1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HUỐNG dẫn ôn tập kì THI TRUNG học PHỔ THÔNG QUỐC GIA năm học 2014 2015 môn NGỮ văn

274 490 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tinh thần đó, văn bản số 4099/BGDĐT- GDTrH ngày 05 - 8 - 2014 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục Trung học năm học 2014 - 2015 xác định yêu cầu đổi mới kiểm trạ, đánh giá

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1.Quán triệt Nghị quyết 29 - NQ/TW của Đảng, Chỉ thị số

Trang 2

3008/CT-BGDĐT ngày 18-8-2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ

trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên vì giáo dục chuyên nghiệp năm học 2014 - 2015 nêu rõ: “Tiếp tục triển khai đông

bộ các giải phảp đổi mới giáo dục phổ thông theo mục tiêu phát triển năng lực

và phẩm chất học sinh ; nâng cao kĩ năng ngoại ngữ, tin học; rèn luyện năng lựcvận dụng kiến thức vào thực tiễn ; phát triển năng lực sáng tạo và tự học Tiếptục triển khai đối mới phương pháp dạy và học gắn với đổi mới hình thức,phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giánăng lực người học ; kết hợp đánh giá trong quá trình với đánh giá cuối kì, cuốinăm học”

Theo tinh thần đó, văn bản số 4099/BGDĐT- GDTrH ngày 05 - 8 - 2014 về

việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục Trung học năm học 2014 - 2015

xác định yêu cầu đổi mới kiểm trạ, đánh giá ở trường phổ thông : “Tiếp tục nângcao yêu cầu vận dụng kiến thức liên môn vào thực tiễn ; đối với các mọn khoahọc xã hội và nhân văn cần tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quêhương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đềkinh'tế, chính trị, xã hội”

Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá môn NgữVăn ở trường phổ thông nằm trong tương quan chung với hoạt động đổi mới cácmôn học khác và phải tuân thủ các nguyên tắc, các yêu cầu đã nêu trên

2.Ngày 09 - 9 - 2014, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Quyết định số 3538/QĐ-BGDĐT về việc Phê duyệt phương án thi tốt nghiệp

Trung học phổ thông và tuyển sình đại học, cao đẳng từ năm 2015 nêu rõ : “Từ

năm 2015, tổ chức một kì thi quốc gia (gọi là ki thi Trung học phổ thông Quốcgia) lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp Trung học phổ thông và làm căn cứxét tuyển sinh đại học, cao đẳng ”

Nhằm giúp giáo viên và học sinh có thêm tư liệu ôn tập chuẩn bị cho kỉ thiTrung học phổ thông Quốc gia năm học 2014 - 2015, chúng tôi biên soạn cuốn

Hướng dẫn ôn tập kì thi Trung học phổ thông Quốc gia năm học 2014 - 2015 môn Ngữ văn.

Trang 3

3.Cuốn sách hệ thống các vấn đề cần ôn luyện, phù họp với định hướng đánhgiá năng lực môn Ngữ văn theo chù trương tổ chức kì thi Trung học phổ thôngQuốc gia của Bộ Giáo dục và Đào tạo Qua đó, giúp học sinh bồi dưỡng và pháttriển năng lực bộ môn, tự trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng làm bài đạt kếtquả tốt nhất trong kì thi Trung học phổ thông Quốc gia năm học 2014-2015.

Ngoài Lời nói đầu khái quát yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định

hướng phát triển năng lực người học và giới thiệu nội dung sách, cuốn sách gồmhai phần chính :

Phần một Hướng dẫn nội dung ôn lập : sắp xếp theo đơn vị bài học trong

chương trình Trung học phổ thông môn Ngữ văn, gắn với nội dung thi Trung

học phổ thông Quốc gia ; mỗi bài gồm hai phần : Nội dung trọng tâm cần ôn tập

và Câu hỏi ôn lập.

Phần hai Giới thiệụ một sổ đề ôn tập và gợi ý, đáp ám : cung cấp các đề thi

môn Ngữ vãn theo mô hình đề thi của kì thi Trung học phổ thông Quôc gia, vớiđịnh dạng tương tự đề thi năm 2014 theo hướng đánh giá năng lực, đáp ứng mụctiêu tổ chức kì thi Trung học phổ thông Quốc gia và đưa ra cảc gợi ý làm bài chocác đề thi

Sách được biên soạn theo tinh thần quán triệt định hướng chỉ đạo đổi mớiphương pháp dạy học, đỗi mới thi, kiểm tra, đánh giá và các quy định của quychế thi với’ sự tham gia củà các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong việc dạyhọc và ra đề thi môn Ngữ văn trong các kì thi quốc gia hằng hăm TuynEervềfay chí là những gợi ý cơ bản nhằm hệ thống hoá kiến thức và góp phầnrèn luyện năng lực thực hành đọc hiểu văn bản và, làm văn Trên cơ sở đó, giáoviên và học sinh có thể bóc íách hoặc tổ hợp lại theo các yêu cầu khác; nhau tuỳthuộc mục đích ôn tập cụ thể

Hi vọng cuốn Hướng dẫn ôn tập kì thi Trung học phổ thông Quốc gia năm

học 2014 - 2015 môn Ngữ văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích, hỗ trợ các thầy

(cô) giáo, học sinh chuẩn bị tốt nhất cằ về kiến thức, kĩ năng và tâm thế tham gia

kì thi Trung học phổ thông Quốc gia năm học 2014 - 2015 Xin được gửi lờicảm ơn đến GS Nguyễn Khắc Phi, TS Phạrn Thị Hông, TS Nguyễn Thị Bé về

Trang 4

những góp ý rất quý báu cho cuốn sách Mong nhận được những ý kiến đónggóp của các thầy (cô) giáo, các em học sinh và bạn đọc gần xa để sách đượchoàn thiện hơn trong những lần in sau.

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Công ti cổ phần Đầu tư và Phái triển Giáo dục Hà Nội, Toà nhà văn phòng HEID, Ngõ 12, Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội Nhóm biên soạn

`

Phần một HƯỚNG DẪN NỘI DUNG ÔN TẬP HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam)

I NỘI DUNG TRỌNG TÂM CAN ÔN TẬP

1.Tác giả, tác phầm

a)Tác giả

Thạch Lam (1910 - 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh sau đổi thànhNguyễn Tường Lân, là một trong những thành viên chủ chốt của nhóm Tự lựcvăn đoàn Ông sinh tại Hà Nội nhưng thuở nhỏ sống ở huyện cẩm Giàng, tỉnhHải Dương Tuổi thơ nơi phố huyện nghèo đã để lại những dấu ấn đậm nét trongcác sáng tác của ông

Thạch Lam viết cả truyện ngắn, tiểu thuyết và tuỳ bút nhưng đặc sắc nhấtvẫn là truyện ngắn Truyện ngắn Thạch Lam thường không có cốt truyện nhưnglại giàu tâm trạng, thể hiện thế giói nội tâm của nhân vật với những cảm giác mơ

hồ mong manh và tinh tế bằng lời văn bình dị mà gợi cảm Viết về số phận củanhững con người khổ cực hay về những nét đẹp của Hà Nội xưa, văn ThạchLam đều thấm đượm tinh thần nhân văn sâu sắc, láng đọng trong lòng ngườiđọc nhiều dư vị

b)Tác phẩm

Hai đứa trẻ in trong tập truyện ngắn Nắng trong vườn (1938), là một trong

những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam

2.Nội dung, nghệ thuật

- Truyện ngắn miêu tả khung cảnh một phố huyện nghèo từ chiều tàn cho tới

Trang 5

đêm khuya Cảnh chiều muộn hiện lên qua âm thanh: tiếng trống thu không,tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đông ruộng, tiếng muỗi vo về ; qua hình ảnh : phiênchợ tàn đầy rác rưởi ; qua mùi vị : mùi ẩm mốc bốc lên, mùi cát bụi quen thuộc,mùi của đất, của quê hương ; Đó là một bức tranh chiều êm ả nhưng thấm đượmnỗi bụồn man mác Cuộc sống phố huyện về đêm được miêu tả qua những kiếpngười mòn mỏi, quẩn quanh và bế tắc : Mẹ con chị Tí với chõng hàng nước tẻnhạt, bác phở Siêu với gánh hàng phở rong, giá đỉnh bậc xẩm với nghề hát dạo ế

ẩm Thêm vào đấy là cảnh sống chập chờn của cụ Thi điên, chõng hàng đơn sơnhư cuộc sống nghéo nàn dưới bóng chiều tàn của chị em Liên, tất cả đều tẻnhạt, nhàm chán, đều khơi gợi trong tâm trí người chứng kiến nỗi buồn thươngsâu sắc Âm thanh, ánh sáng, bóng tối và con người trong bức tranh phố huyệntưởng như rời rạc nhưng lại hoà quyện, cộng hưởng trong nỗi u buồn, trầm mặcthật thấm thìa, xót xa

- Sống cuộc sống lặng lẽ, trầm buồn nhưng những kiếp người nhỏ bẻ khôngtắt niềm hi vọng Đám cư dân huyện nhỏ chờ chuyến tàu như là chờ đợi một sựđổi thay để trong giây lát được thoát khỏi màn đêm tăm tối u trầm : “Chừng ấyngười trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cuộc sống thường ngàycủa họ” Chị em Liền, đếm nào cũng cố thức để đợi chuyến tàu đi qua Bờichuyến tàu đêm mang đầy hương vị và kỉ niệm Âm thanh vả ánh sáng của đoàntàu gợi nhớ về một thời tuổi thơ tươi đẹp, sang giàu nơi đô thành hoa lệ, lấp đầykhoảng trống mênh mông trong tâm hồn chị em Liên bằng những ước mơ, hoàiniệm, thắp lại ánh lửa hông của niềm khát khao trong tâm hôn hai đữa trẻ về mộtcuộc sổng tốt đẹp và tươi sáng

Miêu tả tâm trạng , đợi tàu, Thạch Lam muốn khẳng định sự bền bỉ của khátvọng, ước mơ Cuộc sống dù nghèo khổ, tù túng và bế tắc đến đâu vẫn khôngthể dập tắt niềm hi vọng sống của con người

- Cũng như nhiều truyện ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là một

truyện không có cốt truyện, Toàn bộ truyện chủ yếu tập trung miêu tả nhữngbiến thái mong manh, mơ hồ trong tâm hồn trẻ thơ non nớt, bỡ ngỡ của chị emLiên Những trang viết miêu tả tâm trạng rất sâu sắc và tinh tế này khiến cho

Trang 6

thiên truyện giàu chất trữ tình, đọng lại nhiều dư ba trong tâm hồn người đọc.

- Trong truyện, Thạch Lam sử dụng khá thành công thủ pháp nghệ thuật đốilập, tương phản quen thuộc của bút pháp lãng mạn (giữa, một bên là sự nhạtnhòa, buồn tẻ và bên kia là những, “toa đèn sáng trưng", là sự ồn ào, náo nhiệt),khiến cho khung cảnh phố huyện càng thêm nghèo nàn, vắng lặng

- Truyện còn đặc sắc ờ lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình của Thạch Lam Ẩnsau mỗi hình ảnh và ngôn từ là một tâm hồn đôn hậu, tinh tế, hết sức nhạy cảmvới mọi biến thái của lòng người và tạo vật

Hai đứa trẻ rất tiêu biểu cho loại truyện ngắn tâm tình của Thạch Lam.

Truyện không có cốt truyện nhưng vẫn hấp dẫn bởi khả năng khai thác, tái hiệnthế giới nội tâm nhân vật của nhà văn, từ đó khơi dậy sự đông cảm, sẻ chia ởngười đọc

* Viết về những kiếp sống tối tăm, mòn mỏi, quẩn quanh, truyện ngắn Hai đứa trẻ thể hiện tấm lòng cảm thương sâu sắc của Thạch Lam đối với con người Yêu thương sâu sắc, Thạch Lam cũng nâng niu, trân trọng những mong ước nhỏ bé, bình dị mà tha thiết của họ.

1 Hai đứa trẻ là truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn

của Thạch Lam Anh (chị) hãy :

a)Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện ngắn này

b) Chỉ ra những đóng góp mới của Thạch Lam cho tư tưởng nhân đạo trongvăn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

2.Trong truyện Hai đứa trẻ, hình ảnh đoàn tàu được miêu tả như thể nào ? vì

sao chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyển tàu đêm đi qua phố huyện ?

Trang 7

Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Xuất thân trong một gia đình nhà nho khiHán học đã tàn, Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm ba mươi củathế kỉ XX Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham giacách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.

Từ năm 1948 đến năm 1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam

- Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trangviết độc đáo và tài hoa Ông là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn Năm 1996,ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

b) Con người

Nét nổi bật ở con người Nguyễn Tuân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.Lòng yêu nước của Nguyễn Tuân thể hiện ở sự gắn bó với các giá trị văn hoátruyền thống của dân tộc Ông yêu thiết tha tiếng mẹ đẻ, yêu những phong cảnhđẹp của quê hương, những thú chơi tao nhã như uống trà, chơi hoa, chơi chữ,thả thơ, Ông viết về các món an ngon cuạ dẫn tộc' bằng tất cá sự quan sát tinh

tế và niềm trân trọng

- Nguyễn Tuân là nhà văn giàu cá tính Với ông, viết văn là cách để khẳngđịnh cá tính độc đáo của minh Ông còn am hiểu nhiều ngành văn hoá, nhiềumôn nghệ khác như hội họa, điêu khắc ,sân khấu điện ảnh,… vận dụng chúngvào các trang viết Những trang văn Nguyễn Tuân bao giờ cũng mang một màusắc riêng rất dễ nhận, đó là nét tài hoa, uyên bác

Sống với văn chương và bằng văn chương, Nguyễn Tuân là một nhà văn biếtquý trọng nghề nghiệp của mình Với ông, nghề văn luôn đối lập với sự vụ lợi.Không những thế, nó thực sự là một nghề lao động nghiêm túc, thậm chí "khổhạnh"

Trang 8

quanh ba đề tài : "chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vàng bóng một thời" và đời sống

truy lạc; gồm : Một chuyến đi, Vàng bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư

đông mắt của,

+ "Chủ nghĩa xê dịch" vốn là một lí thuyết vày mượn của phương Tây, chủtrương: cuộc đời là những chuyến đi không mục đích, ,chỉ cốt thay, đổi để tìmnhững cảm giác mới lạ và thoát li mọị trách nhiệm với gia đình và xã hội.Nguyễn Tuân tìm đến lí thuyết này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thờicuộc, khi chưa gặp lí tưởng cách mạng, Tảc phẩm thể hiện rõ nhất mảng đề tài

này là Một chuyến đi (1938) Tuy nhiên, ngay ở mảng đề tài gắn với một lí

thuyết có phần tiêu cực này, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng thiết thagắn bó của ông với cảnh sắc và phong vị của đất nước bằng những trang vănuyên bác và tài hoa

+ Sự bất mãn và bất lực trước cuộc đời hiện tại dường như cũng tự nhiên đưaNguyễn Tuân đi tìm những vẻ đẹp trong quá khứ nay chỉ còn "vàng bóng", ôngviết về những tư tưởng đạo đức của, những thú chơi lành mạnh, tao nhã, lịchthiệp, dưới con mắt của một nhà nho tài hoa bất đắc chí Có thể nói, chính vớimảng đề tài này, Nguyễn Tuân đã hình thành nên sở trường của mình, đông thờicũng bước đầu gặt hái được những thành công xuất sắc trong sự nghiệp Nổi bậttrong mảng để tài vẻ đẹp "một thời vàng bóng" là hình ảnh các nhân vật khảng

khái, khí phách ngang tàng nhưng cũng rất tài hoa (như Huấn Cao trong Chữ in

tử tù).

+ Nguyễn Tuân khai thác đề tài đời sống truỵ lạc như một phương cách giải

thoát khỏi thực tại đen tối ở những tác phẩm này, người đọc dễ nhận ra hình ảnh

một cái tôi hoang mang, bể tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và

thuốc phiện Tuy nhiên, cũng chính từ cuộc đời nhem nhuốc và phàm tục đó đôi

khi lại thấy một cái tôi thực sự khát khao vượt lên tất cả để bước đến một thể giới tính khiết, thanh cao trên đôi cánh của nghệ thuật (Chiếc lư đông mắt cua).

Vào những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa, trong tâm trạng hoangmang, bế tắc cực độ, Nguyễn Tuân còn tìm đến một đề tài mà ông gọi là “yêu

ngôn”, viết về thế giới hoang đường, ma quỷ theo kiểu Liêu Trai chí dị của Bô

Trang 9

Tùng Linh Tuy vậy, những tác phẩm này vẫn chứa dựng ít nhiều tinh thần dântộc và “thiên lương” của tác già.

- Lòng yêu nước và thái độ bất mãn với xã hội đương thời đưa Nguyễn Tuânđến với cách mạng và kháng chiến, cũng đông thời mở ra một trang mới trong

sự nghiệp sáng tác văn học của ông Hào hứng, náo nức và nhiệt thành, NguyễnTuân đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụchính trị của đất nước Hình tượng chính trong những sáng tác của Nguyễn Tuânsau Cách mạng là nhân dân lao dộng và người chiến sĩ trên mặt trận vũ trangđầy dũng cảm nhưng vẫn rất mực tài hoa, là những con người của chính nghĩavới khí phách anh hùng và tư thế sang trọng, hào hoa

Các tác phẩm chính của Nguyễn Tuân giai đoạn này là : Tình chiến dịch (1950) , Sông Đồ (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Kí (1976),

+ Nguyễn Tuân luôn khát khao tìm kiếm những cảm giác say mê mới lạ Bởi thế

mà ít thấy trong văn Nguyễn Tuân sự bằng phẳng, nhợt nhạt, tĩnh lặng Ông lànhà văn mẫu mực của những tính cách phi thường; của những tình cảm, cảmgiác nãnh liệt; của những phong cảnh tuyệt mĩ; của rừng núi thiêng liêng haycủa những thác ghềnh dữ dội;

- Phong cách tự,do, phóng túng cùng ý thức sâu sắc về cái tôi đã đựa

Nguyễn Tuân đến với thể tuỳ bút Đến Nguyễn Tuân, tuỳ bút đã thực sự có một

bộ mặt đáo và mới mẻ

+ Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn có công lớn trong việc phát triển ngôn ngữ vănhọc dận tộc Với một; kho từ vựng phong phú, với khả năng tổ chức câu văn

Trang 10

giàu tinh tạo hình, giàu nhạc; điệu, Nguyễn Tụân đã tạq nên một bước chuyểnđáng kể, đông thời Với những đóng góp phong phú, độc đáo cho nền văn họcViệt Nam hiện đại,

+ Nguyễn Tuân xứng đáng được tồn vinh là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoálớn

II.CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Theo anh (chị), cuộc đời và con người Nguyễn Tuân ảnh hưởng như thếnào tới việc hình thành nghệ sĩ Nguyễn Tuân trong văn học

2 Phân tích những nét đặc sắc trọng phong cách nghệ thuật của NguyễnTuân

3 Nguyễn Tuận đựợc coi là “người suốt đời đi tìm cái đẹp” Qua việc phân tích

vẻ đẹp trữ: tình của hình tượng;sông Đà trong tuỳ bút Người lái đò Sông Đà, hãy

2 Nội dung, nghệ thuật

- Chữ người tử tù là tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp của con người - được kết tinh

trong hình tượng Huấn Cao - nhân vật mang vẻ đẹp lí tưởng mà nhà văn hằng ấp

ủ, thờ phụng Đó là một con người tài hoa, có tài viết chữ rất đẹp Chữ HuấnCao thể hiện nhân cách cao khiết phi thường Nó quý giá không chỉ vỉ được viếtrất nhanh và rất đẹp", không chỉ vì nét chữ "đẹp lắm, vuông lắm mà quan trọnghon là những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoànhcủa một đời con người" Bởi thế cho nên "Có được chữ ông Huấn mà treo là có

Trang 11

một báu vật trên đời".

Huấn Cao còn là người có khí phách hiên ngang, bất khuất, ông bình tĩnh đónnhận sự đoạ đày của tù ngục, coi thường cái chết và rất khinh bỉ những kẻ camtâm phục vụ chể độ thống trị

Không chỉ tài hoa, khí phách, ở con người này còn toả sáng bởi "thiên lương"trong sạch Ông tỏ thái độ khinh bạc đến tàn nhẫn khi chưa hiểu quản ngục ngay

cả khi được ông ta biệt đãi Nhưng ông đã mềm lòng khi biết rõ thực chất củacon người tuy sổng nơi tàn ác xấu xa mà vẫn giữ được “thiên lương lành vững”

“Cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục và thơ lại, ông sẵn lòng chochữ trong đêm cuối cùng của tử tù ở nhà giam tỉnh Sơn

Có thể nói Huấn Cao là nhân vật tiêu biểu, bộc lộ rõ quan điểm thẳm mĩ của

Nguyễn Tuân : cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, chữ tài phải gắn với chữ tâm.

- Bên cạnh Huấn Cao, nhân vật viên quản ngục cũng là một sáng tạo thànhcổng của Nguyễn Tuân Viên quản ngục mang một nhân cách đẹp : giữa chốnngục tù đầy lọc lừa, dối trá và tàn nhẫn mà vẫn giữ được “thiên lương lànhvững”, vẫn biết say mê, yêu quý, trân trọng và nâng niu cái đẹp, cái tài Viênquản ngục là "một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luậtđều hỗn loạn xô bồ", tôn vinh thêm vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao.Nguyễn Tuân đã xây dựng được tình huống truyện giàu kịch tính, độc đáo vàhấp dẫn Ngôn ngữ tác phẩm giàu tính tạo hình, gợi không khí cổ xưa rất phùhợp để nói về "một thời vàng bóng" Tác giả đã sử dụng thành công thủ pháptương phản đối lập Ngoài ra còn phải kể đến nhịp điệu và kết cấu câu văn cânđối, hài hoà tạo nên chất nhạc và chất hoạ góp phần làm đậm nét cỗ kính, trangnghiêm của truyện ,

* Truyện ngắn Chữ người tử tù ngợi ca vẻ đẹp tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất và thiên lương trong sáng của con người Tác phẩm thể hiện nổi bật những quan điểm thầm mĩ và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân giai đoạn trước Cách mạng tháng Tạm.

1 Cảm nhận của ảnh (chị) về vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao

Trang 12

trong truyện ngẳn Chữ người tử tù.

2 Phân tích nhân vật viên quản ngục trong truyện ngắn Chữ người tử tù của

Nguyễn Tuân để làm sáng tỏ nhận xét : “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sốngbằng tài nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọngngười ngay của viên quan, coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vàogiữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bô”

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

Vũ Trọng Phụng có sức sáng tạo dồi dào Không đầy mười năm cầm bút(1930 - 1939), nhà văn đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm phong phúgồm nhiều thể loại : kịch, truyện ngắn, phóng sự và tiểu thuyết Sáng tác của VũTrọng Phụng thể hiện niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội tàn bạo và thối nátđương thời

b)Tác phẩm

- Tiểu thuyết Số đỏ đăng báọ năm 1936, được xếp vào hàng những tác phẩm

xuất sắc nhất của vận xuôi Việt Nam từ lchi.có chữ quốc ngữ Thông qua tácphẩm này, "nhà văn đả kích sâu cay cái xã hội tư sản thành thị đang chạy theolối sống nhố nhăng đồi bại đương thời" Từ chuỗi vận đỏ của nhân vật Xuân Tóc

Đỏ, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện một cách chân thực cái quy luật tưởng chừngnhư vô lí nhưng lại rất thật : Đặt vào xã hội nhố nhăng đương thời, một kẻ bấttài, bịp bợm cũng trở thành một đại trí thức, một "anh hùng cứu quốc" ; một mụ

Trang 13

me Tây dâm đãng cũng có thể được tặng bằng “Tiết hạnh khả phong” ; Từ đó,người đọc có thể nghĩ tới cái sân khấu chính trị đương thời vốn không ít những

kẻ tai to mặt lớn thực chất chỉ là những Xuân Tóc Đỏ Chính bởi điều này chonên dù nhà văn chỉ mới phê phán xã hội thành thị ở phương diện sinh hoạt đạo

đức, nhưng số đỏ cỏ ý nghĩa thời sự và tính chiến đấu khá rõ.

về mặt nghệ thuật, số đỏ thể hiện một trình độ tiểu thuyết già dặn, bút pháp châm biếm đặc biệt sắc sảo Ngoài ra, trong số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã xây dựng

được một số nhân vật phản diện điển hình mang tính chất hí hoạ vào loại sớmnhất trong văn xuôi hiện đại Việt Nam

- Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc chương XV của tác phẩm số

đỏ Tiêu đề đầy đủ của chương là Hạnh phúc của một tang gia - Văn Minh nữa cũng nói vào - Một đám ma gương mẫu.

2.Nội dung, nghệ thuật

- Nhan đề của chương truyện là Hạnh phúc của một tang gia Tang gia bao

giờ cũng đau thương, sầu não, nhưng đây lại là một tang gia hạnh phúc Chươngtruyện đã cho ta thấy rõ một cảnh tượng ngược đời trong một xã hội trớ trêuđúng như cái nhan đề ấy

Đám tang của cụ cố tổ đã được đám con cháu mong đợi từ lâu và được tổchức nổi đình nổi đám nhất Hà thành lúc bấy giờ Nó chẳng khác gì một đámrước, ầm ĩ, om sòm, hổ lốn Mỗi người, náo nức một niềm sung sướng riêng : cụ

cố Hông ngất ngây vì sắp được thiên hạ khen "già", ông Phán mọc sừng hết sứcmãn nguyện vì khoản tiền 200 đông cho "người chông mọc sừng", ông VănMinh hài lòng đến mê mẩn vì cái chúc thư kia đã được đưa vào thực hành, cậu

Tú l an háo hức vỉ sắp được chụp ảnh "nghệ thuật", cô Tuyết lại được dịp "mặc

bộ y phục ngây thơ" để biến đám tang thành một bữa tiệc dạ hội tươi mát Cụ bàthì sung sướng Đám bạn bè cụ cố đến tang lễ như đến đám mừng thọ hay duyệtbinh để ra sức triển lãm những huân huy chương đầy ngực và râu ria dầy mép.Hai thầy cảnh sát Min đơ và Min toa thì "sung sướng cực điểm", sư cụ Tăng Phúcũng đến với đám ma như một lịp để "đánh đổ được Hội' Phật giáo", đám "traithanh gái lịch" thêm dịp để ghen uông nhau, cười tình với nhau, chim chuột

Trang 14

nhau Riêng Xuân Tóc Đỏ vừa được thêm năm đông vừa tăng thêm danh tiếng.

Đó là bộ mặt thật ;‘chó đểu” ẩn sau cái nặt nạ giả đạo đức, nhân nghĩa của cái xãhội nhố nhăng đương thời

Đặc biệt nhất là ông Phán mọc sừng Ông ta "oặt người đi khóc mãikhông thôi" như không đủ sức tỏ lòng hiếu thảo với người quá cố Nhưng kìthực lúc đang khóc đến lả người đi như thế, ông ta đã bí mật dúi vào tay thằngXuân cái giấy bạc năm đông gấp tư để trả công vì Xuân đã làm cho cụ tổ lănđùng rá chết Đây là pha trào phúng tinh vi nhất, là đỉnh cao của trò diễn này

- Có thể nói toàn bộ đám tang là một tấn đại hài kịch Nghịch lí giữa hạnhphúc và bất hạnh, giữa vui sướng và đau khổ, giữa cái trang nghiêm và bát nháongố nhăng và cao hơn là giữa cái thật và cái giả dối ấy đã được phơi bày tất cả

cái thói đạo giả trong gia đình "thượng lưu" và xã hội thành thị Việt Nam bấy

giờ

Trong chương truyện đậm chất trào phúng này, Vũ Trọng Phụng đã tạo nênnhững tình huống trào phúng đặc sắc, xây dựng thành công những chân dungtrào phúng điển hình sinh động, với giọng điệu trào phúng mỉa mai, thâm thuý,sâu cay Ngoài ra, các thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa, những cáchchơi chữ, so sánh bất ngờ độc đáo…được sử dụng một cách đan xen linh hoạtđem lại những hiệu quả nghệ thuật đáng kể trong việc làm nổi bật chủ đềchương truyện

* Bằng ngòi bút trào phúng sắc sảo, qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang giá, Vũ Trọng Phụng đã mỉa mai, châm biếm thỏi đạo đức giả, hợm hĩnh, rởm đời của xã hội "thượng lưu" ở thành thị trong xã hội thuộc địa phohg kiến Việt Nam trước Cách mạng thắng Tám.

II CÂU HỎI ÔN TẬP

1.Trình bày ý nghĩa nhan đề chương XV – Hạnh phúc của một tang gia.

2.Nhận xét về nghệ thuật tràọ phúng của Vũ Trọng Phụng trọng đoạn trích

Hạnh phúc của một tang gia, Chạ Văn sồn khẳng định : -“Tiếng cười trẳo phúng

lả tiếng cười của tư tưởng Người ta không chỉ được cười sảng khoái mà cònmuốn được thấy tầm cỡ tư tưởng của tiếng cười đó nữa Vũ Trọng Phụng quả là

Trang 15

một tài năng trào phúng dồi dào khi tạo ra tiếng cười nhự thế ở mọi cấp độ củatruyện : từ vĩ mô đến vi mô, từ mâu thuẫn trào phúng tạo nên tình huống tràophúng bao trùm cả chương truyện, đến các chân dung trào phúng, và cả nhữngchi tiết trào phúng nữa”;

Bằng những hiểu biết của anh (chị) về nghệ thuật cùa đoạn trích Hạnh phúc

của một tang gia, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

3. Bức tranh xẵ hội "thượng lưu" thành thị được Vũ Trọng Phụng phơi bày

như thế nào trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia ?

tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc lại phải về quê sống nhờ vợ

Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá cửu quốc năm 1943 Từ đó tới lúc hi sinh(1951) , ông một lòng tận tuỵ phục vụ cách mạng và kháng chiến Nam Cao lànhà văn hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX và là một trong nhữngđại diện xuất sắc nhẩt của trào lưu văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945.Nam Cao củng là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền vănhọc mới sau Cách mạng Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng HồChí Minh về văn học nghệ thuật

Trang 16

âm thầm mà gay gắt giữa lòng nhân đạo và thói ích kỉ, giữa tinh thần dũng cảm

và thái độ hèn nhát, giữa tính chân thực và sự giả dối, giữa những khát vọng tinhthần cao cả và những dục vọng phàm tục Điều này thể hiện rất rõ trong các tácphẩm Nam Cao viết về người trí thức

- Nam Cao rất giàu ân tình đối với những người nghèo khổ bị áp bức vàkhinh miệt trong xã hội cũ Ông quan niệm, không có tình thương với đông loạiThì không đáng gọi là người, chirlaf một thứ quái vật bị sai khiến bởi long tự ái, Mỗi tác phẩm của ông viết về người nghèo là một thiên trữ tình đầy xótthương đối với những kiếp, lầm than

- Nam Cao luôn suy tư về bản thân, cuộc sống, đông loại, từ kinh nghiệm lực

tế mà đưa ra những khái quát triết lí sâu sắc và đầy tâm huyết

2 Sự nghiệp văn học

a) Quan điếm nghệ thuật

- Mặc dù không có những tác phẩm chính luạn chuyên bàn về quan điểm,ghệ thuật, nhưng rải rác trong các sáng tác của Nam Cao cho thấy quan điểmghệ thuật của ông được thể hiện khá hệ thống, nhất quán và có nhiều điểm tiến

bộ so với phần đông các nhầ văn cùng thời

- Nam Cao là người phê phán chất thoát li tiêu cực của văn học lãng mạnđương thời một cách toàn diện và sâu sắc Theo ông, đó là thứ nghệ thuật "lừadối", âm hưởng chủ đậo của nó toàn là cái "giọng sướt mướt của kẻ thất tình".Lên án văn học lãng mạn thóat li cũng có nghĩa là Nam Cao lên án quan điểm

“nghệ thuật vị nghệ thuật”, khẳng định văn học hiện thực, khẳng định “nghệthuật vị nhân sinh” Nam Cao yêu cầu nghệ thuật phải gắn: bó với đời sống cảanhân dân lao động, "nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ nhữngkiếp lầm than" và nhà văn ''phải đứng trong lao khổ mở hồn đón lấy tất cả những

Trang 17

dung nhân đạo cao cả "chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đauđớn, lại vừà phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình Nólàm cho người gần người hơn".

- Trong số các nhà văn hiện thực trước Cách mạng tháng Tám năm 1945,Nam Cạo là người có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của minh Theo ông,nghệ vặn trước hết phải là một nghề sáng tạo Nhà văn phải biết "khơi nhữngnguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có" Để làm được công việckhó khăn ấy, Nam Cao cho rằng nhà văn "phải đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét

và suy tưởng không biết chán", đặc biệt, phải có lương tâm nghề nghiệp, nhất làkhông được cẩu thả, bởi "cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện"

- Điều đáng lưu ý nhất là Nam Cao luôn đòi hỏi nhà văn phải có tinh thần

nhân đạo cao cả Trong Đời thừa, dẫu nuôi nhiều hoài bão về nghệ thuật, nhưng

vì cuộc sống, vì chân lí tình thương, Họ vẫn có thể chấp nhận hi sinh nghệ thuật.Bài học rút ra từ nhân vật Họ là nhà văn muốn viết cho nhân đạo thì trước hếtphải sống cho nhân đạo

Quan điểm nghệ thuật tiến bộ này góp phần quan trọng đế Nam Cao có nhiềuchuyển biến ngay sau khi tham gia cách mạng Từ việc thấy rõ trách nhiệm phảnánh hiện thực cuộc sống của nhân dân lao động, Nam Cao khẳng định sứ mệnhcủa nhà văn lúc đó là phải phục vụ cho cuộc khảng chiến Đây là một bước tiếnvượt bậc trong quan điểm nghệ thuật của ông Nó cho thấy sự gặp gỡ tất yếugiữa văn học hiện thực chân chính và văn học cách mạng

b) Quá trình sáng tác vù các đề tài chính

- Sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng gồm gần 60 truyện ngắn, một

truyện vừa (Truyện người hàng xôm), một tiểu thuyết (sống mòn), một số vở

kịch ngắn và lấy bài thơ

- Truyện của Nam Cao chủ 'ếu xoay quanh hai đề tài : người trí thức nghèo

và người nông dân nghèo Đù viết về đề tài nào, truyện của ông cũng thể hiện tư

tưởng chung: nỗi băn khoăn đến đau đớn trước tình trạng con người bị huỷ hoại

về nhân phẩm do cuộc sống đói nghèo đẩy tới Ở mỗi đề tài, ông lại có nhữngkhám phá riêng

Trang 18

+ Ở đề tài người trí thức nghèo, nhân vật chính của Nam Cao là những nhà

văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư, mang nhiều hoàibão cao đẹp, khát khaọ được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội,được khẳng định trước cuộc đời Nhưng họ đã bị xã hội bất công và cuộc sốngnghèo đói "ghì sát đất", vùi lấp phũ phàng hoài bão và ước mơ cao đẹp Ở mảng

đề tài này, đóng góp nổi bật trước hết của Nam Cao là đã phản ánh một cáchchân thực thực trạng buồn thảm, cơ cực của người trí thức tiểu tư sản nghèo,đông thời phần nào phác hoạ được bức tranh đeii tối, u ám của xã hội Việt Namđang đứng trước bờ vực thẳm của sự khủng hoảng trước Cách mạng Tiêu biểu

là các tác phẩm : Đời thừa, sống mòn, Nước mắt,

+ Ở mảng đề tài người nông dân nghèo, Nam Cao cũng thường lấy nguyên

mẫu từ những người quen biết, thân thuộc trong cái làng Đại Hoàng lam lũ củaông để xây dựng nên những nhân vật như dì Hảo, lão Hạc, lang Rận, ChíPhèo,

- Qua những sáng tác ở mảng đề tài này, Nam Cao đã phản ánh chân thậtcuộc sống tối tăm, cực nhục của người nông dân sau luỹ tre làng Thông quanhững số phận của họ, ông nêu lcn tình trạng bất công ở nông thôn Việt Nam

trước Cách mạng Các tác phẩm tiêu biểú lâ : Chỉ Phèo, Tư cách mõ, Mội bữa

no,

- Sau Cách mạng tháng Tám, với những tác phẩm có giá trị như: truyện ngắn

Đôi mắt (1948), nhật kí Ở rừng (1948) và tập bút kí Chuyện biên giới (1950),

Nam Cao đựơc xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học giai đoạnkháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) Sáng tác của ông trong thời kỉnày ca ngại công cuộc kháng chiến, khẳng đinh Tập trường và thái độ đúng đắncủa nhà văn đối với nhân dân và cách mạng

c) Phong cách nghệ thuật

Trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nạm, Nam Cao là một cây bút có phongcách nghệ thuật độc đáo Nam Cao quan tâm đặc biệt tới đời sống tinh thần củacon người, luôn có hứng thú khám phá thế giới nội tâm sâu xa của con người dùviết về người nông dân hay nguôi trí thức Ông luôn đề cao tư tựởng, đặc biệt

Trang 19

chú ý tới hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của nhữnghành động bên ngoài, ông là nhà văn có biệt tài miêu tả và phân tích tâm lý nhânvật Nam cao còn tỏ ra đặc biệt sắc sảo trong vịệc phân tích và diễn tả những quátrình tâm lí phức tạp củạ nhân vật, những hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh,

dở khóc dở cười, mấp mé ranh giới giữa thiện và ác, giữa hiền lành và dữ tợn,giữa con người với con vật,

Do am hiểu tâm lí nhân vật, Nam cũng là một "nhà độc thoại, đối thọại nộitâm" sâu sắc Mặt khác cũng do yêu cầu miêu tả tâm lí, miêu tả mạch tự sự của

tác phẩm, Nam Cao thường đảo lộn thời gian và không gian, tạo nên những kiểu

kết cấu tâm lí vừa phóng túng, linh hoạt lại vừạ nhất quán, chặt chẽ.

Trong những sáng tác của Nam Cao, có nhiều cái rất nhỏ nhặt, xoàng xĩnh,thế nhưng từ những sự việc quen thuộc, thậm chí tầm thường tróng đời sống

hằng ngày, tác phẩm của Nam Cáo đã đặt ra những vấn đề co ý nghĩa xã hội to

lơn, thể hiện những triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.

Nam Cao là nhà văn có giọng điệu riêng : buồn thương, chua chát ; dửng

dưng, lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương ;

1. Trình bày quan điếm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao

2. Viết bài văn ngắn phân tích triết lí sâu sắc về con người được Nam Cao thểhiện trong mội hoặc vài truyện ngắn mà anh (chị) đã được học hoặc đọc

Trang 20

2.Nội dung, nghệ thuật

- Truyện kể về cuộc đời và số phận bi thảm của người nông dân nghèo trướcCách mạng tháng Tám năm 1945, thông qua nhân vật trang tâm là Chí Phèo.+ Vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi, Chí được một người đi thả ống lươn nhặt về,sau đó, chuyền tay cho người làng nuôi Lớn lên, Chí làm canh điền cho nhà líKiến Vì chuyện "ghen tuông", lí Kiến đã đẩy Chí vào tù Nhà tù thực dân đãbiến Chí từ một người lương thiện thành một kẻ lưu manh Khi Chí ra tù, vềlàng thì các thể lực như bá Kiến đã hoàn thành nốt công đoạn cuối cùng của việctha hoá Chí Phèo: biến một tên lưu manh thảnh một con quỷ dữ, ngày càng hunghãn, ngang ngược với những cơn say triền miên và những cuộc đâm thuê chémmướn, rạch mặt ăn vạ, la làng Chí Phèo đã bị biến thành tay sai của bá Kiến xảoquyệt "róc đời", để rồi tự huỷ hoại cả nhân hình lẫn nhân tính mà không haybiết, thậm chí còn huyễn hoặc, vênh vàng, lấy đó làm đắc chí

+ Tuy nhiên, từ sau khi gặp thị Nở, Chí Phèo dần thức tỉnh Những âm thanhrất đỗi bình dị mà thân thương trong buổi sáng thức dậy sau đêm gặp thị Nở đãgợi nhắc giấc mơ xa xôi của một thời : một mái nhà tranh, một gia đình nhỏ Chíthấy mình cô độc, buồn cho hiện tại, nhớ về quá khứ và Sợ tương lai, nhất là khi

đã già yếu Tác động mạnh mẽ nhất kéo lương tri Chí trở về chính là chăm sócmộc mạc, ân tình của thị Nở Chí thèm được trở lại làm người lương thiện

Nhưng xã hội ấy không chấp nhận, cả làng Vũ Đại không ai chấp nhận,không ai cho anh Chí hiền lành ngày xưa một cơ hội Ngay cả thị Nở cũng cựtuyệt Chí một cách phũ phàng Đáu đớn, tuyệt vọng đến khôn cùng, Chí đã cầmdao giết chết bá Kiến và tự kết liễu đời mình:

Tác phẩm Chí Phèo cho thấy nghệ thuật viết truyện ngắn xuất sắc của Nam

Cao: tình tiết truyện biến hoá giàu kịch tính ; nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm línhân vật tinh tế, sâu sắc ; ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi,

tự nhiên ; giọng văn trần thuật linh hoạt, kết họp hài hoà giữa đối thoại và độcthoại, giữa lời gián tiếp và lời nửa trực tiếp Nồi bật nhất là nghệ thuật xây dựngnhân vật điển hình Nhân vật Chí Phèo từ trang sách bước vào cuộc đời, sốnglâu bền trong tâm trí của độc giả nhiều thời đến mức trở thành tên gọi chung cho

Trang 21

một loại người đặc biệt trong xắ hội.

* Truyện ngắn Chí Phèo khắc hoạ số phận khốn cùng, bi thảm của người

nông dân nghèo trong xã hội cũ và thể hiện niềm cảm thương, trân trọng của Nam Cao đối với họ, đông thời tố cáo tội ảc của xã hội thuộc địa phong kiến ở Việt Nam trước Cách mạng.

1. Mở đầu truyện Chí Phèo, Nam Cao viết Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ

cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu là chửi trời Có hệ gì ? Trời có củariêng nhà nào ? Rồi hắn chửi đòi Thế cũng chẳng sao : đời là tất cả nhưng chẳng

là ai Tức mình, hẳn chửi ngay lật cả làng Vũ Đại Nhưng cả làng Vũ Đại aicũng nhủ : “Chắc nó trừ mình ra ! Không ai lên tiếng cà.Tức thật ờ Thể này thìtức thật ! Tức chết đi được mất Đã thế, hẳn chửi cha đửa nào không chửi nhauvới hẳn Nhưng cũng không ai ra điều Mẹ kiếp ! Thế có phí rượu không ? Thếthị có khổ hẳn không ? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hẳnkhổ đến nông nỗi này ? A ha ! Phủi đẩy, hẳn cứ thế mà chửi, hẳn cứchửi đứachết me nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo ! Han nghiến răng vào màchửi cái đứa đa đẻ ra Chỉ Phèo Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo ?

Có trời mà biết ! Hẳn không biết, củ làng Vũ Đại cũng không ai biết !

Có ý kiến cho rằng : "Hành động chửi chính là phản ứng của Chí với cuộc đời

Nó bộc lộ tâm trạng bất mãn của một con người ít nhiều ý thức được mình đã

bị xã hội phi nhân tính gạt ra khỏi thế giới loài người"

Anh (chị) có đông tình với ý kiến trên không ? Đọc kĩ đoạn trích và phân tích

ý nghĩa tiếng chửi của nhân vật Chí Phèo theo cảm nhận của cá nhân mình

2.Đoạn miêu tả những thay đổi trong con người Chí Phèo từ khi gặp thị Nở

là một đoạn văn đầy xúc động, đông thời thể hiện tài năng nghệ thuật của NamCao Anh (chị) hãy phân tích để làm sáng tỏ nhận định trên

3.Với Chí Phèo, Nam Cao đã có những đóng góp mới mẻ gì về tư tưởng

nhân đạo ?

Trang 22

ĐỜI THỪA (Nam Cao)

1 NỘI DUNG TRỌNG TÂM CAN ÔN TẬP.

1 Tác giả, tác phẩm

a)Tác giả : Xem bài Nam Cao, trang 15-18.

b)Tác phẩm

Truyện ngắn Đời thừa, đăng lần đầu trên tuần báo Tiểu thnyết thứ bảy số

490, ngày 4-12 - 1943, là một trong những sáng tác đặc sắc về đề tài trí thức tiểu

tư sản,Tác phẩm thể hiện khá hoàn chính tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

2 Nội dung, nghệ thuật

- Trong Đời thừa, Nam Cao đi sâu miêu tả tấn bi kịch tinh thần của nhân vật

Hộ - một nhà văn nghèo Tấn bi kịch tinh thần của Hộ bắt nguồn từ hoàn cảnhtrớ trêu, oái oăm mang ý nghĩa tiêu biểu cho không ít trí thức tiểu tư sản lúc đó.+ Bi kịch của một nhà văn giàu khát vọng, có hoài bão lớn lao nhưng bị gánhnặng cơm áo đè xuống, phải chịu đựng một cuộc sống vô ích, một "đời thừa" -

nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời [ ], chỉ viết một quyển thôi,nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nô-ben và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu !"

Nhưng mộng văn chương đẹp mà Hộ quyết tâm thực hiện cho kì được ấyđãtan tành thành khói mây trước thực tại của đời sống cơm áo hằng ngày Vì kếsinh nhai, để kiếm tiền nuôi vợ con, Họ đã không thể viết cẩn thận, kĩ lưỡngchất lượng như từng dặt ra mà buộc phải viết nhanh, viết nhiều, viết cẩu thả và

dễ dãi, phải cho ra đời những "cuốn văn viếl vội vàng”, những “bài báo nôngcạn” để rồi mỗi khi đọc lại văn mình phải “đỏ mặt lên vì xấu hổ” và tự nguyền

Trang 23

rùa minh là “khốn nạn” Mộng vãn chương vỡ, Hộ rơi vào bi kịch, anh đau đớn

tự giằng xé, dằn vặt mình qua dòng độc thoại nội tâm : "Thôi thế là hết Ta đãhỏng ! Ta đã hỏng đứt rồi"

+ Bi kịch của một con người coi tỉnh thương là nguyên tắc sống nhưng lại viphạm vào lẽ sống tình thương

Là người sẵn lòng yêu thương, Hộ đã gửi xúống nỗi đau của Từ để cửuvớt Từ Trong cuộc sống gia đình, Hộ luôn muôn là người chông, người cha cóvài trò xứng đáng, mang yêu thương cho vợ con Khi buộc phải lựa chọn giữa lítưởng tình thương và lí tưởng nghệ thuật, Hộ chấp nhận hi sinh nghệ thuật đểgiữ lấy tình thương Nhưng cũng chính vì vỡ mộng văn chương, Hộ tìm đếnrượu rồi đem bao nhiêu uất ức, tức giận, hận sầu trút lên đầu vợ con, gây đaukhổ cho những người mình vốn rất ýêú thừơng Để rồi khi tỉrih rượu, Hộ lại thấyhối hận vi mình đã trà đạp lên nguyên tắc sống của chính minh Hộ rơi vào caotrào của vòng xoáy bi kịch

Phát hiện và đi sâu khám phá những bi kịch tinh thần, của rigười trí thức,Nam Gao không chỉ lên ản Xã hội hiện thực đương thời mà: còn thể hiện sự cảmthông chia sẻ với nỗi đau của họ, thể hiện niềm tin vào khả năng sáng tạo và bảnchất tốt đẹp của con người

- Đời thừa còn thể hiện một số quan niệm về nghề vãn của Nam Cao

+ Với Nam Cao, nghễ văn là một nghề cao' quý, nhà văn phải lầ người có lươngtâm và trách nhiệm với cuộc sống

+ Văn hộc nghệ thuật là lĩnh vực đòi hỏi người nghệ sĩ phải giấu sức sảng tạophải không ngừng khám phá “khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạonhững cái gì chưa có”

+ Tác phẩm vân học có giá1 trị phải là tác phẩm chứa đựng nội dung nhấn đạosâu sắc

- Đới thừa thể hiện tấi năng xuất sắc của Nam Cao trong việc pỉiân tích,

miêu tả những diễn biến tầm lí phức tạp của con người, từ đó khắc hoạ nên chândungị một nhân vật giàu cá tính và mang bản chất xã hội điển hình Lối viết1Nội DUNG TRỌNG TÂM CẦN ÔN TẬP

.

Trang 24

dung dị, tự nhiên ; giọng văn tỉnh táo ; ngôn ngữ gần gũi với đời sống và đậmchất triết lí.

- Thời gian trần thuật của câu chuyện kéo dài trong khoảng một ngày: bắtđầu từ buổi sáng Hộ đọc sách rồi đi ra phố, uống say trở về nhà đến buổi sánghôm sau khi Hộ tỉnh rượu Nhà văn đã sử dụng xen kẽ các đoạn hồi ức khiến câuchuyện được kể kéo dài cả một quãng đời của Hộ Điều đó làm nên tính hàm súccho thiên truyện Một truyện ngắn nhưng lại truyền tải được nội dung của cả mộttiểu thuyết Đây là một thành công của Nam Cao trong sáng tác truyện ngắn nhờnhà văn biết cách kết hợp khéo léo các mạch kể, hồi tưởng và độc thoại nội tâm

* Diễn tả tấn bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ, Nam Cao vừa chia sẻ, đông cảm, trân trọng, vừa lên án cái xã hội đã bóp nghẹt tài năng và ước mơ chân chính của người trí thức Truyện ngắn Đời thừa cũng thể hiện những quan điểm nghệ thuật tiến bộ của tác giả.

1.Nêu ý nghĩa của hai chữ “đời thừa” được dùng làm nhan đề truyện

2.Phân tích những mâù thuẫn giằng xé trong nội tâm của nhân vật Hộ đế làmnổi bật ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm

3.Phân tích những thành công về nghệ thuật của truyện ngắn Đời thừa.

4.Có ý kiến cho rằng, Đời thừa là truyện ngắn mang ý nghĩa tuyên ngôn

nghệ thuật của Nạm Cao Từ những hiểu biết về tác phẩm, anh (chị) hãy làmsáng tỏ nhận định trên

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI

(Trích Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng)

1. Tác giả, tác phẩm

a) Tác giả

- Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho ở

Trang 25

làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là làng Dục Tú, huyện ĐôngAnh, Hà Nội), ông tham gia cách mạng từ rất sớm Năm 1943, Nguyễn HuyTưởng tham gia Hội Văn hoá cứu quốc Tháng 8 - 1945, ông Là đại biểu Vănhoá cứu quốc đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào.

- Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn có thiên hướng khai thác đề lài lịch sử và

có đóng góp nổi bật nhất theo và kịch: Bình sinh, ông luôn khao khát viết đợcnhững tác phẩm có quy mô lớn, dựng lên được những bức tranh, những hỉnhtượng hoành trang về lịch sử bi Hùng của dân tộc ; khao khát nói lên đượcnhững vấn đề có tầm triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật Vănphong của ông vừa giận dị, trong sáng ; vừa đôn hậu, thâm trầm, sâu sắc

Năm 1996, Nguyễn Huy Tưởng được Nhả nước tặng Giải thưởng Hồ ChíMinh về văn học nghệ thuật

b) Tác phẩm

Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng

Long khỏang năm 1516-1517 dưới chiều Lê Tương Dực Tác phẩm đượcNguyễn huy Tưởng viết song vào mùa hè năm 1942, đề tựa tháng 6-1942

Đoạn, trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là hồi thứ năm - hồi cuối cùng của kịch

Vũ Như Tô, là đỉnh cạo bi kịch của những người nghệ sĩ nhiều tài năng, nhiều

khát vọng mà không có điều kiện thi thố, thực hiện ở đời,

2 Nội dung, nghệ thuật

- Hành động kịch xây dựng dựa trên các mâu thuẫn :

+ Mâu thẫn giữa tập đoàn phong kiến đoàn phong kiến thối nát Lê TươngDực Với quyền sống của nhân dân Mâu thuẫn trở nên gay gắt khi Vũ Như Tô,một kiến trúc sư thiên tài bị tên hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng CửuTrùng Đài làm nơi vui chơi, hưởng lạc Công trình đang hùng vĩ tráng lệ thinhanan dân lại càng bị bần cùng vì sưu cao thuế nặng, phủ phẻn, tập dịch

Mâu thuẫn này chủ yếu được thể hiện hai ở những hồi; trước của vô kịch,đến cuối hồi này đã trở thành cao trào và được giải quyết bẳng con đường.bạolực của phe nôi loạn, nhân dân nôi dậy, bạo chúa Lê Tương Dực đã bị giết chết,

Vũ Như Tô đi ra pháp trường ;

Trang 26

+ Mâu thuẫn thứ hái là mâu thuẫn giữa người công dân và người nghệ sĩtrong con người Vũ Như Tô, giữả quan niệm nghệ thuật cao siêu thuần tuý củamuôn đơi với lợi ích thiết thực củầ nhân dân.

Vũ Như Tô vẫn từng ôm ấp hoài bão về một công trình hơn mọi kì quankhác, ông khát khao xây dụng Cửu Trùng Đài thành "toà đài hoa lệ, thách cảnhững công trình sau trước, tranh tinh xảo với hoá công", một công trình trườngtồn vĩnh hằng với thời gian Nhưng niềm khao khát ấy chính là nguyên nhân vôtình đấy ông đến vòng xoáy bi kịch, trở thành kẻ thù của nhân dân ; khiến ôngphải luôn sống trong ngổn ngang, bộn bề tâm trạng, những giằng xé đớn đau củamột người nghệ sĩ có nhân cách

Lí tưởng của Vũ Như Tô đã trở thành hư vô vì xa rời thực tế Vũ Như Tô đãphải trả giá bằng cả sinh mạng của mình Càng sáng suốt trong nghệ thuật baonhiêu thì ông lại càng mê muội trong toan tính đời thường bấy nhiêu Chính vỉthế, mâu thuẫn này không bao giờ giải quyết được triệt để, đó là mâu thuẫn giữa

cái đẹp và cái thiện, chỉ có thể được giải quyết khi đời sống tinh thần, nhu cầu

về cái đẹp của nhân dân được nâng cao

- Các nhân vật chính thể hiện tập trung tư tưởng của vở kịch là Vũ Như Tô

và Đan Thiềm :

+ Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân cho niềm khát khao,say mê sáng tạo cái đẹp, là một nghệ sĩ có nhân cách và hoài bão lớn, có lí tưởngnghệ thuật cao cả Nhưng Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch Những say mê,khát vọng trong ông mâu thuẫn với hiện thực, suy nghĩ và hành động của ông cónhững bước sai lầm ông không nghĩ việc mình xây Cửu Trùng Đài cho đất nướclại bị xem là tội ác

+ Nếu như Vũ Như Tô là người nghệ sĩ đam mê sáng tạo cái đẹp thì Đàn Thiềm là người đam mê cải tài, ở đây là tài sáng tạo ra cái đẹp Vì đam mê tài

năng mà nàng luôn khích lệ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sẵn sàng quênmình để bảo vệ cái tài ấy Với nét tính cách ấy, Đan Thiềm xúng đáng là ngườitri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô Nhưng nếu Vũ Nhự Tô đam mê sáng tạo đến mứckhông hề chú ý, không hề biết đến hoàn cảnh quanh mình, thì Đan Thiềm lại

Trang 27

luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp Biết chắc ước vọng xây đài lớnkhông thành, tâm trí nàng chỉ còn tập trung vào việc bảo vệ an toàn tính mệnhcho Vũ Như Tô.

- Thái độ của nhà văn :

+ Tác giả cảm thông với bi kịch của Vũ Như Tô, đông thời trân trọng tàinăng, hoài bão của người nghệ sĩ khát khao sáng tạo ra cái đẹp

+ Trân trọng Vũ Như Tô nhưng tác giả cũng thể hiện rất rõ quan điểm: nghệthuật đích thực phải gắn với quyền lợi của nhân dân

Đoạn trích đã khắc hoạ thành công tính cách nhân vật, nghệ thuật miêu tảdiễn biến tâm trạng nhân vật sâu sắc, tinh tế Kịch tính đặc sắc bất ngờ được thểhiện qua đối thoại, hành động, Gác lời chú thích nghệ thuật, Các lớp kịchđược chuyển linh hoạt tự nhiên, liền mạch

* Đoạn trích thể hiện niềm cảm thông, trân trọng của tác giả với số phận mang tính chất bi kịch của người nghệ sĩ, ca ngợi người nghệ sĩ chân chính và rất mực tài hoa Vũ Như Tô, cảm phục những tấm lòng yêu quý nghệ thuật, đông thời, lên án những tên bạo chúa tham lam và độc ác như Lê Tương Dực.

1 Cách xây (dựng và,giải quyết mâu, thuẫn của Nguyễn Huy Tưởng trong hồi

V cùa kịch Vũ Như Tô thể hiện ý nghĩa gì ?

Phân tích hình tượng nhân vật Yũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng

Trang 28

ra Hậ Hội sống bằng nghề viết văn ở Hà Nội, ông bí mật tham gia Mặt trận Việt

Minh Sau Cách ĩriạng thặng Tám, qụg hăng hải tham gia các hoạt động xã hộivới tư cách một ngươi viết vặn chuyên nghiệp : đại biểu Quốc hội khoá I ; Uỷviên Ban Chấp hành Hội Nhà văn việt Nam các khoá I, II, III Viện sĩ thông tấnViện Hàn làm nghệ thuật Cộng hòa dân chủ Đức

Năm 1996, Xuân Diệu được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về vănhọc nghệ thuật

b. Còn người

Là một trí thức "Tây học", Xuân Diệu chịu ảnh hưởng và hấp thụ nhiều tưtưởng vả văn hoá Pháp, nhưng đông thời ông cũng thừa hưởng văn hoá truyềnthống phương Đông, văn hoá Hán học từ người cha của mình - một ông đồNghệ

Tham gia cách mạng từ trước năm 1945, Xuân Diệu đã trải qua rất nhiềucông việc, giữ nhiều vài trò quan trọng nhưng dóng góp đáng kể nhất của ôngđối với đất nước vẫn là với tư cách một nhà thơ, nhà văn cống hiến lớn lao nhấtcho dân tộc cùa Xuân Diệu là sự nghiệp văn học phong phú, đồ sộ, giàu giá trị.Thời đại mà Xuân Diệu sống là thời đại có nhiều biến cố dữ dội : Cách mạngtháng Tám 1945, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiếnchống đế quốc Mĩ, Xuân Diệu từ nhỏ phải sống xa mẹ và thường bị hắt hủi, nên ông luôn khao khát tình thương và sự cảm thông Những dấu ấn này in đậmtrong sáng tác cũng như góp phần hình thành nên những nét riêng trong phongcách nghệ thuật của Xuân Diệu

2 Sự nghiệp vàn học

a) Quá trình sáng tác và các đề tài chính

Sự nghiệp văn học của Xuâh Diệu chia làm hai giai đoạn : trước và sau Cáchmạng tháng Tám Xuân Diệu là một tài năng đa dạng Ông sáng tác thơ, vănxuôi, viết phê bình, nghiên círu, dịch thuật, nhưng nổi bật nhất vẫn là thơ

Tư tưởng chi phối toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu là niềm khát khao giaocảm với đời Ông luôn muốn chia sẻ, giao hoà tâm hồn sôi nổi và tinh tế của

mình với muôn người Đông thời ông cũng luôn muốn khẳng định cái tôi cá

Trang 29

nhân độc đáo, mạnh mẽ và đầy nhiệt huyết của mình,

Thế giới thiên nhiên và con người trong thơ Xuân Diệu là một thế giới trànđầy sự sống với bao vẻ đẹp trần thế rất đỗi bình dị, gần gũi mà đắm say vô tận,

vô cùng Nó mời gọi, giục giã cọn người sống hết mình và cũng chính vì thếphải sống nhanh, sống vội vàng, không thể dửng dưng với thời gian đang một đikhông trở lại

Đặc sắc nhất trong sáng tác của Xuân Diệu là mảng thơ tình Đây cũng làmảng thơ giúp ông thể hiện niềm khát khao giao cảm với đời một cách mãnh liệtnhất, sâu sắc và toàn vẹn nhất

b)Phong cách nghệ thụật

về nghệ thuật, đóng góp của Xuân Diệu cũng như của các nhà thơ mới, thực

ra không phải ở thể loại mà là ở cách nhìn và cảm thụ thế giới Ảnh hưởng sâuđậm thơ ca hiện đại phương Tây, đặc biệt là trường phái thơ tượng trưng Pháp,Xuân Diệu đã tìm cách chiếm lĩnh thế giới, mô tả, thể hiện cuộc sống và tâmhồn con người một cách tinh vi, màu nhiệm bằng cách sử dụng ngôn ngữ linhhoạt, sáng tạo ; đề cao tính nhạc và tăng cường sự cảm nhận của các giác quan.Cách nhìn và cách thể hiện ấy đã mang lại cho thơ Xuân Diệu một thế giới “đầyxuân sắc và tình tứ, trong đó chuẩn mực của cái đẹp không phải là thiên nhiên(như thường thấy trong thơ ca truyền thống), mà là con người - con người giữatuổi trẻ và tình yêu”

Có thể nói trước và sau Cách mạng tháng Tám tâm hồn Xuân Diệu vẫn luôn

ôm ấp và rạo rực một niềm nhiệt huyết Tuy vậy, nếu như trước Cách mạng,những trang thơ trang văn cụa Xuân Diệu càng thấm đẫm cằm giác cô đơn, giálạnh bao nhiêu thi sau Cách mạng ông viết về nhân dâa, về đất nước, về Đảng,

về Bác Hồ và về hai cuôc kháng chiến của dân tộc càng sôi nổi và nông ấm bấy

nhiêu Trước Cách mạng, Xuân Diêu luôn cảm thây mình riêng lẻ, đơn côi ("Tôi

là Một, là Riêng, là Thứ Nhất") sau Cách mạng, ông lại thấy mình là một phầnmáu thịt của nhân dân, của đất nước “Tôi cùng, xương thịt với nhân dân tôi /cùng đổ mồ hôi, cùng sôi nước mắt” ‘‘Đất nước ơi ta quện với người chặt lắm /Nên bâygiờ hồnkhông thể gỡ ra”

Trang 30

Suốt nửa thế kỉ lao động nghệ thuật, Xuân Diệu đã có những đóng góp lớnlao cho sự nghiệp văn học nước nhà, được khẳng định trên nhiều phương diện :nhà thơ, nhà văn, người viết tiểu luận, phê bình và là nhà dịch thuật ở trước vàsau Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu đều cổ cống hiển to lớn cho nến văn họchiện đại Việt Nam Ông xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoálớn của dân tộc.

1 Việt một bài văn ngắn thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp văn học của

Xuân Diệu

2 Tư tưởng và cảm hứng bao trùm lên toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu là

gì ? Trỏng thơ ca của Xuân Diệu trước và sau Cách mạng, tư tưởng ấy biểu hiệnnhư thế nào?

3 Tai sao có thể nói đóng góp về nghệ thuật của Xuân Diệu nói riêng vả các

nhà thơ mới nói chung chủ yếu không phải là về thể loại ? Bằng hiểu biết cảamình anh (chị) hãy nêu đóng góp của Xuân Diệu về nghệ thuật thơ

Trang 31

2.Nội dung, nghệ thuật

- Mở đầu bài thơ Vội vàng là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện cái ước muốn

lcì lạ của thi sĩ, đó là ước muốn quay ngược lại quy luật tự nhiên : "Tôi muốn tắtnắng đi / Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bayđi" Nhưng cũng chính từ ước muốn này, người đọc cảm nhận được khát vọngmãnh Hệt ở thi sĩ được bắt nguồn từ tinh yêu cuộc sống Với sự nhạy cảm củamình, Xuân Diệu đã cảm nhận rất rõ về cõi trần dào dạt nhựa sống mùa xuân,nhưng cũng vì thế ông lại thấy được, cảm được sự phai tàn của cái đẹp trướcthời gian nên mong muốn được níu giữ lại tất cả hương sắc cho cuộc đời

Thi sĩ phát hiện ra và say sưa với một thiên đường ngay trên mặt đất: "Củaong bướm này đây tuần tháng mật / Này đây hoa của đông nội xanh rì / Này đây

lá của cành tơ phơ phất/ Của yến anh này đây khúc tình si" Đó chính là thiênnhiên và sự sống quen thuộc của con người Hình ảnh thiên nhiên và sự sốngđược nhà thơ gợi Ịên ở đây vừa gần gũi, thân quen nhưng cũng đầy sự quyến rũ

và tình tứ Có thể thấy đó ià một cõi trần tràn đầy nhựa sống với những gì đangnảy lộc đâm chồi, đang đơm hoa kết trái

Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó mộttình yêu đắm say Sự ngất ngây, say đắm của hồn thơ biểu hiện ở nhịp thơ tuônchảy ào ạt và một so sánh tình tứ "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần".Nhưng ngay chính lúc ở đình cao của sĩ say đắm, giao hoà cùng vạn vật, cảm

Trang 32

giác tiếc nuối thời gian vẫn tồn tại trong lòng nhà thơ : "Tôi sung sướng Nhưngvội vàng một nửa / Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân".

- Sự tiếc nuối về dòng chảy của thời gian một đi không trở lại giúp nhà thơlàm nên cái khác biệt trong sự cảm nhận về thời gian so với cách cảm nhận củangười xưa Với Xuân Diệu, thời gian luôn trôi chảy, mỗi giây phút trôi qua làvĩnh viễn mất đi không trở lại Vì thế, nhà thơ đã lấy cái quỹ thòi gian hữu hạncủa một đời người, thậm chí lấy khoảng thời gian ngắn ngủi mà quý giá của mỗingười là tuổi trẻ để làm thước đo thòi gian : "Xuân đương tới nghĩa là xuânđương qua / Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già / Mà xuân hết nghĩa là tôi cũngmất / Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật / Nói làm chi rằng xuân vẫn tuầnhoàn / Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !"

Cái đẹp của thiên nhiên là mùa xuân, còn cái đẹp cùa con người là tuổi trẻ.Mùa xuân cua đất trời thì "sẽ đi và trở lại", nhưng tuổi xuân của con người thìchẳng bao giờ "thắm lại" Do ý thức sâu sắc về sự trôi chảy của thời gian và sự;một đi không trờ lại của tuổi xuân nên thi sĩ nhìn đâu cũng thấy mầm li biệt,thấy

mất mát : "Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi / Khắp sông núi vẫn than thầmtiễn biệt / Con gió xinh thì thào trong lá biếc / Phải chăng hờn vì nỗi phải bay

đi ? Chim rộn ràng bỗng đút tiểng reo thi / Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?".Cảm thức về thời gian của Xuân Diệu vô cùng nhạy bén ; và có được điều ấy

là do sự thức tính sâu sắc về cái tôi cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên cõi đời Chính vì lẽ đó, thơ ông luôn hướng đến sự giục giã, mình

cũng như mọi người hãy chạy đua với thời gian, hãy biết trân trọng và nâng niutừng giây phút của cuộc đời, nhất là năm tháng tuổi trẻ

- Không thể buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không cầm giữ được thời gian nên với nhà thơ, chỉ có cách duy nhất là chạy đua với thời gian : Mau đi

thôi !

Mùa chua ngả chiều hôm.

Với Xuân Diệu, chặy đua với thời gian là để tận hưởng vì thế ông mới vôi

"vàng giục giã mọi người hãy tận hưởng tất cả những gì đẹp đẽ nhất trên thế

Trang 33

* Vội vàng là bài thơ thể hiện rất rõ ý thức cá nhâ của "cái tôi" trong thơ mới.

Đó là niềm khát khao sống mãnh liệt, sống hết mình trọng cuộc đời của nhà thơ.

II.CÂU HỎI ÔN TẬP

1.Trong bài thơ Vội vàng, hình ảnh thiên nhiên và sự sống quen thuộc quanh

ta được Xuân Diệu cảm nhận và diễn tả một cách hấp dẫn như thế nào? Điều ấythể hiện quan niệm gì của nhà thơ về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc ?

2 Bàn về thơ Xuân Diệu, Hoài Thanh đã khẳng định : “Thơ Xuân Diệu còn

là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này XuânDiệu

say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tậnhưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn người đều nôngnàn, tha thiết”

Anh (chị) hãy phân tích bài thơ Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu để làm sáng

tỏ ý kiến trên

3 Tại sao nói, qua bài thơ Vội vàng, có thể hình dung cái tôi Xuân Diệu điển

hình cho một thời đại mới ?

ĐÂY THÔN VĨ DẠ (Hàn Mặc Tử) I.NỘI DUNG TRỌNG TÂM CẦN ÔN TẬP

1 Tác giả, tác phẩm

a) Tác giả

Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, người làng Lệ

Mĩ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đông Hód (nay là tỉnh Quảng Bình).Hàn Mặc Tử sinh ra trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa.Cha mất sớm, ông sống với mẹ ở Quy Nhơn (trước đó, ông có hai năm học trung

Trang 34

học tại Huế).

Học xong, Hàn Mặc Tử làm công chức cho Sở Đạc điền Bình Định rồi vàoSài Gòn làm báo Đến năm 1936, mắc bệnh phong, ông về hẳn Quy Nhơn chữabệnh rồi mất tại trại phong Quy Hoà năm 1940

Tuy cuộc đời mang nhiều bi thương nhưng Hàn Mặc Tử là một trong nhữngnhà thơ có sức sáng tậo mạtih mẽ nhất trong phong trào Thơ mới

b)Tác phẩm

Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được viết năm 1938 (lúc đầu có tên Ở đây thôn Vì

Dạ), in trong tập Thơ điên (về sau đổi thành Đau thương) Theo một số tài liệu,

xuất xứ của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khá đặc biệt Đó là những cảm xúc được gợi

từ một mối tình thầm lặng củạ thi sĩ với một cô gái quê ở Vĩ Dạ - một thôn nhỏbình dị bên dòng sông Hương xứ Huê trữ tình và thơ mộng

2 Nội dung, nghệ thuật

- Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi mang nhiều sắc thái "Sao anh không vềchơi thôn Vĩ ?" Vừa hỏi vừa nhắc nhở, vừa trách móc, vừa mời mọc Có thểhiếu đây như lời trách nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi tha thiểt của cô gái thôn

Vĩ với nhà thơ (hoặc cũng có thể là lời nhà thơ tự hỏi mình, là ao ước thầm kíncủa người đi xa mong được về thôn Vĩ)

Ở ba câu tiếp theo của khổ một là những hình ảnh đẹp đẽ, nên thơ về xứ Huế.Bức tranh thôn Vĩ trong hồi tưởng của Hàn Mặc Tử với sắc "xanh như ngọc",với ánh nấng tinh khôi của buổi bình minh, với những hàng cau thẳng tap, vươncao đón lấy những tia nắng sớm mai Bức tranh ẩy càng trờ nên sống động hơnbởi sự xuất hiện của con người : nhẹ nhàng, kín đáo, thấp thoáng sau nhữngcành lá trúc

-Khổ thơ đầu đã vẽ lên cảnh sắc tươi đẹp, xinh xắn của thôn Vĩ Ở đó conngười và thiên nhiên hài hoà với nhau trong vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo

- Xứ Huế hiện lên trong bức tranh thôn Vĩ đã đẹp lại được tô điểm thêm bởidòng sông Hương êm đềm, thơ mộng Ở hai câu đầu của khổ thơ thứ hai, nhàthơ miêu tả vẻ nhẹ nhàng, nhịp điệu khoan thai của xứ Huế với gió mây nhè nhẹbay, dòng nước chảy íữrig lờ, cay cố khẽ đung đưa Ẩn đằng sau vẻ đệp của xứ

Trang 35

Huế ở mỗi câu thơ là nỗi lòng của Hàn Mặc Tử - một tấm lòng chan chứa tìnhyêu với thiên nhiên, con người xứ Huế nhưng lậi rất buồn và cô độc Vì thế,trăng xuất hiện ở cuối, khổ thơ thứ hai như là một người bạn để nhà thơ tâm sự

và san sẻ nỗi cô đơn

- Trong tậm trạng cô đơn vạ buồn, Hàn Mặc Tử hướng lòng mình tới người

xứ Huế Người khách đường xa là ai ? Nhà thơ hay một cô gái nào đó ? Nhưng

dù là ai chăng nữa cũng chỉ là người khách trong mơ mà thôi Sự xuất hiện của

“em” với màu áo trắng nhạt nhoà trong sương khói mờ ảò của đất trời Huế bỗnglàm nên sự xa cáeh Vì lẽ đó câu thơ cuối bài mang chút hoài nghi mà lại chanchứa niềm tha thiết với cuộc đời Ai biết tình ai có đậm đà ?"

- Bài thơ không chỉ vẽ lên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp về thôn Vĩ, về xứHuế thơ rnộng, êm đềm, mà còn là tấm lòng trĩu nặng tình đời, tình người củaHàn Mặc Tử Bài thơ luôn là niềm day dứt khôn nguôi cho đông đảo nhữngngười yêu thơ ông: một nỗi thương cảm cho con người yêu đời đến đau đớn,tuyệt vọng ấy

Bút pháp nghệ thuật Hàn Mặc Tử sử dụng trong bài thơ cố sự hoà điệu giữa

tả thực, tướng trứng, lằng mạn và trữ tình Tất cả đã làm nên sắc thái lãng mạn,

nửa hư nửa thực của Đây thôn Vĩ Dạ.

Bài thơ là nỗi buồn cô đơn của một con người tha thiết yêu đời, yêu thiênnhiên, yêu cái đẹp, yêu sự sống trong một cảnh ngộ bất hạnh

1.Mở đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử viết :

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Câu thơ đầu và câu thơ cuối của khổ thơ trên hiện vẫn tồn tại nhiều cách hiểukhác nhau Từ những hiểu biết về cuộc đời và thơ Hàn Mặc Tử, nhất là căn cứvào nội dung của bài thơ này, anh (chị) hãy nêu cách hiểu và sự lí giải của mình

2 Đọc khổ thơ sau :

Trang 36

Gió theo lố i gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đổ

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Theo anh (chị), câu hỏi cỏ chở trăng về kịp tối nay ? có phải là câu hỏi tu từ

không ? Hãy đưa ra cách lí giải của mình về ý nghĩa của câu thơ này

3 Khổ thơ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ tồn tại nhiều cách hiểu khác

nhau Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 400 từ) nêu cách hiểu của mình

TRÀNG GIANG (Huy Cận)

I NỘI DUNG TRỌNG TÂM CẦN ÔN TẬP

1. Tác giả, tác phẩm

a) Tác giả

Huy Cận (1919 - 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú,huyện Hương Sơn (nay là xã Đức Ân, huyện Vũ Quang), tính Hà Tĩnh Thuởnhỏ ông học ở quê, sau đó vào Huế học hết trung học Năm 1939, ông ra Hà Nộihọc Trường Cao đẳng Canh nông Từ năm 1942, ông tích cực tham gia hoạt

động trong Mặt trận Việt Minh, rồi tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào.Sau Cách rriạng tháng Tám, Huy Cận tham gia hoạt động chính quyền cáchmạng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Chính phủ và trong Hội liên hiệp Vănhọc - Nghệ thuật Việt Nam Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết líông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca việt Nam hiện đại

Năm 1996, Huy Cận được Nhà nước tặng Giải thưởng Hô Chí Minh về vănhọc nghệ thuật

b) Tác phẩm

Bài thơ Tràng Giang được viết vào mùa thu năm 1939, in ừong tầp Lứa

thiêng tập thơ đâu tay của Huy Cận.

2. Nội dung, nghệ thuật

- Nhan đề Tràng Giang và câu thơ đề từ "Bâng khuâng trời rộng nhớ sôngdài"ngay ở đầu bài thơ đã gợi cho người đọc cảm nhận được sự đối lập giữa

Trang 37

không gian rộng dài, mênh mông với cái nhỏ bé, mong manh của con người mang một nỗi buồn của con người trước thiên nhiên, vũ trụ bao la Toàn bộ bải

-thơ Tràng Giang thấm đượm một nỗi buồn Mỗi khổ -thơ thực chất là sự triển

khai nỗi buồn đó

- Ngay ở khổ thơ đầu, cảnh sông nước mênh mang vô tận đã được gợi ratrước mắt chúng ta và hơn hết, hồ gợi được cả cảm xúc" và ấn tượng về một nỗibuồn triền miên, kéo dài theo không gian (tràng giang) và theo thời gian (điệpđiệp) : "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước songsong"

Nỗi sầu buồn triền miên dường như được gợi lên từ hình ảnh con thuyền gácmái trôi theo dòng nước một cách lặng lẽ và cậu thơ cuối của khổ càng nhấpmạnh hơn sự nhỏ bé, đơn côi của vạn vật trước cảnh sông nước mênh mông :

"Củi một cành khô lạc mấy dòng" Hình ảnh cành củi khô trôi bông bềnh trênsống nước gợi nỗi buồn về kiếp người nhỏ bé ở khổ thơ đầu, nghệ thuật đối củathơ Đường đã được Huy Cận vận dụng linh hoạt, chủ yếu là đối ý và không bị

Trong hai câu sau, không gian ba chiều được mở ra đến bao la vô tận : "Nắngxuống, trời lên sâu chót vót / Sông dài, trời rộng bến cô liêu"

Không gian càng rộng, càng sâu và cao thì cảnh vật càng trở nên vắng lặng,chỉ có sông dài với bến bờ lẻ loi, xa vắng Nỗi buồn tựa như thấm vào khônggian ba chiều Con người trở nên nhỏ bé, rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn Và tâmtrạng cô đơn, sầu buồn vì lẽ đó mà thấm sâu vào lòng người hơn

- Tiếp nối mạch cảm xúc được gọi từ hai khổ đầu, nỗi buồn càng được khắcsâu qua hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh trên sông nước mênh mông.Hình ảnh này cùng với hình ảnh con thuyền xuôi mái và hình ảnh cành củi khô

Trang 38

lạc lõng trên sóng nước càng gợi ấn tượng về sự tan tác, chia li cũng như nhấnmạnh nỗi sầu buồn trải ra mênh mông : "Bèo dạt, về đâu, hàng nối hàng / Mênhmông không một chuyến đò ngang / Không cầu gợi chút niềm thân mật / Lặng lẽ

bờ xanh tiếp bãi vàng"

Ẩn tượng về sự chia li, tan tác làm cho lòng người sầu buồn và càng sầubuồn hơn khi mà toàn cảnh sông nước tuyệt nhiên không có bóng đáng conngười (không một chuyến đò), Cũng không có lấy một cây cầu để làm sợi dâyliên hệ giữa con người với con người mà chỉ có thiên nhiên với thiên nhiên Nỗihiu quạnh, hoang vắng trong không gian mênh mông của trời rộng, sông dàicàng làm cho con người thấy lòng trống trải, cô đơn:

- Bốn câu kết bài thơ vừa đem đến một khung cảnh thiên nhiên đẹp, hùng vĩvừa thể hiện tấm lòng tác giả : "Lớp lóp mây cao đùn núi bạc / Chim nghiêngcánh nhỏ : bóng chiều sa"

Những đám mây trắng mùa thu đùn lên "lớp lớp" phía chân trời, ánh trờiphản chiếu lấp lánh như những núi bạc Trước cảnh sông nước, mây trời bao la

ấy hiện lên cánh chim nhỏ bé, cô đơn làm cho buổi chiều buồn vắng hơn : "Lòngquê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" Nỗi nhớ quêhương da diết và sâu lắng - biểu hiện lòng yêu nước thầm kín

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn đậm chất Đường thi trang nghiêm, cổkính với âm điệu trầm buồn và cách ngắt nhịp quen thuộc (4/3) tạo nên sự cânđối hài hoà Tài năng của Huy Cận còn thể hiện trong việc sử dụng hghệ thuậtđối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình và hệthốmg từ; láy giàu giá trị biểu cảm

* Bài thơ bộc lộ nỗi sầu buồn của mà : "cái tôi" cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn và cũng là tiếng lòng da diết một tình yêu quê hương, đất nước.

III CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Toàn bộ thơ Tràng Giang của Huy Cận thấm đượm một nỗi buồn Anh (chị)

hãy phân tích bài thơ để làm giõ mạch cảm xúc thống nhất và xuyên xuốt ấy

2 Một trong những thành công yê nghệ thuật của Huy Cận trong bài Tràng

Giang là đã sử dụng một cách hiệu quả thủ pháp

TƯƠNG TƯ

Trang 39

Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ khi lên mười tuổi ông biết làm thơ từ năm mười

bạ tuổi Năm mưởi chịn tuổi, ông đoạt giải thưởng của Tự lực văn đoàn với tập

thơ Tâm hồn tôi Nguyễn Bính tham gia cách mạng sớm (từ năm 1943) Hoà

bình lập lại, ông ra Bắc tham gia công tác văn nghệ và báo chí ở Hà Nội, rồi vềcông tác ở Nam Định cho đến lúc mất

Thơ Nguyễn Bính có một điệu riêng Bằng lối ví von mộc mạc mà duyêndáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đã đem đến cho người đọcnhững hình ảnh thân thương của quê hương đẩt nước và một tình người đằmthắm, thiết tha Vì thế, ông được coi là "thi sĩ của đông quê"

Tuy có không ít thành công ở thể thơ thất ngôn, nhưng Nguyễn Bính sởtrựờng nhất ở thể lục bát Thơ ông có sức phổ cập rất lớn

Năm 2000, Nguyễn Bính được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh vềvăn học nghệ thuật

c)Tác phẩm

Bài thơ Tựơng tư được in trong tập Lỡ bước sang ngang (1940).

2.Nội dung, nghệ thuật

- Trong phần đầu của bài thơ, tác giả miêu tả những sắc thái, cung bậc cảmxúc mà nhân vật trữ tình đã trải qua: từ nỗi nhớ nhưng "chín nhớ mười mong"đến sự ngờ vực, băn khoăn, hờn trách, từ lúc nôn nao mơ tường, khát vọng đếnước ao có được hạnh phúc sum vầy Đó là trạng thái tâm lí đầy phức tạp, thú vị,mang tính quy luật với tất cả những người đang yêu

- Chàng trai thôn Đoài đã gửi lòng say cô gái thôn Đông qua nhịp cầu "nỗinhớ" Tác giả mượn quy luật của tự nhiên để hoá giải niềm tương tư lan toả của

Trang 40

chàng trai:

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Và vì yêu quá, nhớ quá nên chàng trai đã hờn giận, trách yêu cô gái khôngđến với mình Lạ chưa ? Một người con trai thụ động ngôi chờ lại bộc lộ nỗitrách móc ? Cái sự phi lí của hiện thực song ỉại hết sức cộ lí của trái tim Phảichăng vì quá sốt ruột, mong nhớ khắc khoải nên chàng trai cứ ngỡ là mình bị hờhững rồi sinh ra hờn ngược trách xuôi ?

Người xưa nói: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (Một ngày không gặpmặt dài như ba mùa thu) để chỉ nỗi nhớ mong của những người đang yêu Ở đây,tâm trạng chờ đợi, nhớ mong cũng được diễn đạt bàng những hình ảnh giàu sứcgợi:

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã í hành cây lá vàng.

Câu lục ngắt nhịp 3 / 3 phá đi cái nhịp chậm, đều của thơ lục bát (2 / 2 / 2) Ý

là lời thơ vế sau lặp lại vế trươc Cách ngắt nhịp này khiến chữ “lại” ở đầu nhịpcâu trở thành điểm nhấn của ngữ điệu Nó gợi được dòng thời gian cứ trôi quahết ức chậm chạp ngày mới chỉ còn là sự lặp lại ngày cũ một cách buồn đều,chán ngán Việc ngắt nhịp, lặp lại vế câu và nốt nhấn giọng ở chữ “lại” khiếncho câu thơ ngân lên như một lời than thở Tất cả điều đó làm hiện lên hình ảnhmột người con trai với tâm trạng nóng lòng chờ trông đến mỏi mòn

Câu bát diễn tả thời gian và tâm trạng một cách tinh tế và ý nhị Thời gianliễn ra ở câu trên đã chậm chạp gây sốt ruột, nhưng đó mới chỉ là lời kể lể thôiđến câu này, thời gian đã hiện lên sinh động Thời gian như cỏ màu sắc, đứnglơn, thời gián hiện lên qua việc chuyển màu : lá xanh chuyển thành lá vàng.Ngày anh bắt đầu đợi chờ, cây hãy còn xanh, đến nay lá xanh đã ngà hết sangvàng, thế nà vô vọng vẫn hoàn vô vọng Thời gian càng chậm, tâm trạng càngnặng nề râm trạng càng mỏi mòn nôn nóng, thời gian càng chậm chạp, lê thê.Tinh tế nhất lại là ở chữ “nhuộm” vưuà diễn được thời giản chậm chập, để ngỏchủ thể Ai nhuộm ? Chủ thể này hàm ẩn Không hẳn thời gian, cũng không hẳn

Ngày đăng: 05/04/2017, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w