1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quan hệ thương mại việt nam – campuchia thực trạng và giải pháp

58 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 451 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình hợp tác và phát triển trên lĩnh vực thương mại giữa hai nước Việt Nam và Campuchia trong những năm qua, hoạt động thương mại biên giới có nhiều thuận lợi, thị trường được mở r

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là kết quả cảu quá trình phân công lao động, xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và vùng lãnh thổ từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.Với tình hình nền kinh tế khó khăn như hiện nay, mỗi quốc gia muốn phát triển kinh tế thì đều phải thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với thế giới bên ngoài Xu hướng hội nhập và liên kết kinh tế đã trở thành động lực thúc đẩy của quan hệ quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới Các nước có nền kinh tế dù mạnh hay yếu đều có xu thế liên kết với nhau để đối phó với những thách thức,khó khăn và cạnh tranh quyết liệt về các lĩnh vực kinh tế, thương mại Quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia cũng không nằm ngoài xu thế đó

Trong những năm qua, quan hệ đoàn kết hữu nghị,hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Campuchia đã có những bước phát triển tốt đẹp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu cũng như mọi mặt.Với bề dày hơn 40 năm quan hệ ngoại giao, đã từng ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, trong thời kì mới, Việt Nam và Campuchia càng tăng cường và củng cố tình đoàn kết hữu nghị để đưa mối quan hệ láng giềng truyền thống tốt đẹp giữa hai nước lên một tầm cao mới vì lợi ích của nhân dân hai nước

và góp phần tích cực cho hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới

Mối quan hệ đó được vun đắp qua nhiều thế hệ và đang ngày càng phát triển nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, trong đó quan hệ kinh tế, thương mại phát triển ấn tượng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần xây dựng sự thành công quan

hệ "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững

lâu dài" giữa hai nước.

Câu ngạn ngữ rất quen thuộc của ông cha ta để lại “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” Câu nói giản dị ấy không những có ý nghĩa to lớn

Trang 2

trong mối quan hệ cộng đồng “tình làng, nghĩa xóm”, mà ở một phương diện

nào đó nó còn mang cả ýnghĩa hợp tác quốc gia, quốc tế Tạo được mối quan hệ tốt đẹp nhiều mặt trong đó có quan hệ thương mại với những nước láng giềng, ta mới có điều kiện vững chắc để vươn tới những thị trường xa hơn, rộng lớn hơn

Tình hình hợp tác và phát triển trên lĩnh vực thương mại giữa hai nước Việt Nam và Campuchia trong những năm qua, hoạt động thương mại biên giới có nhiều thuận lợi, thị trường được mở rộng, thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia, nhu cầu xuất – nhập khẩu hàng hóa ngày càng đa dạng, kim ngạch trao đổi hàng hóa tăng trưởng với tốc độ cao, các cơ chế, chính sách cũng như thủ tục hành chính được hai bên cùng quan tâm cải thiện, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho trao đổi hàng hóa qua biên giới giữa hai nước, cơ sở hạ tầng cửa khẩu, hạ tầng thương mại được Chính phủ hai nước quan tâm đầu tư, nâng cấp, công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi kinh doanh trái pháp luật được chính quyền địa phương phối hợp ngăn chặn có hiệu quả…

Phát triển quan hệ thương mại và đầu tư với Campuchia có ý nghĩa quan trọng không chỉ vì Campuchia là một trong những cửa ngõ về kinh tế nối Việt Nam với các nước ASEAN, mà Campuchia còn có những tiềm năng kinh tế mà Việt Nam có thể hợp tác và đầu tư Trong những năm gần đây, hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước đã có những bước phát triển tích cực Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động thương mại và đầu

tư giữa hai nước, bài viết đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai nước đạt hiệu quả hơn

Với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, trong những năm qua, quan hệ hai nước đã

không ngừng được củng cố và phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực, mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân hai nước

Trang 3

Xuất phát từ những nhận thức mối quan hệ của hai nước, em đã

chọn đề tài “Quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia thực trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.Mục đích nghiên cứu

của đề tài là trên cơ sở trình bày một số hiểu biết có tính khái quát về đất nước Việt Nam và Campuchia, nghiên cứu thực trạng và hiệu quả hoạt động thương mại giữa hai nước trong thời gian qua để từ đó đề xuất một số kiến nghị giải pháp nhằm tăng cường phát triển quan hệ thương mại giữa hai vì

sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh hạnh phúc

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Campuchia thực trạng và giải pháp

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian từ năm 2007 đến nay

Kết cấu đề tài khóa luận tốt nghiệp gồm có ba chương:

Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam- Campuchia

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia trong thời gian qua

Chương 3: Triển vọng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia trong thời gian tới.

Trang 4

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – CAMPUCHIA

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 vai trò của thương mại quốc tế đối với mỗi nước

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm củathương mại quốc tế

Thương mại hình thành và phát triển thành một nghành kinh tế độc lập tương đối, một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, chuyên đảm nhận việc

tổ chức lưu thông hàng hóa Nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế ở mỗi quốc gia

Thương mại quốc tế là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa giữa trong nước và nước ngoài Trên khía cạnh này chức năng cơ bản của thương mại quốc tế là: Tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua trao đổi mua bán, làm cho thị trường trong nước gắn với thị trường bên ngoài Trên cơ sở đó, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân về hàng hóa, dịch vụ theo số lượng, chất lượng, mặt hàng địa điểm và thời gian phù hợp

Thương mại quốc tế là một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội quốc tế Xét dưới khía cạnh này, thương mại quốc tế có thế có chức năng như sau: Thương mại quốc tế tạo vốn cho quá trình gia tăng vốn đầu tư trong nước Thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất của các nước Góp phần tăng trưởng nền kinh tế

Thương mại giúp người tiêu dùng thỏa mãn được nhu cầu lựa chọn trong số nhiều nhãn hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong nghành Mang lại lợi thế kinh tế đáng kể nhờ mức độ mở rộng quy mô chuyên môn hóa sản xuất của mỗi quốc gia về một loại nhãn hiệu sản phẩm trong nghành, sau đó đem chúng ra trao đổi với nhau qua thương mại quốc

Trang 5

tế, thay cho tình trạng trước đây, mỗi quố gia đều phải cố gắng sản xuất những lượng nhỏ của tất cả nhãn hiệu trong nghành.

Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam – Campuchia giúp các nước có thể trao đổi hàng hóa với nhau mở rộng thị trường, từng bước đưa thị trường hai nước hội nhập với thị trường thế giới và cũng biến nước ta thành bộ phận của phân công lao động quốc tế

Đó cũng là con đường đưa kinh tế nước ta có bước phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

1.1.2 Một số lí thuyết thương mại làm cơ sở cho quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hóa là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế vì vây, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế

Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn Hoạt động thương mại quốc tế bao gồm: thương mại

Trang 6

hàng hóa hữu h́ình (như: xe hơi, máy móc, quần áo, nguyên, nhiên, vật liệu…)Thương mại hàng hóa vô h́ình (như: bằng phát minh, dịch vụ )

Thương mại quốc tế là hoạt động kinh tế đă có từ lâu đời, tuy quy mô lúc đó còn nhỏ bé Thương mại quốc tế chỉ thực sự phát triển trong thời đại

tư bản chủ nghĩa và trở thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ là quan hệ mua bán với bên ngoài mà c̣òn cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác giúp một quốc gia, vùng lănh thổ tham gia vào phân công lao động quốc tế và khu vực

1.2 Cơ sở thực tiễn

Tiềm năng và lợi thế phát triển ở các vùng cửa khẩu biên giới phía Tây Nam được đánh giá dựa vào các phương diện cơ bản như điều kiện và môi trường chính trị - xã hội, điều kiện và mức độ phát triển kinh tế hai nước, truyền thống văn hóa dân tộc và thói quen sinh hoạt, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng Theo cách tiếp cận ở trên, chúng ta có thể đưa ra một

số đánh giá khái quát về tiềm năng phát triển kinh tế nói chung và thương mại nói riêng giữa hai nước nằm trên dải biên giới phía Tây Nam như sau:

Thứ nhất, do điều kiện địa lý, bối cảnh lịc sử và sự phát triển cách

mạng dân chủ cả 3 nước nằm trên bán đảo Đông Dương trước đây và công cuộc xây dựng thể chế chình trị - xã hội hiện nay của mỗi nước đã gắn kết Việt Nam – Lào – Campuchia thành các nước có quan hệ rất đặc biệt Đây là tiền đề rất quan trọng, tạo nền tảng chính trị - xã hội cho khả năng phát triển hợp tác, liên kết kinh tế giữa Việt Nam, Lào, Campuchia, đặc biệt là khi cả 3 nước tham gia AFTA Hoạt động giao lưu kinh tế và thương mại tại khu vực cửa khẩu sẽ phát triển mạnh

Thứ hai, mức độ phát triển của 3 nước nói chung và vùng lãnh thổ

dọc biên giới Tây Nam nói riêng, tuy có những lợi thế rất khác nhau, nhưng

về cơ bản khong có chênh lệch lớn, tương đồng về nhiều mặt, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế thương mại Thí dụ tổng sản phẩm

Trang 7

quốc nội (GDP) của Việt Nam hiện tại gấp hơn 10 lần GDP của Lào và gấp

7 lần GDP của Campuchia, nhưng GDP bình quân đầu người của cả 3 nước không quá chênh lệch Theo số liệu năm 2002 của Tổng cục thống kê (1), GDP bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 440 USD, của Lào khoảng

328 USD và của Campuchia khoảng 279 USD, còn theo sức mua tương đương là 2.070 USD, 1.620 USD, 1.860 USD Nền kinh tế của 3 nước về cơ bản là phát triển theo chiều rộng dựa chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động đông và rẻ, hàm lượng công nghệ và chất xám trong các loại sản phẩm hàng hóa xuất khẩu thấp Đây chính là một yếu tố quan trọng thúc đẩy 3 nước tăng cường trao đổi thương mại, hợp tác kinh tế để giảm thiểu những thiệt hại trong buôn bán quốc tế với các nước trong khối ASEAN và các quốc gia công nghiệp phát triển khác

Thứ ba, hệ thống giao thông hành lang Đông – Tây trong Tiểu vùng

sông Mê Kông, đang được thiết lập Các quốc gia tiểu vùng đang chú trọng đầu tư phát triển nhằm mở ra khả năng phát triển giao lưu hàng hóa giữa Việt Nam, Campuchia và Thái Lan Và ưu tiên phát triển hành lang Đông – Tây là một chủ trương lớn cảu các nước phát triển trong tiểu vùng

Trong 8 tuyến hành lang được ưu tiên phát triển thời gian tới thì có 3 tuyến đi qua dải biên giới Việt Nam – Campuchia Đó là tuyến số 2 từ Bangkok qua Batdambang – Bavet/Mộc Bài (biên giới Việt Nam – Campuchia) đến thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu; Tuyến số 7 từ Quy Nhơn đi Thắng Đức, Phumi Bakham (biên giới Việt Nam – Campuchia) và tuyến số 8 từ Shihanouk Vile đi Kampot, Hà Tiên (biên giới Việt Nam – Campuchia), Rạch Gía, Mỹ Tho, thành phố Hồ Chí Minh

Cùng với Hiệp định khung ASEAN về việc tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh được thực hiện từ năm 2000, hiện nay các nước trong Tiểu vùng sông Mê Kông như Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma và Trung Quốc đang chuẩn bị ký kết Hiệp định khung tạo các điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và người qua lại dọc dải biên giới trong khu vực này

Trang 8

Như vậy, hành lang Đông - Tây là tuyến đường bộ chính, chạy từ các cảng biển miền Trung, miền Nam của Việt Nam qua Lào, Campuchia tới miền Đông Bắc Thái Lan Đó là một công trình lớn, tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa, giao lưu kinh tế, văn hóa, bảo

vệ an ninh giữa các nước trong khu vực này Đồng thời, triển vọng buôn bán giữa các nước trong Tiểu vùng sông Mê Kông với Trung Quốc, khu vực Đông Bắc Á sẽ được mở rộng

Thứ tư, thị trường Việt Nam với hơn 80 triệu dân, Campuchia với

hơn 13,5 triệu dân là tiềm năng lớn cho phát triển thương mại, giao lưu hàng hóa qua cửa khẩu biên giới mặc dù hiện tại thị trường hai nước mới bắt đầu hình thành và phát triển, đặc biệt dọc khu vực biên giới phía Tây Nam nhưng vẫn còn sơ khai Sức mua còn thấp, tuy nhiên với tốc đọ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mỗi năm hơn 7% và của Campuchia khoảng 6%, thì trong thời gian tới quy mô GDP và sức mua của thị trường cả hai nước sẽ tăng nhanh hơn

Thị trường Campuchia với hơn 13,5 triệu dân, tỷ lệ nghèo cao, có nhu cầu tiêu thụ mặt hàng nông sản, hàng công nghiệp nhẹ mà Việt Nam đang sẵn có như gạo, mỳ ăn liền, đường, rau quả, giầy dép, phân bón, sắt thép và các hàng tiêu dùng khác Ngược lại, Việt Nam cũng cần nhập khẩu các loại nguyên liệu thô sản xuất từ Campuchia (hoạt động thương mại giữa hai nước sẽ được trình bày chi tiết ở các phần sau) Điều kiện tự nhiên, vị trí địa

lý, phong tục tập quán đã hình thành mối quan hệ buôn bán lâu đời giữa hai nước, đồng thời cũng tạo ra những cơ hội mới cho việc hợp tác phát triển

kinh tế dọc dải biên giới phái Tây Nam.(Nguồn: Nguyễn Xuân Thiên – Trần Xuân Tùng: Quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia).

Ngoài ra, đến nay hai nước đã ký kết một số hiệp định quan trọng như: Hiệp định về Hợp tác kinh tế thương mại (1994); Hiệp định về thành lập Ủy ban Hỗn hợp về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật (1994); Hiệp định Thương mại (1998); Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (2001); Hiệp định mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ thương mại khu vực biên

Trang 9

giới Việt Nam - Campuchia (2001), Hiệp định Quá cảnh hàng hóa (2008)…

và gần đây nhất là Bản thỏa thuận thúc đẩy thương mại Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2012-2013 được ký kết trong tháng 2/2012 Theo bản thỏa thuận, Việt Nam dành thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0% cho 39 mặt hàng của Campuchia chủ yếu thuộc các nhóm hàng nông sản và giày dép, trong

đó có hai mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan là lá thuốc lá khô (hạn ngạch 3.000 tấn/năm) và gạo (hạn ngạch 300.000 tấn/năm) Đổi lại, Campuchia dành thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0% cho 14 mặt hàng của Việt Nam thuộc các nhóm sản phẩm sữa, chè, cà phê, túi nhựa… Bên cạnh đó, hai nước cũng đã xây dựng một số cơ chế hợp tác thường niên, trong đó có

Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Campuchia về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia; Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam - Campuchia và Hội nghị về phát triển thương mại khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia Thông qua các cơ chế hợp tác này, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và doanh nghiệp hai nước ngày càng chặt chẽ, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước

1.2.1 Vị trí địa lý và lợi thế của Việt Nam

Việt Nam (tên chính thức : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là một quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á Việt Nam phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²) Trên biển Đông có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng vẫn đang bị tranh chấp với các quốc gia khác như Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia và Philippines

Trang 10

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km)

và Campuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc

Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan

Việt Nam có diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km²

Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20% Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và

độ che phủ khoảng 75% Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung

Bộ và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc

có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu cận nhiệt đới ẩm ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông), còn miền trung có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm Hằng năm, lượng mưa

từ 1.200 đến 3.000 mm,số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và

Trang 11

nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bão và lụt lội với 5 đến 10 cơn bão/năm.

Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, măng gan, bô xít, chrômát, Về tài nguyên biển có dầu mỏ, khí tự nhiên, quặng khoáng sản ngoài khơi Với hệ thống sông dốc đổ từ các cao nguyên phía tây, Việt Nam có nhiều tiềm năng

về phát triển thủy điện

Như vậy, nét khá độc đáo của vị trí địa lý nước ta là: Nằm ở nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới và các luồng di cư trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo Cũng chính vì thế, đã làm cho thiên nhiên nước ta trở nên đa dạng và phong phú mà nhiều nơi trên thế giới không có được; Cũng tại khu vực này trong chiến tranh (nóng - lạnh) còn là nơi tập trung nhiều mâu thuẫn lớn, trong xây dựng lại là nơi hội tụ nhiều cơ hội phát triển

1.2.2 Vị trí địa lý và lợi thế của Campuchia

Diện tích Campuchia khoảng 181.040 km², có 800 km biên giới với Thái Lan về phía bắc và phía tây, 541 km biên giới với Lào về phía đông bắc, và 1.137 km biên giới với Việt Nam về phía đông và đông nam Nước này có 443 km bờ biển dọc theo Vịnh Thái Lan

Đặc điểm địa hình nổi bật là một hồ lớn ở vùng đồng bằng được tạo nên bởi sự ngập lụt Đó là hồ Tonle Sap (Biển Hồ), có diện tích khoảng 2.590 km² trong mùa khô tới khoảng 24.605 km² về mùa mưa Đây là một đồng bằng đông dân, phù hợp cho cấy lúa nước, tạo thành vùng đất trung tâm Campuchia Phần lớn (khoảng 75%) diện tích đất nước nằm ở cao độ dưới 100 mét so với mực nước biển, ngoại trừ dãy núi Cardamon (điểm cao nhất là 1.771 m), phần kéo dài theo hướng bắc-nam về phía đông của nó là dãy Voi (cao độ 500-1.000 m) và dốc đá thuộc dãy núi Dangrek (cao độ trung bình 500 m) dọc theo biên giới phía bắc với Thái Lan

Trang 12

Nhiệt độ dao động trong khoảng 10-38°C Campuchia có các mùa mưa nhiệt đới: gió tây nam từ Vịnh Thái Lan/Ấn Độ Dương đi vào đất liền theo hướng đông bắc mang theo hơi ẩm tạo thành những cơn mưa từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó lượng mưa lớn nhất vào khoảng tháng 9, tháng 10; gió đông bắc thổi theo hướng tây nam về phía biển trong mùa khô từ tháng

11 đến tháng 3, với thời kỳ ít mưa nhất là tháng 1, tháng 2

Campuchia cũng là quốc gia có nhiều loài động vật qúy hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa diệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng

Với địa hình thuận lợi Campuchia có lợi thế về du lịch là ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh nhất của Campuchia, với số du khách tăng 34% trong năm 2000 và 40% trong năm 2001.Campuchia là vùng đất của những cái đẹp, các ngôi đền cổ kính thuộc quần thể Angkor, đền Bayon và sự sụp

đổ của đế chế Khmer luôn mang dấu ấn của sự trang trọng, hùng vĩ và chiếm vị trí trung tâm trong các kỳ quan thế giới – có thể so sánh với Machu Picchu, Kim tự tháp Ai Cập hay Vạn lý trường thành Nhưng sự hùng vĩ này lại trái ngược với Cánh đồng chết và bảo tàng diệt chủng Toul Sleng, cũng như trái ngược với những chứng tích lịch sử cận đại của Campuchia, thời gian mà lực lượng Polpot và chế độ cực đoan Khmer Đỏ cai trị cuối những năm 1970, gây nên một trong những tội ác ghê rợn và tàn bạo nhất của thế kỷ 20

1.2.3 Sự gắn bó truyền thống và hiện đại

Quan hệ Việt Nam - Campuchia là mối quan hệ song phương giữa hai nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia Nó

đã trở nên căng thẳng kéo dài trong suốt chiến tranh Việt Nam-Campuchia (1976 - 1990) Sau đó, cả hai nước đã có những bước tiến trong việc tạo dựng mối quan hệ hữu nghị bền chặt Đến năm 2012 bắt đầu xuất hiện những rạn nứt trong quan hệ Việt Nam - Campuchia với việc Campuchia

Trang 13

gây chia rẽ các quốc gia ASEAN tại hội nghị AMM-45 dưới áp lực chính sách mua chuộc của Trung Quốc.

Việt Nam và Campuchia có mối quan hệ láng giềng gắn bó lâu đời, sát cánh giúp đỡ nhau trong sự nghiệp đấu tranh giành lại nền độc lập và bảo

vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình và kiến thiết đất nước Lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia hiện đại gắn với nhiều biến cố, thử thách: từ cuộc kháng chiến chung chống chế độ thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược tới những cuộc nội chiến kéo dài ở Campuchia, cho tới khi Việt Nam giúp Campuchia giải phóng đất nước khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, hồi sinh đất nước Chùa Tháp và kiến tạo nền hòa bình trên đất nước này, rồi cùng phát triển trong cộng đồng ASEAN như ngày nay Việt Nam có chung đường biên giới dài 1.137 km với Campuchia Trong lịch sử, Campuchia đã bị mất đất về tay Việt Nam và phải triều cống cho Việt Nam Vào thế kỉ 19, cả hai đều trở thành thuộc địa của thực dân Pháp và cùng với Lào tạo thành Đông Dương thuộc Pháp Những nhà yêu nước của cả Việt Nam và Campuchia đã cùng cộng tác để chống Pháp trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954) nhằm mục đích dành độc lập cho mỗi dân tộc Trong chiến tranh Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng lãnh thổ của Campuchia để phát động các cuộc tấn công vào miền Nam Việt Nam Điều này là cái cớ cho Mỹ ném bom vào lãnh thổ Campuchia với lí do tiêu diệt Việt cộng ẩn núp ở Campuchia, tuy nhiên lại làm chết 150.000 người Campuchia Với sự rút lui của quân Mỹ và việc cộng sản thắng lợi ở Việt Nam và Campuchia năm 1975, cả ba nước Đông Dương đều đi theo chế độ cộng sản

Từ thập niên 1990, mối quan hệ giữa hai nước đã được cải thiện Cả hai đều là thành viên của các tổ chức đa phương của vùng như ASEAN và Hợp tác Mê Kông-Sông Hằng Cả hai đều đang mở cửa và phát triển thương mại cửa khẩu và tìm cách nới lỏng các quy định về thị thực cho công dân hai nước Cả hai chính phủ của hai nước đã đặt mục tiêu gia tăng thương mại

Trang 14

song phương 27% lên mức 2,3 tỉ USD năm 2010 và 6,5 tỉ USD năm 2015 Việt Nam đã xuất khẩu 1,2 tỉ USD giá trị hàng hóa sang Campuchia năm

2007 Trong khi Campuchia chỉ là nhà nhập khẩu lớn thứ 16 của Việt Nam thì Việt Nam lại là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Campuchia

Ngày nay Việt Nam và Campuchia đều chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trong khi giành ưu tiên cho quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước Về quan hệ chính trị-nhà nước, cho đến nay, lãnh đạo và nhân dân hai nước luôn quán triệt "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài" là phương châm chỉ đạo xuyên suốt mối quan hệ hai nước Trong quan hệ đối ngoại, hai bên thường xuyên trao đổi kinh nghiệm và phối hợp về các vấn đề khu vực và quốc tế, ưu tiên hợp tác có hiệu quả trên các diễn đàn khu vực và tiểu vùng như cơ chế hợp tác khu vực Tam giác phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV), Hợp tác bốn nước Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam (CLMV), Hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS), Chiến lược hợp tác năm nước Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam-Thái lan (ACMECS), Hợp tác phát triển hành lang Đông-Tây (EWC) Nhằm thúc đẩy hợp tác song phương, hai nước có những cơ chế cụ thể và thường xuyên như: Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ

về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật; Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới; những chương trình hợp tác giữa các Bộ, các ngành; các Diễn đàn, Hội thảo, Hội nghị thương mại biên giới được tổ chức luân phiên tại hai nước

Bên cạnh các hoạt động hợp tác song phương, Việt Nam và Campuchia còn cùng tham gia vào nhiều khuôn khổ hợp tác khu vực như Hợp tác Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, hợp tác CLMV (gồm 4 nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar), hợp tác ACMECS (gồm 5 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Thái Lan), hợp tác Mekong - Nhật Bản, hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng, hợp tác ASEAN

Trang 15

Thông qua các hoạt động hợp tác này, quan hệ kinh tế, thương mại song phương giữa hai nước ngày càng được củng cố và tăng cường vì lợi ích của người dân mỗi nước, vì sự thịnh vượng của mỗi quốc gia cũng như vì hòa bình và ổn định trong khu vực.

Trong tương lai, quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước sẽ còn

tiếp tục phát triển hơn nữa theo phương châm "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài", góp phần vào sự phát

triển và phồn vinh của mỗi nước, đưa hai nước cùng với các quốc gia ASEAN khác hình thành một cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 như mục tiêu đã đặt ra

Tính đến năm 2012 là “Năm Hữu nghị Việt Nam - Campuchia” và kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Đây là dịp chúng ta cùng nhìn lại những mốc lịch sử, những chiêm nghiệm của các thế

hệ người Việt, người Campuchia để hướng tới tương lai, cùng nhau xây dựng quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Campuchia ngày càng vững mạnh và bền chặt

Một trong những trọng tâm mà hai nước sẽ ưu tiên triển khai trong thời gian tới là thực hiện các hiệp ước, hiệp định và các thỏa thuận song phương về biên giới, đẩy nhanh tiến độ phân giới, cắm mốc trên bộ, đáp ứng nguyện vọng của lãnh đạo và nhân dân hai nước Thủ tướng Chính phủ của hai nước đã có kế hoạch dự lễ khánh thành cột mốc tại điểm giao cắt cuối cùng đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Campuchia - cột mốc số

314, vào dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM – CAMPUCHIA TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Giới thiệu khái quát về quan hệ thương mại của Việt Nam

Mục tiêu tổng quát trong chiến lược Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010: phát triển xuất khẩu với tốc độ cao, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu

Trang 16

các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tích cực phát triển các mặt hàng tiềm năng, mặt hàng mới theo hướng nâng cao hiệu quả đi đôi với chuyển dịch cơ cấu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao, giảm dần tỉ trọng hàng thô hoặc sơ chế, tăng xuất khẩu dịch vụ, phấn đấu đến năm 2010 xuất khẩu hàng hoá đạt trên 80 tỉ USD, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006- 2010 tối thiểu 18%.

Cho đến thời kỳ này cũng là thời kỳ chính phủ Việt Nam khá thành công trong phát triển kinh tế Đặc biệt là trong phát triển thương mại nhờ thực thi chiến lược “hướng về xuất khẩu với những nghành công nghiệp nhẹ

sử dụng nhiều lao động”

Ở những năm đầu giai đoạn này, nhưng nặng nề hơn nhiều, nền kinh

tế Việt Nam đang trong thời kỳ suy thoái và hơn nữa là các thị trường truyền thống như Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu bị thu hẹp Đây

là thử thách rất lớn của nền kinh tế đối ngoại Việt Nam làm thay đổi nội dung và phương thức hoạt động Thị trường truyền thống bị thu hẹp đột đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho các doanh nghiệp và làm cho tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam giảm mạnh Trong khi đó, nền kinh tế trong nước phát triển chậm không ổn định, bội chi ngân sách cao, nợ nước ngoài nhiều, khả năng trả nợ thấp, sản xuất công nghiệp nhỏ bé, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả và chưa thích nghi được với cơ chế mới

Song với những cố gắng không ngừng cùng với chiến lược “hướng

về xuất khẩu” vào những năm đầu thập kỷ 90 Chính phủ Việt Nam đã vượt qua được những khó khăn, đưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, phá thuế bao vây cấm vận, mở rộng các quan hệ hợp tác phát triển với bên ngoài

Đối với kinh tế đối ngoại, chính phủ Việt Nam đã tiếp tục hoàn thiện các chính sách mở cửa của thời kỳ trước, mở rộng quyền sản xuất kinh doanh trực tiếp xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Ban hành các chính sách khuyến khích làm hàng xuất khẩu như: Các đơn vị sản xuất hàng xuất

Trang 17

khẩu được ưu tiên mua ngoại tệ, vật tư khan hiếm, những mặt hàng khuyến khích xuất khẩu được miễn giảm thuế Hàng năm chính phủ quyết định về chính sách mặt hàng và điều hành công tác xuất nhập khẩu Trong đó thu hẹp dần danh mục mặt hàng nhà nước quản lý trong hạn nghạch, như quy định vấn đề cụ thể bảo đảm cho kề hoạch xuất nhập khẩu trong năm được thực hiện

Nhờ có chính sách đổi mới của chính phủ Việt Nam đã từng bước nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới Kết quả của thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam đã được mở rộng từ quan hệ ngoại thương với 40 nước năm 1990 lên đến 108 nước 1995 và hiện nay là 132 nước, trong đó đã tiếp cận được nhiều thị trường với công nghệ cao và nguồn vốn lớn như Nhật Bản, NIES Đông Á, EU, Mỹ… Việt Nam cũng triệt

để tận dụng thị trường Châu Á, thị trường này chiếm 60 – 70% tổng kim nghạch xuất nhập khẩu trong cả thời kỳ 1991 – 2000

Việc tăng kim nghạch xuất khẩu đã tác động tích cực đến nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế Tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu vật tư, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đổi mới công nghệ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Sự đóng góp quan trọng của kinh tế đối ngoại trong thời kỳ này làm nền kinh tế Việt Nam đứng vững trước những thử thách chưa từng có, tạo ra một xu thế phát triển kinh tế riêng, hoàn toàn không phụ thuộc bất cứ một nền kinh tế nào, và có khả năng đứng vững trước những thử thách chưa từng có, tạo ra một xu thế phát triển kinh tế riêng, hoàn toàn không phụ thuộc bất cứ một nền kinh tế nào, và có khả năng đứng vững trước mọi biến động của nền kinh tế thế giới

Năm 2006, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 84 tỉ USD, trong đó xuất khẩu đạt 39,6 tỉ USD tăng 7,163 tỉ USD, tương ứng tăng 22,1% so với năm

2005, vượt gần 5% chỉ tiêu kế hoạch của Chính phủ giao, nhập khẩu 44,4 tỉ

Trang 18

USD tăng 20,1% so với năm 2005 Loại trừ yếu tố giá cả, việc mở rộng thị trường đã góp phần tăng thêm kim ngạch xuất khẩu 4,222 tỉ USD.

Nhiệm vụ xuất khẩu năm 2007 tối thiểu sẽ đạt 47,74 tỉ USD, tăng 20% so với 2006, trong đó châu Á - Thái Bình Dương là 24,96 tỉ USD, tăng 21%; châu Âu 9,19 tỉ USD, tăng 21%; châu Mỹ 11,17 tỉ USD, tăng 22%; châu Phi – Tây Nam Á 2,42 tỉ USD, tăng 64%

2.1.1 Quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN

Ký kết được nhiều Hiệp định/thoả thuận thương mại quan trọng như Hiệp định tiếp cận thị trường với EU, Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, ASEAN - Ấn Độ, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Australia - New Zealand, Hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với Hungari, Séc, Bulgari, Slovenia Đặc biệt, đã kết thúc đàm phán gia nhập WTO vào thời điểm phù hợp…Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ

Năm 2010 là năm bản lề với tiến trình liên kết các thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) - chuyển sang giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2015 dựa trên trên ba trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ACSC) Việt Nam ngoài việc nỗ lực hoàn thành vai trò Chủ tịch ASEAN với chủ đề “Hướng tới Cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn đến hành động” cũng luôn luôn chú ý tăng cường hơn nữa các mối quan hệ hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực với các nước thành viên khác của ASEAN, trong đó đáng quan tâm nhất vẫn là

ở lĩnh vực kinh tế nói chung và hoạt động thương mại hàng hoá nói riêng giữa các nước thành viên ASEAN và các nước nước đối tác thương mại chính của ASEAN

Trong những năm qua quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN ngày càng phát triển Số liệu Thống kê Hải quan Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy các thành viên ASEAN tính chung luôn là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của Việt Nam với trị giá hàng hóa buôn bán hai chiều đạt mức tăng trưởng

Trang 19

25,9%/năm trong giai đoạn 2005-2008 và 13,3%/năm giai đoạn 2005-2009

Về thứ hạng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam so với các khu vực thị trường khác thì ASEAN là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ sau thị trường Hoa Kỳ và thị trường các nước thành viên Liên minh châu Âu-EU Còn ở chiều ngược lại, ASEAN là đối tác thương mại cung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 2 cho các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ đứng sau Trung Quốc

Bảng 2.1: tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu

Việt Nam – ASEAN năm 2008

khẩu

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Tính toán trên nguồn số liệu của hải quan việt nam

Thứ hạng trong tổng số tất cả các

khu vực thị trường xuất nhập khẩu

của Việt Nam

Tỷ trọng so với tổng kim ngạch

xuất khẩu của Việt Nam(%)

Tính toán trên nguồn số liệu của ban thư ký ASEAN

Thứ hạng xuất nhập khẩu của Việt

Nam trong ASEAN

Tỷ trọng so với tổng kim ngạch

xuất khẩu của ASEAN (%)

Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam và Ban Thư Ký ASEAN

Số liệu thống kê cũng cho thấy trong những năm gần đây quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng đạt được sự phát triển khả quan Trị giá buôn bán hàng hoá hai chiều trong giai đoạn 2005-

2008 liên tục tăng qua các năm Cụ thể trong năm 2005, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - ASEAN chỉ đạt 14,91 tỷ USD trong khi đó con số này của năm 2008 là 29,77 tỷ USD, tăng gấp 2 lần so với năm 2005 Đến năm 2009, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tổng trị giá giao thương giữa Việt Nam với tất cả các quốc

Trang 20

gia thành viên tổ chức liên kết khu vực này chỉ đạt con số 22,41 tỷ USD, giảm gần 25% so với một năm trước đó.

Nếu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân gần 26%/năm của giai đoạn 2005-2008 thì tổng kim ngạch trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và ASEAN trong năm 2010 ước đạt có thể lên đến con số 28,2 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dự kiến đạt 10,6 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 17,6 tỷ USD Nhưng nếu tốc độ tăng bình quân chỉ đạt 13,3%, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2005-

2009 thì kim ngạch giao thương giữa Việt Nam và các nước thành viên Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) chỉ đạt 25,4 tỷ USD: trong đó xuất khẩu ước đạt 9,8 tỷ USD và nhập khẩu là 15,6 tỷ USD

Mặc dù trị giá hàng hoá trao đổi giữa Việt Nam với các nước ASAEN trong nhiều năm gần đây đều tăng so với năm trước (trừ năm 2009) nhưng vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân Do đó, tỷ trọng giao thương của Việt Nam với khu vực này so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước với thế giới lại có xu hướng giảm Singapore và Thái Lan là hai đối tác lớn nhất cung cấp hàng hoá cho các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ trọng khoảng trên 63% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN Trong số các nước ASEAN, Singapore luôn là đối tác lớn nhất với tổng trị giá hàng hóa trao đổi giữa hai nước là 3,25 tỷ USD Tiếp theo là Thái Lan 3,12 tỷ USD và Malaixia 2,43 tỷ USD

Theo cam kết kể từ đầu năm 2010, sáu nước phát triển trong ASEAN gồm Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Brunei bắt đầu áp dụng mức thuế suất 0% đối với hầu hết các mặt hàng Các thành viên còn lại của ASEAN, trong đó có Việt Nam sẽ thực hiện muôn hơn, vào năm 2015

Ngoài các thị trường trên, Campuchia, Lào và Phillipin là những thị trường đang được đánh giá có nhiều hứa hẹn bởi mức tăng trưởng hàng năm tương đối cao

Trang 21

Nhìn lại chặng đường đã qua cho thấy quan hệ kinh tế, thương mại của Việt Nam với ASEAN chưa xứng tầm với tiềm năng của khu vực này Đặc biệt, từ cuối năm 2008, khi nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm và mở rộng thị trường Tuy nhiên, trong khi tìm kiếm các thị trường mới dường như Việt Nam chưa khai thác hết thị trường còn tiềm năng rất lớn với hơn 500 triệu dân ASEAN Mặc dù, trong quý I/2010 các số liệu thống kê cho thấy thương mại hai chiều với ASEAN có nhiều tín hiệu lạc quan nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước trong khu vực này để trong một vài năm tới các doanh nghiệp Việt Nam sẽ vừa tăng thị phần vừa giảm nhập siêu và tiến tới từng bước cân bằng cán cân thương mại trong buôn bán với các quốc gia thành viên ASEAN.

2.1.2 Vị trí của Campuchia trong quan hệ thương mại với Việt Nam

Trong những năm qua, cơ chế hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia được duy trì thông qua các Kỳ họp thường niên của Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước Đến nay đã có 12 kỳ họp mang lại những kết quả quan trọng cho việc triển khai hợp tác trên mọi lĩnh vực, từng bước phát huy thế mạnh của mỗi nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của hai bên

Việt Nam và Campuchia đều chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trong khi giành ưu tiên cho quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước Về quan hệ chính trị - nhà nước, cho đến nay, lãnh đạo và nhân dân hai nước luôn quán triệt “ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài” là phương châm chỉ đạo xuyên suốt mối quan hệ hai nước Trong quan hệ đối ngoại, hai bên thường xuyên trao đổi kinh nghiệm và phối hợp về các vấn đề khu vực và quốc tế, ưu tiên hợp tác có hiệu quả trên các diễn đàn khu vực và tiểu vùng như cơ chế hợp tác khu vực

Trang 22

Tam giác phát triển Campuchia – Lào - Việt Nam (CLV), Hợp tác bốn nước Campuchia – Lào – Myanmar - Việt Nam (CLMV), Hợp tác tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng (GMS), Chiến lược hợp tác năm nước Campuchia – Lào – Myanmar - Việt Nam - Thái lan (ACMECS), Hợp tác phát triển hành lang Đông-Tây (EWC) Nhằm thúc đẩy hợp tác song phương, hai nước có những cơ chế cụ thể và thường xuyên như: Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác kinh

tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật; Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới; những chương trình hợp tác giữa các Bộ, các nghành; các Diễn đàn, Hội thảo, Hội nghị thương mại biên giới được tổ chức luân phiên tại hai nước Báo cáo của Hiệp hội cho biết, Việt Nam hiện có 124 dự án tại Campuchia với tổng vốn đầu tư 2,5 tỷ USD, nằm trong nhóm năm nước đầu

tư lớn nhất tại Campuchia

Năm 2010, Việt Nam mới có 41 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Campuchia với tổng vốn đầu tư 566 triệu USD; năm 2011 tăng lên 90 dự án, tổng đầu tư 2 tỷ USD Campuchia cũng là nước đứng thứ hai trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam

Các hoạt động đầu tư của Việt Nam tại Campuchia chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, trồng cây cao su, năng lượng, khai khoáng, tài chính, ngân hàng, hàng không, và viễn thông Trong đó, có các doanh nghiệp hàng đầu như Vietnam Airline, Viettel, Ngân hàng cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV, các công ty cao su Việt Nam, Tập đoàn quốc tế Năm sao cùng nhiều doanh nghiệp nòng cốt khác đang hoạt động hiệu quả

Trong ba năm qua, đầu tư của Việt Nam vào Campuchia đã đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế của Campuchia (khoảng 5% GDP), đóng góp vào thu ngân sách Campuchia hàng trăm triệu USD và tạo việc làm cho trên 3 vạn lao động của Campuchia Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tham gia tích cực công tác an sinh xã hội

Trang 23

Trong 11 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam-Campuchia đạt 2,95 tỷ USD và ước cả năm đạt 3,3 tỷ USD tăng 17,8% so với năm 2011 (2,83 tỷ USD) Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia đạt 2,52 tỷ USD (tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2011), giữ vị trí số hai trong số hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Campuchia.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Campuchia là xăng dầu, sắt thép và dệt may; các mặt hàng xuất khẩu chính của Campuchia sang Việt Nam là cao su, nguyên liệu thuốc lá Hai nước phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu hai chiều đạt 5 tỷ USD vào năm 2015 Ngoài ra, gần 640.000 lượt khách du lịch Việt Nam đến Campuchia trong 10 tháng đầu năm 2012, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2011, chiếm 22,3% lượng khách du lịch quốc tế đến Campuchia Dự báo năm 2012 sẽ có trên 750.000 lượt khách Việt Nam đến Campuchia, tăng 25% so với năm 2011, tiếp tục đứng thứ nhất về lượng khách du lịch đến Campuchia

Trong ba năm qua, AVIC với nòng cốt là các Tập đoàn và Tổng Công

ty mạnh của Việt Nam đã phát huy tích cực vai trò là đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia, phối hợp với các bộ, ngành chức năng hai nước tổ chức thành công các Hội nghị xúc tiến đầu tư lần thứ 1, 2 và 3; cụ thể hóa chỉ đạo của hai Thủ tướng hai nước trong đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch hai nước; phối hợp tổ chức các Hội chợ thương mại, du lịch, giao thương hai nước; vận động các ngân hàng

hỗ trợ các dự án; hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án

AVIC và các doanh nghiệp Việt Nam đã đề ra định hướng hoạt động đến năm 2015, đẩy mạnh tiến trình đầu tư một cách có hiệu quả, tập trung vào một số lĩnh vực trọng điểm như tài chính ngân hàng, nông nghiệp, nuôi trồngvà đánh bắt thủy sản, khai khoáng, trồng cây công nghiệp; thủy điện,

du lịch; thương mại, tăng đầu tư trực tiếp vào Campuchia lên trên 4 tỷ USD

Trang 24

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Hoàng gia Campuchia, bà Men Som Ol đánh giá cao hoạt động đầu tư, thương mại,

du lịch có hiệu quả của Việt Nam tại Campuchia, góp phần giúp Campuchia phát triển kinh tế, từng bước giải quyết bài toán xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân

Bà Men Som Ol nói Chính phủ Hoàng gia Campuchia cam kết làm hết sức mình để ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Việt Nam như tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các dự án cụ thể, ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, rà soát các hiệp định còn thiếu giữa hai bên, tiếp tục thúc đẩy hoạt đầu đầu tư, thương mại và du lịch giữa hai nước.”

2.2 Thực trạng quan hệ thương mại hai chiều giữa Việt Nam – Campuchia

Từ cuối năm 2008, quan hệ trao đổi thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Campuchia đã phát triển mạnh mẽ Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng trưởng vượt bậc Nếu như năm 2001 kim ngạch thương mại hai nước chỉ đạt 372 triệu USD thì năm 2011, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt trên 2,8 tỷ USD Hoạt động đầu tư của Việt Nam sang Campuchia đến nay đã có những bước phát triển mới Theo số liệu thống kê của Hội đồng Phát triển Campuchia (CDC) thì cho tới cuối năm 2011 các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư vào Campuchia với số vốn là 1,196 tỷ USD; xếp thứ 6 trong tốp 10 nhà đầu tư lớn nhất tại đất nước này (sau Trung Quốc: 8,912 tỷ USD, Hàn Quốc: 4,040 tỷ USD, Anh: 2,570 tỷ USD, Malaysia: 2,614 tỷ USD, Mỹ: 1,970 tỷ USD)

Hơn 60 doanh nghiệp Việt Nam đã hiện diện tại Campuchia và hoạt động trong các lĩnh vực: ngân hàng, viễn thông, hàng không, năng lượng, trồng cây cao su, du lịch, nông nghiệp, y tế, thăm dò và khai thác khoáng sản, phát triển hạ tầng giao thông Công ty viễn thông Viettel với tên thương hiệu Metfone đã phát triển mạng lưới rộng khắp trên toàn lãnh thổ Campuchia và trở thành một trong các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông

Trang 25

hàng đầu tại đất nước này Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia (BIDC) được Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) thành lập tại Campuchia tham gia hiệu quả vào cung cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, cung cấp vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam và Campuchia trong những

dự án lớn có tiềm năng Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) đang triển khai khá thành công các dự án trồng cao su trên diện tích 100 nghìn ha như đã cam kết với Chính phủ Campuchia VRG triển khai các dự

án với cách tiếp cận "hợp tác cùng phát triển bền vững" kết hợp xây dựng và phát triển cộng đồng dân cư tại chỗ được Chính phủ và nhân dân Campuchia đánh giá cao Liên doanh hàng không Vietnam Airlines và Cambodia Angkor Air được chính phủ Campuchia đánh giá là một trong những mô hình liên doanh hoạt động thực sự hiệu quả Tổng công ty điện lực Việt Nam đang xúc tiến dự án xây dựng nhà máy thủy điện Hạ Sesan-II góp phần thiết thực trong chương trình phát triển năng lượng của nước bạn

Ngoài ra, còn có các công ty khác của Việt Nam đang đầu tư vào các lĩnh vực như tài chính, vận tải, logistic, nông nghiệp, y tế và dịch vụ thương mại tổng hợp Các doanh nghiệp của Việt Nam trong quá trình đầu tư, hợp tác và liên doanh, liên kết với bạn luôn đề cao ý thức trách nhiệm đối với nhân dân Campuchia nơi sở tại và tham gia hỗ trợ cộng đồng người Campuchia gốc Việt đang làm ăn sinh sống tại Campuchia Hoạt động đầu

tư của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2008 tới nay đã tạo thêm hàng nghìn việc làm và đóng góp trực tiếp và các chương trình an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo trên đất nước bạn Đây thực sự là những thành quả rất có ý nghĩa của mối quan hệ hợp tác toàn diện, chân thành giữa hai nước

Với những điều kiện và nền tảng thuận lợi như vậy, quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Campuchia đã có những bước tiến vượt bậc Trong giai đoạn 2001-2011, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng gần 17 lần, từ 169 triệu USD lên 2,83 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trung bình là 23%/năm, riêng năm 2012 đạt khoảng 3,1 tỷ USD, cao hơn mục tiêu mà

Trang 26

Chính phủ hai nước đã đề ra là 2,8 tỷ USD Cơ cấu hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia tương đối đa dạng, với những mặt hàng có kim ngạch lớn như xăng dầu, sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may, vật liệu xây dựng, phân bón, dược phẩm, dụng cụ cơ khí và một số mặt hàng tiêu dùng hàng ngày như mỳ ăn liền, hóa mỹ phẩm, đồ gia dụng Việt Nam nhập khẩu

từ Campuchia chủ yếu là 4 mặt hàng: cao su, gỗ nguyên liệu, hạt điều nguyên liệu và sắn lát

Bảng 2.2: kim ngạch buôn bán hàng năm với Việt Nam trong 5 năm

qua: (Đơn vị: USD)

Năm Việt Nam

xuất

Việt Nam nhập

Tổng KN Mức

tăng(%)

XK chiếm

Nguồn: Tổng cục Hải Quan 2008-1012

Nhìn chung, hoạt động hợp tác thương mại biên giới trong thời gian qua đã góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Campuchia, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, cải thiện đời sống xã hội, tạo điều kiện giải quyết việc làm, nâng cao dân trí, củng cố an ninh quốc phòng tại khu vực biên giới Hoạt động thương mại tại biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia giúp thị trường mở rộng, thu hút nhiều DN tham gia, nhu cầu hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng; chính sách, thỏa thuận mới tiếp tục được bổ sung, thủ tục hành chính được hai bên quan tâm cải thiện, tạo môi trường thông thoáng thuận lợi cho trao đổi hàng hóa qua biên giới; cơ sở hạ tầng

Trang 27

cửa khẩu, hạ tầng thương mại được Chính phủ hai nước quan tâm đầu tư, nâng cấp; công tác chống buôn lậu được chính quyền địa phương và các cấp quan tâm, phối hợp ngăn chặn hiệu quả.

2.2.1.Xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia

Hiện nay, Campuchia đang là một trong những thị trường chủ lực và hấp dẫn đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Không những thế đây còn là nơi doanh nghiệp có thể thực hiện các dự án đầu tư để sản xuất nguyên liệu cho nhà máy sản xuất trong nước hoặc tạo sản phẩm xuất khẩu sang thị trường thứ ba Riêng quan hệ trao đổi hàng hóa trên tuyến biên giới Việt Nam và Campuchia diễn ra rất sôi động

Biểu đồ 2.1: Xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia từ 2009-2011

Kim ngạch xuất nhập khẩu biên mậu của 10 tỉnh biên giới của Việt Nam giáp với Campuchia tăng rất mạnh qua các năm, bình quân tăng 30,82%/năm Campuchia ngày càng có quan hệ kinh tế với nhiều nước và vùng lãnh thổ

Thị trường Campuchia với 14 triệu dân đã và đang có nhiều triển vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam khai thác vì đây là thị trường không đòi hỏi quá cao về chất lượng Hơn nữa, Việt Nam và Campuchia lại có mối

Trang 28

quan hệ láng giềng, gần gũi, lãnh đạo hai nước đã nhất trí cùng nhau thúc

đẩy hợp tác song phương ngày càng đi vào thực chất hơn trên một số lĩnh

vực, trong đó có hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư… Chính phủ

Campuchia cũng đang nỗ lực phát triển nền kinh tế thị trường cho phép các

doanh nghiệp, thương nhân nước ngoài thành lập các công ty, chi nhánh,

trung tâm thương mại, cửa hàng tại Campuchia và được đối xử bình đẳng

như các doanh nghiệp của Campuchia…

Những tiền đề thuận lợi cần được các doanh nghiệp Việt Nam khai

thác, tận dụng để xây dựng hệ thống phân phối hàng hóa xâm nhập sâu ở

Campuchia nhằm tạo dựng chỗ đứng vững chắc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu

hàng hóa vào thị trường tiềm năng này vàng, vật liệu xây dựng, máy móc,

ô-tô xe máy, sản phẩm dược Từ Hồng Kông (16,1%), Trung Quốc

(13,6%), Pháp (12,1%), Thái Lan (11,2%), Đài Loan (10,2%), Hàn Quốc

(7,5%), Việt Nam (7,1%), Singapore (4,9%), Nhật (4,1%)… Trong đó, kim

ngạch của Việt Nam xuất sang Campuchia đạt 1,731 tỷ USD, tăng 57% so

với cùng kỳ năm 2010 và Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam đạt 342 triệu

USD, tăng tới 80% so với cùng kỳ năm ngoái

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Campuchia với những mặt hàng

chủ yếu như sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép, chất dẻo và các sản phẩm

từ chất dẻo, hàng may mặc, bánh kẹo, hàng thời trang, máy móc, thiết bị,

sản phẩm từ cao su, từ gỗ, sản phẩm hóa chất, sản phẩm từ giấy, thủy tinh và

các sản phẩm từ thủy tinh, điện thoại các loại và linh kiện, phương tiện vận

tải và phụ tùng, hàng rau quả, thủy sản

Bảng 2.3: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang

campuchia (Đơn vị: USD)

Trang 29

Sản phẩm chất

Nguồn : cục công nghệ thông tin và thống kê

Một số sản phẩm Việt Nam xuất khẩu vào Campuchia năm 2010 có

khối lượng và giá trị lớn là xăng dầu, sắt thép, chất dẻo, máy móc thiết bị,

dệt may… Trong đó, Campuchia là thị trường dẫn đầu về xuất khẩu xăng

dầu và sắt thép của Việt Nam (chiếm 42,4% và 18,2% kim ngạch xuất khẩu

2 mặt hàng này của Việt Nam) với khối lượng xăng dầu là 831.000 tấn

(phần lớn là tái xuất), trị giá 570 triệu USD, tăng 25,4% so với năm 2009;

sắt thép là 275.000 tấn, trị giá 191 triệu USD, tăng 48% so với 2009; tiếp

đến sản phẩm chất dẻo đạt 59 triệu USD, tăng 48,3% so với 2009; máy móc

thiết bị đạt 55 triệu USD, tăng 42,7% so với 2009; hàng dệt may đạt 61 triệu

USD, tăng 92,8% so với cùng kỳ năm 2009

Trong quan hệ trao đổi thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và

Campuchia từ năm 2006 đến nay, xuất siêu luôn nghiêng về Việt Nam với

giá trị thặng dư lần lượt qua các năm: 2006 đạt 596 triệu USD; 2007 đạt 789

triệu USD; 2008 đạt 1.221 triệu USD; 2009 đạt 961 triệu USD; 2010 đạt

1.275 triệu USD; và quý I/2011 đạt 370,5 triệu USD

2.2.1.1 Quy mô và xu hướng xuất khẩu

Ngày đăng: 05/04/2017, 11:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu - Quan hệ thương mại việt nam – campuchia thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1 tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu (Trang 19)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w