Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt lợn, bên cạnh chăn nuôi các giống lợn nội, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại về để lại tạo với giống lợn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ MINH CHỮ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH MINH MỸ ĐỨC- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ MINH CHỮ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH MINH MỸ ĐỨC- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, và trại lợn nái Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội
Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
Th.S Nguyễn Hữu Hòa đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện
thành công khóa luận này
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo trại lợn Công Ty
Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trại về sự hợp tác giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Hà Minh Chữ
Trang 4ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện
phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại Học nói chung và trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng đi lên
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại Công Ty
Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 28
Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh của trại lợn 29
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
Bảng 4.4 Kết quả theo dõi Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái hậu bị 36
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu sinh sản của nái kiểm định 38
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu khối lƣợng lợn con của nái kiểm định 40
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu sinh sản của nái cơ bản 42
Bảng 4.8 Chỉ tiêu sản xuất của nái cơ bản 45
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Đặc điểm một số giống lợn nái ngoại 4
2.1.2 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái 6
2.1.3 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái ngoại 11
2.1.3.1 Các chỉ tiêu về số lượng 11
2.1.3.2 Các chỉ tiêu về chất lượng đàn con 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
Trang 8vi
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 18
3.4.1 Phương pháp theo dõi gián tiếp 18
3.4.2 Phương pháp theo dõi trực tiếp 18
3.4.3 Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản 19
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.4.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái ngoại CP42 và CP909 21
3.4.4.2 Khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP42 và CP909 21
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 24
4.1.1 Công tác chăn nuôi 24
4.1.2 Công tác thú y 27
4.1.3.Công tác khác 34
4.1.4 Kết luận và đề nghị 35
4.2 Kết quả theo dõi của chuyên đề nghiên cứu khoa học 36
4.2.1 Kết quả theo dõi Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái ngoại CP42 và CP909 tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội 36
4.2.2 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái ngoại CP42 và CP909 tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội 37
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Tồn tại 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến (Trần Văn Phùng và
cs, 2004) [11]
Việt Nam là một trong những nước nuôi nhiều lợn Theo số liệu thống
kê, Việt Nam có số đầu lợn đứng hàng thứ 7 trên thế giới, sau các nước: Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đức, Ba Lan và Tây Ban Nha, đứng hàng đầu các nước Đông Nam Á và đứng thứ hai ở châu Á Trong những năm gần đây, nhờ
áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn của nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Phương thức chăn nuôi lợn đã chuyển dịch theo hướng tích cực từ chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình là chủ yếu, nay chuyển dần sang chăn nuôi lợn theo quy mô gia trại và trang trại Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt lợn, bên cạnh chăn nuôi các giống lợn nội, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại về để lại tạo với giống lợn nội và nuôi thuần Do vậy, rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm lợn nái đến vài nghìn lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nước Để chăn nuôi lợn ngoại đạt hiệu quả cao, bên cạnh các yếu tố về thức ăn, chuồng
Trang 102
trại, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được đảm bảo là phải có con giống tốt Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái
Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu đời sống người dân ngày càng cao Đặc biệt là nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lượng cao, an toàn cho sức khỏe hợp với giá cả thị trường phải chăng Trên thực tế thịt lợn là mặt
này chứng tỏ tính ưu việt cho ngành chăn nuôi lợn trong phát triển kinh
tế và ổn định thị trường Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư phát triển đàn lợn để tăng
cả chất lượng và số lượng nhăm cung cấp cho thị trường khối lượng sản phẩm lớn chất lượng cao
Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản cho đàn lợn nái ngoại, đồng thời bổ sung các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của
giống lợn nái ngoại, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-
Hà Nội”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Công
Trang 113
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức trong chăn nuôi lợn nái sinh sản tại các cơ sở sản sản xuất, từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân
- Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp trang trại và người chăn nuôi có biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
Trang 124
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm một số giống lợn nái ngoại
+ Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 – 12 con/lứa, khối lượng
sơ sinh trung bình 1,2 kg/con
* Giống lợn Landrace
- Nguồn gốc: Giống lợn này được tạo ra ở Đan Mạch (1895)
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landrace có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa), màu lông trắng tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn Landrace có từ 12 - 14
vú, là giống lợn hướng nạc
Trang 135
- Khả năng sản xuất:
+ Lợn có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tăng khối lượng bình quân 750 g/con/ngày, tỷ lệ nạc 59 % Khối lượng lợn trưởng thành có thể lên tới 320 kg ở con đực và 250 ở con cái
+ Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và được dùng để lai kinh tế với lợn nội Các công thức lai ở nước ta chủ yếu hiện nay là:
Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng Cái (hoặc lợn địa phương) để lấy con cai F1 nuôi thịt
Lợn đực Landrace x Lợn F1 (công thức trên) lấy con lai F2 có 3/4 máu ngoại nuôi thịt cho khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ lệ nạc 48 %
* Lợn lai CP 42 (♂ Landrace 01 x ♀ Yorkshire 21)
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn CP 42 là con lai giữa giống lợn Landrace
01 và giống lợn Yorkshire 21, có dạng hình nêm, màu lông trắng tuyền, mình dài, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn CP 42 có từ 12 -
* Lợn lai CP 909 (♂ Landrace 11 x ♀ Yorkshire 22)
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn CP 909 là con lai giữa giống lợn Landrace
11 và giống lợn Yorkshire 22, có dạng hình nêm, màu lông trắng tuyền, mình
Trang 14+ Lợn CP 909 có khả năng sinh sản cao, trung bình 11 – 113 con/lứa, khối lượng sơ
sinh trung bình 1,45 kg /con
2.1.2 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái
Khi đó, con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)
Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…
Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 –
55 kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 – 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi
Trang 157
Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg
Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấulên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và
cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức
+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực
* Sự thành thục về thể vóc
- Thành thục về thể vóc: Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới mức độ trưởng thành về thể vóc Có nghĩa
là cơ thể tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn
Trang 168
định… Nói một cách khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục đến độ trưởng thành Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên sử dụng gia súc vào mục đích sinh sản quá sớm vì:
- Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm khi cơ thể chưa trưởng thành
về thể vóc sẽ ảnh hưởng xấu như: Trong thời gian chửa có sự phân tán dinh dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai, do vậy, nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển cho bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả: mẹ yếu, con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống Hơn nữa, do xoang chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật đẻ khó (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [12]
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng
* Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ)
Là khoảng thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn hậu bị có biểu hiện động dục đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau tùy theo giống và chế độ chăm sóc TĐDLĐ được tính theo công thức:
TĐDLĐ = ngày động dục lần đầu - ngày sinh của lợn nái
Theo Phùng Thị Vân và cs (2001) [16] cho biết, chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 219,4 ± 4,09 ngày
* Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ)
Tuổi phối giống lần đầu của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm Phải phối giống cho lợn cái hậu bị đúng thời điểm lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu, sẽ nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất của đời sau Nếu phối giống quá sớm
sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến
sinh sản, phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó
Trang 179
* Chu kỳ động dục (ngày)
Động dục là một quá trình sinh lý, được bắt đầu khi cơ thể đã thành thục về tính, cứ sau một thời gian nhất định trong cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có một số sự thay đổi như: âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, trứng phát triển thành thục chín và rụng, niêm dịch trong đường sinh dục được phân tiết, con cái có phản
xạ về tính…sự thay đổi đó xảy ra trong một thời gian lặp đi lặp lại có tính chu
kỳ gọi là chu kỳ tính (chu kỳ động dục)
Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật Khả năng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôi sống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lần thụ tinh đạt kết quả Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơ thể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản, thời kỳ này gọi là thành thục
về tính Trong điều kiện bình thường, sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7 tháng tuổi đối với lợn ngoại Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc
Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu
kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 – 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 – 72 giờ, thời điểm rụng trứng
là 35 – 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ
Cơ chế động dục: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [11], cơ chế động dục của lợn nái: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các
Trang 1810
kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục,thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [12]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước chịu đực: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết
+ Giai đoạn chịu đực: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực
Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng
+ Giai đoạn sau chịu đực: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên, và dần trở lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi,
Trang 1911
yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
*Thời gian mang thai (ngày)
Là thời gian lợn nái từ khi thụ tinh (phối giống đạt) đến khi đẻ
* Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ)
Là tuổi lợn nái sinh con lứa đầu tiên TĐLĐ được xác định là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn nái đến ngày lợn nái sinh con lứa đầu tiên
TĐLĐ = ngày lợn nái đẻ lứa đầu - ngày sinh của lợn nái
2.1.3 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái ngoại
2.1.3.1 Các chỉ tiêu về số lượng
* Số con sơ sinh / lứa (con)
Là số con được sinh ra của ổ kể cả con sống và con chết, được tính khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng
* Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ / lứa (con)
Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống (quá bé), không phát dục hoàn toàn, dị dạng… thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, do lợn con mới sinh, chưa nhanh nhẹn, dễ bị lợn mẹ đè chết
* Số lợn con đẻ ra để lại nuôi / lứa (con)
Là số con sau khi sinh ra được chọn để nuôi Lợn nái thường có 12 - 16
vú, phổ biến là 14 vú Nếu số con sinh ra nhiều thì người ta thường để lại nhiều nhất là số con bằng số vú, nhưng tốt nhất là số con để lại nuôi nhỏ hơn
số vú Vì khả năng tiết sữa của lợn mẹ và số con để lại nuôi có mối tương quan chặt chẽ với nhau, khi số con để lại nuôi càng ít thì khả năng tiết sữa của
Trang 2012
lợn mẹ càng lớn và ngược lại Tuy nhiên cũng không để nuôi quá ít vì hiệu
quả kinh tế thấp và không đánh giá hết tiềm năng sinh sản thực của nái
* Số lợn con cai sữa / lứa (con)
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi Nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa, khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con
* Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%): Là tỷ lệ giữa số con còn sống khi cai sữa với số con giữ lại để nuôi
* Số lợn con cai sữa /nái/năm
Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nước ta Nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng con cai sữa/nái/năm Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn cai sữa/nái/năm sẽ cao
* Khoảng cách lứa đẻ (ngày) (KCLĐ)
Là khoảng thời gian từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo KCLĐ được xác định bằng tổng thời gian chờ phối, thời gian mang thai và thời gian nuôi con Hay chính là thời gian từ ngày phối lứa này đến ngày phối lứa tiếp theo
KCLĐ = thời gian chờ phối + thời gian mang thai+ thời gian nuôi con
* Số lứa đẻ/nái / năm (lứa)
Số lứa/nái/năm = 365/khoảng cách lứa đẻ
2.1.3.2 Các chỉ tiêu về chất lượng đàn con
* Khối lượng sơ sinh / con (kg)
Là khối lượng từng con được cân sau khi sinh ra
* Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg)
Khối lượng sơ sinh toàn ổ được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn,
lau khô và cho bú sữa đầu
Trang 2113
Trọng lượng toàn ổ sơ sinh là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi
Trọng lượng sơ sinh càng cao càng tốt, vì lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau
* Khối lượng cai sữa / con (kg) (KLCS)
Là khối lượng của lợn con sau khi cai sữa KLCS được xác định là trung bình khối lượng lợn con cai sữa của ổ
KLCS = khối lượng lợn con toàn ổ khi cai sữa/số lợn con
* Khối lượng cai sữa toàn ổ (kg)
Ngoài chỉ tiêu số con cai sữa trên lứa, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá đầy đủ năng suất chăn nuôi lợn nái
Khối lượng lợn con cai sữa phụ thuộc rất lớn vào khối lượng sơ sinh và
là cơ sở cho việc nâng cao khối lượng xuất chuồng sau này
* Khả năng tiết sữa (kg)
Khả năng tiết sữa là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá sức sản suất của lợn nái, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống cũng như khối lượng cai sữa của lợn con sau này
Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là năng suất sữa tăng dần từ lúc mới đẻ và đạt sản lượng cao nhất vào lúc 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần Căn cứ vào đặc điểm này, trong thực tế sản xuất người ta lấy khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp Theo Trương Lăng (2003) [10] thì vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 – 39 kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 – 45 kg sữa,
Trang 22Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [8], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không
đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng
là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001)[8]
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở
Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn cho lợn mẹ cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy
đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ
Trang 2315
*Độ đồng đều
Là chỉ tiêu đánh giá sự chênh lệch về khối lượng giữa các cá thể trong đàn
Độ đồng đều là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của lợn nái về khả năng sinh sản Bởi vì khi so sánh giữa hai đàn lợn con có thể khối lượng sơ sinh giữa hai đàn lợn con hơn kém nhau không nhiều, nhưng độ đồng đều của lợn con giữa các đàn có thể chênh lệch nhau lớn
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong vài thập niên trở lại đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng thành công các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào lĩnh vực chăn nuôi lợn và đã đưa năng suất sinh sản của đàn lợn nái lên rất cao Giống lợn L và
Y, (LY), (YL) được nuôi phổ biến trên thế giới Đó là nguyên liệu để sản xuất con lai và là nguồn cung cấp giống lợn thương phẩm cho tiêu dùng
Theo Jan Gordon (1997) [20], lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ 50 năm trước, việc sử dụng lai 2, 3 hay 4 giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm
đã trở nên phổ biến
So sánh các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski và cs (1997) [21] cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng tốt Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [19] cho biết lai hai, ba, giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: Số con đẻ ra trên lứa, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng 60 ngày/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần, tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa
Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và năng suất thịt thương phẩm (Dzhunelbaev và cs, 1998) [17]
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai có mức tăng trọng tốt
và tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn thuần Gerasimov và cs (1997) [20] cho công thức lai giống (D x Large Black), công thức lai ba giống (D x (Poltava Meat x
Trang 24+ Số lứa đẻ/nái/năm là 2,23 lứa
+ Tổng số con sơ sinh/lứa là 9,36 con
+ Số con sơ sinh sống/nái/năm là 20,06 con
Theo Kalash Nicova (2000) đã nghiên cứu về năng suất sinh sản của công thức lai và lợn Y Số ra đẻ ra/ổ của các công thức lai (LY) x Duroc, (LY) x L, (LY) x Y tương ứng là 10,2; 9,8 và 10,3 con Khối lượng trung bình/con của các công thức lai (LY) x Duroc, (LY) x L, (LY) x Y tương ứng
là 1,64; 1,36 và 1,13 kg Số ra đẻ ra/ổ lợn Y là 9,8 con, khối lượng trung bình/con lợn Y là 1,48 con
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Từ năm 1994 nước ta có chủ trương “nạc hoá đàn lợn” ở các tỉnh phía Bắc, từ đó bắt đầu phát triển chăn nuôi lợn ngoại rộng khắp cả nước Hai giống lợn L và Y có khả năng sinh sản tốt, vì vậy được nghiên cứu chọn lọc theo định hướng năng suất sinh sản cao tạo ra con lai (LY) và (YL) Hiện nay việc lai tạo giống đã sử dụng nhiều ở các trang trại chăn nuôi lợn
Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1995) [4] cho biết năng suất sinh sản của lợn nái L và Y nuôi tại Trung tâm Giống gia súc Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của hai giống này là 99,3 và 100,2 kg, tuổi phối giống lứa đầu của hai giống này là 254,1 và 282,0 ngày, tuổi đẻ lứa đầu 367,0 và 396,3 ngày SCĐR còn sống là 8,2 và 8,3 con/ổ; KLSS/ổ là 9,12 và 10,89 kg; khối lượng lúc 21 ngày tuổi/ổ là 40,7 và 42,1 kg
Trang 2517
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản thể hiện ở thông báo của Đặng Vũ Bình (1995) [1] Ở lợn Y tuổi đẻ lứa đầu 418 ngày tuổi; SCĐR còn sống 9,77 con/ổ; số con lúc 21 ngày tuổi là 8,61 con/ổ Số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 con Ở lợn L các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con/ổ, 8,68 con/ổ; 8,22 con/ổ và 6,2 kg
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [13] tại Xí nghiệp Giống vật nuôi Mỹ Văn - Hưng Yên thuộc Công ty giống lợn miền Bắc cho biết một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái lai (LY) tuổi động dục lần đầu là 226,68 ngày, khối lượng động dục lần đầu là 109,31
kg, tuổi phối giống lần đầu 247,79 ngày, khối lượng phối giống lần đầu 123,76 kg, tuổi đẻ lứa đầu 362,10 ngày, khoảng cách lứa đẻ 171,07 ngày
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [13] thì năng suất sinh sản của lợn nái lai (LY) phối giống với lợn đực Pi và Du
có SCĐR/ổ lần lượt là 10,6 và 10,34 con, SCĐR còn sống/ổ tương ứng là 10,34 và 10,02 con, số con để nuôi/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con, số con
21 ngày tuổi/ổ 9,70 và 9,23 con, KLSS/ổ 15,46 và 14,91 kg, Khối lượng cai sữa/ổ 69,94 và 67,65 kg
Tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện chăn nuôi Quốc gia, Phùng Thị Vân và cs (2001) [16] nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng và khả năng sinh sản của lợn nái lai (YL) và (LY) cho biết tuổi PGLĐ 259,00 và 243,80 ngày; tuổi đẻ lứa đầu 376,20 và 363,00 ngày; Số con đẻ ra/ổ lần lượt
là 9,44 và 10,42 con; Khối lượng lúc 21 ngày tuổi tuổi/ổ 50,70 và 49,85 kg
Trang 2618
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn nái ngoại CP42 và CP909
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP42 và CP909
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trại lợn nái Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 18/11/ 2015 đến ngày 18/05/2016 3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái ngoại CP42 và CP909
- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP42 và CP909
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp theo dõi gián tiếp
Thu thập số liệu về chỉ tiêu sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP 42 và CP909 từ sổ sách và máy vi tính của trại lợn nái Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức-Hà Nội
3.4.2 Phương pháp theo dõi trực tiếp
- Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và theo dõi đàn lợn nái ngoại CP42 và CP909 hàng ngày trong thời gian thực tập tại trại Ghi chép các
số liệu về đặc điểm sinh lý sinh sản, khả năng sinh sản của lợn nái vào
sổ nhật ký thực tập và nhật ký thí nghiệm
Trang 2719
- Xác định khối lượng của lợn con bằng phương pháp cân trực tiếp từng con bằng cân đồng hồ với độ chính xác ± 5 g ở các giai đoạn sơ sinh, và 21 ngày tuổi
- Xác định khối lượng động dục lần đầu và khối lượng phối giống lần đầu bằng cách cân trực tiếp từng con trước khi cho ăn vào buổi sáng bằng cân điện tử
3.4.3 Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản
Trong quá trình thực tập tại trại, tôi đã tham gia chăm sóc nái chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho đàn lợn con theo mẹ đến cai sữa Tôi trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm Quy trình chăm sóc nái chửa, nái
đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:
+ Đối với nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng bầu Hàng ngày vào kiểm tra lợn, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy cám cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chuyển phân ra kho phân Lợn nái chửa được ăn loại cám 566, 567 với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
Đối với nái chửa, từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn cám 566, khẩu phần 1,8 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày Nái hậu bị cho ăn 1,8 kg/ngày
Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566 với tiêu chuẩn 2,5-3kg/con /ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn cám 567, khẩu phần 3 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày
+ Đối với nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 12 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được tắm sạch sẽ, ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu
Trang 28Khi lợn nái đẻ đƣợc 2 ngày tăng dần lƣợng thức ăn từ 0,5-5 kg/con/ngày chia làm 4 bữa sáng, trƣa, chiều, tối Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi
nhiều con có thể cho ăn tăng lƣợng thức ăn lên 6 kg/con/ngày
+ Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa nhƣ sau:
Sau khi đẻ (nếu sáng đẻ thì chiều tiến hành, nếu tối đẻ thì tiến hành vào sáng hôm sau ) tiến hành bấm nanh hoặc mài nanh, cắt rốn
Lợn con 2 - 3 ngày tuổi bấm số tai, cắt đuôi và tiêm sắt cho lợn, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con
Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng
Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
Lợn con đƣợc từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng cám hỗn hợp hoàn chỉnh 550
Lợn con đƣợc 13 - 14 ngày tuổi tiêm phòng suyễn
Lợn con đƣợc 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả
Lợn con đƣợc 18 - 22 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn
Lợn con ở đây đƣợc cai sữa sớm (18 - 22 ngày tuổi) và đƣợc cho tập ăn
từ rất sớm (4 - 6 ngày tuổi) nhằm nâng cao khối lƣợng lợn con cai sữa, giảm hao mòn lợn mẹ, tăng sức đề kháng cho lợn con Cách tập cho lợn con ăn sớm nhƣ sau: đầu tiên cho một ít thức ăn vào trong máng ăn đặt vào ô chuồng để
Trang 2921
lợn con làm quen dần với thức ăn Sau khi lợn con đã quen và ăn đƣợc, từ từ tăng lƣợng thức ăn lên
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.4.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái ngoại CP42 và CP909
- Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ): là khoảng thời gian từ khi sinh đến ngày lợn cái bắt đầu động dục lần đầu tiên
- Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ): là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn cái đến khi lợn cái đƣợc phối giồng lần đầu tiên
- Khối lƣợng phối giống lần đầu: Là khối lƣợng lợn lúc phối giống lần đầu tiên
- Chu kỳ động dục: đƣợc tính là khoảng thời gian lợn có biểu hiện động dục này tới lần có biểu hiện động dục tiếp theo
- Thời gian mang thai (TGMT) Là thời gian lợn nái từ khi thụ tinh
(phối giống đạt) đến khi đẻ
- Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ): Là tuổi lợn nái sinh con lứa đầu tiên TĐLĐ đƣợc xác định là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn nái đến ngày lợn nái sinh
con lứa đầu tiên
3.4.4.2 Khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP42 và CP909
- Số con sơ sinh/lứa: Là số con đƣợc sinh ra của ổ kể cả con sống và con chết, đƣợc tính khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng
- Số con còn sống đến 24 giờ/lứa: Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng
Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dƣỡng chăm sóc nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con không đạt khối lƣợng sơ sinh trung bình của giống (quá bé), không phát dục hoàn toàn, dị dạng… thì sẽ bị loại thải Ngoài
ra, do lợn con mới sinh, chƣa nhanh nhẹn, dễ bị lợn mẹ đè chết
Trang 3022
- Số lợn con đẻ ra để lại nuôi/lứa: Là số con sau khi sinh ra được chọn
để nuôi Lợn nái thường có 12 - 16 vú, phổ biến là 14 vú Nếu số con sinh ra
nhiều thì người ta thường để lại nhiều nhất là số con bằng số vú, nhưng tốt nhất là số con để lại nuôi nhỏ hơn số vú Vì khả năng tiết sữa của lợn mẹ và
số con để lại nuôi có mối tương quan chặt chẽ với nhau, khi số con để lại nuôi càng ít thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ càng lớn và ngược lại Tuy nhiên cũng không để nuôi quá ít vì hiệu quả kinh tế thấp và không đánh giá hết tiềm năng sinh sản thực của nái
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%):
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = Số con sống đến cai sữa x 100
Số con để lại nuôi
- Khối lượng sơ sinh/con: Là khối lượng từng con được cân sau khi sinh ra
- Khối lượng sơ sinh toàn ổ: Khối lượng sơ sinh toàn ổ được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và cho bú sữa đầu
- Khối lượng cai sữa/con: Là khối lượng của lợn con sau khi cai sữa KLCS được xác định là trung bình khối lượng lợn con cai sữa của ổ
KLCS = khối lượng lợn con toàn ổ khi cai sữa/số lợn con