1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực học tập của học SINH TRONG dạy học môn GDCD lớp 11, PHẦN “CÔNG dân với các vấn đề CHÍNH TRỊ xã hội” ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG lý tử tấn – hà nội

87 537 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 778,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN****** LA THỊ CÔNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

******

LA THỊ CÔNG

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ TỬ TẤN – HÀ NỘI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: GIÁO DỤC CÔNG DÂN

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

******

LA THỊ CÔNG

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ TỬ TẤN – HÀ NỘI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN HÙNG

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên,em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo khoa Lý luậnchính trị - giáo dục công dân trường Đại học sư phạm Hà Nội, quý thầy cô đãchỉ bảo, dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Phạm Văn Hùng

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho em trong suốt quá trình hoàn thành khóaluận tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo điềukiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Sinh viên

La Thị Công

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc luận văn 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI” 6

1.1 Cơ sở lí luận của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề chính trị xã hội” 6

1.1.1 Quan niệm tính tích cực và phát huy tính tích cực học tập của học sinh 6

1.1.2.Phát huy tính tích cực học tập của học sinh là đòi hỏi trong dạy học môn giáo dục công dân 10

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn - Hà Nội 17

1.2.1 Vài nét về trường THPT Lý Tử Tấn 17

1.2.2 Thực trạng việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh 18

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI” Ở TRƯỜNG THPT LÝ TỬ TẤN – HÀ NỘI 36

2.1.Tổ chức đàm thoại để phát huy tính tích cực học tập của học sinh 36

Trang 5

2.2 . Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề để phát huy tính tích cực học tập của học sinh 39 2.3.Hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm để phát huy tính tích cực học tập của học sinh 42 2.4 Tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học để phát huy tính tích cực học tập của học sinh 44 2.5 . Sử dụng phương pháp đóng vai để phát huy tính tích cực học tập của học sinh 49 2.6 Đổi mới PP kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh 52 KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng, ý nghĩa môn giáo dục công dân 19 Bảng 2: Hành động học tập môn giáo dục công dân của học sinh 22 Bảng 3: Đánh giá của giáo viên về hành động học tập môn giáo dục công dân của học sinh 25 Bảng 4: Thái độ học tập môn giáo dục công dân của học sinh 28 Bảng 5: Động cơ học tập môn giáo dục công dân của học sinh 29

Trang 8

Luật giáo dục năm 2005( sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại khoản 2 điều 28

đã nêu rõ: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồidưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho HS”

Bước vào thế kỉ XXI, Việt Nam cần và nên có những con người: vừa lao độngtrí lực và thể lực, có kỷ luật, có khoa học, có năng xuất cao, vừa là con người có vănhóa rộng rãi, không chỉ thấm nhuần văn hóa truyền thống của dân tộc mình, mà cònbiết trân trọng, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của dân tộc khác

Để đào tạo những con người hội tụ cơ bản những phẩm chất trên đây,yếu tố quyết định là giáo dục Ở nhà trường phổ thông, cùng với các môn họckhác, bộ môn GDCD có khả năng và sở trường trong việc giáo dục thế hệ trẻ Sựnghiệp giáo dục đào tạo có nhiệm vụ quan trọng, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam trởthành những con người phát triển toàn diện về các mặt “đức, trí, thể, mỹ”

Trang 9

Thực tiễn dạy học môn GDCD ở trường THPT chưa hoàn thành được vịtrí, nhiệm vụ và chức năng của mình, chất lượng dạy học bị giảm sút Yêu cầubức thiết lúc này là phải đổi mới bộ môn trên các phương diện: Nhận thức,nội dung và phương pháp dạy học.

Có thể nói, định hướng chung của việc đổi mới PP dạy học là tăng cườngvai trò chủ động, tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong quá trình dạy học,khắc phục tình trạng dạy học thầy thuyết trình, trò thụ động nghe, ghi chép.Trong dạy học phát huy tính tích cực nhận thức cho HS là rất cần thiết, đóchính là việc HS hoàn thành công việc một cách chủ động, tự giác, có nghịlực, có hướng đích rõ rệt, nhằm nắm vững kiến thức, hình thành kỹ năng và kĩxảo để vận dụng những nội dung tri thức đã học vào thực tiễn

Từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn vấn đề : Phát huy tính tích cực họctập của HS trong dạy học môn GDCD lớp 11, phần “Công dân với các vấn đềchính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn - Hà Nội, làm đề tài khóa luận tốtnghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Việc phát huy tính tích cực của người học trong quá trình dạy học

từ lâu đã được những nhà giáo dục coi là một trong những điều kiện cơbản nhất để đạt kết quả trong quá trình dạy học Ngay từ thời cổ đại,các nhà giáo dục đã chú ý đến việc tìm tòi các biện pháp để phát huytính tích cực nhận thức của người học Socrate (469-399 TCN) là mộttriết gia và cũng là một nhà giáo dục nổi tiếng Phương pháp nổi bật

của ông trong giáo dục là dùng đàm thoại để tiến hành giáo dục Ông

thường đặt câu hỏi để môn đệ phải tìm tòi, suy nghĩ trả lời, thấy đượccái sai, cái đúng Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng cho rằng trong

giảng dạy người thầy chỉ “gợi lên một mối”, rồi để cho người học tự

mình suy nghĩ mà hiểu điều đó Phương pháp này đã tạo điều kiện chongười học phát huy khả năng suy luận và năng lực phát hiện, lý giảivấn đề, phát huy tính tích cực nhận thức của mình

Trang 10

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc dạy học tích cực được đề cập đếnkhá rầm rộ dưới nhiều thuật ngữ khác nhau như “dạy học lấy HS làmtrung tâm”, “dạy học hướng vào người học”, “dạy học tập trung vàongười học”, “PP dạy học tích cực”, “tư tưởng dạy học tích cực”… Từ

đó “phương pháp tích cực” được sử dụng một cách phổ biến ở châu Âu.Cùng với xu thế trên của thế giới, ở Việt Nam việc dạy học theo hướngphát huy tính tích cực người học được nhấn mạnh trong đường lối giáodục của Đảng, Nhà nước Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII củaĐảng đã khẳng định “phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắcphục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo củangười học”

Để phát triển tư duy logic, tư duy biện chứng cho học sinh, cuốn

“Phát triển tư duy học sinh” (M.Aleecxeep chủ biên, 1976) đã đề cậptới các phương pháp học tập như tổ chức học sinh đàm thoại tích cực,

sử dụng bảng phân loại hay sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng phimảnh Tác giả nêu ra ý nghĩa của biện pháp này là giúp ghi nhớ kiến thứcmột cách dễ dàng và phát triển khả năng tư duy, sự liên tưởng và rènluyện kỹ năng học tập cho học sinh.[1]

I.F Kharlamôp, nhà giáo dục Liên Xô, trong cuốn “Phát huy tínhtích cực của học sinh như thế nào”, đã chú ý đến tác dụng của việc pháttriển tư duy học tập của HS qua dạy học “nêu vấn đề” Trong phươngpháp dạy học nêu vấn đề tác giả nêu ra rất nhiều biện pháp logic để giảiquyết nhiệm vụ nhận thức, thông qua các biện pháp đó mà tích cực hóahoạt động học tập của HS Đồng thời ông cho rằng để giờ học đạt chấtlượng cao, nhiệm vụ trọng tâm là việc phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh.[22]

Tác giả Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên (Nhà xuất bản Giáodục, 2009) với: “Dạy và học môn GDCD ở trường THPT những vấn đề

lí luận và thực tiễn”, các tác giả đi sâu vào khai thác những vấn đềmang tính lí luận và thực tiễn của môn GDCD, từ đó tập trung đề ra các

Trang 11

giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy, hướng dẫn học sinh tự họcmôn GDCD đề từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả môn học.[8]

Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt – Viện khoa học giáo dục trong cuốn

“Giáo dục học” tập I đã nhấn mạnh: Trong dạy học nhất định phải gắntri thức học sinh đã học với thực tiễn bằng những hoạt động cụ thể, cónhư vậy mới đảm bảo tính nguyên tắc thống nhất giữa lí luận với thựctiễn, một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học.[27]

Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga, trong cuốn “Phương phápdạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” chorằng: “Có thể nói, định hướng chung của việc đổi mới phương phápdạy học là tăng cường vai trò chủ động, tích cực, tự lực và sáng tạo củahọc sinh trong quá trình dạy học, khắc phục tình trạng dạy học thầythuyết trình, trò thụ động nghe, ghi chép” [11]

Các nhà giáo dục học Việt Nam như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt,trong cuốn “Giáo dục học” đã nêu lên những phẩm chất quan trọng củahoạt động nhận thức đó là: tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập và tácdụng của chúng đối với kết quả học tập của học sinh

Những công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu vềmặt lí luận giúp tôi tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của khóaluận Phát huy tính tích cực học tập của học sinh - vấn đề này đặc biệtquan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học ngày nay nóichung và dạy học môn GDCD nói riêng

3. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở khoa học của vấn đề phát huy tính tích cực trong học tậpcủa học sinh qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việcphát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn giáo dục côngdân lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT

Lý Tử Tấn - Hà Nội

Trang 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Làm rõ cơ sở lí luận về việc phát huy tính tích cực trong học tập của HS

 Điều tra, tìm hiểu thực tiễn dạy học GDCD ở trường THPT nói chung

và trường THPT Lý Tử Tấn nói riêng

 Đề xuất những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của

HS trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Lý Tử Tấn

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu thực trạng phát huy tính tíchcực học tập môn giáo dục công dân và một số yếu tố ảnh hưởng đếntính tích cực học tập của học sinh

6 Phương pháp nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu của khóa luận dựa trên phương pháp luận khoa họcchủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời kếthợp các phương pháp: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương phápquan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, phương phápphỏng vấn, phương pháp tập hợp và xử lý tài liệu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, khóa luậngồm 2 chương:

Chương I: Cơ sở khoa học của việc phát huy tính tích cực học tập của

học sinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dânvới các vấn đề chính trị xã hội”

Chương II: Một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập của họcsinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “công dân vớicác vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn – Hà Nội

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ

CHÍNH TRỊ XÃ HỘI”.

1.1 Cơ sở lí luận của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh

thông qua dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề chính trị xã hội”.

1.1.1 Quan niệm tính tích cực và phát huy tính tích cực học tập của học

sinh

Quan niệm về tính tích cực

Trong học tập, hoạt động nhận thức của HS đi từ nhận thức cảm tính đếnnhận thức lí tính và trở về với thực tiễn Quá trình này chỉ được hình thànhkhi HS có những phẩm chất: Tự giác, tích cực, độc lập nhận thức dưới sự điềukhiển của thầy giáo Từ thái độ tự giác nhận thức, mới phát triển ý thức tíchcực nhận thức của HS, chỉ có tích cực nhận thức HS mới có sự độc lập, sángtạo trong nhận thức Như vậy, tích cực nhận thức là yếu tố trung gian, quantrọng trong hoạt động nhận thức của học sinh, khái niệm đó được hiểu như thếnào?

Theo từ điển tiếng Việt [ Viện ngôn ngữ học, 1999], tích cực nghĩa là có

ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển Người tích cực làngười tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướngphát triển

Khái niệm tính tích cực ở mỗi lĩnh vực khoa học lại có nhiều nét riêng:Lĩnh vực triết học quan niệm “tính tích cực” là ý thức sáng tạo trong hoạtđộng tư duy của mỗi con người, để đạt được mục đích của sự nhận thức Vìvậy theo Mác “ nghiên cứu tính tích cực phải xuất phát từ chính chủ thể hiệnthực, và làm khách thể hóa của nó trở thành đối tượng xem xét của mình [27]Khoa học giáo dục trong nước quan niệm “ tính tích cực” là các hoạtđộng nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động,

Trang 14

từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng caohiệu quả học tập.

Theo tác giả Trần Bá Hoành, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa: “ Tính tíchcực hoạt động học tập, về thực chất, là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ởkhát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnhtri thức”.[20]

Theo một nghĩa khác, tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việclàm Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xãhội Để tồn tại và phát triển, con người luôn luôn tìm tòi và khám phá, cảibiến Tuy vậy, tính tích cực có mặt tự phát và tự giác Mặt tự phát của tínhtích cực là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh, thể hiện tính tò mò, hiếu

kì, linh hoạt trong đời sống hàng ngày Mặt tự giác của tính tích cực là trạngthái tâm lí, tính tích cực có mục đích, đối tượng rõ rệt, do đó có hành động đểchiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phêphán trong tư duy, trí tò mò khoa học Có tính tích cực tự giác, có ý thức, conngười có thể đạt được nhiều tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn sovới tính tích cực tự phát Vì vậy hình thành và phát triển tính tích cực là mộttrong những nhiệm vụ chủ yếu nhằm đào tạo những con người năng động gópphần phát triển cộng đồng

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu rằng “ tính tích cực” là ý thức, thái

độ hoạt động tích cực của mỗi người trong quá trình nhận thức, nhằm đạtđược hiệu quả cao những mục đích đã đề ra trong hoạt động Tính tích cực là

cơ sở thuận lợi để phát triển các năng lực khác trong hoạt động nhận thức củamỗi người

Quan niệm về tính tích cực học tập của học sinh:

Tính tích cực học tập của HS là sự ý thức tự giác của HS về mục đíchhọc tập, thông qua đó HS sử dụng ở mức độ cao các chức năng tâm lí

để giải quyết các nhiệm vụ học tập có hiệu quả

Trang 15

Các cấp độ của tính tích cực học tập

Dưới góc độ lí luận dạy học, quá trình phát triển của tính tích cực nhậnthức trải qua các giai đoạn chủ yếu sau:

Thứ nhất là, tính tự giác: Là giai đoạn xác định ý thức, thái độ, tinh thần

trách nhiệm học tập Nó là cơ sở của tính tích cực học tập của HS

Thứ hai là, tính tích cực: Có sự kết hợp của nhận thức, tình cảm, ý chí Thứ ba là, tính độc lập: Tương đương với tính tích cực sáng tạo Là giai

đoạn cao nhất của tính tích cực, biểu hiện ở chỗ HS tự mình phát hiện đượcvấn đề, tự mình đề xuất được cách giải quyết vấn đề

Tính tích cực hoạt động học tập, về tính chất là tính tích cực nhận thức,đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng, trí tuệ và nghị lực cao trong quátrình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực học tập ở HS THPT đạt cấp độ từ thấpđến cao như:

Bắt chước: HS cố gắng thực hiện theo các mẫu hoạt động của thầy cô Nhờ

đó, kinh nghiệm được tích lũy qua kinh nghiệm của người khác Bắt chước làtính tích cực ở mức độ thấp Có thể giáo viên thay đổi một chút dữ liệu là HSlúng túng không làm được Nhưng đó lại là tiền đề cơ bản giúp các em HSnắm được bài giảng để có điều kiện nâng tính tích cực lên mức cao hơn

Tìm tòi: HS độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm hiểu cách giải quyết khác

nhau về một vấn đề Ý thức tìm tòi giúp các em say mê tìm ra kiến thức mới,khai thác kiến thức đã học theo nhiều hướng, kiểm tra lại kiến thức đã học

Sáng tạo: HS tìm được cách giải quyết mới, các em sẽ tìm được những

kiến thức mới không nhờ vào gợi ý của người khác

Nhận biết tính tích cực học tập của học sinh dựa vào ba dấu hiệu:

Thứ nhất là dấu hiệu bên ngoài, thể hiện qua thái độ, hành vi và hứng thú

học tập

Trang 16

Thứ hai là dấu hiệu bên trong, như sự căng thẳng trí tuệ, năng lực hoạt

động, sự phát triển của tư duy, cảm xúc, ý chí

Thứ ba là kết quả học tập – đây là dấu hiệu quan trọng Chỉ có tích cực học

tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Phát huy tính tích cực

Về ngữ nghĩa, phát huy tính tích cực là tác động làm cho ai đó trởnên năng động hơn, linh hoạt hơn so với trạng thái trước đây Trong líluận dạy học, phát huy tính tích cực được sử dụng theo nghĩa làm cho tíchcực hơn, so sánh với trì trệ, thụ động

Vấn đề phát huy tính tích cực được đặt ra từ lâu, được giải thích từnhiều lập trường khác nhau, được bàn đến bằng những thuật ngữ khácnhau: phát huy tính tích cực của học sinh; nâng cao tính tích cực, tự giác,chủ động của HS; phát huy trí lực của HS; phát huy tính tích cực, sángtạo, năng động của người học,… Theo tính chất và chức năng của lý luậndạy học thì việc xem xét bản chất của phát huy tính tích cực phải được đặt

ra trong một giới hạn nhất định Vì thế, cần hiểu chính xác phát huy tínhtích cực có nghĩa là làm cho người học sống và làm việc tích cực đến mứctối đa so với tiềm năng và bản chất của mỗi người, so với những điều kiện

và cơ hội thực tế mà mỗi người có được

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Có thể nói tính tích cực là một trong những phẩm chất quan trọngtrong hoạt động nhận thức, mặt chất lượng của nhân cách, là điều kiện cơbản giúp HS nắm vững tài liệu học tập, biết hướng sự chú ý, tập trung củamình vào hoạt động học tập, hình thành nhu cầu nhận thức, sẵn sàng tíchcực hoạt động sức lực và trí tuệ để hoàn thành các nhiệm vụ học tập Con người là một chủ thể có ý thức trong hoạt động xã hội Sự pháttriển của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hoạt động tíchcực của bản thân họ là yếu tố quyết định trực tiếp Do đó muốn phát triểncon người phải tích cực trong hoạt động của mình, cho dù mọi điều kiện,

Trang 17

hoàn cảnh học tập có thuận lợi đến đâu chăng nữa, nếu không có sự nỗ lựccủa bản thân thì sự học tập không thể đạt được kết quả cao Yếu tố quyếtđịnh trực tiếp chất lượng học tập đó là sự nỗ lực, tích cực, cố gắng củamỗi cá nhân.

Trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc phát huytính tích cực của HS trong học tập là một biện pháp chủ yếu để nâng caochất lượng giáo dục ở nhà trường phổ thông Vấn đề phát huy tính tíchcực học tập của HS có ý nghĩa rất lớn đối với việc dạy học nói chung, dạyhọc GDCD nói riêng ở nhà trường THPT

Tính tích cực học tập của HS phát triển theo bề rộng và chiều sâu, từ

đó được nâng cao Trước tiên cá nhân có tính tích cực học tập ở một haymột vài môn học, ở mức độ hoàn thiện thấp, sau sẽ phát triển tính tích cựcsang những môn khác, đến mức hoàn thiện nhất là có tính tích cực cao ởtoàn bộ quá trình học tập Sự mở rộng và sâu sắc dần của tính tích cực họctập chính là bản chất của việc nâng cao tính tích cực của người học trongquá trình học tập

Hoạt động học tập trên lớp của học sinh mong muốn nghiên cứu, tìmhiểu để giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra trong nội dung bài học Vớimục đích đó, các em tập trung chú ý cao độ theo dõi bài giảng của thầynhằm hiểu được nội dung, lí giải được bản chất của vấn đề trong học tậpmôn GDCD Các em tích cực tri giác để hiểu nội dung cụ thể của mộthiện tượng hay một vấn đề, điều này giúp học sinh hào hứng học tập Từ

đó các em có một tâm thế chủ động trong học tập, chủ động với nhữngkiến thức mình đã lĩnh hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết cácvấn đề tiếp theo

1.1.2 Phát huy tính tích cực học tập của học sinh là đòi hỏi trong dạy học

môn giáo dục công dân.

Tính tích cực học tập môn giáo dục công dân của học sinh trung học phổ thông.

Tính tích cực học tập môn GDCD của HS là ý thức tự giác của HS vềmục đích học tập môn GDCD, thông qua đó HS giải quyết các nhiệm vụ học

Trang 18

tập bộ môn có hiệu quả Như vậy, tính tích cực học tập môn GDCD của HSđược biểu hiện ở các mặt:

+ Mặt nhận thức: HS nhận thức được mục đích, ý nghĩa của môn GDCD.+ Mặt hành động: Huy động các chức năng tâm lí để từ đó tìm ra cáchthức học môn GDCD phù hợp

+ Mặt thái độ: HS có thái độ học tập đúng đắn ( nhu cầu, sở thích, độngcơ,…) với môn GDCD

+ Hoạt động học tập có hiệu quả: biểu hiện ở kết quả học tập môn GDCD.Tính tích cực học tập môn GDCD biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hănghái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thíchphát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giảithích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng

đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trìhoàn thành các bài tập môn GDCD, không nản trước những tình huống khókhăn, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết,sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

Mục tiêu môn giáo dục công dân:

Về kiến thức: cung cấp cho HS những hiểu biết ban đầu về thế giới quan

duy vật và PP luận biện chứng; hiểu các giá trị đạo đức, pháp luật cơ bản củacon người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; biết được bản chất của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; vai trò của nhà nước trong việcđảm bảo thực hiện pháp luật, hoạch định chính sách và quản lí kinh tế; hiểuđường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước vềxây dựng và bảo vệ tổ quốc trong gia đoạn hiện nay; hiểu trách nhiệm củacông dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách,pháp luật của nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia pháttriển kinh tế của công dân

Trang 19

Về kỹ năng: trên cơ sở những kiến thức được cung cấp, HS biết cách vận

dụng những kiến thức đó vào phân tích, đánh giá các hiện tượng, các sự kiện,các vấn đề trong thực tiễn xã hội cuộc sống phù hợp với lứa tuổi; biết lựachọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; bảo vệcái tốt, cái đúng cái đẹp và đấu tranh, phê phán, lên án đối với những hành vi,hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản thân

Về thái độ: HS biết yêu cái tốt, cái đúng, cái đẹp, không đồng tình với

các hành vi, việc làm tiêu cực; biết yêu quê hương, đất nước, biết trân trọng

và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc; tin tưởng vào đường lối, chủtrương chính sách của Đảng, tôn trọng các chính sách, pháp luật của Nhànước và các quy định chung của cộng đồng Có ước mơ và mục đích sống tốtđẹp

Nội dung và cấu trúc chương trình:

Môn GDCD được phân phối thành 5 phần:

Phần 1: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luậnkhoa học

Phần 2: Công dân với đạo đức

Phần 3: Công dân với kinh tế

Phần 4: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội

Phần 5: Công dân với pháp luật

Năm phần của chương trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đồng thời cóquan hệ chặt chẽ với chương trình GDCD ở trung học cơ sở theo nguyên tắcđồng tâm và phát triển Phần thứ nhất bao gồm một số nội dung chủ yếu nhưtriết học nhằm trang bị cho học sinh cơ sở ban đầu về thế giới quan, phươngpháp luận trong cuộc sống, là căn cứ lí luận cho các nội dung tiếp theo củachương trình Phần thứ hai gồm những tri thức về đạo đức là sự tiếp nối củaphần đạo đức của môn GDCD bậc Trung học cơ sở, những chuẩn mực đạođức học sinh được học ở các lớp dưới được nâng lên thành những giá trị đạođức, tư tưởng, chính trị, lối sống của con người Việt Nam thời kì công nghiệphóa hiện đại hóa, nhằm giúp học sinh giải quyết hợp lí, có hiệu quả các mốiquan hệ xã hội Trong phần 3 và phần 4 (công dân với kinh tế; Công dân với

Trang 20

các vấn đề chính trị - xã hội), đây là những tri thức thuộc bộ môn kinh tếchính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Với những hiểu biết tối thiểu, cơbản về phương hướng phát triển kinh tế, về các vấn đề chính trị xã hội, họcsinh có thể xác định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành nghề hoặccác lĩnh vực khác sau khi ra trường và xác định được trách nhiệm của mìnhđối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Học sinh học các tri thức củaphần 5 (Công dân với pháp luật), đây là những tri thức thuộc bộ môn phápluật, là sự phát triển tiếp nối phần pháp luật ở bậc Trung học cơ sở, nhằmcung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò, vị trí của pháp luật, giúphọc sinh chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá đượchành vi của người khác theo quyền hạn và nghĩa vụ của công dân trong giaiđoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ những điều trên tôi nhận thấy giáo dục phẩm chất chính trị tư tưởngđạo đức cho HS là nhiệm vụ của tất cả các môn học và mọi hoạt động giáodục của nhà trường Nhưng theo chức năng của mình, môn GDCD có vị trí rấtquan trọng, trực tiếp trang bị cho HS cơ sở lí luận và hành vi ý thức về nhữngquan niệm đạo đức, ý thức chính trị, chế độ xã hội, pháp luật, quyền và nghĩa

vụ của nhân dân, các chính sách của đảng và nhà nước

Đặc điểm nội dung phần công dân với các vấn đề chính trị xã hội

Cùng với các môn khoa học cơ bản trong chương trình giáo dục phổthông trung học ở nước ta hiện nay, GDCD có một vai trò quan trọng trongđào tạo, phát triển năng lực con người – những công dân tương lai của thế kỉXXI Đây là một môn khoa học chính trị - xã hội nhằm trang bị cho HS kiếnthức cơ bản về thế giới quan và PP luận duy vật biện chứng, những phạm trùđạo đức và một số phạm trù và qui luật kinh tế cơ bản; bản chất nhà nướcpháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hiểu được bản chất, vai trò của phápluật với sự phát triển của nhân loại Thông qua tri thức về các vấn đề chính trị

xã hội được trình bày trong 8 bài phần công dân với các vấn đề chính trị xãhội lớp 11, thông qua những bài giảng, tiết dạy của giáo viên HS biết tự giácsống và học tập theo những chính sách mà đảng và nhà nước đề ra

Trang 21

Về cấu trúc nội dung chương trình phần công dân với các vấn đề chính trị

xã hội gồm 8 bài, thời lượng phân phối như sau:

Bài 8: Chủ nghĩa xã hội (2 tiết)

Bài 9: Nhà nước xã hội chủ nghĩa (3 tiết)

Bài 10: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (2 tiết )

Bài 11: Chính sách dân số và giải quyết việc làm (1 tiết)

Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường (1 tiết )

Bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa(3 tiết)

Bài 14: Chính sách quốc phòng và an ninh (1 tiết)

Bài 15: Chính sách đối ngoại (1 tiết)

Bám sát chuẩn của chương trình, trong phần này cấu trúc thành hai mạch

cơ bản sau:

Mạch thứ nhất: Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội: Trong một số vấn đề

ấy, chọn ba vấn đề: Chủ nghĩa xã hội, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, Nền dânchủ Xã hội chủ nghĩa Đây là những vấn đề rất cơ bản, rất thiết yếu, nhưng rấtkhó (cả về lí luận và thực tiễn), rất nhạy cảm Nguyên tắc chung khi trình bày

ba vấn đề này là không trình bày theo PP lịch sử (mô tả Chủ nghĩa tư bảnchuyển sang Chủ nghĩa xã hội, hết nhà nước tư sản chuyển đến nhà nước Xãhội chủ nghĩa, từ nền dân chủ tư sản đến nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa…) màtrình bày theo phương pháp logic (khái quát về tính tất yếu, khách quan đi lênChủ nghĩa xã hội, đặc trưng cơ bản của Chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bản chất

và chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bản chấtcủa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mạch thứ 2: Một số chính sách của nhà nước ta: trong chương trình cũ,một số chính sách của nhà nước được bố trí ở chương trình GDCD lớp 12,

Trang 22

nay chuyển xuống chương trình GDCD lớp 11 Trong chương trình cũ, quyđịnh trình bày 4 chính sách, trong chương trình mới không trình bày chínhsách xã hội nhưng bổ sung thêm hai chính sách (chính sách dân số và giảiquyết việc làm, chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường) Số lượng và thứ

tự trình bày các chính sách chỉ có ý nghĩa tương đối Trách nhiệm công dânđối với các chính sách được coi trọng ở tất cả các bài

Có thể nhận thấy, tri thức của phần này chủ yếu được xây dựng dựa trêncác môn khoa học cơ bản là Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hộihọc, và một số vấn đề về chủ trương chính sách đường lối của Đảng, củaNhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, còn tích hợp nhiềunội dung giáo dục xã hội cần thiết cho các công dân trẻ tuổi như: Giáo dụcdân số, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính, giáo dục lòng yêu nước nhằm hướng HS vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Namtrong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với những hiểu biết tốithiểu, cơ bản về phương hướng phát triển kinh tế, về các vấn đề chính trị - xãhội HS có thể xác định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành nghềhoặc các lĩnh vực khác sau khi ra trường và xác định được trách nhiệm củamình đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Mục tiêu của phần công dân với các vấn đề chính trị - xã hội:

Về kiến thức: Hiểu được tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên

chủ nghĩa xã hội, hiểu được bản chất của Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủnghĩa ở nước ta, nắm được nội dung cơ bản của một số chính sách lớn củaĐảng và Nhà nước ta hiện nay

Về kỹ năng: Biết vận dụng kiến thức để phân tích sự khác nhau về bản

chất giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với các nhà nước trước đó, biết thực hiệncác quyền dân chủ và tham gia tuyên truyền các chính sách lớn của Đảng vàNhà nước Biết tìm hiểu và phân tích, đánh giá một số vấn đề gần gũi trongđời sống chính trị - xã hội hiện nay

Trang 23

Về thái độ: Có ý thức đúng đắn về trách nhiệm của công dân đối với việc

xây dựng và bảo về Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Tin tưởng và tựgiác thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Những dấu hiệu biểu hiện tích cực học tập môn học, phần học:

Dấu hiệu 1: Thái độ kỷ luật với học tập

 Thể hiện khát vọng vươn lên nắm tri thức và giải quyết nhiệm

vụ học tập Thể hiện ở hứng thú, say mê lao động, có tráchnhiệm thực hiện nhiệm vụ yêu cầu học tập giáo viên đề ra

 Thể hiện không vi phạm kỷ luật học tập: lơ là, nói chuyệnriêng, làm việc riêng, không học bài làm bài tập theo yêu cầucủa giáo viên

 Tập trung ở việc hoạt động và hoàn thành các nhiệm vụ đặt

ra, nỗ lực vượt khó khăn, sáng tạo trong giải quyết vấn đề họctập

Dấu hiệu 2: Có hoạt động trí tuệ và nỗ lực cao trong học tập

 Thể hiện trong quá trình lĩnh hội tài liệu, ở khả năng hoạtđộng trí tuệ, hoạt động tư duy phân tích, tổng hợp, khái quáthóa, hệ thống hóa kiến thức

 Thể hiện sự ghi nhớ, đánh giá, ứng dụng linh hoạt, sáng tạokiến thức vào giải quyết nhiệm vụ học tập

 Thể hiện nỗ lực trong học tập, khắc phục trở ngại về thể lực,trí lực và điều kiện học tập, cố gắng học tập không ngừng

Dấu hiệu 3: Kết quả học tập

 Thể hiện việc tự kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm

vụ học tập, nhanh chóng tìm ra sai sót để khắc phục

 Thể hiện ở điểm số cao sau mỗi bài kiểm tra

Trang 24

Tóm lại để đạt kết quả cao, HS cần chủ động trong học tập Tính tích cựchọc tập với các dấu hiệu trên có trong HS với các mức độ khác nhau Nhưng nóchỉ được bộc lộ và phát huy khi HS có động lực và đạt tới lợi ích nhất định.

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn - Hà Nội.

1.2.1 Vài nét về trường THPT Lý Tử Tấn

Trường THPT Lý Tử Tấn được thành lập ngày 20 tháng 5 năm 2005với qui mô HS trên 30 lớp với tổng số HS 1047 em, trong đó có 428 em HSkhối 10, 305 em HS khối 11, 314 em HS khối 12

Khu vực tuyển sinh chủ yếu là con em thuộc miền tây huyện ThườngTín, ngoài ra còn một số HS ở các xã lân cận và HS toàn thành phố Khu vựcmiền tây Thường Tín chủ yếu là các xã thuần nông, thu nhập thấp, kinh tế khókhăn Để tạo thuận lợi cho số HS khu vực này được tiếp tục theo học thuậnlợi, với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục

vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và tiến tới phổ cập giáodục trung học cho nhân dân trong huyện Do trường mới thành lập, bề dàytruyền thống còn ít Đầu vào tuyển sinh còn thấp, trong vài năm gần đây gặp khókhăn trong việc tuyển sinh nên trường phải xin tuyển HS toàn thành phố

Về cơ sở vật chất: Trường có bố trí 2 phòng thực hành máy tính gồm

50 máy tính cho HS thực hành môn tin và 2 phòng máy chiếu Các phòng học,phòng chức năng, phòng thực hành, phòng bộ môn… được thiết kế theo môhình chuẩn quốc gia, nhà trường có có đầy đủ các phòng thực hành bộ môn,phòng tập đa năng, phòng máy chiếu, sân chơi, bãi tập…

Đội ngũ nhà trường với tổng số cán bộ - giáo viên - nhân viên là 79người Trong đó ban giám hiệu có 3 người gồm 1 hiệu trưởng và 2 phó hiệutrưởng Có 6 tổ chuyên môn và 1 tổ văn phòng Trong đó, bộ môn GDCD có

2 đồng chí Hàng năm 100% cán bộ, giáo viên tham gia viết sáng kiến kinhnghiệm và đã đạt nhiều giải qua các đợt tham gia Đội ngũ cán bộ giáo viên

Trang 25

nhà trường đều đạt trình độ chuẩn, tâm huyết với nghề, có năng lực chuyênmôn và trình độ nghiệp vụ sư phạm đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới giáo dục.Trong đó, có 15 thầy cô giáo trên chuẩn (trình độ thạc sỹ), 10 thầy cô đangtheo học thạc sỹ; nhiều năm liền giáo viên đạt chiến sỹ thi đua cấp cơ sở,được tặng nhiều bằng khen của thành phố và của ngành giáo dục.

Các tổ chuyên môn của nhà trường luôn tích cực chủ động tham gia cácphong trào thi đua dạy tốt, các cuộc thi giáo viên giỏi cấp trường, cụm, thànhphố, đạt thành tích cao.Công tác giáo dục luôn được nhà trường quan tâm,chú trọng Với đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, vững về tư tưởng, tậntâm, sáng tạo, đẹp về phẩm chất, đánh giá thực chất kết quả học tập của HS,không chạy theo bệnh thành tích, nhà trường giáo dục với phương châm “HS

là trung tâm của mọi hoạt động”, “Rèn nền nếp, dạy kỹ năng, trao kiến thức”,không chỉ quan tâm đến công tác giáo dục, mà còn chú trọng đến việc đứcdục và văn thể mỹ, tạo cho các em HS cảm giác “mỗi ngày đến trường là mộtngày vui”

1.2.2 Thực trạng việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh.

Về thực trạng dạy và học môn giáo dục công dân trong nhà trường phổ thông hiện nay

Để hiểu được thực trạng việc phát huy tính tích cực học tập của học sinhtrong dạy học môn GDCD lớp 11, phần “công dân với các vấn đề chính trị xãhội” ở trường THPT Lý Tử Tấn - tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra cho 2giáo viên dạy môn GDCD ( phụ lục 1) và cho 100 học sinh lớp 11( phụ lục 2)tại trường THPT Lý Tử Tấn Qua thống kê số liệu đã điều tra và nghiên cứu

từ thực trạng học tập môn GDCD của trường, tôi đã thu được kết quả ở cácmặt sau đây:

- Sự nhận thức của học sinh về tầm quan trọng, ý nghĩa môn học GDCD

Nhận thức là kim chỉ nam cho hoạt động, nếu có nhận thức đúng đắn, HS

sẽ có cách thức học tập phù hợp Qua khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em

Trang 26

HS tại trường THPT Lý Tử Tấn – Hà Nội có nhận thức đúng đắn về tầmquan trọng của môn GDCD Điều này thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng, ý nghĩa môn GDCD.

GDCD là một môn học

Tỉ lệ (%) Đồng ý Lưỡng

lự

Không đồng ý

Có nội dung gần gũi, thiết thực với

Có vai trò rất quan trọng trong sự

Rất cần thiết trong chương trình

THPT vì góp phần phát triển một

cách toàn diện ở HS

Đây là một môn không thi tốt nghiệp

nên không cần dành nhiều thời gian

cho nó

Giúp cho HS có những kỹ năng sống

Giúp HS nhận thức được quy luật

của thế giới khách quan để từ đó vận

dụng vào thực tế cuộc sống

Giúp HS phát triển về mặt tình cảm

( biết yêu thương, giúp đỡ người

thân và mọi người xung quanh)

Giúp HS biết lí giải những sự vật

hiện tượng nảy sinh trong cuộc sống 25 45 30

Giúp HS biết suy nghĩ chín chắn

hơn trước khi phát biểu hay quyết

định một việc nào đó

Giúp HS biết cách cư xử tốt hơn với

Em thấy các kiến thức ấy ít giúp ích

Trang 27

Ý kiến khác: (nếu có ghi rõ nội

Xem bảng 1 thấy rằng:

93 % HS cho rằng đây là một môn học có nội dung gần gũi, thiết thựcvới cuộc sống; 86 % HS đồng ý môn này có vai trò rất quan trọng trong sựphát triển đạo đức, nhân cách và 88 % HS đồng tình đây là một môn học rấtcần thiết trong chương trình THPT vì góp phần phát triển toàn diện ở HS.Đây là một thực tế, vì hầu như tất cả các trường THPT nói chung vàTrường THPT Lý Tử Tấn nói riêng đều quán triệt tinh thần không xemthường bộ môn Nhà trường luôn làm công tác tư tưởng cho các em về tầmquan trọng của tất cả các môn học, muốn học giỏi toàn diện thì phải học thậtđều các môn, từ tự nhiên cho đến xã hội Vì thế mà chỉ có 7 % HS tán thành ýkiến cho rằng đây là môn không thi tốt nghiệp nên không cần dành nhiều thờigian cho nó

Tuy nhiên, chỉ có 6 % HS bác bỏ ý kiến môn GDCD giúp cho HS cónhững kỹ năng sống cần thiết, 12 % HS không đồng tình với ý kiến cho rằngmôn này giúp HS nhận thức được quy luật của thế giới khách quan từ đó vậndụng vào thực tế cuộc sống 10% HS không đồng ý với ý kiến môn này giúp

HS phát triển về mặt tình cảm( biết yêu thương, giúp đỡ người thân và mọingười xung quanh), 5% HS không đồng ý đây là môn học giúp HS có suynghĩ chín chắn hơn trước khi phát biểu hay quyết định một việc nào đó 14%

HS không đồng tình GDCD là môn giúp HS biết cách cư xử tốt hơn với mọingười xung quanh Và cũng chỉ 11% HS đồng ý cho rằng các kiến thức củamôn giáo dục ông dân không giúp ích gì cho các em trong cuộc sống

Những con số trên đây cho thấy rằng, đa số các em cũng nhận thức rõ ýnghĩa và vai trò của môn GDCD trong giáo dục nhân cách HS

Mặt khác, có tới 30% HS không đồng ý và 45% HS lưỡng lự với ý kiếnmôn học này giúp cho HS biết lý giải những hiện tượng, sự việc nảy sinh

Trang 28

trong cuộc sống Điều này cũng dễ hiểu vì các em HS đã trải qua chương trìnhGDCD lớp 10 chỉ học có 1 học kì chủ yếu là những vấn đề cơ bản của môntriết học còn mang tính khái quát, trừu tượng nên việc giải thích một số hiệntượng nảy sinh trong cuộc sống còn hơi quá tầm so với trình độ nhận thức củacác em.

Một điều hiển nhiên rằng, mức độ nhận thức về tầm quan trọng của mônhọc sẽ đóng vai trò là động cơ tích cực học tập của HS HS có nhận thức đúngđắn và sâu sắc vai trò quan trọng của môn GDCD thì động cơ thúc đẩy tínhtích cực mới mạnh mẽ, kết quả học tập sẽ cao, hơn nữa kỹ năng vận dụng trithức vào thực tiễn nghề nghiệp sau này mới có giá trị đích thực

Như vậy tỉ lệ HS nhận thức đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của mônGDCD là tương đối cao Qua kết quả điều tra thu được, HS có nhận thứcđúng vai trò của môn học, đây là cơ sở xây dựng động cơ tích cực học tập của

HS Mặt khác sau khi được sự chỉ đạo của sở giáo dục và đào tạo, các trường

đã quán triệt tư tưởng ở phụ huynh và HS đầu năm học, HS đã thấy rõ tínhthiết thực và vai trò của môn GDCD với thực tiễn giáo dục phổ thông là rấtcần thiết

- Tính tích cực của học sinh thể hiện qua hành động học tập môn giáo dục công dân.

Hành động học tập phù hợp, đúng đắn là một trong những yếu tố quantrọng giúp cho HS đạt được kết quả cao trong học tập

Qua xử lí số liệu, tôi nhận thấy rằng, trong quá trình học tập, sự tìm tòi,sáng tạo của các em chưa cao

Trang 29

Bảng 2: Hành động học tập môn GDCD của HS

Hành động học tậpcủa HS

Tỉ lệ (%) Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Tìm các tài liệu bổ sung khi một nội

dung hay vấn đề nào đó của môn

Tích cực phát biểu ý kiến xây xựng

Tự nghĩ ra những tình huống mới,

những vấn đề mới đặt ra cho cả lớp

trong quá trình học tập GDCD

Nói lên những quan niệm, quan

điểm của mình trước một vấn đề hay

tình huống nào đó trong môn GDCD

Hoàn thành tất cả các bài tập môn

Đọc thêm, làm thêm các bài tập

Tập trung chú ý nghe giáo viên

Ghi chép nội dung bài học môn

Trang 30

trong sách giáo khoa

Khi phát biểu, em chỉ đọc những ý

Khi phát biểu, em diễn đạt theo ý

hiểu của mình từ những ý trong sách

giáo khoa

Khi phát biểu, em tự đưa ra ý kiến

Xem bảng 2 cho thấy:

19% HS thường xuyên tìm các tài liệu bổ sung khi một nội dung hay vấn

đề nào đó của môn GDCD mà em chưa thật rõ ràng, 32% hay nêu thắc mắc,muốn được giải thích cặn kẽ những vấn đề môn GDCD mà giáo viên trình bày.Chỉ 6% HS tự nghĩ ra những tình huống mới, những vấn đề mới đặt racho cả lớp, trong khi đó đến 30% HS hiếm khi nói lên những quan niệm, quanđiểm của mình trước một vấn đề hay tình huống nào đó trong môn giáo dụccông dân Và số lượng HS thường xuyên đọc thêm, làm thêm các bài tập giáodục công dân mà giáo viên không yêu cầu là rất ít, chỉ 4%

Khi hỏi các em trong quá trình học tập có xây dựng các sơ đồ, tóm tắt,lập dàn ý cụ thể, rõ ràng trong vở ghi để dễ học bài môn giáo dục công dânhay không thì 13% HS chọn mức thường xuyên Số HS thường xuyên tự tìmnhững ví dụ cụ thể trong thực tiễn để làm rõ những nội dung đã học cũngkhông nhiều chỉ có 22%

Qua các số liệu được thống kê ở bảng trên, có thể thấy rằng sự tìm tòi,khám phá, tự nghiên cứu tài liệu của các em HS tại trường THPT Lý Tử Tấn– Hà Nội là chưa cao Thầy cô dạy thế nào thì hiểu thế ấy, nếu có thắc mắccũng ít khi đặt ra câu hỏi để thầy cô giải đáp cặn kẽ Các em chưa chủ động

và tích cực tìm tòi tài liệu, đọc thêm, làm thêm các bài tập, tìm những ví dụtrong thực tế cuộc sống để bổ sung kiến thức cho mình Đa số các em cũng

Trang 31

chưa có sự mạnh dạn để trình bày quan niệm hay ý tưởng của mình trước tậpthể Và trong cách học, phần lớn các em chưa xây dựng được cách trình bày bàihọc sao cho dễ nhớ, dễ hiểu, thầy cô cho ghi vở như thế nào thì các em chép thếấy.

Trong quá trình học tập môn GDCD tại lớp thì đa số các em có tích cựcphát biểu ý kiến xây dựng bài Cụ thể: 25% trả lời hiếm khi Ở lớp, tập thểđưa ra các hình thức kiểm điểm HS khi không hoàn thành bài tập, bài học ởnhà hầu như các em có ý thức trong việc làm bài, học bài ở nhà rất cao Điểnhình là rất ít HS chưa hoàn thành tất cả các bài tập môn GDCD: 8% HS Cóđược ý thức trong việc học bài và làm bài trước khi đến lớp là do các em nếu

vi phạm, không thuộc bài hoặc không làm bài khi GV kiểm tra sẽ bị hạ mộtbậc hạnh kiểm trong tuần, nếu tái phạm từ hai lần trở lên nhà trường sẽ mờiphụ huynh, và thi đua của lớp cũng bị trừ điểm Cũng vì lí do này mà trongcác tiết học GDCD nói riêng, đa số các em HS chú ý lắng nghe GV giảng bài,ghi chép cẩn thận theo sự hướng dẫn của GV Cụ thể kết quả khảo sát chothấy: 7% HS hiếm khi tập trung chú ý nghe GV giảng bài, 6% HS hiếm khighi chép nội dung bài học môn giáo dục công dân cẩn thận,chi tiết

Như vậy cách thức học tập môn GDCD trên lớp của các em khá tốt vàđúng đắn, các em biết chấp hành nội quy tập thể Các em cũng cố gắng rấtnhiều trong việc phát biểu xây dựng bài Tuy nhiên việc phát biểu xây dựngbài của các em chỉ dừng lại ở mức đọc lại những nội dung trong sách giáokhoa đã vạch sẵn mà ít sáng tạo trong cách diễn đạt, ít khi trình bày theo cáchhiểu của riêng mình Cụ thể là: chỉ có 6% hiếm khi đọc nguyên xi trong sáchgiáo khoa Trong khi đó, rất ít HS thường xuyên tự đưa ra ý kiến theo cáchcủa mình(13%) Điều này chứng tỏ rằng mức độ sáng tạo trong quá trình họctập của cac em chưa cao, các em chủ yếu dựa vào những nội dung có sẵntrong sách giáo khoa Hơn nữa, sách giáo khoa hiện nay, trong bài học có đưa

ra từng câu hỏi cho từng mục và có giải thích rõ ràng, có đánh dấu bằng chữ innghiêng nên HS chỉ cần nhìn vào đó đọc mà không tự suy nghĩ theo cách hiểu

Trang 32

của riêng mình Đây là một hạn chế rất lớn, tạo cho các em thói quen lười tưduy, suy nghĩ khi gặp một vấn đề khó khăn, phức tạp trong quá trình học tập

Từ những phân tích ở trên, có thể nhận thấy một thực tế rằng, mặc dùcác em HS có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, ý nghĩa của môn họcnhưng cách thức học tập của các em còn mang tính bắt chước, sao chép, chưatích cực trong việc tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, chưa thể hiện sự sáng tạo trongquá trình học tập

Tôi cũng tiến hành khảo sát thêm ý kiến đánh giá, nhận xét của GV vềcách thức học tập của các em và thu được kết quả như sau:

Bảng 3: Đánh giá của giáo viên về hành động học tập môn giáo dục công dân của học sinh

Hành động học tập của HS

Tỷ lệ (%) Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Tìm các tài liệu bổ sung khi một nội dung hay

một vấn đề nào đó của môn giáo dục công dân

mà em chưa thật rõ ràng

Nêu thắc mắc, đòi giải thích cặn kẽ những vấn

đề môn giáo dục công dân mà giáo viên trình

bày

Tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài trong

Tự nghĩ ra những tình huống mới, vấn đề mới

đặt ra cho cả lớp trong quá trình học tập 0 100 0Nói lên những quan niệm, quan điểm riêng về

một vấn đề, tình huống nào đó trong môn học 50 50 0Hoàn thành tất cả bài tập mà giáo viên giao về

Nản lòng khi gặp bài tập môn giáo dục công

Đọc thêm, làm thêm các bài tập mà giáo viên

Trang 33

Tập trung chú ý nghe giáo viên giảng bài 0 100 0Ghi chép nội dung bài học môn giáo dục công

Khi phát biểu, HS diễn đạt theo ý của mình từ

Khi phát biểu, HS đưa ra ý kiến theo cách hiểu

Trong khi đó, khi hỏi trong quá trình học tập HS có xây dựng sơ đồ, tómtắt, lập dàn ý… cụ thể và rõ ràng trong vở ghi để dễ học bài môn giáo dụccông dân hay không có 50% GV chọn mức thường xuyên, 50% GV cho rằng

Trang 34

thường xuyên tự tìm những ví dụ cụ thể trong thực tiễn để làm rõ nội dung đãhọc.

Qua các số liệu trên, ta thấy rằng, đa số GV đánh giá HS của họ mức độtìm tòi, đặc biệt là cách tự tìm tòi, tự nghiên cứu chưa cao, càng khẳng địnhmột điều trong quá trình học tập môn GDCD, HS chưa nỗ lực bản thân, chưahuy động các phẩm chất trí tuệ đạt được hiệu quả cao nhất

50% GV cho rằng HS thỉnh thoảng tích cực phát biểu ý kiến xây dựngbài trong tiết học, 100% GV cho rằng HS hoàn thành tất cả bài tập mà giáoviên giao về nhà Tuy nhiên, 100% GV cho rằng khi phát biểu, HS thườngđọc nguyên xi trong sách giáo khoa 50% GV cho rằng HS tự đưa ra ý kiếntheo cách hiểu của riêng mình Điều này nói lên rằng, các em chưa sáng tạo,tích cực tư duy trong quá trình học tập

Qua đó thấy rằng, cách thức học tập của các em ở lớp tuy đúng đắn,nghiêm túc, nhưng điều đó lại bị ảnh hưởng do tác động của kỷ luật trườnglớp Các em cũng chưa thể hiện được khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu và khảnăng sáng tạo của mình trong quá trình học tập môn GDCD Vì vậy có thểnói, hành động học tập môn GDCD của HS còn chưa tích cực

- Thái độ học tập môn GDCD của học sinh

Trong các kết quả thu được từ phía HS, thực tế cho thấy rằng, các em HS

có thái độ học tập trên lớp rất đúng đắn Tuy nhiên thái độ này phần nhiều bịchi phối bởi nội quy do trường, lớp đề ra Có một thực tế là, đã từ lâu mônnày bị các em và một số phụ huynh xem là môn phụ, không quan trọng vìkhông phải môn thi tốt nghiệp Mặc dù khi khảo sát nhận thức HS về tầm

quan trọng, ý nghĩa của môn học (Xem bảng 1: Nhận thức của học sinh về

tầm quan trọng, ý nghĩa môn GDCD), các em đánh giá môn này có vai trò rất

quan trọng trong sự phát triển đạo đức nhân cách HS( có 86% ý kiến) và làmột môn rất cần thiết trong chương trình THPT(có 88% lựa chọn) Nhưng vềhành động học tập thì các em lại rất ít đầu tư và dành thời gian để tìm hiểu

Trang 35

nghiên cứu sâu về môn học này Như vậy, giữa nhận thức và hành động còn

có một khoảng cách khá xa Điều này còn được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4: Thái độ học tập môn GDCD của học sinh

Qua bảng trên, tôi thấy rằng, học sinh ít hứng thú với việc học tập môn

GDCD Cụ thể là có 36% HS không thích, 40% HS không thích cũng khôngghét và 24% HS thích học môn này Tôi cho rằng, yêu thích môn học là cơ sởcủa khá nhiều vấn đề Yêu thích môn GDCD có vai trò quan trọng góp phầnnâng cao tính tích cực học tập và tăng hiệu quả học tập của HS Nếu khôngthích học thì các em sẽ ít tích cực học tập, ít tích cực tư duy, ít đầu tư thờigian và trí lực để học môn này, ít tìm tòi những biện pháp có hiệu quả Mặtkhác, HS sẽ có thể có những biểu hiện như không chuyên cần siêng năng, họctập mang tính hình thức, đối phó, dẫn đến khả năng vận dụng tri thức vàocuộc sống sau này bị hạn chế

Để điều tra động cơ học tập của HS trong quá trình học tập môn GDCD

ở trường THPT Lý Tử Tấn, tôi điều tra bằng câu hỏi: Em học bài cũ mônGDCD vì những động cơ nào? ( HS chỉ chọn 1 động cơ mà các em cho làquan trọng nhất) Sau khi xử lí số liệu, tôi thu được kết quả:

Bảng 5: Động cơ học tập môn giáo dục công dân của học sinh

Chưa có điểm kiểm tra miệng 16

Biết chắc có bài kiểm tra 0

Muốn đạt kết quả cao môn học này 24

Trang 36

Học bài trước khi đến lớp là nhiệm vụ của mỗi

Nếu không thuộc bài sẽ bị nhắc nhở trước lớp và

hạ hạnh kiểm, làm bản tự kiểm điểm có chữ ký

xác nhận của cha mẹ

19

Theo số liệu ở bảng 5 thấy rằng: Có 30% HS chọn nếu bị điểm kém cha

mẹ, thầy cô mắng, 24% HS muốn đạt điểm cao môn này, 19% HS cho rằngnếu không thuộc bài sẽ bị nhắc nhở trước lớp và hạ bậc hạnh kiểm, làm bản tựkiểm điểm có chữ ký xác nhận của cha mẹ 16% HS học bài vì chưa có điểmkiểm tra miệng và chỉ có 11% HS đồng ý rằng học bài trước khi đến lớp lànhiệm vụ của mỗi HS

Nhìn vào bảng số liệu trên, rõ ràng ta thấy tỷ lệ HS chọn động cơ các emhọc bài môn GDCD vì áp lực từ sự trách phạt của cha mẹ và trường lớp là khácao Trong khi đó, sự thể hiện ý thức tự giác học tập của các em còn thấp.Qua tất cả những thống kê trên, tôi nhận thấy, các em bị chi phối bởinhững quy định nghiêm khắc của nhà trường và tập thể lớp, mặt khác, các emcũng sợ bị hạ bậc hạnh kiểm, cha mẹ mắng, nên lên lớp các em ghi chép bàiđầy đủ và tích cực phát biểu xây dựng bài Thế nhưng các em học tập chưa cótính tự giác, ít có hứng thú, nhu cầu và động cơ học tập môn học, điều đó ảnhhưởng đến bầu không khí lớp học Do các em chỉ phát biểu những cái có sẵntrong sách giáo khoa, ít diễn đạt sáng tạo, tư duy nên tiết học sẽ đi theo lốimòn và dễ gây sự nhàm chán Vì vậy, tính tích cực học tập của HS trườngTHPT Lý Tử Tấn chưa cao, thái độ học tập của các em chưa thật sự đúng đắn

Nhận xét chung về thực trạng tính tích cực học tập môn giáo dục công dân của học sinh trường THPT Lý Tử Tấn.

Qua các số liệu phân tích trên có thể thấy rằng, tính tích cực học tập mônGDCD của HS trường THPT Lý Tử Tấn là chưa cao Mặc dù HS có nhậnthức đúng đắn về tầm quan trọng, ý nghĩa môn học, có ý thức học tập trên lớp

Trang 37

nhưng qua khảo sát những hành động học tập của HS đã thể hiện rằng các emchưa tích cực, nhiệt tình trong tìm tòi và sáng tạo trong quá trình học tập Hơnnữa, thái độ học tập của HS cũng chưa thật sự đúng đắn Phần nhiều HS chưa

tự giác trong học tập, chưa có động cơ học tập đúng đắn

Tóm lại, việc phát huy tính tích cực học tập môn giáo dục công dân của

học sinh trong dạy học GDCD lớp 11, phần “công dân với các vấn đề chínhtrị - xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn còn nhiều hạn chế Học sinh chưathực sự chăm chỉ, chịu khó học tập, chưa tích cực tìm tòi, sáng tạo trong họctập Giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề, chưa chịu khó đầu tư vàochuyên môn Giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm giảng dạy nhiều Tất cảnhững điều đó đã làm hạn chế chất lượng dạy học môn giáo dục công dân ởtrường THPT Lý Tử Tấn – Hà Nội Ngoài ra còn một số yếu tố ảnh hưởngđến việc phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh mà tôi đề cập dướiđây

Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập môn giáo dục công dân của học sinh THPT LÝ Tử Tấn – Hà Nội

Tính tích cực học tập đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên tiết họcsinh động, hấp dẫn Nhưng để HS phát huy tính tích cực học tập thì khả năngnhận thức của học sinh, phương tiện dạy học và nhất là phương pháp giảngdạy của GV lại là những điều kiện chủ yếu quyết định hàng đầu Khi tìm hiểu

về những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập môn GDCD của các em, tôithu được kết quả như sau:

Khả năng nhận thức của học sinh

Qua quá trình quan sát trực tiếp các tiết học GDCD trên lớp, tôi nhậnđịnh rằng, do ảnh hưởng nhiều bởi cách học thời trung học cơ sở nên các

em chưa có khả năng tư duy độc lập, chưa quen với cách suy nghĩ khi giải

Trang 38

quyết vấn đề trong quá trình học tập Học sinh chủ yếu học thuộc lòngnhững gì thầy giáo dạy, chưa có tính tự lập cho mình một sơ đồ, dàn ý đểhiểu một cách logic, hệ thống hơn những nội dung mà thầy cô cung cấp.Nhìn chung, các em còn thiếu tính độc lập, sáng tạo, thao tác tư duy logic,phân tích Từ thực tế tôi thấy đa số các em học vẹt, khi GV kiểm tra bài

cũ, hầu hết các em tập trung cao độ để đọc cho hết nội dung cần trả lời,thế nhưng khi GV ngắt lời HS giữa chừng, hỏi sang vấn đề khác thì các

em tỏ ra cực kỳ lúng túng Học sinh cảm thấy những kiến thức môn họcchưa thực sự cần thiết đối với các em nên ít HS chú tâm tìm hiểu sâu bàihọc

Phương tiện học tập.

Kết hợp với phương pháp quan sát thực tế tại trường, tôi cho rằng cácphương tiện dạy học của nhà trường đáp ứng khá đầy đủ cho quá trình dạyhọc môn GDCD Tuy nhiên, có tới 50% HS cho rằng thiếu hình ảnh, tìnhhuống thực tế, phim minh họa cho bài học 16% HS cho rằng nội dungcòn thiếu tính thực tiễn; 8% HS cho rằng giáo viên chưa nhiệt tình tronggiảng dạy; 24% HS cho rằng GV thuyết giảng quá nhiều, ít đổi mới PPdạy học; còn lại 2% HS cho rằng do hình thức kiểm tra đánh giá của GV.Tất cả được chứng minh qua biểu đồ sau:

Trang 39

Biểu đồ 1.1: Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập môn

GDCD của học sinh

Tôi thấy rằng, mỗi trường THPT đều cung cấp cho mỗi GV một số loạitài liệu tham khảo Thế nhưng, đa phần các thầy cô chưa sử dụng tranh, ảnh,biểu đồ minh họa cho bài học, điều này ảnh hưởng lớn đến tính tính cực họctập của HS khi học môn GDCD

Phương pháp giảng dạy của GV

Để tìm hiểu phương pháp giảng dạy của GV, tôi đưa ra câu hỏi mở dànhcho các thầy với nội dung: Thầy thường sử dụng PP dạy học nào trong quátrình giảng dạy môn giáo dục công dân? Kết quả có các GV trả lời sử dụngkết hợp các phương pháp: Thuyết trình và đàm thoại Trong quá trình dự giờlớp của GV giảng dạy môn GDCD tại trường THPT Lý Tử Tấn, tôi nhận thấyrằng GV chưa thực sự đầu tư vào việc đổi mới các phương pháp dạy học Thực tế quan sát, mặc dù GV rất nhiệt tình giảng dạy, có đầu tư vào giáo

án điện tử nhưng giáo án điện tử của GV chỉ đơn thuần thay thế nội dung mà

Trang 40

GV phải tóm tắt lên bảng cho HS ghi bài Cụ thể có 50% HS cho rằng các tiếthọc môn GDCD còn thiếu hình ảnh, tình huống thực tế, phim minh họa chobài học ( xem biểu đồ 1.1) Do đó, thay vì GV đọc – HS chép thì nay trởthành GV nhấp chuột – HS chép Phương pháp dạy học của các thầy cô cònđơn điệu, chưa kích thích được tính tích cực học tập của HS Các thầy cô ítđưa ra tình huống cho HS giải quyết Điển hình có 24% HS nhận xét GVthuyết giảng quá nhiều, ít đổi mới phương pháp dạy học (xem biểu đồ 1.1).

Nguyên nhân ảnh hưởng tới việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Lý Tử Tấn.

Nguyên nhân về phía giáo viên:

+ Hạn chế từ chính phía các thầy cô GDCD mà có không ít người mắc

phải: Đó là chưa thực sự tin tưởng vào sự nghiệp của mình, sự nghiệp củangười giáo viên bộ môn GDCD Nhiều giáo viên bộ môn GDCD chưa ý thứcđược đầy đủ vị trí của môn GDCD là một môn khoa học trong nhà trường phổthông để giáo dục đạo đức lối sống, lí tưởng, tác phong, tri thức hiểu biếtchính trị - xã hội có ý nghĩa vô cùng cần thiết đối với HS, đặc biệt là trong bốicảnh hiện nay khi mà đất nước hội nhập, khi mà những mặt trái của kinh tế thịtrường không ngừng tác động đến đối tượng nhạy cảm nhất là các em HSTHPT

+ Tuy hiện nay, GV dạy môn GDCD được đào tạo, bồi dưỡng bài bản về

chuyên môn, nhưng họ đã quen với lối dạy truyền thống là chủ yếu truyền đạt,giảng dạy theo những tài liệu có sẵn trong sách hướng dẫn một cách máy móc

và ít quan tâm đến việc phát huy tính tích cực học tập của HS trong quá trìnhdạy học Họ ngại thay đổi, cải tiến PPDH theo hướng tích cực học tập của HS,việc vận dụng những PP, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tíchcực học tập của HS còn hạn chế Kiến thức lý thuyết chưa gắn chặt với thựctiễn phong phú sinh động

+ Thực tế việc kiểm tra, thi vẫn được GV cơ bản thực hiện theo hình thức

truyền thống, chủ yếu là tự luận Với hình thức thi, kiểm tra này bên cạnhnhững mặt tích cực của nó vẫn còn tồn tại những hạn chế bất cập như HS học

tủ, sử dụng tài liệu, trao đổi bài trong phòng thi Do đó, việc đánh giá chất

Ngày đăng: 05/04/2017, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aleecxeep. M (1976), Phát triển tư duy học sinh, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh
Tác giả: Aleecxeep. M
Nhà XB: nhà xuất bản Giáodục Hà Nội
Năm: 1976
12. Đinh Văn Đức (Tổng chủ biên), Nguyễn Văn Long, Đào Thị Ngọc Minh, Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn giáo dục công dân lớp 11, Nhà xuất bản đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn giáo dục côngdân lớp 11
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học sư phạm
13. Đỗ Ngọc Đạt (2000), Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học, nhà xuất bản đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: nhàxuất bản đại học quốc gia
Năm: 2000
14. Đỗ Ngọc Đạt (2000), Bài giảng lí luận dạy học hiện đại, nhà xuất bản đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: nhà xuấtbản đại học quốc gia
Năm: 2000
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII), Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Banchấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII)
16. Tô Xuân Giáp (1998), Phương tiện dạy học, nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1998
19. Trần Bá Hoành, những đặc trưng của PP dạy học tích cực, tạp chí giáo dục số 32/ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những đặc trưng của PP dạy học tích cực
21. Đăng Thành Hưng, PP hoạt động thầy – trò trên lớp học , nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: PP hoạt động thầy – trò trên lớp học
Nhà XB: nhà xuấtbản giáo dục
22. I.F Kharlamôp, Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, nhà xuất bản giáo dục, tập 1 – 1978, tập 2 – 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thếnào
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
23. Nguyễn Kỳ, Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trungtâm
24. Luật Giáo dục (Sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trịQuốc gia
25. Hoàng Đức Nhuận (1996), cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông, nhà xuất bản giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơ sở lí luận của việc đánh giá chấtlượng học tập của học sinh phổ thông
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục HàNội
Năm: 1996
27. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học tập I, II, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tập I, II
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục
Năm: 1987
29. Lê Thị Thơm, Bùi Văn Hà, Suy ngẫm về những PP giáo dục của Nho giáo, Tạp chí giáo dục, 10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm về những PP giáo dục củaNho giáo
30. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo (2004), Học và dạy cách học, nhà xuất bản đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: nhà xuất bản đại học sưphạm
Năm: 2004
31. Vũ Hồng Tiến, Một số phương pháp dạy học tích cực, Chuyên đề 2, Tài liệu phục vụ giáo dạy sách giáo khoa thí điểm lớp 11 môn giáo dục công dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp dạy học tích cực
32. Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên trung học phổ thông về đổi mới phương pháp dạy học, viện nghiên cứu sư phạm, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên trung học phổthông về đổi mới phương pháp dạy học
34. Phạm Viết Vượng (2008), Lí luận giáo dục, nhà xuất bản đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận giáo dục
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: nhà xuất bản đại học sưphạm Hà Nội
Năm: 2008
35. Phạm Viết Vượng, phương pháp luận nghiên cứu khoa học, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: nhàxuất bản đại học quốc gia Hà Nội
36. Phạm Viết Vượng (1996), Giáo dục học đại cương, nhà xuất bản đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: nhà xuất bảnđại học Quốc gia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức trực quan qua màn ảnh, máy chiếu là hình thức trực quan hiện đại nhất hiện nay: GV trình bày hệ thống tri thức bài giảng của mình qua hệ thống máy vi tính, máy chiếu - PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực học tập của học SINH TRONG dạy học môn GDCD lớp 11, PHẦN “CÔNG dân với các vấn đề CHÍNH TRỊ xã hội” ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG lý tử tấn – hà nội
Hình th ức trực quan qua màn ảnh, máy chiếu là hình thức trực quan hiện đại nhất hiện nay: GV trình bày hệ thống tri thức bài giảng của mình qua hệ thống máy vi tính, máy chiếu (Trang 54)
Hình thức vấn đáp là quá trình tương tác giữa GV và HS, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được GV đặt ra - PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực học tập của học SINH TRONG dạy học môn GDCD lớp 11, PHẦN “CÔNG dân với các vấn đề CHÍNH TRỊ xã hội” ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG lý tử tấn – hà nội
Hình th ức vấn đáp là quá trình tương tác giữa GV và HS, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được GV đặt ra (Trang 65)
Hình thức kiểm tra, đánh giá của giáo viên - PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực học tập của học SINH TRONG dạy học môn GDCD lớp 11, PHẦN “CÔNG dân với các vấn đề CHÍNH TRỊ xã hội” ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG lý tử tấn – hà nội
Hình th ức kiểm tra, đánh giá của giáo viên (Trang 86)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w