1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng

109 371 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 779,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay vẫn chưa có hướng dẫn về định mức và phương thức cấp tiền lương, tiền công, tiền chi hoạt động bộ máy trong kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nh

Trang 1

MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài

Nhằm tạo sự thúc đẩy hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường sau một thời gian dài ngủ đông trong cơ chế bao cấp của Nhà nước Đảng, Nhà nước và chính phủ đã ban hành nhiều quy định

về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của tổ chức khoa học và công nghệ Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, sau nhiều năm triển khai thực hiện, các tổ chức khoa học và công nghệ đã từng bước thực hiện được tự chủ trong thực hiện các nhiệm vụ về tài chính Tuy nhiên, việc tự chủ trong các lĩnh vực tài chính, nhân lực, liên kết hợp tác chưa thực sự được như mong muốn Các bước khởi động của quá trình tự chủ, tự chịu trách nhiệm vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, chưa thực sự hiệu quả do nhiều nguyên nhân Trong

đó, vướng mắc lớn nhất chính là nhận thức và ý chí hành động từ người đứng đầu các tổ chức khoa học và công nghệ đến lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương chưa đúng đắn, đầy đủ, thiếu quyết liệt, nghiêm túc trong triển khai Việc làm khoa học trong cơ chế bao cấp quá lâu khiến cho khi bước vào cơ chế thị trường, nhiều người đứng đầu các tổ chức khoa học và công nghệ bỡ ngỡ, thậm chí lo sợ

Bên cạnh đó chính việc thông tin chưa đầy đủ, chưa rõ ràng khiến tâm

lý lo sợ này tồn tại trong nhiều năm Rất nhiều người lầm tưởng chuyển sang

cơ chế tự chủ sẽ bị cắt nguồn ngân sách, cắt giảm biên chế Nhưng thực tế, chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì ngân sách nhà nước sẽ được giao theo cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ, đề tài dự án, sản phẩm thay vì giao theo biên chế Cơ chế mới nhằm bảo đảm ngân sách chi cho khoa học và công nghệ được sử dụng hiệu quả hơn, tạo được sự gia tăng và góp phần thực

sự cho quá trình phát triển chung Đồng thời, khuyến khích các nguồn lực đầu

tư ngoài ngân sách cho khoa học và công nghệ, nâng cao thu nhập của người làm khoa học thực sự

Trang 2

Cùng với vướng mắc từ nhận thức, thì việc xây dựng chính sách, ban hành các văn bản hướng dẫn còn chậm Nghị định ban hành từ năm 2005 những mãi đến năm 2014 mới có thông tư hướng dẫn xây dựng, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện thường xuyên của tổ chức khoa học và công nghệ, trong khi đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định tính tự chủ của các đơn vị Đến nay vẫn chưa có hướng dẫn về định mức và phương thức cấp tiền lương, tiền công, tiền chi hoạt động bộ máy trong kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cũng như hướng dẫn tổ chức khoa học và công nghệ góp vốn bằng tiền, tài sản giá trị quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc thế chấp vay vốn ngân hàng Không chỉ do sự chậm trễ của việc ban hành văn bản, các tổ chức khoa học và công nghệ muốn tự chủ gặp khó khăn còn do sự thiếu đồng bộ, xung đột của các quy định trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng luôn cho rằng một trong những vấn đề cốt lõi trong đổi mới, phát triển khoa học và công nghệ hiện nay

là phải thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, yêu cầu các

tổ chức khoa học và công nghệ của tổng cục trước hết phải gỡ bằng được những vướng mắc liên quan đến việc chậm trễ và chồng chéo trong ban hành chính sách về cơ chế tài chính, nhân lực và hợp tác liên kết để tạo điều kiện cho các tổ chức khoa học và công nghệ có thể tự chủ thành công Tất cả các tổ chức khoa học và công nghệ không chuyển sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo đúng kế hoạch sẽ bị cắt ngân sách Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các bộ, ngành khẩn trương xây dựng nghị định mới về tự chủ trong khoa học và công nghệ kèm theo đầy đủ thông tư hướng dẫn, gỡ bỏ những rào cản đang cản trở quá trình tự chủ

Trang 3

Để cơ chế tự chủ tài chính của các tổ chức khoa học công nghệ và các chính sách mới, tiến bộ phát triển khoa học và công nghệ được thực thi đầy

đủ, Tổng cục cần nghiên cứu và thực hiện nghiêm chỉnh các đạo luật mới ban hành trong thời gian tới

Khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước Khoa học và công nghệ là bước đệm cơ bản

để đưa nước ta nhanh thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới hiện nay Hơn bao giờ hết Đảng và Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm để các tổ chức khoa học và công nghệ trong cả nước nói chung và các

tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Tổng cục Đo lường Chất lượng ngày càng nâng cao tính năng động, sáng tạo trong công tác hợp tác nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ

Tự chủ tài chính hiện đang là vấn đề bức thiết đối với các tổ chức khoa học và công nghệ Việc đổi mới cơ chế tự chủ tài chính cần có sự nghiên cứu thực tiễn và học hỏi kinh nghiệm các nước Vì những lý do nêu trên tôi chọn

đề tài: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và

công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng” làm luận văn cao học chuyên

ngành quản lý hành chính công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về khoa học và công nghệ đặc biệt là lĩnh vực tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học công nghệ Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Ngọc Diệu Linh “Nâng cao năng lực tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay”

Trang 4

Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Minh Đức về “Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu tại Viện Khoa học Thủy lợi” Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Chí Nguyên: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính chuyển giao công nghệ nước sạch và vệ sinh môi trường

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

Ngoài ra còn rất nhiều đề tài khoa học như: “Tự chủ tài chính các đơn

vị sự nghiệp công lập có thu” của tiến sĩ Nguyễn Thanh Dương

Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ

tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng”.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung đối tượng nghiên cứu là: Cơ chế tài chính đối với các

tổ chức khoa học và công nghệ

* Phạm vi nghiên cứu:

- Nội dung: Cơ chế tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm tự chủ về các nguồn thu, nhiệm vụ chi, trích lập và sử dụng các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

- Không gian: Tại Tổng cục Đo lường Chất lượng

- Thời gian: Giai đoạn 2009 đến 2014 và định hướng đến năm 2020

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Luận văn đề xuất các giải pháp pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Tổng cục, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Tổng cục nhằm đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của giai đoạn mới

Trang 5

b Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau đây:

- Tổng quan về những lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học công nghệ ;

- Phân tích và đánh giá thực trạng triển khai cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng;

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận:

Nghiên cứu vận dụng lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm: Logic, hệ thống, thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số tài liệu các công trình, các viết trên các sách, báo, tạp chí đã được công bố, đăng tải

6 Đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ

- Phân tích, đánh giá đúng và xác định được nguyên nhân thực trạng cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ trong những năm qua

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại Tổng cục Đo lường Chất lượng trong những năm tới

Trang 6

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm

Trang 7

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI

CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Tổng quan về tổ chức khoa học và công nghệ

1.1.1 Khái niệm và cách phân loại tổ chức khoa học và công nghệ

a) Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ

Theo Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18 tháng 6

năm 2013 thì tổ chức khoa học và công nghệ là “tổ chức có chức năng chủ

yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật” (khoản 11 Điều 3 Luật số 29/2013/QH13).

Trong đó, các thuật ngữ “Khoa học”, “Công nghệ”, “Nghiên cứu khoa học”, “Phát triển công nghệ”, “Dịch vụ khoa học và công nghệ” được hiểu là:

- Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát

triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy;

- Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc

không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm;

- Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học,

nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và cộng nghệ;

- Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản

chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn;

- Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất,

quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy;

Trang 8

- Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả

nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người;

- Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản,

nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới;

- Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa

học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu;

- Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ

thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn

kỹ thuật, đo lương, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân

và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh

tế - xã hội

b) Cách phân loại tổ chức khoa học và công nghệ

Cũng theo Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2013 thì có ba cách thức phân loại tổ chức khoa học và công nghệ, cụ thể như sau:

* Theo thẩm quyền thành lập, tổ chức khoa học và công nghệ gồm các loại:

- Tổ chức Khoa học và Công nghệ thuộc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập;

- Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Chính phủ do Chính phủ thành lập;

- Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Tòa án nhân dân tối cao do Tòa

án nhân dân tối cao thành lập;

- Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thành lập;

Trang 9

- Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ thành lập hoặc ủy quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thành lập;

- Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thành lập (trừ trường hợp nêu trên);

- Tổ chức khoa học và công nghệ của địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập theo thẩm quyền;

- Tổ chức khoa học và công nghệ được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật và điều lệ;

- Tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập bởi doanh nghiệp, tổ chức khác, cá nhân

* Theo chức năng, tổ chức khoa học và công nghệ gồm:

- Tổ chức nghiên cứu cơ bản;

- Tổ chức nghiên cứu ứng dụng;

- Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ

* Theo hình thức sở hữu, tổ chức khoa học và công nghệ gồm:

- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập: là tổ chức khoa học và công nghệ do cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định

và do tổ chức chính trị, chính trị - xã hội thành lập và đầu tư;

- Tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập: là tổ chức khoa học

và công nghệ do doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức Việt Nam (trừ các tổ chức nêu trên) thành lập ;

Trang 10

- Tổ chức khoa học và công nghệ có vốn nước ngoài: là tổ chức khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập hoặc góp vốn hợp tác với tổ chức cá nhân Việt Nam thành lập tại Việt Nam.

1.1.2 Vai trò của tổ chức khoa học và công nghệ trong nền kinh tế

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng ta đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội Quan điểm coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu,

là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa được khẳng định

và quán triệt trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ đổi mới Tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết về

“Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”, tạo cơ sở quan trọng cho

sự phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định vai trò của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đại hội X nhấn mạnh vai trò động lực của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế tri thức và Đại hội XI đề ra đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững

Sau 16 năm Nghị quyết Trung ương 2 đi vào cuộc sống, khoa học và công nghệ nước ta đã có bước tiến dài trong xây dựng và phát triển tiềm lực, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất

Trang 11

lượng cuộc sống, đưa nước ta từ một nước kém phát triển gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình

Khoa học và công nghệ có vị trí then chốt như vậy, do đó, hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ nói chung, của các tổ chức khoa học

và công nghệ công lập nói riêng rất có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Vai trò của tổ chức khoa học và công nghệ đối với nền kinh tế có thể khái quát như sau:

- Phát huy lao động sáng tạo của tổ chức, cá nhân;

- Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế;

- Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

- Tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường

- Xây dựng lý luận về chủ ngĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiến tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hóa, khoa học của thế giới;

- Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người; kịp thời dự báo, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai;

- Tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiến tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống

Trang 12

1.1.3 Hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ

a) Nguyên tắc hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ

Để thực hiện được vai trò của mình, hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ cần bám sát các nguyên tắc sau:

- Phải xuất phát từ thưc tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ;

- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam;

- Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Đảm bảo an toàn, tính mạng, sức khỏe con người, bảo vệ môi trường;

- Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;

- Hoạt động theo nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao, không vì mục đích sinh lợi

b) Hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ

Tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai, phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ cụ thể như sau:

* Thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng:

Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng là nhiệm vụ nhằm bảo đảm hoạt động của đơn vị, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và giao trực tiếp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức quy định tại quyết định thành lập hoặc điều lệ tổ chức và hoạt động (các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, cấp bộ, cấp tỉnh; xây dựng kế hoạch; hoạt động thông tin, tuyên truyền; hoạt động hợp tác quốc tế; hội nghị, hội thảo chuyên ngành; đào tạo, tập huấn; quản lý cán bộ, tài sản; duy trì hoạt động bộ máy)

Trang 13

* Thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ:

Tổ chức khoa học và công nghệ xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ và biện pháp tổ chức thực hiện Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ này được xác định căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển khoa học và công nghệ của Nhà nước, nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ

Các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước và biện pháp tổ chức thực hiện căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành và địa phương công

bố hàng năm

Đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo chất lượng và tiến độ theo yêu cầu

* Nhiệm vụ do các tổ chức, cá nhân đặt hàng:

Tổ chức khoa học và công nghệ chủ động khai thác và ký hợp đồng với các tổ chức, cá nhân và tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ Nội dung hợp đồng nghiên cứu khoa học, hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ, hợp đồng cung cấp hàng hóa, và các loại hợp đồng kinh tế khác do tổ chức khoa học và công nghệ tự thoả thuận với các đối tác trên cơ sở phù hợp với khả năng, lĩnh vực chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ và không trái pháp luật

* Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền/có thể ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ

Trang 14

* Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền/có thể trực tiếp quyết định việc mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác.

* Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức khoa học và công nghệ

* Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền sản xuất, kinh doanh hàng hoá, thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật

* Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền liên doanh, liên kết sản xuất với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước

* Xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật

* Tham gia đấu thầu thực hiện các hợp đồng sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ

* Điều tra, thống kê, quy hoạch do Nhà nước giao;

* Đào tạo sau đại học;

* Dịch vụ khoa học và công nghệ;

* Hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác;

Tổ chức khoa học và công nghệ chủ động khai thác, ký hợp đồng với các cá nhân và tổ chức thực hiện nhiệm vụ Nội dung hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, cung cấp hàng hóa, và các loại hợp đồng kinh tế khác do tổ chức khoa học và công

Trang 15

nghệ tự thoả thuận với đối tác trên cơ sở phù hợp với khả năng, lĩnh vực chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật

1.2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các tổ khoa học và công nghệ

1.2.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính

* Cơ chế tài chính

Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý Về mặt pháp lý

và chính thống thì không có khái niệm “cơ chế” Tuy nhiên, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”

“Tài chính” theo quan niệm phổ biến, tài chính có biểu hiện bên ngoài

là các hiện tượng thu, chi bằng tiền; có nội dung vật chất là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tề; có nội dung kinh tế bên trong là các quan hệ kinh tế-quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị (gọi tắt là quan hệ tài chính) nảy sinh trong quá trình tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ Như vậy, “tài chính”, về bản chất, là các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế

Cơ chế tài chính, theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học, là “tổng thể các

biện pháp, hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong nền kinh tế quốc dân Cơ chế quản lý tài chính phải phù hợp và thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế của từng giai đoạn phát triển

xã hội”

Trong một hệ thống tổ chức, xét trên góc độ quản lý thì tự chủ là mối quan hệ giữa quyền và trách nhiệm giữa một bên là cấp quản lý và một bên

Trang 16

là cấp bị quản lý Trên cơ sở pháp luật, cấp quản lý trao quyền cho các chủ thể bị quản lý Chủ thể được trao quyền được quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về mọi lĩnh vực hoạt động của đơn vị tự chủ Trọng tâm của tự chủ bao gồm:

- Tự chủ về quản lý chuyên môn;

- Tự chủ về quản lý nhân sự và bộ máy;

- Tự chủ về quản lý tài chính

Về khía cạnh quản lý tài chính, tự chủ về quản lý tài chính nghĩa là chủ thể được trao quyền được giao khoán kinh phí, được quyền tự quyết định mọi hoạt động về việc sử dụng nguồn tài chính ra sao, các hình thức huy động và phân bổ nguồn tài chính để đạt được mục tiêu đề ra và được sử dụng các kết quả tài chính theo quy định của pháp luật

Như vậy, “cơ chế tự chủ tài chính trong các tổ chức KH&CN công lập

là tổng thể các biện pháp, hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính mà trong đó các tổ chức khoa học công nghệ công lập được giao khoán kinh phí, được quyền tự quyết định mọi hoạt động về sử dụng nguồn tài chính, các hình thức huy động và phân bổ nguồn tài chính theo quy định của pháp luật để đạt được mục tiêu đề ra và được chủ động sử dụng các kết quả tài chính phục vụ sự phát triển của đơn vị”

Cơ chế tự chủ tài chính trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thể hiện quan hệ phân phối lợi ích giữa nhà nước với ngành khoa học và công nghệ; giữa ngành khoa học và công nghệ với các đơn vị trong ngành nói chung, với các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng và giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với nhau Do phải giải quyết các mối quan hệ lợi ích nên cơ chế tài chính nói chung, cơ chế tự chủ tài chính nói riêng rất nhạy cảm

Nó liên quan đến phân phối nguồn vốn của xã hội Việc phân phối đúng sẽ thúc đẩy nền kinh tế nói chung, hoạt động khoa học và công nghệ nói riêng phát triển và ngược lại

Trang 17

Bản chất cơ chế tự chủ tài chính trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, phản ánh mối quan hệ giữa đơn vị dự toán các cấp với cơ

quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước;

- Thứ hai, nguồn tài chính cho các tổ chức khoa học và công nghệ rất

đa dạng, bao gồm: nguồn từ ngân sách nhà nước; nguồn thu từ các hoạt động

sự nghiệp; vốn tài trợ, viện trợ, quà biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong

và ngoài nước; nguồn kinh phí khác của tổ chức khoa học và công nghệ;

- Thứ ba, việc tổ chức phân phối sử dụng và sự vận động của các nguồn

tài chính trong tổ chức khoa học và công nghệ công lập do các tổ chức khoa học và công nghệ đó quyết định

1.2.2 Sự cần thiết phải thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Tổ chức khoa học và công nghệ có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ…, theo đó nguồn tài chính cho các tổ chức khoa học

và công nghệ này sẽ bao gồm những khoản cấp phát theo chế độ từ ngân sách nhà nước, một số khoản thu khác có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, hoặc từ quyên góp, tặng, biếu không phải nộp ngân sách nhà nước

Giữa ngân sách nhà nước, tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng và chi phối các thành tố khác Một bộ phận rất lớn của chi ngân sách nhà nước được các tổ chức khoa học và công nghệ sử dụng trực tiếp, do

đó, hiệu quả tài chính của các khu vực này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chi ngân sách nhà nước Ngược lại, quy mô và hiệu quả của ngân sách nhà nước cũng sẽ quyết định, chi phối tiềm lực và hiệu quả tài chính các tổ chức khoa học và công nghệ

Trang 18

Tuy nhiên, việc sử dụng ngân sách nhà nước vẫn còn nhiều bất cập, chẳng hạn như do chưa xây dựng khuôn khổ tài chính trung hạn nên hạn chế tính chiến lược của ngân sách và không phù hợp với việc quản lý các dự án tài chính lớn cần thực hiện trong nhiều năm; bố trí ngân sách còn bị động, co kéo với các mục tiêu ngắn hạn; cơ cấu chi ngân sách còn bất hợp lý, vẫn còn những khoản chi mang tính bao cấp; phạm vi chi ngân sách chưa được xác định rõ nên khó giảm được gánh nặng chi ngân sách trong khi quy mô ngân sách còn nhỏ… Mặt khác, việc chi bao cấp, bao biện đã tạo tư tưởng ỷ lại, làm giảm động lực phát triển và cản trở việc thu hút đầu tư xã hội vào việc cung cấp dịch vụ công Việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách còn kém hiệu quả, sử dụng lãng phí Công tác kiểm soát chi vẫn nặng nề về số lượng, chưa chú ý đúng mức đến chất lượng, hiệu quả khoản chi Đối với các tổ chức khoa học và công nghệ, định mức, chế độ chi tiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ; cơ chế quản lý biên chế, quản lý kinh phí ngân sách còn bất cập, chưa tạo động lực khuyến khích sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến…

Do đó, để việc sử dụng nguồn tài chính của Nhà nước hiệu quả, khi tiến hành nghiên cứu xây dựng chương trình cải cách tổng thể hành chính nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, cải cách tài chính công

đã trở thành một trong bốn nội dung quan trọng trong chương trình cải cách tổng thể nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cải cách tài chính công tác động tới cải cách hành chính nhà nước cả ở phạm vi rộng và phạm vi hẹp Xét trên phạm vi rộng, cải cách tài chính công

là cải cách các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước, thông qua đó tác động đến toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công trên

Trang 19

các lĩnh vực Trên phạm vi hẹp, vai trò của tài chính công đối với cải cách hành chính được xem xét thông qua các tác động trực tiếp của tài chính công tới bản thân bộ máy hành chính nhà nước, cụ thể tới cách thức tổ chức bộ máy, cơ cấu tổ chức, quan hệ phân cấp trong bộ máy, cơ chế tài chính bên trong bộ máy, tiền lương công chức

Theo đó, cải cách tài chính công phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Tạo điều kiện tập trung nguồn lực tài chính nhà nước để giải quyết các nhiệm vụ quan trọng, đúng với chức năng của nhà nước; sử dụng tập trung nguồn lực cho các ưu tiên chiến lược với chính sách nhất quán, thống nhất và thực tế

- Nâng cao được tính chủ động, quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị trong việc quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách và với vấn đề tài chính của mình

- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước, bao gồm hiệu quả quản lý, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trên bình diện vĩ

mô và hiệu quả sử dụng kinh phí ngân sách ở các đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách

- Hướng tới mục tiêu cuả cải cách hành chính nhà nước, đó là: nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng các dịch vụ công được cung cấp

Cải cách tài chính công và cải cách hành chính nhà nước có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, những biến động của bộ phận này luôn tác động kéo theo sự thay đổi của bộ phận kia Do vậy, cải cách tài chính công phải đặt trong mối quan hệ tổng thể của chương trình cải cách hành chính nhà nước, phải đáp ứng được các yêu cầu của cải cách hành chính và hỗ trợ cho quá trình này

Để đáp ứng các yêu cầu của cải cách tài chính công đặt ra, một trong các giải pháp được đưa ra là tăng cường tính chủ động về tài chính của các

Trang 20

đơn vị hành chính sự nghiệp trên cơ sở gắn chi tiêu tài chính với việc cải tiến cơ chế quản lý của các đơn vị này Việc khoán biên chế và chi phí hành chính đối với các cơ quan hành chính và quyền tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu cần được hoàn chỉnh và áp dụng mở rộng trong thời gian tới

Để thực hiện giải pháp này, về lĩnh vực khoa học và công nghệ, ngày 05/9/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập

1.2.3 Mục tiêu và nội dung cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ

1.2.3.1 Mục tiêu của việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói chung, tự chủ về tài chính nói riêng là để:

- Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ và Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ

- Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ

- Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức khoa học và công nghệ

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước

Như vậy, việc thực hiện tốt tính tự chủ của các đơn vị gắn với sự chủ động về tài chính; tạo ra cơ chế tài chính khuyến khích các đơn vị chi tiêu có hiệu quả, hướng vào kết quả đầu ra và tiết kiệm ngân sách, trên cơ sở đó tăng cường thu nhập cho người lao động Đó chính là những động lực thúc đẩy các

Trang 21

cơ quan trong bộ máy nhà nước đổi mới về tổ chức, phương thức hoạt động

và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn Tự chủ về tài chính không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nước, cho các bộ, ngành, địa phương, đơn vị trực tiếp

sử dụng các nguồn lực tài chính mà còn mang lại lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân, những người có quyền giám sát việc sử dụng các nguồn lực tài chính, đồng thời là người thụ hưởng dịch vụ công được cung cấp bởi những nguồn lực tài chính; góp phần thể hiện vai trò tài chính công xứng đáng với vai trò, vị trí của nó trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời

kỳ mới

1.2.3.2 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính

Nội dung tự chủ quản lý tài chính của tổ chức khoa học và công nghệ công lập gồm: tủ chủ về nguồn thu và tự chủ về việc chi tiêu Trong đó:

1.2.3.2.1 Về tự chủ nguồn thu

Các nguồn thu của tổ chức khoa học và công nghệ bao gồm:

a) Thu từ ngân sách nhà nước

Nhà nước cấp ngân sách cho các tổ chức khoa học và công nghệ để thực hiện các nội dung công việc sau:

- Thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bao gồm:

+ Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng: là những nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền giao Quyết định thành lập, Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức

và hoạt động của đơn vị

+ Nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước, bao gồm:

 Nhiệm vụ thông qua tuyển chọn, xét chọn: là những nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà các tổ chức khoa học và công nghệ tham gia tuyển chọn, xét chọn thực hiện căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ khoa học và

Trang 22

công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành và địa phương công

bố hàng năm

 Nhiệm vụ do các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng trực tiếp: là những nhiệm vụ cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng trực tiếp cho tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện

Ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện các nhiệm vụ này theo dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao hàng năm

- Thực hiện hoạt động thường xuyên: là nhiệm vụ nhằm bảo đảm hoạt động của đơn vị, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và giao trực tiếp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức quy định tại quyết định thành lập hoặc điều lệ tổ chức và hoạt động (xây dựng kế hoạch; hoạt động thông tin, tuyên truyền; hoạt động hợp tác quốc tế; hội nghị, hội thảo chuyên ngành; đào tạo, tập huấn; quản lý cán bộ, tài sản; duy trì hoạt động bộ máy)

Kinh phí chi cho hoạt động thường xuyên bao gồm tiền lương, tiền công và tiền chi hoạt động bộ máy của tổ chức khoa học và công nghệ

Việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các tổ chức khoa học và công nghệ được quy định như sau:

+ Đối với tổ chức KH&CN thuộc đối tượng quy định tại khoản 1, Điều

4 Nghị định số 115/2005/NĐ-CP sửa đổi: Ngân sách Nhà nước không cấp

trực tiếp kinh phí hoạt động thường xuyên Chậm nhất đến ngày 01/01/2014 kinh phí hoạt động thường xuyên được xác định và bố trí trong dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước

+ Đối với tổ chức khoa học và công nghệ thuộc đối tượng quy định tại khoản 2, Điều 4 Nghị định số 115/2005/NĐ-CP sửa đổi và các tổ chức khoa học và công nghệ đã được phê duyệt đề án chuyển đổi theo quy định tại

Trang 23

Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 115/2005/NĐ-CP sửa đổi nhưng thực tế hiện nay chưa tự đảm bảo được kinh phí hoạt động thường xuyên:

Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán chậm nhất đến hết ngày 31/12/2013 Mức khoán kinh phí hoạt động thường xuyên không thấp hơn mức ngân sách nhà nước cấp chi hoạt động thường xuyên của năm trước liền kề hoặc của năm được phê duyệt

Đề án; ngoài ra Nhà nước cấp bổ sung các khoản chi thường xuyên tăng thêm cho các tổ chức khoa học và công nghệ do mở rộng tổ chức và tăng cường nhiệm vụ theo quyết định của cấp có thẩm quyền và kinh phí thực hiện chính sách cải cách tiền lương do Nhà nước quy định

Cơ quan chủ quản quyết định mức khoán kinh phí hoạt động thường xuyên căn cứ vào nguồn thu và dự toán chi của tổ chức khoa học và công nghệ hàng năm Khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ tăng cường các nguồn thu, giảm dần dự toán chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước hàng năm

Chậm nhất đến ngày 01/01/2014, nhà nước không cấp trực tiếp kinh phí hoạt động thường xuyên mà kinh phí hoạt động thường xuyên được xác định

và gắn với kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, nhiệm

vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước

+ Đối với tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ quản lý nhà nước thuộc đối tượng quy định tại khoản 3, Điều 4 Nghị định số 115/2005/NĐ-

CP sửa đổi:

Ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo hình thức khoán Mức khoán kinh phí hoạt động thường xuyên căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao hàng năm của đơn vị không thấp hơn mức kinh phí

Trang 24

ngân sách nhà nước cấp chi kinh phí hoạt động thường xuyên của năm trước liền kề; ngoài ra được tính tăng thêm đối với các khoản chi thực hiện cải cách tiền lương, mở rộng tổ chức và tăng cường nhiệm vụ theo quyết định của cấp

có thẩm quyền

Ngoài kinh phí thường xuyên được cấp theo mức khoán nêu trên, chậm nhất đến ngày 01/01/2014, loại hình tổ chức khoa học và công nghệ này được giao kinh phí hoạt động thường xuyên trong dự toán chi thực hiện các nhiệm

vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước Với loại hình tổ chức khoa học và công nghệ này, trong dự toán chi nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng không có kinh phí hoạt động thường xuyên

+ Đối với tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ công lập thành lập sau ngày 05/10/2005:

Kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm được cấp theo phương thức khoán tối đa trong 04 năm (với các tổ chức thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tối đa trong 06 năm) kể từ ngày được thành lập Định mức kinh phí hoạt động thường xuyên do cơ quan có thẩm quyền quyết định trên cơ sở Đề án thành lập tổ chức KH&CN đã phê duyệt, tối đa bằng định mức phân bổ dự toán chi quản lý hành chính áp dụng đối với các

cơ quan hành chính cùng cấp theo quy định tại các Quyết định phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước và theo phương thức tính định mức chi hành chính áp dụng cho năm tài khóa mà tổ chức KH&CN đó được thành lập

Sau thời gian thành lập mới nói trên, các tổ chức này sẽ được Nhà nước giao kinh phí hoạt động thường xuyên trong dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng và nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước

Trang 25

- Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng dự án; kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định bố trí trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Các nguồn kinh phí khác (nếu có)

b) Nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, bao gồm: thu từ phí và lệ phí theo quy định; thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ; thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ; thu

từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu sự nghiệp khác (nếu có)

Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập được mở tài khoản riêng (kể cả tài khoản ngoại tệ) tại Kho bạc hoặc Ngân hàng để thực hiện các giao dịch đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định

Tổ chức khoa học và công nghệ chủ động khai thác, ký hợp đồng với

các tổ chức, cá nhân và tổ chức thực hiện nhiệm vụ Nội dung hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, cung cấp hàng hóa, và các loại hợp đồng kinh tế khác do tổ chức khoa học và

công nghệ tự thoả thuận với đối tác trên cơ sở phù hợp với khả năng, lĩnh vực

chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật

c) Tài trợ, viện trợ, quà biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

d) Nguồn kinh phí khác của tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm: vốn khấu hao tài sản cố định; thu thanh lý tài sản được để lại theo quy định; vốn huy động của các cá nhân, vốn vay các tổ chức tín dụng; vốn tài trợ, viện trợ, quà biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

Nhà nước khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ khai thác nguồn thu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ và các nguồn thu hợp

Trang 26

pháp khác Tất cả các khoản thu của tổ chức khoa học và công nghệ phải được thể hiện và hạch toán đầy đủ trong sổ sách kế toán

Trang 27

1.2.3.2.2 Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ và sử dụng nguồn kinh phí

Các tổ chức khoa học và công nghệ được tự chủ trong việc thực hiện nhiệm vụ và sử dụng nguồn kinh phí của mình theo các nội dung Cụ thể như sau:

a) Chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước (dưới dạng các chương trình, đề tài, dự án khoa học và công nghệ) thuộc tất cả các lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ (kể cả nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ khoa học và công nghệ giao đột xuất) do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu Tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng kinh phí được khoán để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở đảm bảo yêu cầu

về chất lượng và tiến độ thực hiện theo hợp đồng

b) Chi tiền lương, tiền công

Tổ chức khoa học và công nghệ tự chủ trong việc trả tiền lương, công cho cán bộ, viên chức và người lao động tại các tổ chức của mình và phải đảm bảo việc chi trả tiền lương, tiền công không thấp hơn mức tiền lương, tiền công theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với cán bộ, viên chức và người lao động tại các tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Tùy thuộc vào kết quả hoạt động tài chính của đơn vị

và năng lực, trình độ của người lao động, mức chi trả tiền lương, tiền công thực tế có thể cao hơn mức Nhà nước quy định Tiền lương, tiền công của người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động

do hai bên thoả thuận và được ghi trong hợp đồng, là căn cứ đóng bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế và được tính vào chi phí hợp lý trước thuế của tổ chức khoa học và công nghệ

Trang 28

Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu, ngạch, bậc lương và các khoản trích theo lương, tổ chức khoa học và công nghệ phải sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị để trả lương và các khoản trích theo lương cho cán

bộ, viên chức và người lao động của đơn vị theo sự điều chỉnh của Nhà nước Đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý Nhà nước, sau khi đã sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị để trả lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động của đơn vị theo chính sách của Nhà nước mà thiếu nguồn, thì được ngân sách nhà nước cấp bổ sung phần kinh phí còn thiếu

Lưu ý rằng, kể từ ngày 01/01/2014, tổ chức khoa học và công nghệ xây dựng quỹ lương và thực hiện chi trả lương, thu nhập cho cán bộ, người lao động thuộc tổ chức KH&CN theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ

c) Trích lập quỹ

Hàng năm, sau khi trang trải tất cả các khoản chi phí hợp lý, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo qui định, kể cả nộp thuế (nếu có) phần chênh lệch thu chi còn lại, tổ chức khoa học và công nghệ được trích lập các Quỹ như sau:

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: tối thiểu là 30% tổng số tiền

chênh lệch thu lớn hơn chi Đơn vị có quyền quyết định sử dụng Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để đầu tư phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp,

bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư liên doanh, liên kết, trợ giúp hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho đơn vị

Trang 29

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: được trích lập theo khả năng tài

chính của tổ chức KH&CN và được chi để bù đắp thu nhập cho cán bộ viên chức trong các trường hợp: khi nguồn thu của đơn vị bị giảm sút, khi Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, hỗ trợ chế độ thôi việc hoặc tìm việc mới cho người lao động dôi dư

- Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi: Tối đa không quá 03 tháng lương và

thu nhập tăng thêm bình quân trong năm cho cả hai quỹ Quỹ khen thưởng được sử dụng để thưởng định kỳ, đột xuất cho các tập thể và cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp cho hoạt động của đơn vị Quỹ phúc lợi được sử dụng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể, trợ cấp khó khăn đột xuất, chi thêm cho người lao động nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ do chấm dứt hợp đồng

Thủ trưởng đơn vị căn cứ vào các quy định trên và khả năng tài chính của đơn vị, quyết định mức cụ thể trích lập và sử dụng các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ

d) Chi thực hiện các hoạt động khác

- Đối với các khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng dự án, kinh phí dùng mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định và kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao (trừ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu), tổ chức khoa học và công nghệ phải sử dụng đúng mục đích, tuân thủ các quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn, định mức, nội dung chi và chế độ thanh quyết toán

- Các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định các khoản chi khác

và hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình

Trang 30

Mọi khoản chi của tổ chức khoa học và công nghệ đảm bảo công khai, minh bạch, đúng mục đích, có hiệu quả Cán bộ, viên chức và người lao động trong đơn vị đều có quyền và trách nhiệm giám sát việc chi tiêu trong đơn vị theo quy chế chi tiêu nội bộ và quy chế dân chủ cơ quan Tổ chức khoa học và công nghệ phải chịu sự kiểm tra và có nghĩa vụ cung cấp thông tin, giải trình với các cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của đơn vị

e) Về chi thu nhập tăng thêm

Số dư kinh phí còn lại sau khi đã trừ tất cả các khoản chi và trích lập quỹ theo quy định, tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng để chi tăng thêm thu nhập cho cán bộ, viên chức và người lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị Trong đó, quy chế chi tiêu nội bộ là các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp, duy trì hoạt động thường xuyên và tăng cường hiệu quả của công tác quản lý trên nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai, phân phối theo lao động và trách nhiệm của từng vị trí công tác

Ngoài các tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi đối với nguồn kinh phí

từ ngân sách nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ được xây dựng định mức chi cao hơn mức qui định của Nhà nước cho từng nội dung hoạt động trong phạm vi nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của đơn vị Riêng tiêu chuẩn định mức sử dụng xe ô tô, trụ sở làm việc và các khoản chi không thường xuyên của các tổ chức khoa học và công nghệ phải thực hiện theo đúng quy định hiện hành

Tổ chức khoa học và công nghệ không được dùng kinh phí của đơn vị

để mua sắm tài sản trang bị tại nhà riêng cho cá nhân hoặc cho cá nhân vay, mượn dưới mọi hình thức

Một số lưu ý về phạm vi và nội dung của Quy chế chi tiêu nội bộ đối với hoạt động chi của tổ chức khoa học và công nghệ như sau:

Trang 31

- Về thu nhập: Trước hết bảo đảm mức lương theo ngạch, bậc và các

chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định, sau đó phân chia theo hệ số điều chỉnh tăng thêm cho cán bộ, viên chức và người lao động theo nguyên tắc người nào có năng suất lao động, hiệu quả công tác cao, trách nhiệm cao và đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi thì được hưởng mức thu nhập nhiều hơn

- Về chi tiêu hội nghị và công tác phí trong nước: Đơn vị được quy

định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước trong phạm

vi nguồn kinh phí của đơn vị

- Về chế độ công tác phí nước ngoài: Đơn vị thực hiện theo đúng quy

định của Nhà nước; trường hợp đơn vị quy định mức chi cao hơn mức quy định của Nhà nước thì phải sử dụng nguồn kinh phí từ các Quỹ của đơn vị để chi trả

- Về sử dụng điện thoại công vụ: tiêu chuẩn trang bị điện thoại (cố định

và di động) cho cán bộ quản lý và chi phí mua máy điện thoại, lắp đặt và hoà mạng thực hiện theo quy định hiện hành Riêng mức thanh toán tiền cước sử dụng điện thoại, đơn vị được quyền xây dựng cao hơn hoặc thấp hơn quy định của Nhà nước đối với cơ quan hành chính

- Về thanh toán chi nghiệp vụ thường xuyên: Tuỳ theo từng loại hình

hoạt động, tổ chức khoa học và công nghệ xây dựng mức chi cụ thể cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của nhà nước

- Về hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ: Tuỳ theo tình hình cụ

thể, tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện phương thức quản lý cho phù hợp, có thể khoán thu, khoán chi đối với các bộ phận trực thuộc, trong đó quy định rõ tỷ lệ trích nộp để chi quản lý chung của đơn vị cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, quy định chế độ thống kê, kế toán theo quy định của pháp luật

Trang 32

- Về mức chi khen thưởng và phúc lợi: Căn cứ vào các hình thức khen

thưởng, nguồn quỹ và nhu cầu hoạt động cụ thể, tổ chức khoa học và công nghệ xây dựng mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước

- Quy chế chi tiêu nội bộ được xây dựng và thảo luận dân chủ, công khai, phải được báo cáo và thông qua tại Hội nghị cán bộ, viên chức của đơn

vị bằng phương thức bỏ phiếu kín với ít nhất 2/3 số đại biểu chính thức tán thành Sau khi có quyết định ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ phải gửi cơ quan chủ quản để báo cáo và gửi Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính đối với các

tổ chức khoa học và công nghệ

Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ bao gồm:

- Hệ thống các quy định của nhà nước nhằm thiết lập hành lang pháp lý

để tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động

- Sự phát triển kinh tế - xã hội góp phần tác động đến hoạt động dịch

vụ, sản xuất, kinh doanh của tổ chức khoa học và công nghệ

- Năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hoạt động trong trong lĩnh vực tự chủ tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động khoa học công nghệ về tự chủ tài chính

1.4 Kinh nghiệm của các nước về tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ

Các kinh nghiệm em nêu dưới đây là về sự quan tâm và mức chi NSNN cho KHCN nói chung, nhưng kinh nghiệm cần nêu là về cơ chế tự

Trang 33

chủ tài chính đối với các tổ chức KHCN Vì vậy, em nên lấy thêm kinh nghiệm của một số tổ chức KHCN trong nước.

Theo quan điểm của kinh tế học hiện đại, ở một mức độ nào đó, có thể coi sản phẩm khoa học, tri thức khoa học và một phần công nghệ là hàng hóa công không thuần túy Tức là, rất nhiều người có thể sử dụng những hàng hóa này mà không làm giảm sự tiêu dùng của những người khác Hơn thế, lợi ích từ việc sử dụng, ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ còn được khuyến khích rất mạnh mẽ và có khả năng tạo ra sự tăng trưởng kinh tế vượt trội Chính vì vậy, Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư, thúc đẩy khoa học và công nghệ là quan điểm được chấp nhận phổ biến trên thế giới Điểm khác biệt đáng lưu ý trong quan niệm cũng như trong ứng xử của các nhà nước đối với khoa học và công nghệ là

sự đầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ phụ thuộc vào trình độ pháp triển của quốc gia cũng như sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp hoạt động ở các quốc gia đó

Ở các quốc gia phát triển, tỷ trọng đầu tư của nhà nước cho khoa học và công nghệ lớn về số lượng tuyệt đối nhưng nhỏ hơn đầu tư của khu vực tư xét

về tỷ trọng Đầu tư của nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản, các ngành nghề chủ đạo và công nghệ mới với quan điểm tạo nguồn vốn mới để thu hút đầu tư của khu vực tư nhân

Ở Hàn Quốc từ những năm 80 của thế kỷ trước, đã chuyển trọng tâm sang công tác quy hoạch và thực hiện các dự án nghiên cứu và phát triển mang tầm cỡ quốc gia nhằm nâng cao năng lực khoa học và công nghệ Sự chuyển hướng này bao gồm các chương trình nhằm tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển trong cả khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân, bồi dưỡng nhân lực có kỹ năng nghiên cứu và phát triển cao Sang đầu những năm 90, Hàn Quốc tập trung vào ba lĩnh vực: tăng cường nghiên cứu trong

Trang 34

lĩnh vực khoa học cơ bản; đảm bảo sự phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư cho khoa học và công nghệ; phát triển và mở rộng hợp tác quốc

tế về khoa học và công nghệ Với định hướng này, trong nhiều năm, Chính phủ Hàn Quốc đã đặt khoa học và công nghệ là trọng tâm của chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và hỗ trợ doanh nghiệp nói riêng Tổng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của Hàn Quốc luôn xoay quanh mức 3% GDP

Tại Nhật Bản, đầu tư của Chính phủ cho khoa học và công nghệ liên tục gia tăng qua các năm Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển của Chính phủ Nhật Bản trong những năm qua dao động quanh mức 20% tổng chi phí nghiên cứu và phát triển của thế giới, bằng 54% của Hoa Kỳ và cao hơn 2,5 lần so với Đức Cộng với 70% kinh phí còn lại được đầu tư từ các doanh nghiệp, các doanh nghiệp Nhật Bản đã luôn giữ vững được vị trí đứng đầu trong việc tạo

ra được những thị trường mới, sản phẩm mới với công nghệ mũi nhọn

Ở Hoa Kỳ, Chính phủ cũng rất chú ý đầu tư cho khoa học và công nghệ Đáng chú ý là đầu tư của Hoa Kỳ cho khoa học và công nghệ tập trung cho các trường đại học Nhờ vậy, các trường đại học ở Hoa Kỳ là nơi cho ra đời rất nhiều sáng chế/giải pháp hữu ích quan trọng, đóng góp vào sự phát triển của các ngành sản xuất mũi nhọn Cũng nhờ thúc đẩy khoa học và công nghệ mà nhiều ngành công nghệ mới, nhiều sản phẩm mới thường xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ Sự gắn kết trong nghiên cứu và sản xuất luôn được Chính phủ chú trọng đặc biệt là trong các ngành mũi nhọn

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, các nước/vùng lãnh thổ đầu tư nhiều cho nghiên cứu và phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Canada, Pháp, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc đều là những nước đạt thứ hạng cao trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu

Trang 35

Đầu tư phát triển khoa học và công nghệ có thể bao gồm đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, đầu tư mua sắm công nghệ, đầu tư cho đào tạo để nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ… đặc biệt là các nghiên cứu cơ bản có tính rủi ro cao, vì thế đầu tư vào khoa học và công nghệ mang tính mạo hiểm Đặc điểm này làm cho nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ không những có quy mô lớn, không sinh lợi trực tiếp

mà còn có nguy cơ mất vốn rất cao Chính vì thế, cơ chế tài chính là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển khoa học và công nghệ, trong đó, một trong những cơ chế mà các nước này áp dụng là trao cho các tổ chức được nhận nguồn kinh phí phát triển khoa học và công nghệ nhiều quyền tự chủ Điều quan trọng là hiệu quả nghiên cứu, việc triển khai hoạt động này đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp và Chính phủ phải là người trọng tài để thực hiện những cam kết đó

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TỔNG CỤC TIÊU CHUẨN

ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG 2.1 Khái quát về Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc

Ngày 31/12/1970, Viện Đo lường và Tiêu chuẩn được tách thành hai Viện: Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn đều trực thuộc Uỷ ban Khoa học và

Kỹ thuật Nhà nước

Để đáp ứng những yêu cầu về quản lý chất lượng của nền kinh tế đất nước, ngày 6/4/1971, Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá đã được thành lập trực thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước

Ở miền Nam, trước ngày giải phóng, Viện Quốc gia Định chuẩn thuộc chính quyền Sài gòn (ngụy quyền) đã được thành lập vào năm 1972 Sau khi thống nhất đất nước, ngày 6/4/1976, Hội đồng Chính phủ đã quyết định đổi tên Viện Quốc gia Định chuẩn thành Viện Định chuẩn trực thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Cũng thời gian này, Hội đồng Chính phủ đã quyết định chuyển đổi Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn thành Cục Đo lường Trung ương và Cục Tiêu chuẩn

Do yêu cầu phải phối hợp đồng bộ ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá, đo lường và quản lý chất lượng, ngày 13/9/1979, Hội đồng Chính phủ đã ra

Trang 37

Quyết định số 325/CP về hợp nhất Cục Tiêu chuẩn, Cục Đo lường Trung ương, Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá và Viện Định chuẩn thành Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng Nhà nước.

Ngày 8/2/1984 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 22/HĐBT về việc thành lập Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là KH&CN) trên cơ sở Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng Nhà nước

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

a) Vị trí, chức năng và nhiệm vụ

Theo Quyết định số …/QĐ-TTg ngày 2014, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo quy định của pháp luật Tổng cục Đo lường Chất lượng có tư cách pháp nhân, tài khoản riêng, con dấu hình Quốc huy và trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội

Tổng cục Đo lường Chất lượng thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án, dự án quan trọng của quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá

- Trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt hoặc quyết định: + Quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá;

Trang 38

+ Dự thảo thông tư, văn bản về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá, nhãn hàng hoá; về quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp, chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp;

+ Công bố tiêu chuẩn quốc gia;

+ Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, danh mục sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn đối với các lĩnh vực và đối tượng thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ;

+ Quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục xét tặng giải thưởng chất lượng quốc gia; điều kiện, thủ tục xét tặng giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hoá do tổ chức, cá nhân đề nghị

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn nghiệp

vụ về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá

- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá sau khi được phê duyệt hoặc ban hành

- Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về tiêu chuẩn,

đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá và các văn bản cá biệt khác theo quy định của pháp luật

- Về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật:

+ Tổ chức xây dựng dự thảo tiêu chuẩn quốc gia, dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực được phân công;

+ Tham gia xây dựng dự thảo tiêu chuẩn quốc gia do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì soạn thảo;

+ Thẩm định dự thảo tiêu chuẩn quốc gia, dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì xây dựng; cho ý kiến về việc xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương theo phân công của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;

Trang 39

+ Hướng dẫn nghiệp vụ về xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật;+ Tổ chức phổ biến áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài ở Việt Nam;

+ Tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực theo quy định của pháp luật;

+ Tổ chức việc rà soát, kiến nghị Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hoặc ban hành;

+ Thực hiện việc tiếp nhận đăng ký và xuất bản danh mục quy chuẩn

kỹ thuật; xuất bản tiêu chuẩn quốc gia, danh mục tiêu chuẩn quốc gia

+ Chứng nhận chuẩn đo lường; công nhận khả năng kiểm định phương tiện đo; chứng nhận, cấp thẻ kiểm định viên đo lường;

+ Thực hiện việc phê duyệt mẫu phương tiện đo sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu

+ Phối hợp với các cơ quan quản lý chất lượng có liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra về chất lượng sản phẩm, hàng hoá thuộc trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực;

Trang 40

+ Tổ chức hoạt động xét tặng giải thưởng chất lượng quốc gia cho các

tổ chức, doanh nghiệp;

+ Quản lý nhãn hàng hoá và mã số mã vạch

- Về đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật:

+ Quản lý hoạt động của các tổ chức đánh giá sự phù hợp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;

+ Tổ chức thực hiện đăng ký lĩnh vực hoạt động của các tổ chức đánh giá sự phù hợp;

+ Chỉ định các tổ chức đánh giá sự phù hợp bao gồm: tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định, tổ chức kiểm định; thực hiện hoạt động đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành; hướng dẫn việc chỉ định các tổ chức đánh giá sự phù hợp của Bộ, ngành, địa phương;

+ Chủ trì tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện các điều ước quốc tế, các thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá theo phân công của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;

+ Hướng dẫn triển khai các phương thức đánh giá sự phù hợp theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;

+ Quản lý hoạt động công nhận các tổ chức thử nghiệm, hiệu chuẩn, chứng nhận sự phù hợp và giám định;

+ Phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý hoạt động công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy

- Phối hợp với cơ quan quản lý thị trường và các cơ quan có liên quan

tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hoá kém chất lượng và hành vi gian lận thương mại khác liên quan đến lĩnh vực tiêu chuẩn,

đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 05/04/2017, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ (2010), Đẩy mạnh kinh tế hóa khoa học và công nghệ, Nghị quyết số 27-NQ/BCSĐBKHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh kinh tế hóa khoa học và công nghệ
Tác giả: Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2010
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997), giáo trình quản lý tài chính đối với đơn vị công lập, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình quản lý tài chính đối với đơn vị công lập
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
5. C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập (1994), Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập
Năm: 1994
6. Chính phủ (2011), Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020, Quyết định số 579/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
7. Chính phủ (2008), quy định chức năng, nhiệm vị, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ, Nghị định số 25/2008/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chức năng, nhiệm vị, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương, khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương, khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
14. Học viện Hành chính quốc gia (2005), Giáo trình Quản lý nhà nước về tài chính công, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nhà nước về tài chính công
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
17. Luật thi đua, khen thưởng, Luật số 22/2008/QH12 18. Luật Viên chức, Luật số 58/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thi đua, khen thưởng", Luật số 22/2008/QH1218. "Luật Viên chức
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) (2011), Báo cáo tổng hợp thực trạng tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ Khác
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Báo cáo tổng hợp thực trạng về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của tổ chức khoa học và côn g nghệ công lập Khác
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 Khác
19.Luật, nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan đến các lĩnh vực tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thu nhập của cán bộ, người lao động thuộc tổ chức khoa học công nghệ - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 1. Thu nhập của cán bộ, người lao động thuộc tổ chức khoa học công nghệ (Trang 55)
Bảng 2 - Chi thu nhập tăng thêm của Tổng cục Đo lường Chất lượng - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 2 Chi thu nhập tăng thêm của Tổng cục Đo lường Chất lượng (Trang 60)
Bảng 1. Nguồn thu từ ngân sách nhà nước của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục năm 2012 - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 1. Nguồn thu từ ngân sách nhà nước của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục năm 2012 (Trang 97)
Bảng 2. Nguồn thu của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục năm 2013 - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 2. Nguồn thu của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục năm 2013 (Trang 99)
Bảng 3. Nguồn thu của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục năm 2014 - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 3. Nguồn thu của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục năm 2014 (Trang 102)
Bảng 4. So sánh số liệu các nguồn thu của Tổng cục các năm 2012, 2013, 2014 - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 4. So sánh số liệu các nguồn thu của Tổng cục các năm 2012, 2013, 2014 (Trang 104)
Bảng 6 - Chi thu nhập tăng thêm - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 6 Chi thu nhập tăng thêm (Trang 105)
Bảng 7. Tình hình trích lập các Qũy của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục - Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại tổng cục đo lường chất lượng
Bảng 7. Tình hình trích lập các Qũy của các tổ chức KHCN trực thuộc Tổng cục (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w