn

2.3.3 Lí thuyết của hành vi đối tượng

May (1986), người đã cẩn thận xây dựng một mô hình nhận thức cụ thể cho từng mặt hàng duy nhất Để hiểu chuẩn sai lệch cô ta phân tích các yếu tố, sự đánh giá xác suất chủ quan và yếu tố quyết định câu trả lời đúng và sai Cô ấy kết luận: "Ý tưởng quy chuẩn về hiệu chuẩn và việc giải thích xúc phạm 'cả tin' như một 'khiếm khuyết' chung hóa ra là quan trọng: sự tự tin dựa trên kiến thức sai là" quá tự tin "theo định nghĩa."

Trang 34

2.4 Sự kiện liên quan đến tiềm năng não

Các biến thể của việc học tập xác suất và các khái niệm xác suất chủ quan đóng một vai trò quan trọng trong tranh cãi hiện nay về tiềm năng não liên quan đến sự kiện Một tiềm năng não liên quan đến sự kiện (ERP) là một chuỗi thoáng qua biến động điện áp cảm ứng trong mô não bởi sự xuất hiện của một số sự kiện quan trọng (cf Horst et al., 1980) Một trong những hệ thống chuẩn mực gọi là "mô hình kỳ quặc”

Trang 35

2.4 Sự kiện liên quan đến tiềm năng não

Đây là những nhiệm vụ trong đó chuỗi ngẫu nhiên của

hai hay nhiều tác nhân kích thích được trình bày, và đối

tượng này phải đếm hoặc đáp ứng một trong những tác

nhân kích thích hoặc họ phải phản ứng khác nhau cho một

trong hai kích thích Khi làm công việc này đối tượng đội

EEG-điện cực (điện não đồ) trên da đầu của mình bằng

cách đó các tiềm năng não được ghi lại

Trang 36

2.4 Sự kiện liên quan đến tiềm năng não

Kahneman và Tversky (1982) phân biệt sự khác nhau 'biến thể của sự không chắc chắn " Loại thứ nhất là một "kỳ vọng tích cực trong đó chiếm ý thức và dựa trên năng lực hạn chế của sự chú ý" Các phiên bản khác bao gồm kỳ vọng tạm thời (mồi) Trái với kỳ vọng tích cực, thụ động kì vọng không cản trở việc ứng phó với các mục tiêu chưa được lặp lại Chúng đi vào liên quan khác biệt của chúng về các biến thể của xác suất chủ quan để nghiên cứu

Trang 37

2.5 Tổng quan về những mô hình nghiên cứu

Cuối cùng, chúng tôi trình bày một phân loại của các mô hình nghiên cứu xem xét dựa trên việc phân loại sau: tính năng quan trọng của tình hình thực nghiệm, các mô hình phi bản địa, quan niệm về chủ đề này, giải thích chi phối tâm lý, mối quan hệ chủ thể-nhiệm vụ, và cuối cùng nhưng không kém, một sự phán xét ngắn gọn về các giá trị mô phạm

Ngày đăng: 05/04/2017, 18:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w