Chúng ta có thể tăng lượng thức ăn cho lợn mẹ trong những ngày đầu tiên sau đẻ, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được ăn mức ăn cao chỉ có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượ
Trang 1HỒ VĂN TRUNG
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ PHÒNG TRỊ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI TRẠI LỢN ÔNG ĐẶNG ĐÌNH DŨNG, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2012 - 2016
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2HỒ VĂN TRUNG
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ PHÒNG TRỊ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI TRẠI LỢN ÔNG ĐẶNG ĐÌNH DŨNG, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp : K44 - CNTY Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2012 - 2016
Giảng viên HD: ThS Nguyễn Hữu Hòa
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Hữu Hòa đã tận tình
giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Dược lý và Vệ sinh an toàn thực phẩm đã giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Đặng Đình Dũng cùng toàn thể anh em
kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Hồ Văn Trung
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Khẩu phần ăn cho đàn lợn 37
Bảng 4.2 Kết quả phục vụ sản xuất 43
Bảng 4.3 Tình hình đẻ của đàn lợn nái 44
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu số lượng lợn con của các loại lợn nái 46
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu chất lượng lợn con của các loại lợn nái 47
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh sinh sản sau đẻ và kết quả điều trị bệnh 48
Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo các tháng 49
Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 49
Bảng 4.9 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo giống 50
Bảng 4.10 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy lợn con 51
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.3 Ý nghĩa c ủa đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất 4
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây 4
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung đề tài 5
2.2.1 Sinh lý tiết sữa của lợn nái 5
2.2.1.1 Sự tiết sữa của lợn nái 5
2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái 7
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa 9
2.2.3 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con 15
2.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 17
Trang 72.2.5 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 22
2.2.5.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa 22
2.2.5.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch ở lợn con 24
2.2.5.3 Cơ năng điều tiết thân nhiệt 25
2.2.6 Đặc điểm hội chứng tiêu chảy lợn con 25
2.2.6.1 Nguyên nhân gây bệnh 26
2.2.6.2 Triệu chứng lâm sàng 28
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29
2.3.1 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trong nước 29
2.3.1.1 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trong nước 30
2.3.1.2 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trên thế giới 31
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
3.3 Nội dung nghiên cứu 33
3.3.1 Công tác phục vụ sản xuất 33
3.3.2 Đề tài nghiên cứu khoa học 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 33
3.4.1 Phương pháp theo dõi 33
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 34
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 36
4.1.1 Công tác chăn nuôi 36
4.1.2 Công tác thú y 40
4.1.3 Công tác khác 43
4.2 Kết quả của đề tài 44
Trang 84.2.1 Tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại 44
4.2.2 Số lượng lợn con của các loại lợn nái nuôi tại trại 45
4.2.3 Chất lượng lợn con của các loại lợn nái 47
4.2.4 Tình hình mắc bệnh sinh sản sau đẻ của các loại lợn nái 48
4.2.5 Tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy 48
4.2.5.1 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo các tháng 48
4.2.5.2 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy lợn con theo tính biệt 49
4.2.5.3 Tỷ lê lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo giống 50
4.2.5.4 Phác đồ điều trị và kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con 50
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu trong nước
II Tài liệu nước ngoài
Trang 9Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ
của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị hội chứng tiêu chảy lợn con tại trại lợn của ông Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”.
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Theo dõi tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại CP Đặng Đình Dũng,
huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy lợn con tại trại CP Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Trang 10- Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ đó có biện pháp phòng bệnh phù hợp
- Xác định được phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy lợn con hiệu quả
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Kết quả đề tài là thông tin khoa học về quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con và một số đặc điểm và bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy lợn con
- Qua tiếp cận thực tế ta ̣i tra ̣i là điều kiê ̣n để nâng cao tay nghề, rèn luyện các kỹ năng chuyên môn
- Vận du ̣ng các kiến thức đã ho ̣c vào thực tiễn, học tập bổ sung thêm kiến thức mới
- Học tập kinh nghiệm từ thực tế
- Nắm bắt được tình hình chăn nuôi, dịch bệnh của trại
- Có thêm các kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị bệnh cho vật nuôi
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo cho người chăn nuôi
áp dụng các quy trình kỹ thuật chăm sóc, phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển
Qua điều tra tình hình hội chứng tiêu chảy lợn con của tra ̣i và đánh giá được hiê ̣u lực của thuốc sử du ̣ng , có thể đưa ra các phác đồ điều trị hiệu quả
bê ̣nh tiêu chảy lợn con
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm độc lập trên một quả đồi, nằm các xa khu dân cư, thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Đây
là một trong những trang trại có quy mô lớn Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha , trong đó diện tích hơn 1ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh
Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn LANDRACE - YORKSHIRE và DUROC Khu sản xuất gồm
6 dãy chuồng đẻ và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái,
30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống
Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng
có chế độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ Quá trình cho lợn ăn, uống nước được điều khiển theo hệ thống hoàn toàn tự động bằng dây chuyền được nhập từ nước ngoài do công ty hỗ trợ cung cấp
Trang 12Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 15 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Trang trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là LANDRACE - YORKSHIRE và DUROC Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trang trại có quy mô lớn Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một số chỉ
tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Trang 13Chỉ tiêu
Số lợn qua các năm Năm
2014
Năm
2015
Năm 2016 (5 tháng đầu năm)
Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.725 23.615 12.324
Tổng số lợn con sinh sống (con) 21.958 22.886 11.944
Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.151 22.096 11.489
2014 là 21,151 con tới năm 2015 là 22.096 con
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước
có liên quan đến nội dung đề tài
2.2.1 Sinh lý tiết sữa của lợn nái
2.2.1.1 Sự tiết sữa của lợn nái
Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do có đặc điểm khác với các gia súc khác là bầu vú của lợn nái
Trang 14không có bể sữa nên ở lợn nái không có sự dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa lợn mẹ
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau.Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hyphothalamus, từ đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào máu, kích tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau Những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau
Quan sát đàn lợn con bú mẹ ta thấy đầu tiên lợn con lấy mõm thúc vào
vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm yên hoàn toàn và tiến hành bú Sữa tiết ra thể hiện rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm im mút theo đợt tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần/ ngày, mỗi lần lượng sữa tiết khoảng 25 - 35 g/ con
Lượng sữa của lợn nái tiết ra tăng cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc
21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần, vì vậy trong chăn nuôi nên tiến hành cai sữa sớm cho lợn con
Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con, sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con
Sự hiểu biết về năng xuất và thành phần của sữa lợn mẹ có vai trò quan trọng,
đó là cơ sở cho việc đưa ra các quyết định về chăm sóc nuôi dưỡng và quản
lý lợn nái
Trang 15Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, sữa lợn mẹ được tiết
ra trong vòng 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu có các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,30% cao hơn so với sữa thường chỉ có 16,60% Hàm lượng protein cũng cao hơn (11,15% so với 6,8%), tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn
Đặc biệt trong sữa đầu còn nhiều kháng thể gama globulin và các chất khác bảo vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các virut, vi khuẩn gây bệnh Lượng gama globulin chiếm khoảng 50% tổng protein của sữa đầu, sau
đó giảm dần Khả năng hấp thụ gama globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng 24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ
Sản lượng sữa của lợn mẹ trong vòng 5 ngày đầu sau đẻ là 4,55 kg/ ngày, năng lượng là 1202 Kcal/kg, lượng vật chất khô, khoáng, chất béo và đường lactose là 19,2; 0,47; 6,41; 6,88 và 5,16% theo thứ tự
2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, thức ăn dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng…
- Giống và cá thể:
Các giống lợn khác nhau khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng xuất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví dụ như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg
Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến khả năng suất sữa trong thời
kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn
Trang 16lợn mẹ có thể trạng trung bình Chúng ta có thể tăng lượng thức ăn cho lợn
mẹ trong những ngày đầu tiên sau đẻ, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được ăn mức ăn cao chỉ có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa Đối với lợn có thể trạng trung bình, nếu cho ăn nhiều thức ăn trong giai đoạn đầu của quá trình tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và có xu hướng làm giảm hao hụt của lợn mẹ trong quá trình tiết sữa
- Tuổi và lứa đẻ:
Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 - 3, ổn định từ lứa 3 - 8, sau đó giảm dần theo sự tăng của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào phát triển chưa hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú, còn ở những lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng Nghiên cứu về vấn đề này người ta thường thấy bình quân số ống dẫn sữa của lợn nái đẻ nhiều lứa là 2,1 trong khi đó lợn nái đẻ lứa đầu chỉ có 1,9; mà số ống dẫn sữa nhiều hay ít đều
có liên quan đến sản lượng sữa cao hay thấp
- Số con đẻ ra/ lứa:
Khi nghiên cứu về vấn đề này tác giả Smith (1976) [35] cho biết: nếu
số lượng con đẻ ra/ lứa cao thì sản lượng sữa/ chu kỳ cao, song lượng sữa của
1 con bú được trong 8 tuần sẽ ít và ngược lại Ông đã tiến hành nghiên cứu trên 2 lô lợn nái: một lô lợn nái đẻ bình quân 4,8 con/ lứa, thì một con trong 8 tuần bú được 33 kg sữa Một lô lợn nái đẻ bình quân 12,4 con/ lứa, thì 1 con trong 8 tuần bú được 24,3 kg sữa Nhưng tính cả chu kỳ tiết sữa của lợn nái
đẻ nhiều con sẽ có sản lượng sữa cao hơn lợn nái đẻ ít con, lô đẻ ít con chỉ có 158,4 kg trong khi đó lô đẻ nhiều con đạt 301,32 kg
- Nuôi dưỡng và chăm sóc:
Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng sữa, vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn
Trang 17nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn Nhưng trong thực tiễn khi sử dụng khẩu phần có tỷ lệ chất béo cao sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình chế biến
Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến thành phần hóa học của sữa Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua quá trình chọn lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp vào máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào
Kỹ thuật chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết sữa của lợn nái, các tác động không thích hợp như đánh đuổi lợn, gây tiếng động mạnh trong khu vực chuồng lợn nái nuôi con… đều gây ức chế quá trình tiết sữa của lợn nái Ngoài ra, nếu chăm sóc không chu đáo dễ gây cho lợn mẹ các bệnh như viêm vú, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sữa
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa
Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa có vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất lợn con giống Mục đích và yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi lợn nái có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị xảy thai hoặc
đẻ non, mỗi lứa đẻ nhiều con, lợn con có sức sống cao, lợn mẹ phát triển bình
thường, dự trữ đủ chất dinh dưỡng nuôi con sau này, không bị hao mòn lớn
- Phương pháp phát hiện lợn có chửa
Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống sẽ tác động các biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái Còn nếu lợn nái không chửa thì có kế hoạch phối giống lại kịp thời
Trang 18Thời gian chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm hai kỳ:
+ Thời kỳ chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
+ Thời kỳ chửa kỳ 2: là thời gian lợn có chửa từ 85 ngày đến khi đẻ Việc phát hiện lợn nái chửa kỳ 2 dễ dàng hơn chửa kỳ 1 vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái là sau khi phối giống 21 ngày mà không thấy có biểu hiện động dục thì có thể coi là lợn nái
đã có chửa Lợn nái sau khi phối giống thấy có những biểu hiện như mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn chuyển sang thèm ăn, lông da ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề,… đó là lợn nái đã có chửa sau khi phối Ngược lại, khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có hiện tượng xung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có
chửa, cần theo dõi để phối giống lại kịp thời
- Quy luật sinh trưởng phát triển của bào thai
+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Đặc điểm của giai đoạn này là hợp
tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ
Trang 19+ Giai đoạn thai nhi (39 - đẻ): Đây là giai đoạn thai nhi phát triển nhanh nhất về thể tích và khối lượng, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận và hình
thành đầy đủ các đặc điểm của giống
- Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa
Cơ thể lợn mẹ trong thời gian có chửa thì sự tổng hợp vật chất được đẩy mạnh, còn quá trình oxy hóa thì giảm tương đối Quá trình trao đổi chất
và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cơ thể mẹ cũng như cơ thể phôi thai Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa Qua nghiên cứu cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất xấu đến
cơ thể lợn nái có chửa như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng,… Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh nên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó Ví dụ như nhiệt độ môi trường tăng cao từ 21 -28o
C sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai Độ ẩm môi trường cao cũng gây hại cho lợn nái nhất là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt
độ cao
- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa
Nuôi dưỡng lợn nái chửa chúng ta cần cung cấp dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ, một phần tích lũy cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái hậu bị
đẻ lứa đầu thì cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn lên nữa
Giai đoạn chửa kỳ 1, 2 dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14 %, năng lượng trao đổi không dưới 2900Kcal/kg thức ăn Nhưng ở giai đoạn 2, mức ăn cần phải tăng từ 15- 20 % so với giai đoạn chửa kỳ 1 Giai đoạn chửa
Trang 20kỳ 1, bào thai chưa phát triển, vì vậy nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể lợn mẹ, một phần không đáng kể để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ 2, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý đến các yếu tố sau: giống và khối lượng nái chửa, giai đoạn chửa, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ như nái chửa kỳ 2 cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ 1, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn lợn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống duới 15°C thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ
25 - 30°C để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15%, vì ngoài cung cấp dinh dưỡng cho bào thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể lợn mẹ
Lợn chửa cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột và cho ăn thêm rau xanh Trong trường hợp chăn nuôi công nghiệp không có điều kiện cho ăn rau xanh thì thức ăn cần bổ sung đầy đủ các thức ăn, khoáng và vitamin để tăng cường chuyển hóa thức ăn để chống táo bón Trước khi đẻ một tuần cần giảm thức
ăn đạm để phòng bệnh căng vú sau đẻ
Số bữa ăn/ ngày: Ngày cho ăn hai bữa sáng, chiều Cho ăn thức ăn tinh trước, ăn rau xanh sau nếu có Cung cấp đủ nước sạch cho nái chửa
Nguồn thức ăn sử dụng cho lợn nái chửa: Nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng ta sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, một ngày từ 3 - 4 kg rau xanh/ nái (cho nái chửa kỳ 1), và từ 2 - 3 kg/con/ngày (chửa kỳ 2) Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng (lợn nái nội) có thể cho ăn các thức ăn địa phương có sẵn như ngô, cám gạo, bột sắn, đậu tương, hoặc trộn phối các loại thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ quy định
Trang 21Thức ăn của lợn nái chửa có nhu cầu phối hợp nhiều loại thức ăn, mùi
vị phải thơm ngon, không bị hôi thối, hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt
Trước lúc lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì
đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao
Không cho lợn nái chửa ăn những loại thức ăn có chất độc, thức ăn bị hôi thối, mốc, các chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu, khô dầu bông, hoặc bỗng bã rượu Không nên sử dụng quá nhiều thức ăn khô dầu để nuôi lợn nái có chửa, sẽ tạo cho cơ bắp và mỡ lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ nuôi sống kém
Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 30 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy
Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc quản lý lợn nái chửa là phòng bệnh sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát triển bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc gây sảy thai nhất là trong giai đoan chửa kỳ 2 Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào chuồng quá nhỏ làm cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái chửa kỳ 1 chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với lợn nái quá béo Thực tế đã chứng minh rằng, một cơ sở chăn nuôi khó khăn về tài chính, tiêu chuẩn và khẩu phần ăn thấp, nhưng nếu chú ý chăn thả nhiều, được vận động hợp lý, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tìm kiếm được sẽ làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần trên ngày với 60 - 90 phút/ lần, lợn nái chửa kỳ 2 thì hạn chế cho vận động, trước khi lợn đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân chơi
Trang 22Chú ý, khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều rãnh thì không cho lợn vận động Trước khi vận động cho lợn uống nước đầy đủ để lợn không uống nước bẩn ở trên bãi chăn
Tắm chải cho lợn chửa là điều rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để làm tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái, kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt là mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa
Chuồng trại phải đảm bảo đúng theo quy định cho lợn nái chửa, theo từng thời kỳ chửa Mật độ nhốt: chửa kỳ 1 mỗi lô từ 3 - 5 con, chửa kỳ 2 nhốt
1 con một lô Trong chăn nuôi công nghiệp ở giai đoạn chửa kỳ 2 có thể nhốt mỗi con một cũi Trước khi đẻ 1 tuần cần chuyển lợn lên cũi đẻ
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn chửa nghỉ ngơi, dưỡng thai, không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng xấu đến lợn
Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về hình thức chửa như thời gian chửa, những biến cố sảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai,
tỷ lệ chết thai… để có biện pháp sử lý đề phòng
Bên cạnh đó thì chúng ta phải chú trọng đến công tác thú y đối với lợn nái chửa Trước khi chuyển lợn nái sang chuồng đẻ, ô chuồng cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng c-rezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác
Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng cho lợn nái
Trang 23Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không để có biện pháp can thiệp kịp thời
Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời Ngoài ra 14 ngày trước ngày dự kiến đẻ, tắm lần thứ nhất sau đó 7 ngày tắm lần thứ hai Đây là điều kiện bắt buộc để dự phòng lợn mẹ bị ghẻ rồi lây truyền sang lợn con ngay từ sau sinh
Cần tiêm vacxin E.coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước
khi đẻ, liều lượng: 2 ml/con, tiêm bắp
Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ từ 5 - 7 ngày so với ngày đẻ dự kiến
2.2.3 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt, lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa Đó là thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mì, loại củ quả, đạm động vật, các loại khoáng, vitamin…
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất,
hư hỏng
Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%,
Ca từ 0,9 - 1,0 %, P 0,7 %
Trang 24Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con
- Trong quá trình nuôi con, lợn nái được chăn như sau:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg)
hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh, nếu có rau xanh
+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30 %
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn
+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ ngày cho lợn mẹ
- Kỹ thuật cho ăn
+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau
+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần
Trang 25+ Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
- Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:
+ Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ ngày, về sau tăng số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú
ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin
+ Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24°C, ẩm độ là
70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con
Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: 4 - 5m chuồng/ 1 lợn nái và 15m sân chơi/ 1 lợn nái Còn đối với lợn công nghiệp nuôi trên chuồng sàn thì kích thước 2,4 m x 1,6 m, với mỗi cũi cho lợn mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4m x 0,7 m
2.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ
Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn bú sữa là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và nâng cao được sức sống của lợn con
Trang 26Trước tiên là khâu trực đẻ phải đảm bảo để tỷ lệ số con sơ sinh còn sống cao nhất, đây là công việc rất cần thiết, lợn con đẻ ra được lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng, mũi, đầu, mình, bốn chân Sau đó cắt rốn, sát trùng và cho vào lồng úm Tiếp theo với tiến hành bấm nanh, bấm số tai và thiến lợn đực Lưu ý cho lợn con bú sữa đầu
Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp
- Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể
mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết
- Thời kỳ 3 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,
do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai
Trang 27đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau: + Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
+ Bổ sung sắt cho lợn con
+ Tập cho lợn con ăn sớm
Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng gama globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++
trong sữa đầu
có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg thì lợn con sẽ
bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao
Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu Theo quy luật tiết sữa của lợn nái, thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn những vú phần bụng, mà lợn con trong một ô thường có con
to con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những vú phần trước ngực có nhiều sữa hơn, dẫn đến tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, trường hợp những con lợn yếu không tranh
Trang 28bú được sẽ bị đói làm cho tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên
ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú ở những vú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi kiên trì, tỉ mỉ, bắt từng con cho bú và để chúng quen hẳn với
vị trí bú thì mới thôi Cũng có những trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn bú ở những vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen với 2 vú,
để tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh teo vú của lợn mẹ
Bổ sung sắt cho lợn con:
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 - 20 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm
200 mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi Trại lợn của ông Đặng Đình Dũng tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung sắt một lần
Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng Hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong
Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường tiêm ở cổ Không nên tiêm ở mông do có thể làm hại đến dây thần kinh và
cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân thịt mổ bán
Trang 29Tập cho lợn con ăn sớm:
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
- Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
- Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)
- Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung
Thường bắt đầu tập ăn từ 7 - 10 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm
Trang 30ngon, vệ sinh sạch sẽ Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn con Với chuồng lợn nái nuôi con nền truyền thống thì máng tập ăn để vào ô sưởi ấm lợn con Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn cho lợn con ăn
Nếu tập đều đặn thì 20 ngày tuổi thì lợn con đã biết ăn tốt Nếu không được tập ăn thì đến 30 ngày tuổi lợn con mới ăn thêm được nhiều, nhưng còn tùy thuộc vào lượng sữa của mẹ, nếu sữa lợn mẹ ít thì lợn con tự biết ăn sớm hơn và ngược lại
Nếu cho rằng lợn mẹ là một đơn vị sản xuất lợn thì việc chăm sóc lợn con từ lúc đẻ đến lúc cai sữa được cải thiện, sẽ làm tăng số lợn con cai sữa/ lợn mẹ/ năm Bình quân người chăn nuôi thiệt hại hơn 25% lợn con còn sống lúc sơ sinh đến trước lúc cai sữa Hơn 42% số lợn con sống bị hao hụt trước cai sữa đã chết vì đói hoặc dẫm đạp Việc quản lý tốt sẽ làm giảm số lợn chết
và có thể tăng thêm 2 lợn con cai sữa/ lợn mẹ/ năm
2.2.5 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Sau khi lợn nái sinh sản xong thì bên cạnh việc chăm sóc cho lợn mẹ để đảm bảo sức khỏe tốt thì việc chăm sóc quản lý lợn con là hết sức quan trọng, đây là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Lợn con theo mẹ sức
đề kháng bệnh tật chưa cao, dễ cảm nhiễm bệnh, trong đó hội chứng tiêu chảy lợn con xảy ra rất phổ biến Chính vì thế mà công tác phòng và trị hội chứng tiêu chảy lợn con rất được chú trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
2.2.5.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa
Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh
Lợn con hay gia súc nói chung đều có thời kỳ bào thai phát triển tốt thì
sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Nhìn chung khả năng phát triển của lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác Khối lượng khi cai sữa của lợn
2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé
Trang 31chỉ tăng 3 - 4 lần So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Tuy nhiên tốc độ sinh trưởng không đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu về sau thì giảm, sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do từ sau 21 ngày khối lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn rất mạnh Ví dụ: lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích lũy 9 - 10 g protein/ kg thể trọng, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy 0,3 - 0,4 g protein/kg thể trọng
Cơ quan tiêu hóa của lợn giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo
và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa, biểu hiện như sau: Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lợn lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 20 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
Một vấn đề cần được chú ý ở giai đoạn lợn con là trong 25 ngày đầu mới đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, do dịch vị chưa có HCl tự do nên hệ vi sinh vật trong dạ dày dễ lên men gây tiêu chảy cho lợn con
Khi tìm hiểu về hệ thống men tiêu hóa trong đường tiêu hóa của lợn con mới sinh ta thấy:
Trang 32+ Men pepsin: Đây là men quan trọng để tiêu hóa thức ăn, nhưng nếu không cho lợn con tập ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu mới đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày còn chưa có HCl tự do sẽ không kích hoạt được pepsinogen thành men pepsin hoạt động Do thiếu HCl nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh
+ Men amilaza và mantaza: Có trong nước bọt và dịch tụy của lợn con
từ lúc mới đẻ, nhưng hoạt động kém trước 3 tuần tuổi, chỉ tiêu hóa học được 50% lượng tinh bột ăn vào, sau 3 tuần tuổi hoạt đông của men này mới mạnh lên thì khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con mới tốt hơn
+ Men saccaraza: hoạt lực của men này kém dưới 2 tuần tuổi, nếu cho lợn con ăn saccaraza rất dễ bị tiêu chảy
+ Men tripsin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn, ở thai lợn trong hai tháng tuổi đã có men tripsin, thai càng lớn hoạt tính của men này càng cao Khi mới đẻ ra, men tripsin của dịch tụy rất cao, để bù đắp lại khả năng tiêu hóa kém protein của men pepsin trong dạ dày
+ Men catepsin: Là men tiêu hóa protein trong sữa, lợn con ở 3 tuần tuổi đầu men này có hoạt tính mạnh, sau đó giảm dần
+ Men lactaza: Có tác dụng tiêu hóa đường Lactose trong sữa, men này
có hoạt tính mạnh từ khi lợn mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ hai, sau đó giảm dần
+ Men lipaza và chymosin: Hai men này có hoạt lực mạnh trong 3 tuần đầu sau đó giảm dần
2.2.5.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch ở lợn con
Lợn con mới đẻ, lượng kháng thể tăng nhanh sau khi bú sữa đầu từ lợn
mẹ, cho nên khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động,
Trang 33phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lượng sữa đầu của lợn mẹ
Phản ứng miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng với vật lạ khi xâm nhập vào cơ thể.Trong giai đoạn lợn con các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể rất dễ dàng, ở giai đoạn này không được bú sữa đầu thì khả năng lợn con mắc hội chứng tiêu chảy rất cao
Lợn con không được bú sữa đầu thì 20 - 30 ngày tuổi mới tự tổng hợp được kháng thể Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là hết sức cần thiết và không thể bỏ qua
2.2.5.3 Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Khả năng điều tiết thân nhiệt ở lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt của lợn con chưa ổn định
Trung khu điều tiết thân nhiệt của lợn con nằm ở vỏ não, mà não là cơ quan phát triển muộn nhất cả trong thai và ngoài thai
Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên khi bị lạnh lợn con mất nhiệt nhanh
Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể còn thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt kém
Từ những lý do nêu trên ta thấy khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi là rất kém, nhất là tuần đầu mới đẻ Vì vậy phải tạo điều kiện thuận lợi nhất về nguồn nhiệt để lợn con sơ sinh sinh trưởng và phát triển tốt nhất, tránh sự xâm nhập mầm bệnh vào cơ thể
2.2.6 Đặc điểm hội chứng tiêu chảy lợn con
Hội chứng tiêu chảy lợn con là một bệnh xảy ra rất phổ biến ở lợn con, không gây chết hàng loạt như một số dịch bệnh khác nhưng lại gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế Bệnh có một số đặc điểm nổi bật là viêm ruột và dạ dày, có hiện tượng tiêu chảy rất dễ gây chết
Trang 34Bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợn con theo mẹ nhất là giai đoạn
từ 1 - 7 ngày tuổi Do đặc điểm phức tạp của bệnh nên tỷ lệ chết cao, vì thế cần có biện pháp can thiệp kịp thời
2.2.6.1 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy lợn con
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [16] hội chứng tiêu chảy lợn con do
nhiều nguyên nhân gây ra, chủ yếu là ở lợn con với tác nhân chủ yếu là E.coli,
Salmonella, Proteus, Steptococus và nhiều yếu tố khác về chăm sóc, điều kiện
khí hậu
Hagan và Bruner (1990) [34] cho rằng nguyên nhân gây hội chứng
tiêu chảy lợn con là do vi khuẩn E.coli Vi khuẩn này tác động gây bệnh cho
lợn con ở 2 giai đoạn chính: Giai đoạn sơ sinh đến 4 ngày tuổi và giai đoạn ngắn sau khi cai sữa, do serotip là O8, O9, O20, O101, O138, O139, O147, O157,
sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, vi khuẩn E.coli phát triển ở tế bào niêm
mạc ruột non, sự xâm nhập này chủ yếu là do yếu tố kháng nguyên K quyết định như K88 (một loại protein lông) Vi khuẩn E.coli tiết ra một số loại độc
tố đường ruột như LT và sta, làm cho lợn con bị nhiễm độc, độc tố sta được sản sinh ở hầu hết các serotype, còn độc LT tố được tiết ra ở một số
serotype Kết quả của một số tác giả cho biết tỷ lệ nhiễm tiêu chảy lợn con ở các lứa đẻ lên tới 90%
Ngoài ra còn một số nguyên nhân gây ra bệnh như:
- Chuồng trại ẩm ướt, lợn con đẻ ra nhiễm lạnh hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột
- Lợn chậm được bú sữa đầu, thiếu sắt, thiếu máu, thiếu vitamin A
- Thay đổi thức ăn của lợn mẹ, lợn mẹ bị stress