Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, nguy cơ xảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều trong đó có bệnh đường hô hấp mãn tính CRD do Mycoplasma gallisepticum, tuy tỷ lệ chết không cao nhưng g
Trang 1HOÀNG MINH DOANH
Tên đề tài:
“ SỬ DỤNG KITASAMYCIN THAY THẾ TYLOSIN TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH HEN (CRD) TẠI TRẠI GÀ THƯƠNG PHẨM THUỘC XÃ KHE MO
ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2012 – 2016
Thái Nguyên, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH DOANH
Tên đề tài:
“ SỬ DỤNG KITASAMYCIN THAY THẾ TYLOSIN TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH HEN (CRD) TẠI TRẠI GÀ THƯƠNG PHẨM THUỘC XÃ KHE MO
ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Lớp : K 44 - CNTY Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2012 – 2016 Giảng viên hướng dẫn : TS Ngô Nhật Thắng
Thái Nguyên, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy, cô giáo Nhờ vậy, em đã được các thầy cô giáo trang bị những kiến thức khoa học
kỹ thuật cũng như đạo đức tư cách người cán bộ tương lai Thầy cô đã trang bị cho em đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống và sự nghiệp sau này
Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân Em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong
khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng, đã giúp em hoàn thành khóa luận này
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của thầy
giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng đã trực tiếp hướng dẫn đề tài: Sử dụng Kittasmycin thay thế Tylosin trong phòng trị bện hen (CRD) tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo – huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
để em hoàn thành tốt khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Hoàng Minh Doanh
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24
Bảng 4.1: Lịch dùng vaccine và phòng bệnh kháng sinh cho đàn gà 34
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37
Bảng 4.3: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 38
Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm CRD trên đàn gà thả vườn theo tuần tuổi (%) 40
Bảng 4.4: Một số bệnh thường gặp ở gà thả vườn 39
Bảng 4.6 : Triệu chứng và bệnh tích của gà nhiễm bệnh CRD 42
Bảng 4.7: Kết quả phòng bệnh CRD của Kitasamycin và Tylosin 43
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh CRD của Kitasamycin và Tylosin 44
Bảng 4.9: Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các giai đoạn tuổi 47
Bảng 4.10: Hệ số chuyển hóa thức ăn(FCR) (gTĂ/g tăng khối lượng) 47
Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng Kitasamycin và Tylosin trong chăn nuôi gà (đồng) 48
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các giai đoạn ngày….48
Trang 6
DANH MỤC Ý NGHĨA CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự CRD : Chronic Respiratory Disease
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa về khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 22
Phần 3 23
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 23
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.3 Phương pháp sử lý số liệu 27
Phần 4 28
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
Trang 84.1 Công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Biện pháp thực hiện 28
4.1.2 Kết quả phục vụ sản xuất 29
4.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.3.1 Kết quả về tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 37
4.3.2 Một số bệnh thường gặp ở gà thả vườn 39
4.3.3 Tình hình nhiễm CRD theo lứa tuổi ở đàn gà thả vườn 40
4.3.4 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích của gà có biểu hiện nhiễm bệnh CRD 42
4.3.5 Hiệu lực phòng bệnh CRD của Kitasamycin và Tylosin 43
4.3.6 Hiệu lực điều trị bệnh CRD của Kitasamycin và Tylosin 44
4.3.2 Kết quả về khả năng sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 44
4.3.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn cho gà thí nghiệm 46
4.3.7 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng Kitasamycin và Tylosin trong chăn nuôi gà 48
Phần 5 50
KẾT LUẬN, TỒN TẠI 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
Tài liệu Tiếng Việt 52
Tài liệu dịch từ Tiếng Anh……… 54
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo, có tới 70% dân cư sống dựa vào nghề nông nghiệp Nền nông nghiệp nước ta bao gồm ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi Trong đó, chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Nó trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ ở nước ta với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, từ các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ đến các trang trại chăn nuôi lớn
Chăn nuôi gà chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một ngành cung cấp nguồn thực phẩm chiếm tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người Ngoài
ra còn cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến như lông … Sở dĩ gà có vị trí quan trọng như trên là nhờ có đặc điểm ưu việt như: Giá thành sản phẩm trên mỗi đơn vị của gà hạ hơn bất kỳ ngành chăn nuôi nào khác, hơn nữa giá trị sản phẩm cao, tỷ lệ protein cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân bằng với các chất, hàm lượng axit amin cần thiết có nhiều trong thịt, ngoài ra trong
đó còn chứa nhiều các nguyên tố khoáng vi lượng làm tăng giá trị sinh học của sản phẩm Mặt khác thịt gà thơm ngon hợp khẩu vị với các lứa tuổi và tỷ
lệ đồng hóa cao, do vậy được sử dụng nhiều khu an dưỡng, nhà trẻ và các khách sạn Vì vậy, gà được nuôi rộng rãi ở hầu khắp các nước trên thế giới
Tuy nhiên hiện nay nghành chăn nuôi gà đang đứng trước nhiều khó khăn Nguyên nhân do giá thức ăn cao, sự cạnh tranh về các vấn đề (thị trường, kỹ thuật…) khi nước ta gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, dịch bệnh xuất hiện ngày càng phức tạp và tràn lan (H5N1, CRD…), gây thiệt hại lớn Trong đó bệnh dịch là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển
Trang 10của chăn nuôi gà, để hạn chế được nó cần phải có những nghiên cứu sâu rộng
và thực tế về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống
Tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh, phương thức chăn nuôi cũng có bước chuyển biến từ chăn thả sang chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, nguy cơ xảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều trong đó có bệnh đường hô hấp mãn tính CRD do Mycoplasma gallisepticum, tuy tỷ lệ chết không cao nhưng gà thường chậm lớn, gây thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi
Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự nhất trí của nhà trường cùng giảng viên hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Sử dụng Kitasamycin thay thế Tylosin trong phòng trị bệnh hen (CRD) tại trại gà thương phẩm, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh bệnh CRD trên đàn gà thả vườn theo lứa tuổi
- Xác định hiệu lực của thuốc Kitasamycin và Tylosin trong phòng và trị bệnh CRD ở gà thí nghiệm Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật thích hợp nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn gà
Trang 111.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi hiểu về lợi ích ,ảnh hưởng tích cực của Kitasamycin đến khả năng chống lại bệnh tật, cũng như khả năng tăng trọng, tăng trưởng của gà qua các thời kỳ phát triển
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1.1 Một vài nét về giống gà thí nghiệm
* Nguồn gốc, đặc điểm gà Lương Phượng
- Nguồn gốc: Gà Lương Phượng là giống gà kiêm dụng lông màu có xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng, do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lai tạo thành sau nhiều năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập ngoại từ nước ngoài như Kakir, Discan… Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong những năm gần đây Gà Lương Phượng dễ nuôi, tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng
- Đặc điểm: Con mái lông màu vàng nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, cánh Con trống lông sặc sỡ nhiều màu: Sắc tía ở cổ, nâu cánh gián ở lưng, nâu xanh đen ở đuôi Da, mỏ, chân đều màu vàng Mào,tích, tai phát triển, mào đơn, đỏ tươi, ức sâu nhiều thịt, thịt thơm ngon Gà thích nghi cao với nuôi chăn thả và bán chăn thả
- Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng:
+ Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [26], cho biết: khối lượng gà Lương Phượng đến 12 tuần tuổi là 2,0 - 2,5kg; tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng là 3,0 - 3,2kg Khối lượng gà vào lúc đẻ: 1,9 - 2,1kg (gà mái); 2,8 - 3,2kg (gà trống) Sản lượng trứng/10 tháng đẻ là 150 -
170 quả/mái Tỷ lệ ấp nở 80 - 85%
* Nguồn gốc đặc điểm gà Mía
Trang 13Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [22] cho biết:
Gà mía có nguồn gốc từ Trùng Thiên, Sơn Tây
Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen kẽ lông đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh chính xanh biếc Con cái có màu lông vàng nhạt xem kẽ lông đen ở cánh và đuôi, lông cổ màu nâu
Gà Mía là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to, ngoại hình thô, đi lại chậm
* Đặc điểm gà lai F1 (trống Mía × mái Lương Phượng):
Gà lai F1 giữa trống Mía và mái Lương Phượng là gà giống màu có chất lượng cao, có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, tốc
độ sinh trưởng và trao đổi chất nhanh, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế lớn, thích hợp với phương thức nuôi nhốt, bán chăn thả, chăn thả
2.1.1.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [5] cho biết; hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi và 9 túi khí
- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van hóa sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước
- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra làm 2 phần: phần sương và phần sụn Xoang mũi nằm ở mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh
- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hóa sương Số vòng khí quản ở gà là 110 – 120 và hầu hết là sụn, còn ở thủy cầm hầu hết đã hóa xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản
Trang 14được cấu tạo bởi mộng màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài
- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 – 7 cm và có đường kính 5 – 6 mm Mỗi ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với là phổi phải Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy ( ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phôi có màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đnag phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi
Phổi nằm ở xoang ngực phía trước trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi của loài Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí có sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể của gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó
có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xuwngss là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [15]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh
lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Ban đêm tần số hô hấp giảm
Trang 15chậm xuống 30 – 40 % Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/ phút Tần số hô hấp của gà trưởng thành là 25 – 45 lần/ phút Gà từ 4 – 20 ngày tuổi là 30 – 40 lần/ phút
Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với
sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính
Vận động xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí đi từ ngoài vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượn oxygen cung cấp vẫn đảm bảo
Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạng (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 – 100%
Hoạt động của phổi và túi khí bao gồm: khí lưu thông, khí hít thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng hô hấp lớn nhất của gia cầm
Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn Hoạt động của phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3
Nhu cầu O2 và lượng CO2 ra sau một giờ tính trên 1kg thể trọng của gà như sau:
Tuổi gà Nhu cầu O2 (lít) CO2 thải ra (lít)
Gà con 1 – 20 ngày tuổi 2,0 – 2,4 1,4 – 1,6
Gà dò 21 – 150 ngày
tuổi
Trang 16Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theeo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo oxy – hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu, dao động trong khoảng 12 – 21
cm3 (Nguyễn Duy Hoan, 1998) [4]
Nhà sinh lý học Nga N.A.Milapski xác định trung tâm điều hòa hít vào
và thở ra nằm trong cấu trúc lưới của hành não, phải trái đối xứng nhau Đặc điểm cần chú ý là lồng ngực gia cầm rất phát triển, xương ức tương đối lớn, không có cơ hoành Phổi của gia cầm thiếu khả năng đàn hồi, nó cố định và tựa vào sườn Vận động của xương sườn làm xương ngực giãn ra hút khí vào
và chỉ xoang ngực co lại gây động tác thở ra
2.1.1.3 Bệnh CRD ở gà
* Đặc điểm chung
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà do nhiều loại Mycopasma gây ra, trong đó quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma syniviae Mầm bệnh MG là nguyên nhân chính gây bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo, 2007) [3]
Bệnh do Mycoplasma gây ra những tổn thất khá lớn đối với nghành chăn unối gia cầm ở mọi nơi trên thế giới Cho đến nay có 16 loài Mycoplasma phân lập được từ gà và gà tây, 7 loài phân lập từ ngỗng và vịt và
3 loài khác nhau được phân lập từ bồ câu Trong đó có 4 loài gây bệnh cho gia cầm được quan tâm đó là M.gallisepticum; M.synoviae; M.meleagridis và M.iowae (Nhữ Văn Thụ và cs, 2002) [26]
Chu Minh Khôi (2001) [27] đã tổng hợp: CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô gấp
Trang 17Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [6] nghiên cứu cho thấy: Bệnh đường hô hấp mãn tính do Mycopasma gallisepticum gây nên, viết tắt là CRD (Chronic Respiratory Diseae) là bệnh truyền nhiễm của gà ở các lứa tuổi khác nhau với những bệnh tích ở đường hô hấp, nhất là ở khí quản và phổi, cũng như ở các túi khí Bệnh đường hô hấp mãn tính rất nguy hiểm đối với gà, nhất là gà nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, bởi vì phương thức truyền lây của bệnh chủ yếu là truyền qua trứng và đường hô hấp Qua xuât khẩu trứng và gà giống, bệnh CRD đã lan tràn ra hầu hết các nước trên thế giới Bệnh có thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ nở tới 14% và giảm tăng trọng của gà thịt thương phẩm tới 16% Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng, bệnh
do E.coli gây ra… đã gây nên các vụ dịch lớn có tỷ lệ gà chết cao
* Lịch sử và địa dư bệnh lý
Bệnh do Mycoplasmosis lần đầu tiên được mô tả ở Mỹ vào năm 1936 bởi Nelsen với tên bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm do vi trùng thuộc loại cầu khuẩn Năm 1943 Delaplane và Stuart đã cho rằng bệnh đường hô hấp mãn tính là do virus Vào năm 1949 Delaplane đã xác định rằng bệnh này ở gia cầm có liên quan về căn bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây con Markham và Wong năm 1952 đã thành công trong việc phân lập vi trùng viêm màng phổi – phổi thanh dịch, gà mắc bệnh đường hô hấp mãn tính và từ
gà tây mắc bệnh viêm xoang mũi là những vi trùng nhỏ giống như cầu khuẩn,
vi trùng mà Nelsen đã mô tả
Trong các thí nghiệm sau đó, Jonson, Sullian, Taylor… và nhiều nhà khoa học khác đã xác nhận rằng bệnh đường hô hấp ở gà và bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây gây ra bởi các vi trùng thuộc loại cầu khuẩn nằm trung gian giữa virus và vi trùng có tính chất đặc trưng đối với nhóm vi trùng viêm màng phổi – phổi PPLO Berjey đã đặt tên cho loài vi trùng này là
Trang 18Mycoplasma gallisepticum Năm 1961, Hội nghị dịch tễ thế giới đã đổi tên
“bệnh đường hô hấp mãn tính” thành “bệnh Mycoplasmosis đường hô hấp gia cầm” Từ cuối năm 1951 bệnh này phổ biến ở nhiều nơi trên nước Mỹ và đến năm 1956 nó đã lan tràn khắp nước Mỹ Do việc xuất gà giống và trứng để ấp, nên từ nước Mỹ bệnh này trong những năm sau đã lây truyền vào các nước trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể cho nghành chăn nuôi gia cầm Ở Việt Nam đã tìm thấy kháng thể Mycoplasma trong nhiều đàn gà nuôi tập trung từ năm 1975
* Căn bệnh
Lúc đầu nhiều tác giả trên thế giới đã cho rằng bênh CRD là do virus gây ra, các tác giả E.Jenson, J.Sullian trong các thí nghiệm sau đó xác định rằng bệnh đường hô hấp ở gà con và bệnh viêm xoang truyền nhiễm ở gà tây gây ra bởi các vi sinh vật thuộc dạng cầu khuẩn, nằm trung gian giữa virus và
vi trùng có tính chất đặc trưng với nhóm vi sinh vật viêm màng phổi – phổi PPLO Từ đó Berjey đã đặt tên cho vi trùng viêm màng phổi – phổi gây bệnh đường hô hấp mãn tính và viêm xoang mũi gà tây là Mycoplasma gallisepticum (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) [6]
Hoàng Huy Liệu (2002) [28] cho biết: CRDmdo 3 loài Mycoplasma gây ra: M.Gallisepticum, M.Synoviae, M.Meleagridis nhưng chủ yếu là loài M.Gallisepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển
vi thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân, gallisepticum có nghĩa là
“gây độc cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỉ lệ nhiễm bệnh ở gà trứng rất cao và sản lượng trứng giảm đáng kể
Hầu hết các loại gia cầm đều mẫn cảm với bệnh này, đặc biệt là gà nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao Bệnh xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Trong những năm gần đây người ta đã
Trang 19sử dụng một số thuốc kháng sinh mới như Tiamulin, Tylosin, Spriamycin,…
để điều trị nên đã khống chế được bệnh này
Nguyễn Xuân Bìnhvà cs (2004) [1] cho biết MG rất ít mẫn cảm với các loại kháng sinh thông thường nên điều trị bệnh phải chọn kháng sinh đặc hiệu
Do có nhiều Serotype khác nhau nên bệnh lý thay đổi không hoàn toàn giống nhau giữa các đàn gà bị bệnh này
Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [2] nghiên cứu và kết luận: Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram (-), có tính đa hình thái, có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt,…), không mẫn cảm với Penicilin, Xiclosenrin và các chết kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào
Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc; nhiệt độ tốt nhất là 37o
C; pH: 7,0 – 8,0 Nó có thể phát triển tốt trên phôi gà và một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa Hemoglubin, Xistein Trên môi trường thạch chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong Khi phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và taojt hành những kết tủa Trong môi trường thạch máu, Mycoplasma làm dung huyết (Nguyễn Xuân Thành và cs, 2007) [14]
Mycoplasma có sức đề kháng yếu, ở ngoài thiên nhiên căn bệnh bị chết rất nhanh Các điều kiện lý hóa học và các chất sát trùng thông thường đều diệt mầm bệnh dễ dàng Mycoplasma bị tiêu diệt ở nhiệt độ 45 – 55o
C trong vòng
15 phút Chúng rất mẫn cảm với sự không cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và
bị ức chế bởi các chất kháng sinh, nó ngăn cản quá trính sinh tổng hợp protein của Mycoplasma như Erythomycin, Tetracyclin…
Trang 20Bệnh hô hấp mãn tính là một bệnh kế phát, chỉ phát thành triệu chứng khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút do mắc các bệnh virus, ký sinh trùng, các yếu tố dinh dưỡng và môi trường chăn nuôi… Ngoài ra tiêm phòng các loại vaccine giảm độc cũng dễ làm trỗi dậy bệnh Mycoplasmosis
* Sự truyền lây
Sự lây truyền MG rất dễ dàng từ con này sang con khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp Khi MG khu trú ở đường hô hấp trên, một lượng lớn mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết của dịch rỉ mũi, qua hô hấp, ho Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng Khi con vật bị nhiễm bệnh này thì nó bị coi là mang khuẩn suốt đời vì mầm bệnh có khả năng thay đổi hình thức của cấu trúc kháng nguyên bề mặt một cách rất tinh vi, nhờ vậy nó có thể tạo ra sự thay đổi liên tục về sự biểu hiện của kháng nguyên bề mặt và tránh được sự tấn công của hệ thống miễn dịch của vật chủ Sự mang bệnh lâu như vậy cho nên một đàn gà bị nhiễm bệnh thì đó là nguồn bệnh cho các đàn gà khác trong qua trình nhiễm bệnh mới Đây là một điều đáng lưu ý rong qua trình tạo giống khi các dòng khác được đưa vào lai ghép Những đàn gà bị nhiễm bệnh mà phải đối đầu với các tác động bất lợi khác như nồng độ amoniac ở ngoài môi trường cao, thời tiết thay đổi đột ngột, các mầm bệnh khác,… thì có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh MG (Hội bác sỹ thú y, 2008) [29]
Các yếu tố ngoại cảnh bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của gà như: thời tiết thay đổi đột ngột, thức ăn không đảm bảo chất lượng, gà bị vận chuyển xa, chuồng trại kém vệ sinh, mật độ nuôi nhốt cao, ẩm độ cao, chuồng nuôi không thông thoáng, nồng độ các chất thải cao,… sẽ làm bệnh phát sinh
ra và lan rộng, gây thiệt hại về kinh tế
Trang 21Nguyễn Xuân Bình và cs (2004) [1] cho biết: khi gà con trưởng thành thì con đường xâm nhập của mầm bệnh chủ yếu là qua không khí vào đường
hô hấp Từ đó các vi khuẩn khác lây nhiễm kế phát qua vết thương làm cho bệnh phát ra trầm trọng với nhiều triệu chứng và bệnh tích khác nhau gây khó khăn cho chẩn đoán
CRD nếu chỉ có một mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế phát thì nặng hơn hoặc bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn, khí NH3 trong chuồng nuôi quá cao thì bệnh sẽ phát nặng hơn Đặc biệt nếu ghép 3 bệnh: viêm thanh khí quản truyền nhiễm (do virus), viêm phế quản truyền nhiễm (do virus), bệnh cúm (do virus + vi khuẩn Haemophylus) thì bệnh kéo dài trầm trọng và không chữa trị được
Thời gian tồn tại của MG ở ngoài cơ thể vật chủ thì khác nhau từ 1 – 14 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám vào Vì vậy việc vệ sinh quần
áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi mà kém thì đó cũng là một con đường truyền lây của bệnh Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng trứng là 3 tuần ở 5oC, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng đỏ mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 37o
C, 6 tuần ở 20oC Như vậy những quả trứng dập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh Điều đáng chú ý là mầm bệnh có thể tồn tại trong tóc, da của người từ 1 – 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh
Một con đường truyền lây khác được mô tả kỹ đó là sự truyền lây qua trứng Ở giai đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào phôi và gây chết phôi, chúng có thể xâm nhập ngay trong lúc mới nở do mầm bệnh có sẵn ở ngoài vỏ trứng vào gà con qua đường hô hấp
MG không những được phân lập từ phôi gà mà còn được phân lập từ lòng đỏ
Trang 22của trứng tươi, một phần phôi bị nhiễm bệnh bị chết trong quá trình ấp, một phần nở ra sẽ là nguồn lây nhiễm bệnh cho đàn gà Trong một số trường hợp
cụ thể, sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử dụng vaccine virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh MG còn được tìm thấy trong tinh dịch của gà trống bệnh Vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua đường thụ tinh nhân tạo và từ gà trống truyền cho gà mái
* Dịch tễ học
Trong thiên nhiên, gà, gà tây, gà lôi dễ mắc bệnh Bồ câu, vịt, ngan, ngỗng ít cảm thụ Gà dò và gà mái dễ mắc bệnh hơn gà con, gà nuôi theo phương thức tập trung công nghiệp dễ mắc bệnh hơn gà nuôi thả vườn
Bệnh Mycoplasmosis liên quan rất chặt chẽ với sức đề kháng của cơ thể, khi các điều kiện thức ăn, chuồng trại, vận chuyển, thời tiết khí hậu… thay đổi làm phát sinh triệu chứng lâm sàng của bệnh Ở gà 2 – 12 tuần tuổi
và gà sắp đẻ dễ nhiệm bệnh hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh vào
vụ đông khi có mưa phùn, gió mùa, ẩm độ không khí cao
* Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, Mycoplasma ký sinh tại đường hô hấp, gây việm nhẹ niêm mạc mũi, đường hô hấp và các xoang quanh mũi, thành túi hơi, niêm mạc viêm, bị phù nhẹ, lớp dưới bị thâm nhiễm các tế bào lympho và histoxit tạo nên các hạt nhỏ lấm tấm Nếu sức đề kháng của cơ thể cao, bệnh tích này sẽ nhẹ, có khi không nhìn thấy Nếu sức đề kháng của cơ thể thấp,bệnh tích này sẽ nặng lên và tràn lan Bệnh càng thể hiện rõ khi niêm mạc đương hô hấp bị viêm thanh dịch co fibrin Trường hợp này gọi là thể Mycoplasmosis tạp nhiễm Con vật gầy yếu, kiệt sức dần và chết
* Triệu chứng
Các tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [6] cho biết: những biểu hiện đầu tiên thường xuất hiện khoảng 4 – 17 ngày sau khi gây bệnh, bệnh kéo dài
Trang 23từ vài tuần đến 1, 2 tháng hoặc lâu hơn Khi gà mắc bệnh nhìn tổng thế thấy đàn gà xao xác, xõa cánh, gà con, gà dò, gà đẻ đều thở khò khè Theo dõi thấy đàn gà ăn uống giảm Quan sát kỹ thấy gà chảy nước mắt, nước mũi, lúc đầu trong nhớt sau chuyển sang hồng hồng, sau lại đặc trắng như mủ Khi bắt gà
ta thấy gà thở rất mạnh nhưng quan sát kỹ gà khó thở, hay lắc đầu kèm theo tiếng thở là tiếng khẹc khẹc ướt
Theo dõi gà ngủ thấy thở khò khè, còn khi gà ăn uống thỉnh thoảng thấy gà vẩy mỏ khẹt khẹt, phân gà hơi xanh hoặc hơi trắng (Bùi Đức Lũng và
Một số con bị ỉa chảy, sưng ở vùng ngoài hốc mắt Những triệu chứng trên biểu hiện ở cường độ khác nhau và kéo dài hàng tháng, bệnh về mùa hè diễn biến nhẹ hơn mùa đông Tỷ lệ chết của gà con từ 10 – 25% và tập trung vào tuần đầu tiên sau khi xuất hiện bệnh Gia cầm mắc bệnh giảm sản phẩm
từ 10 – 40%, gà gầy sút và bệnh chuyển sang thể mãn tính
Riêng ở gà đẻ: những ngày đầu thấy giảm ăn, sút cân, giản đẻ trứng Sau đó chảy nước mắt, nước mũi,sưng mặt,viêm kết mạc mắt, thở khò khè, trứng đổi màu, xù xì Nếu ghép với E.coli thì trứng méo mó và vỏ trứng có vệt đỏ lấm tấm (Lê Văn Năm và cs, 1996) [11]
Bệnh có tính chất lây lan chậm, các dấu hiệu đầu tiên ở gà xuất hiện từ
4 – 17 ngày sau khi lây bệnh tùy thuộc vào sức đề kháng của cơ thể gà Bệnh kéo dài 20 – 70 ngày hoặc lâu hơn, tỷ lệ chết 10 – 40%
Trang 24Gia cầm bệnh thường hắt hơi, ho khan, lắc đầu, vẩy mỏ và há mồm ra
để thở Niêm mạc mắt đỏ, xung huyết Nước mắt quánh đặc dần sau biến thành fibrin tạo thành hạt lạc nổi lên giữa tròng mắt Đôi khi viêm mủ toàn mắt, lòng mắt bị đặc lại, gà bệnh bị mù
Sau khi các xoang vùng đầu bị viêm thì các niêm mạc hầu, khí quản và các túi hơi liên thông với nó cũng bị viêm Gà bệnh ngày càng khó thở, mào yếm tím bầm, kiệt sức rồi chết Nhiều trường hợp gà bệnh chết sớm do nghẹt thở
Ở đàn gà đẻ trứng mắc bệnh, làm giảm sản lượng trứng Trứng bệnh đem ấp tỷ lệ chết phôi tăng, số còn lại nở thành gà con bị bệnh Ngoài ra, gà tây bệnh còn có viêm khớp, viêm bao hoạt dịch Một số gà bệnh có triệu chứng thần kinh
Lê Văn Năm (2003) [13] cho biết CRD thường ghép với một số bệnh
Từ đó triệu chứng cũng thể hiện phức tạp
- CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm
Đối với gà nhỏ: lúc đầu gà hay lắc đầu, vẩy mỏ hoặc cạo mỏ xuống sàn, chảy nước mắt, nước mũi, lúc đầu loãng và trong suốt sau trở nên đặc tạo thành rỉ mắt Sau đó thở khò khè lạo xạo, miệng bán mở, gà ngẩng cao cổ há mồm thở một cách khó khăn Khi bắt gà lên nghe tiếng lạo xạo khò khè ram ran ở đoạn khí quản, phế quản và phổi Xung quang mi mắt bị sưng, thậm chí sưng phù rất to Sau đó bệnh tiến triển nhanh, lan ra toàn đàn, có một số trường hợp tỷ lệ chết chỉ khoảng 2 – 3%, nhưng nhiều trường hợp gà chết tới
20 – 30%, thậm chí 40% Nhưng sau vài tuần bệnh tự nhiên khỏi
Đối với gà lớn: các triệu chứng điển hình vẫn là sự ho hen phát ra ban đầu, sau đó gà giảm đẻ đột ngột, giảm đẻ tới 70% so với lúc chưa phát bệnh
và kéo dài hàng tháng Trứng xù xì, dễ vỡ, biến màu…
- CRD ghép với sổ mũi truyền nhiễm
Trang 25Đối với gà con và gà dò:
+ Lúc đầu lác đác có một số con chảy nươc mũi, nước mắt liên tục kèm theo lắc đầu, vẩy mỏ, gà há mỏ ra thở khò khè
+ Bỗng dưng bệnh lây lan rất nhanh ra toàn đàn, nhiều con mắt sưng húp, đầu bị sưng lệch, nhiều con sưng rất to Khi bệnh chuyển sang mãn tính ta thấy nhiều gà bị thối mắt (mắt bị viêm, casein hóa và trở nên mù)
+ Nước mắt, nước mũi sau 2 – 3 ngày trở nên đặc như mủ, có mùi hôi thối + Do tịt mũi, gà luôn thở bằng miệng nên lưỡi gà thường thâm xịt, mùi hơi thở của gà rất hôi
+ Gà gầy, xù lông, kém ăn và chết
Đối với gà mái đẻ:
+Bệnh xảy ra với các triệu chứng điển hình của CRD kèm theo viêm thối mắt, nhiều gà bị mù mắt, đầu sưng
+ Tỷ lệ đẻ giảm do gà phát dục không đều
- CRD bị bội nhiễm với E.coli
+ Các triệu chứng của CRD luôn nổi bật, chảy nước mắt, nước mũi, mi mắt
bị viêm và sưng, đầu bị sưng lệch, mào tái nhợt, gà thường hay tìm chỗ ấm để đứng hoặc nằm thở, hay vẩy đầu, cạo mỏ xuống nền chuồng, tiếng thở khò khè, cào mỏ khoèn khoẹt râm ran nghe rõ từ xa trước khi bước vào chuồng + Khi gà bị bệnh nhiễm với E.coli, gà sốt nên uống nhiều nước, ỉa chảy phân loãng, màu vàng, trắng xanh hoặc vàng trắng Gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 – 40%
- CRD ghép với bạch lỵ ở gà con
+ Gà lớn không đều
+ Gà thở bằng miệng, sưng và viêm mí mắt, chảy nước mắt, nước mũi, gà bị ngạt nên thở dồn dập, hai cánh sã xuống để thở cho dễ, uống nhiều nước
Trang 26+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc phân xanh, một số gà đi ngoài khó vì phân bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, có con bị viêm khớp + Gà kém ăn, ủ rũ và chậm lớn
+ Tỷ lệ chết phụ thuộc vào sự can thiệp của bác sỹ thú y sớm hay chậm
* Bệnh tích
Gà bệnh chết gầy và nhợt nhạt do thiếu máu Niêm mạc mũi và các xoang xung quanh sưng phù chứa đầy dịch nhớt màu vàng hay vàng xám Thành các xoang dưới mắt phù, trong xoang có dịch đặc chứa fibrin Niêm mạc họng xung huyết, sưng, đôi chỗ bị xuất huyết phủ nhiều niêm dịch trong Phổi phù thũng, mắt phổi phù fibrin, rải rác một số vùng bị viêm, hoại tử Thành các túi hơi vùng ngực và vùng bụng bị dày lên, phù thũng Xoang túi hơi chứa đầy dịch màu sữa, nếu bệnh kéo dài thì chất này sẽ quánh lại, cuối cùng chứa một chất khô, bở, màu vàng Ngoài ra gà bệnh còn bị viêm ngoại tâm mạc, viêm rìa gan và viêm xoang bụng
Trong giai đoạn cấp tính mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong Trong giai đoạn mãn tính, màng túi khí dày và đục trắng phồng như bã đậu nhão Nếu kế phát bệnh khác thì bề mặt gan, màng ngoài bao tim và màng bao xung quanh phúc mạc tăng sinh trắng đục hoặc viêm dính vào tim, gan, ruột
Võ Bá Thọ (1996) [17] cho biết: năm 1952 Van Roekel đã thống kê kết quả về bệnh tích ở những bộ phận khác nhau với tỷ lệ phần trăm trên tổng số các ca bệnh được mổ khám như sau:
- Viêm khí quản: 97%
- Viêm thanh quản: 82%
- Viêm túi khí: 41%
- Viêm mũi: 40%
Trang 27- Chuồng trại sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo, thoáng mát vào mùa hè, ấm
áp vào mùa đông, tránh gió lùa đặc biệt gà dưới 5 tuần tuổi
- Kiểm tra hàng ngày phát biện gà bệnh, có biện pháp xử lý
- Khử trùng vỏ trứng tại nhà kho, trạm ấp
- Không nhập gà, trứng giống từ đàn gà bố mẹ mắc CRD
- Kiểm tra kháng thể huyết thanh của đàn gà bố mẹ
Trang 28Lê Hồng Mận và cs (2007) [10] cho biết có thể dùng vaccine phòng bệnh như sau:
- Vaccine Nobi – vac MG (hãng Intervet – Hà Lan) tiêm dưới da cho gà con liều 0.5ml/con vào 15 – 18 ngày tuổi
- Vaccin Mycovac – L (hãng Intervet – Hà Lan) dùng dưới dạng phun sương hoặc nhỏ mũi cho gà từ 6 tuần tuổi
- Hoặc dùng thuốc phòng bệnh bằng cách cho uống hoặc trộng thức ăn cho gà: Tetracylin pha 1g/lít nước dùng vào các giai đoạn: 1 – 3; 9 – 12; 18 – 21; 27 – 30; 38 – 40; 50 – 53; 60 – 63 ngày tuổi CRD – STOP – VINA pha 1gr/lít nước/ngày, vào các giai đoạn: 1 – 3; 9 – 12; 21 – 24; 38 – 40; 50 – 53 ngày tuổi
* Điều trị
Chúng ta có thể tham khảo một số phác đồ điều trị sau; (Phạm Sỹ Lăng và
cs, 2002) [6]
- Phác đồ 1:
+ Thuốc điều trị: Tylosin (lọ 10ml, 100ml, 10%)
+ Cách dùng: tiêm bắp thịt, pha nước cất hoặc cho uống, 1g/2 lít nước, cho uống liên tục 3 – 5 ngày
+ Thuốc trợ sức: Chong uống hoặc trộn với thức ăn các loại Vitamin B1,
A, C, D, E, B.complex,…
+ Hộ lý: mùa đông che chuồng kín ấm, mùa hè giữ chuồng khô, thoáng, sạch
- Phác đồ 2:
+ Thuốc điều trị: Tiamulin (lọ 10ml, 100ml, 10%)
+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc dưới mào với liều 1mg/ 5kg TT hoặc cho uống thì dùng loại 20g/ gói, pha 20g/ 16 lít nước, cho uống toàn đàn liên tục 3 – 5 ngày
+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1
Trang 29- Phác đồ 3:
+ Thuốc điều trị: Gentatylo (100mg/ lọ)
+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp theo liều 1mg/ kg TT, tiêm 3 – 5 ngày Genta – Tylo – 5 hoặc 20ml/ lọ tiêm bắp hoặc tiêm dưới da theo liều 1 – 1,5 ml/ 10kg TT
+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1
2.2 Tình hình nghiên cư ́ u trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhìn chung chăn nuôi gia cầm ở nước ta đang phát triển khá nhanh và vững chắc cả về quy mô, sản lượng, chết lượng và hiệu quả Khi chăn nuôi gà phát triền mạnh thì dịch bệnh thường xuyên xảy ra cũng là một vấn đề lớn cần phải giải quyết vì nó có xu hướng lan rộng, gây thiệt hại không nhỏ cho nghành chăn nuôi và làm giảm hiệu quả chăn nuôi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [6] bệnh CRD là một bệnh có khả năng lây lân rất lớn Ở Mỹ, bệnh được mô tả đầu tiên vào năm 1943 do J.P.Delaplane và H.O.Stuart với tên bệnh đường hô hấp mãn tính Ở Việt Nam, bệnh đường hô hấp mãn tính do MG gây ra đã được phát hiện từ năm
1972 do các tác giả như Đào Trọng Đạt và cs (1972 – 1973) Tác giả đã cho biết bệnh CRD có tất cả ở các giống gà nuôi công nghiệp với tỷ lệ mắc bệnh khá cao Tương tự như vậy những nghiên cứu sau đó của Phan Lục và cs (1990 – 1994) đã đưa kết luận rằng tất cả các giống gà nuôi tại các Xí nghiệp
gà ở phía Bắc đều bị nhiễm MG ở mức độ cao, thấp khác nhau, dao động từ 0,82% - 11,97% trong đó cao nhất là giống Plymouth (11,97%) và thấp nhất
là giống Leghorn (0.82%) Tác giả Nguyễn Tăng Huy trong nghiên cứu về tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi công nghiệp tại tỉnh Tây Nam Bộ (1996) cũng đưa ra một số kết quả là tất cả 8 trại gà nuôi công nghiệp tại các
Trang 30tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang đã kiểm tra đều nhiễm M.gallisepticum,
tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,9 – 6,2%
Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (2001) [22] tác nhân gây bệnh là MG Tỷ
lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam là 51,6% (gà thương phẩm), còn gà trống là 10% Tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 – 30% khi gà mắc bệnh
Nhữ Văn Thụ và cs (2002) [26] lần đầu tiên đã thiết lập phản ứng PCR lồng dựa trên trình tự gene 16S rRan của MG Với độ nhạy cảm rất cao (có thể phát hiện ở nồng độ nhỏ hơn một đơn vị khuẩn lạc trong một đơn vị phản ứng) đã có thể khắc phục được vấn đề chẩn đoán bệnh ở bệnh phẩm và cho phép phát hiện mầm bệnh ở các loại mẫu khác như nền chuồng, nước uống, phôi gà mà các phương pháp khác khó hoặc không thể thực hiện được
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoa ̀i
Từ cuối năm 1951, bệnh đã phổ biến rộng rãi trong các cớ sở chăn nuôi gia cầm thuộc các bang Delaver, Meriand, Virgigni và đến đầu năm 1956 không một bang nào tránh khỏi bệnh này
Do việc xuất gà trống và trứng để ấp từ nước Mỹ, bệnh này trong những năm gần đây đã lan truyền vào các nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Úc và cả Nam Mỹ
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ Gà lai (trống Mía × mái Lương Phượng) thương phẩm giai đoạn từ 1
- 90 ngày tuổi, nuôi theo phương thức bán chăn thả
+ Kháng sinh Kitasamycin
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Tại trại gà thương phẩm xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ ngày 18/11/2015 đến ngày 18/05/2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm CRD của gà thả vườn giai đoạn sơ sinh đến 11 tuần tuổi
- Hiệu lực phòng và trị bệnh CRD của Kitasamycin và Tylosin
- Ảnh hưởng của Kitasamycin và Tylosin tới tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng tích lũy và TTTĂ/kg TT của gà thí nghiệm
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp chia lô so sánh, được chia làm 2 lô đảm bảo độ đồng đều về các yếu tố: giống, tuổi, khối lượng, thời gian tiến hành, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình thú y, chỉ khác nhau nhân tố thí nghiệm
+ Lô thí nghiệm dùng thuốc Kitasamycin trong phòng và điều trị bệnh
CRD
+ Lô đối chứng dùng thuốc Tylosin trong phòng và điều trị bệnh CRD
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Trang 32Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm STT Diễn giải ĐVT Lô thí nghiệm Lô đối chứng
1 Giống gà Gà lai trống Mía × mái Lương Phượng
3 Khối lượng đầu TN Gram 38,67 ± 0,25 38,70 ± 0,36
4 Phương thức nuôi 1 - 21 ngày: Nuôi nhốt
22 – 77 ngày: Bán chăn thả
6
Liều lượng g/kg
TĂ
Phòng: 0,5 Phòng: 0,5 Điều trị: 1,0 Điều trị: 1,0
Liệu trình phòng Ngày
tuổi
1 – 3, 10 -12, 19 – 21, 27 – 29, 38 – 40, 45 – 46, 52 – 53, 59 – 60, 66 – 67, 73 – 74
- Thức ăn và cách cho ăn: Thức ăn gà thí nghiệm được chia làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: 1 - 21 ngày tuổi, sử dụng thức ăn AG 311S
+ Giai đoạn 2: 22 - 35 ngày tuổi, sử dụng thức ăn AG 312S
+ Giai đoạn 3: 36 - xuất bán, sử dụng thức ăn AG 313S
- Cho gà uống nước tự do
- Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của gà thí nghiệm được trình bày như sau: