1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt

452 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 452
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án tiến sĩ Ngữ văn gồm 452 trang, trong đó có 252 trang so sánh song ngữ Việt Anh, rất đầy đủ và khoa học. Luận án nghiên cứu sự hình thành ý nghĩa thể của sự tình chuyển động tiếng Anh và các yếu tố tham gia vào quá trình này bao gồm tác động của các thuộc tính ngữ nghĩa của vị từ chuyển động đến góc nhìn của người miêu tả sự tình liên quan. Luận án lựa chọn hướng tiếp cận tri nhận (L.Talmy) với lớp vị từ chuyển động để khảo sát các yếu tố tạo ý nghĩa thể của lớp vị từ này đó là hình thái của vị từ. Phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa của lớp vị từ chuyển động tiếng Anh và xác định thành tố nào của chuyển động được mã hoá trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ. Phân tích các giới ngữ có thể xuất hiện sau các vị từ chuyển động, xác định vai trò của chúng trong cấu trúc ngữ nghĩa của sự tình chuyển động.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ THU PHƯƠNG

Ý NGHĨA THỂ CỦA VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ THU PHƯƠNG

Ý NGHĨA THỂ CỦA VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 62220110

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa hoc:

1 TS Nguyễn Hoàng Trung

2 TS Huỳnh Văn Thông Phản biện độc lập:

1 PGS.TS Lê Khắc Cường

2 PGS.TS Trịnh Sâm Phản biện:

1 PGS.TS Lê Khắc Cường

2 PGS.TS Dư Ngọc Ngân

3 TS Nguyễn Hoàng Tuấn

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các kết quả của luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP.HCM, ngày 22 tháng 11 năm 2016

Người thực hiện

Phạm Thị Thu Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, chúng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với Thầy hướng dẫn: TS Nguyễn Hoàng Trung và TS Huỳnh Văn Thông, người đã trực tiếp hướng dẫn và luôn chỉ bảo cho chúng tôi từ những buổi đầu khó khăn và đã động viên chúng tôi về mọi mặt để chúng tôi có thể hoàn thành được luận án này

Chúng tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các Thầy

Cô tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP.HCM, người

đã truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý báu để chúng tôi có thể phát triển được đề tài của luận án

Chúng tôi cũng xin được cảm ơn Ban lãnh đạo trường, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Phòng Sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Ban Giám đốc Học viện Lục quân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các anh chị em đồng nghiệp, bạn bè và những người thân trong gia đình đã luôn động viên và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

TP.HCM, ngày 22 tháng 11 năm 2016

Người thực hiện

Phạm Thị Thu Phương

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Phân loại sự tình theo mô hình Dowty 21

Hình 1.2 Loại sự tình theo cách phân loại của Mourelatos (1978) 26

Hình 1.3 Loại sự tình theo cách phân loại của Bach (1986) 27

Hình 1.4 Cấu trúc của sự tình hoàn thành và sự tình không hoàn thành 47

Hình 1.5 Giác độ thể theo Comrie 49

Hình 1.6 Tham tố con đường của chuyển động 55

Hình 2.1 Cấu trúc sự tình hữu kết và vô kết 76

Hình 2.2 Cấu trúc tri nhận của Accomplishments–sự tình đoạn tính hữu đích 78

Hình 2.3 Cấu trúc tri nhận của Activities–sự tình hoạt động 80

Hình 2.4 Cấu trúc của sự tình Achievements–điểm tính hữu đích 81

Hình 2.5 Cấu trúc tri nhận của Achievements–sự tình điểm tính hữu đích 82

Hình 2.6 Cấu trúc tri nhận của Semelfactives–sự tình điểm tính vô đích 83

Hình 2.7 Quan hệ không gian do giới ngữ to + NP biểu thị 85

Hình 2.8 Quan hệ phóng chiếu không gian- Thời gian 85

Hình 2.9 Quan hệ không gian do giới ngữ into + NP biểu thị 86

Hình 2.10 Quan hệ không gian do giới từ across biểu thị 88

Hình 2.11 Chuyển động bao gộp hướng và đích 89

Hình 2.12 Chuyển động bao gộp nguồn và hướng 89

Hình 2.13 Chuyển động bao gộp nguồn và đích 90

Hình 2.14 Sự khác biệt giữa hai loại chuyển động 91

Hình 2.15 Cấu trúc ngữ nghĩa của giới ngữ along + NP 93

Hình 2.16 Sự tình chuyển động với giới ngữ over 94

Hình 3.1 Sự tình ở giác độ hoàn thành 98

Hình 3.2 Sự khác biệt giữa across the room và across to the lamp 102

Hình 3.3 Cấu trúc của sự tình điểm tính vô đích 105

Hình 3.4 Sự tình giác độ không hoàn thành còn gọi là hình thái tiếp diễn 107

Hình 3.5 Giác độ không hoàn thành của sự tình (11b) 108

Trang 6

Hình 3.6 John was reaching the top of the mountain 112

Hình 3.7 The Queen Elizabeth II is arriving 112

Hình 3.8 The climbers were reaching the top of Mt Whitney 113

Hình 3.9 Giác độ tiếp diễn và sự tình điểm tính vô đích 114

Hình 4.1 Ý nghĩa của sự tình ở giác độ hoàn thành và giác độ tiếp diễn 149

Hình 4.2 Cấu trúc ngữ nghĩa sự tình tĩnh 150

Hình 4.3 Ý nghĩa của thì hiện tại thể đơn 151

Hình 4.4 Tiêu điểm của sự tình điểm tính hữu đích miêu tả dưới giác độ tiếp diễn 153

Hình 4.5 Tiêu điểm của sự tình điểm tính vô đích miêu tả dưới giác độ tiếp diễn 153

Hình 4.6 Tiêu điểm của sự tình chuyển động tái diễn miêu tả dưới giác độ tiếp diễn 154

Hình 4.7 Giác độ tiếp diễn miêu tả một phân khúc trước sự tình hay tiền sự tình 156

Hình 4.8 Cấu trúc sự tình chuyển động đoạn tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành 160

Hình 4.9 Sự tình điểm tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành 160

Hình 4.10: Cấu trúc của sự tình điểm tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành 161

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 8

BẢNG THUẬT NGỮ ĐỐI CHIẾU ANH- VIỆT DÙNG TRONG LUẬN ÁN

5 aspectual opposition đối lập giá trị thể

7 atelic (situations), atelicity vô đích (sự tình)

12 dynamic situations, event sự tình động

16 imperfective viewpoint giác độ thể không hoàn thành

17 ingressive, inchoatives (situations) khởi phát (sự tình)

20 iteratives (situation/aspect) tái diễn (sự tình/thể)

24 manner motion verbs vị từ mã hoá phương thức

Trang 9

28 objective time thời gian khách quan

30 part-whole relation quan hệ bộ phận-tổng thể

35 perfective viewpoint giác độ hoàn thành

36 preliminary stage to situation phân khúc tiền sự tình

38 progressive viewpoint giác độ tiếp diễn

40 quantized situations sự tình định lượng

41 resultative (situations) kết quả (sự tình)

46 situations, states of affairs sự tình

Trang 10

57 time thời gian

59 translative (motion) chuyển vị (chuyển động)

62 viewed from inside/outside nhìn từ bên trong/bên ngoài

Trang 11

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

0.2.1 Mục đích nghiên cứu 3

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

0.3 Đối tượng nghiên cứu và phạmvi nghiên cứu 3

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

0.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 4

0.4.1 Phương pháp nghiên cứu 4

0.4.2 Nguồn ngữ liệu 5

0.5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

0.5.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể ở ngoài nước 6

0.5.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể ở trong nước 11

0.6 Đóng góp của luận án 12

0.6.1 Về mặt lý luận 12

0.6.2 Về mặt thực tiễn 12

0.7 Cấu trúc của luận án 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 14

1.1 Cơ sở lý thuyết 14

1.1.1 Vendler (1957) và việc phân loại sự tình dựa trên thuộc tính thời gian nội tại 14

1.1.2 Bennett và Partee (1978) và thuộc tính phân đoạn con 18

1.1.3 Dowty (1979) và việc phân tích thành tố sự tình 20

1.2 Hướng tiếp cận thể dựa trên quan hệ bộ phận-tổng thể của sự tình 25

1.2.1 Ngữ nghĩa học sự tình (event-based semantics) 25

Trang 12

1.2.2 Sự tương tác giữa danh ngữ và vị ngữ dựa trên quan hệ bộ

phận-tổng thể 30

1.3 Khái niệm chuyển động 34

1.3.1 Các thành tố ngữ nghĩa của sự tình chuyển động 36

1.3.2 Thành tố bên ngoài của sự tình chuyển động 39

1.4 Mô hình từ vựng hóa các thành tố của sự tình chuyển động 41

1.4.1 Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ (satellite-framed languages) 42

1.4.2 Ngôn ngữ mã hóa lộ trình chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ 43

1.4.3 Ngôn ngữ mã hoá phương thức và lộ trình chuyển động 44

1.5 Khái niệm thể 45

CHƯƠNG 2: CÁC THUỘC TÍNH THỂ CỦA SỰ TÌNH CHUYỂN ĐỘNG 60

2.1 Loại sự tình 60

2.1.1 Tính hữu đích (telicity) của sự tình 60

2.1.2 Tính đoạn của sự tình (durativity) 74

2.2 Thể từ vựng và sự tình chuyển động 75

2.2.1 Sự tình hữu kết và sự tình vô kết 75

2.2.2 Thể dựa trên sự tình hay thể từ vựng 76

2.3 Ngữ nghĩa của giới ngữ trong kết cấu sự tình chuyển động 83

2.3.1 Ngữ nghĩa của giới ngữ và danh ngữ bổ ngữ có vai trò hạn định sự tình chuyển động 84

TIỂU KẾT: 96

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA THỂ CỦA SỰ TÌNH CHUYỂN ĐỘNG: SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA THUỘC TÍNH THỂ VÀ THỂ NGỮ PHÁP 97

3.1 Khái quát về thể dựa trên góc nhìn trong tiếng Anh 97

3.1.1 Giác độ hoàn thành (perfective viewpoint) 98

Trang 13

3.1.2 Giác độ không hoàn thành 106

3.1.3 Sự tình chuyển động với hình thái dĩ thành trong tiếng Anh 115 3.2 Hiện tượng hoán chuyển ý nghĩa thể 115

3.2.1 Hoán chuyển động  tĩnh 115

3.2.2 Hoán chuyển giữa hữu đích và vô đích 117

3.2.3 Các kiểu hoán chuyển khác 119

TIỂU KẾT: 119

CHƯƠNG 4: SO SÁNH Ý NGHĨA THỂ CỦA VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT 121

4.1 Sự tình chuyển động tiếng Việt 121

4.2 Khái quát về giá trị thể của sự tình chuyển động trong tiếng Việt124 4.2.1 Tham tố lộ trình và ý nghĩa thể 126

4.2.2 Tham tố đích và ý nghĩa thể 128

4.2.3 Tham tố nguồn và ý nghĩa thể 129

4.3 Khảo sát cách chuyển ngữ các sự tình chuyển động và thể của loại sự tình này từ tiếng Anh sang tiếng Việt 130

4.3.1 Về cấu trúc sự tình chuyển động 130

4.3.2 Về giá trị thể 133

4.4 Khảo sát cách chuyển ngữ các sự tình chuyển động và thể của loại sự tình này từ tiếng Việt sang tiếng Anh 135

4.4.1 Về cấu trúc sự tình 135

4.4.2 Về chuyển dịch giá trị thể từ Việt sang Anh 138

4.5 Sự khác biệt và tương đồng giữa hai ngôn ngữ về phương diện thể của sự tình chuyển động 143

4.5.1 Những khác biệt 143

4.5.2 Những tương đồng 144

4.6 Hướng tiếp cận giảng dạy hình thái tiếp diễn tiếng Anh 144

4.6.1 Cách giảng dạy phạm trù thì, thể hiện nay ở Việt Nam 145

4.6.2 Hướng tiếp cận truyền thống 146

Trang 14

4.6.3 Hướng tiếp cận theo ngữ pháp tri nhận 147

4.6.4 Áp dụng quan điểm tri nhận về sự tình vào giảng dạy thể tiếng Anh 149

4.7 Giác độ thể và loại sự tình 150

4.7.1 Giác độ tiếp diễn không tương thích với sự tình tĩnh 150

4.7.2 Giác độ tiếp diễn và sự tình chuyển động tiếng Anh 151

4.7.3 Chuyển dịch giác độ tiếp diễn sang tiếng Việt 157

4.7.4 Giác độ hoàn thành và sự tình chuyển động tiếng Anh 159

4.8 Chuyển dịch sự tình chuyển động dưới giác độ hoàn thành sang tiếng Việt 162

4.8.1 Những đề xuất liên quan đến giới ngữ kết hợp với vị từ chuyển động có đích tiếng Anh 163

TIỂU KẾT: 170

KẾT LUẬN 171

Trang 15

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài

Với người học tiếng Anh, thậm chí cả với người dạy, khái niệm thể

(aspect) dường như vẫn còn khá xa lạ Các nhãn biểu thị ý nghĩa thể như hoàn thành, tiếp diễn hay không hoàn thành đều được gán cho khái niệm thì (tense)

Nói cách khác, người dạy và người học chỉ tập trung vào một khía cạnh của việc biểu đạt thời gian của sự tình trong tiếng Anh, đó là định vị sự tình trong thời

gian, tức nội dung của phạm trù thì, có chức năng biểu thị thời gian bên ngoài của sự tình hay thời gian khách quan Còn phạm trù thể, một phạm trù cũng liên

quan đến thời gian, nhưng miêu tả thời gian bên trong của sự tình (Chung &

Timberlake, 1985; Comrie, 1976; Smith, 1997) Việc miêu tả này phụ thuộc vào

ý định hay sự chú ý của người sử dụng ngôn ngữ tập trung vào một bộ phận hay một khúc đoạn nào đó của sự tình mà anh ấy muốn miêu tả, tức việc miêu tả này

mang tính chủ quan, nó tuỳ thuộc vào mục đích khái niệm hoá thời gian bên

trong của sự tình liên quan Cùng một sự tình, người sử dụng ngôn ngữ có thể chọn những cách thức miêu tả khác nhau tuỳ vào mục đích giao tiếp Người ấy

có thể miêu tả một sự tình dưới hai giác độ khác nhau: (a) giác độ động và (b) giác độ tĩnh:

def art tàu thuỷ be – Aux – SP di chuyển- ing

Con tàu thuỷ đang di chuyển

Con tàu thủy đang chuyển động

Sự tình trong (a) miêu tả một chuỗi các thay đổi vị trí liên tục trong không gian và thời của thực thể (the ship), còn sự tình trong (b) lại “đóng khung” sự chuyển động của thực thể, tức miêu tả sự chuyển động như một “khối” không

phân đoạn Và việc lựa chọn giác độ miêu tả sẽ quyết định hình thái ngôn ngữ nào, hay nói cụ thể là hình thái vị từ nào được sử dụng để biểu thị giác độ miêu

tả người sử dụng ngôn ngữ đã chọn

Cách lựa chọn giác độ miêu tả không thuộc phạm trù thì Cả hai vị từ trên (was moving và was) đều xuất hiện ở hình thái quá khứ và nếu không nắm bắt

Trang 16

được các yếu tố biểu thị cách thức sự chuyển động được mã hoá, người học và cả người dạy khó lòng lý giải chính xác và có hệ thống sự khác biệt giữa hai sự tình trong (a) và (b) ở trên Đó là lý do thứ nhất của luận án trong việc lựa chọn đề tài

“Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt)”

Lý do thứ hai nằm ở lớp vị từ chuyển động tiếng Anh cũng như các yếu tố

mã hoá các phương thức chuyển động liên quan Luận án tập trung vào phân tích tất cả các yếu tố cấu thành một sự tình chuyển động trong tiếng Anh, chẳng hạn

lộ trình chuyển động (path), phương thức chuyển động (manner), đích chuyển động (goal/destination), v.v Sở dĩ như vậy là do các yếu tố này có thể can thiệp

vào cấu trúc nội tại của sự tình chuyển động, qua đó can thiệp vào việc hình thành ý nghĩa thể của sự tình liên quan:

Mary đã đi bộ trên bãi biển

Mary đã đi bộ về phía bãi biển

Hai câu (c) và (d) không khác nhau về ý nghĩa thì, nhưng lại hoàn toàn khác nhau về ý nghĩa thể Sự tình trong (c) được miêu tả như một chuyển động

(walking/đi bộ) diễn ra trong một không gian không có đích (on the beach)

Chuyển động “ngừng” khi Mary không thực hiện nữa Còn sự tình trong (d)

được khảo sát cùng một chuyển động như trong (c), nhưng chuyển động trong (d) diễn ra trong một không gian có giới hạn và giới hạn đó là đích của chuyển động

(to the beach) Sự tình “hoàn thành” khi Mary đến bờ biển Như vậy, xét về thể,

người ta không thể bỏ qua tác động ngữ nghĩa của các giới từ xuất hiện sau vị từ chuyển động Việc giải thích ý nghĩa thể của một sự tình phải được xác định bằng

nhiều yếu tố: ngữ nghĩa của vị từ, ngữ nghĩa của hình thái vị từ, ngữ nghĩa của giới từ…

Nói chung, sự tình chuyển động được mã hoá bằng các phương tiện ngôn ngữ nào và ý nghĩa thời gian bên trong của nó được xác định ra sao trong quan hệ

Trang 17

tương tác giữa cấu trúc của vị từ chuyển động và các yếu tố vệ tinh chung quanh

nó đã khiến chúng tôi lựa chọn đề tài luận án này

0.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu sự hình thành ý nghĩa thể của sự tình chuyển động tiếng Anh và các yếu tố tham gia vào quá trình này bao gồm tác động của các thuộc tính ngữ nghĩa của vị từ chuyển động đến góc nhìn của người miêu tả sự tình liên quan

Hy vọng rằng kết quả của nghiên cứu này sẽ được áp dụng vào việc giảng dạy vị từ tiếng Anh nói chung, lớp vị từ chuyển động trong tiếng Anh nói riêng cho người Việt học tiếng Anh

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên các hướng tiếp cận về thể, luận án lựa chọn hướng tiếp cận phù hợp với lớp vị từ chuyển động để khảo sát các yếu tố tạo ý nghĩa thể của lớp vị từ này đó là hình thái của vị từ

Phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa của lớp vị từ chuyển động tiếng Anh và xác định thành tố nào của chuyển động được mã hoá trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ

Phân tích các giới ngữ có thể xuất hiện sau các vị từ chuyển động, xác định vai trò của chúng trong cấu trúc ngữ nghĩa của sự tình chuyển động

0.3 Đối tượng nghiên cứu và phạmvi nghiên cứu

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phạm trù thể và các thành tố tạo thể trong tiếng Anh nói chung, và thể của lớp vị từ chuyển động tiếng Anh nói riêng là đối tượng nghiên cứu của luận án

Trang 18

0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

0.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Do đối tượng nghiên cứu của luận án là ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh và mục đích là tìm hiểu và lý giải cơ sở hình thành ý

nghĩa thể của một sự tình chuyển động nên phương pháp phân tích ngữ nghĩa- cú pháp được sử dụng chủ yếu trong luận án để miêu tả sự tình

chuyển động cùng với các thành tố của nó Sau đó luận án xác định thành tố nào thuộc sự tình chuyển động góp phần vào việc hình thành cấu trúc thể, tức cấu trúc thời gian bên trong của sự tình

Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ cũng được luận án sử dụng nhằm so

sánh cấu trúc sự tình chuyển động tiếng Anh với cấu trúc sự tình chuyển động tiếng Việt Mục đích của so sánh là xác định cách thức mã hoá các thành tố thuộc sự tình chuyển động trong hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình, qua đó xác định những khác biệt ngôn ngữ trong lĩnh vực này có thể khiến người Việt học tiếng Anh mắc lỗi khi sử dụng các vị từ chuyển động tiếng Anh Ngoài ra, luận án khảo sát cách thức diễn đạt các ý nghĩa thể của sự tình chuyển động tiếng Anh được thực hiện thế nào thông qua các cách diễn đạt bằng tiếng Việt trong các tác phẩm văn học dịch Anh-Việt; trên cơ sở đó luận án đưa ra một số nhận định có tính khái quát về việc nhận diện, và sử dụng các phương tiện biểu đạt ý nghĩa thể của vị từ tiếng Anh nói chung, ý nghĩa thể của các vị từ chuyển động trong tiếng Anh nói riêng

Phương pháp miêu tả dựa trên quan điểm của ngữ pháp mô tả hiện đại và

ngữ pháp chức năng Khi nghiên cứu, phân tích các đặc điểm ngữ pháp, luận án

dựa trên quan điểm của ngữ pháp mô tả (descriptive grammar) nhằm đi sâu

nghiên cứu, phân tích và đánh giá các cấu trúc câu theo chức năng mà các thành phần liên quan đến vị từ có được Về phương diện đặc điểm ngữ nghĩa luận án miêu tả ngôn ngữ dựa trên các thành tố của chuyển động bao gồm chủ thể chuyển động (figure/theme), lộ trình của chuyển động (path), phương thức của chuyển động (manner), đích của chuyển động (goal/destination) Bên cạnh đó, những tham tố xung quanh vị từ chuyển động có được trong mối tương quan với các vai

Trang 19

nghĩa cùng tham gia trong phát ngôn có chứa vị từ chuyển động cũng được nghiên cứu, phân tích

0.4.2 Nguồn ngữ liệu

Các ngữ liệu có chứa vị từ chuyển động được trích xuất từ tác phẩm văn

học (1) The Thorn Birds của nữ văn sĩ Colleen McCullough, (2) The CompleteSherlock Holmes của Arthur Conan Doyle, (3) Jane Eyre của Chalotte Bronte, (4) The sorrow of war được chuyển ngữ bởi Palmos và Phan Thanh Hào,

và A Farewell to Arms của Ernest Hemingway được đưa vào phân tích

Ngoài ra, luận án còn sử dụng các ngữ liệu từ website http://corpus.byu.edu/coca/, ngữ liệu từ báo chí, tiểu thuyết…của Hoa Kỳ, và từ website http://www.natcorp.ox.ac.uk/, một nguồn ngữ liệu quan trọng về tiếng Anh của Vương quốc Anh Với 362 vị từ chuyển động luận án trích từ các từ điển tiếng Anh của các nhà xuất bản Collins Cobuild (2003), Longman (2009),

và Oxford (2010) được phân loại thành những những tiểu mục nhỏ được trình

bày trong phần Phụ lục Ngoài ra, để khảo sát cách chuyển dịch của vị từ chuyển

động tiếng Anh sang tiếng Việt, luận án sử dụng bản dịch của những tiểu thuyết

đã đề cập ở trên (1) “Những con chim ẩn mình chờ chết” do Phạm Mạnh Hùng dịch và nhà xuất bản Trẻ tái bản năm (2015), (2) Sherlock Holmes toàn tập và (3) Jane Eyre do Nhà xuất bản Văn học phát hành, (4) Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh do nhà xuất bản Trẻ tái bản năm (2016)

Luận án trích xuất tất cả các vị từ chuyển động trong các tác phẩm đã nêu ở trên tiến hành phân loại theo ý nghĩa thể: vị từ chuyển động hữu đích, đối lập với

vô đích và phân loại theo vị từ chuyển động có phương thức hoặc có hướng chuyển động Không loại trừ khả năng cả hai ý nghĩa trên cùng được mã hoá trong cấu trúc nội tại của một vị từ Ngoài ra, luận án cũng phân các giới từ đứng sau vị từ chuyển động thành hai loại: giới từ đơn (chỉ mã hoá một trong những thành tố chuyển động) và giới từ phức (có thể mã hoá nhiều hơn một thành tố chuyển động) Việc phân loại này giúp xác định dễ dàng các yếu tố can dự vào việc hình thành ý nghĩa thể của vị từ chuyển động tiếng Anh

Trang 20

Kèm theo chính văn của luận án là 12 phụ lục dày 233 trang bao gồm:

- Phụ lục 1: Danh sách 362 vị từ chuyển động trích xuất từ các từ điển tiếng Anh;

- Phụ lục 2: Vị từ chuyển động có phương thức;

- Phụ lục 3: Vị từ chuyển động chỉ lộ trình của chuyển động;

- Phụ lục 4: Vị từ chuyển động kết hợp phương thức và lộ trình chuyển động;

- Phụ lục 5: Vị từ chuyển động kết hợp với các thành tố khác;

- Phụ lục 6: Vị từ chuyển động kết hợp với giới ngữ hạn định (trích xuất từ

tác phẩm The Thorn Birds);

- Phụ lục 7: Vị từ chuyển động kết hợp với giới ngữ không hạn định (trích

xuất từ tác phẩm The Thorn Birds);

- Phụ lục 8: Vị từ chuyển động kết hợp với giới ngữ phức (trích xuất từ tác

phẩm The Thorn Birds);

- Phụ lục 9: Phân ngữ liệu theo giác độ thể hoàn thành (trích xuất từ tác

phẩm The Complete Sherlock Holmes);

- Phụ lục 10: Phân ngữ liệu theo giác độ thể tiếp diễn (trích xuất từ tác

phẩm The Complete Sherlock Holmes);

- Phụ lục 11: Sự tình chuyển động vô đích với giác độ thể hoàn thành, phân

ngữ liệu theo giác độ thể tiếp diễn (trích xuất từ tác phẩm Jane Eyre)

- Phụ lục 12: So sánh ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh với

tiếng Việt (trích xuất từ tác phẩm The sorrow of war và Nỗi buồn chiến tranh)

0.5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.5.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể ở ngoài nước

Thể trong các ngôn ngữ nói chung và thể trong tiếng Anh nói riêng được

Trang 21

nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ trước Hướng tiếp cận nghiên cứu phạm trù này rất đa dạng, khởi đầu từ hình thái của vị từ, hướng tiếp cận vấn đề liên quan trở nên đa dạng hơn rất nhiều Các tham tố khác chung quanh vị từ như chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ đều được khảo sát một cách hệ thống trong mối tương liên với vị từ dựa trên quan điểm thể-cách miêu tả cấu trúc thời gian bên trong của sự tình, tức dựa trên cơ sở ngữ nghĩa của tất cả các thành tố có mặt trong câu biểu thị sự tình liên quan

Trước khi đề cập đến các hướng nghiên cứu khác nhau về thể, chúng tôi đề cập sự tương đồng về quan điểm của các nhà nghiên cứu Nói chung, các nhà nghiên cứu thể đều thống nhất với nhau về ba nội dung quan trọng sau:

Thể liên quan đến tính phân lập (discreteness), tính hữu kết (boundedness) hoặc tính hạn định (boundaries) của sự tình Khái niệm này được trình bày bằng

nhiều thuật ngữ khác nhau ở những tác giả khác nhau Smith (1997) đưa ra khái

niệm initial và final endpoints (chúng tôi tạm dịch là khởi điểm và kết điểm), còn Bickel (1997) đưa ra thuật ngữ transitions (quá trình chuyển tiếp) để miêu tả quá

trình chủ thể chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Trên cơ sở này, các khái niệm cơ bản về thể như sự tình hữu đích (telic situations) và sự tình vô đích (atelic situations) hình thành để miêu tả thuộc tính phân lập hay hạn định của sự

tình Vì vậy, lý thuyết thể quan tâm đến vấn đề cốt lõi là việc mô hình mã hoá về phương diện ngôn ngữ học thuộc tính phân lập này của sự tình

Thể không còn là phạm trù ngữ pháp của vị từ theo quan điểm truyền thống Các nhà nghiên cứu thể đều thống nhất và cùng chia sẻ quan điểm rằng thể là một phạm trù được xác định thông qua sự tương tác giữa các phạm trù ngữ pháp khác nhau và giữa ngữ pháp với từ vựng Bach cùng các đồng sự (1994) nghiên cứu sự tương tác giữa thì, thể và hành động trong hệ thống vị từ Smith (1983) cho rằng thể là một phạm trù ngữ nghĩa được biểu thị bằng những phạm trù ngôn ngữ học

Các nhà nghiên cứu thể cho rằng cấu trúc cú pháp và cấu trúc từ vựng cũng như thông tin ngữ cảnh đều được sử dụng để lý giải ý nghĩa thể của sự

Trang 22

tình Như vậy, có thể nói rằng về mặt lý thuyết thể được tiếp cận từ sự tương tác giữa nhiều yếu tố từ cú pháp, từ vựng cho đến dụng pháp, và vì thế hướng tiếp cận thể chắc chắn không còn giới hạn trong khuôn khổ của cú pháp hoặc từ vựng như trước đây

Trên đây là ba nội dung các nhà nghiên cứu thể thống nhất với nhau khi tiếp cận phạm trù này Tuy nhiên, các hướng tiếp cận thể khi dựa trên các nguồn ngữ liệu khác nhau cũng như các kiểu nhận thức khác nhau về nội hàm của khái niệm “thể” (aspect) dẫn đến nhiều sự khác biệt trong cách nghiên cứu khái niệm này

Thể được tiếp cận dựa trên hình hái học quan tâm chủ yếu đến ngữ nghĩa của các biến tố biểu đạt thể của vị từ Hướng tiếp cận này được biết như hướng tiếp cận chủ đạo trong việc nghiên cứu thể trong các ngôn ngữ Slaves vào đầu thế kỷ XX Theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu không phân định thể ngữ pháp với thể từ vựng, mà khi nói đến thể tức là nói đến thể ngữ pháp hay thể hình thái học Đây là hệ quả của việc áp khái niệm thể của các ngôn ngữ Slaves vào việc miêu tả các phạm trù hình thái học của hình thái “aorist” (thể tác thuật) và hình thái “imperfect” (thể vị thành) trong các thứ tiếng Romances như tiếng Pháp, tiếng Italia…Trong các thứ tiếng Slaves, chẳng hạn như tiếng Nga, thể hình thái học gắn liền với sự đối lập hình thái của vị từ tiếng Nga Vị từ tự thân sẽ có hai hình thái đối lập nhau: hình thái hoàn thành và hình thái không hoàn thành (писать: viết – không hoàn thành; написать: viết – hoàn thành) Thể hình thái học và thể từ vựng được dùng chung để biểu thị sự đối lập mang tính hình thái-ngữ nghĩa này trong các ngôn ngữ Slaves Trên cơ sở này, sự đối lập

về hình thái học của vị từ được xem là các phạm trù ngữ pháp gắn với vị từ như

thì, vì vậy, về nguyên tắc, bất kỳ sự tình nào cũng được miêu tả bằng thể hình

thái hoặc thể từ vựng

Mãi đến giai đoạn cuối của lý thuyết truyền thống, sự can dự của các thuộc tính ngữ nghĩa-từ vựng của vị từ như đoạn tính/điểm tính; hữu đích/vô đích…mới được tính đến trong việc lý giải phạm trù hình thái học của thể, dẫu

Trang 23

vậy phạm trù ngữ nghĩa-từ vựng này vẫn bị xem là yếu tố phụ Xuất phát từ hướng tiếp cận dựa trên hình thức vị từ, nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào phân biệt thể từ vựng phái sinh (Aktionsart) và thể hình thái học, chủ yếu là nhằm giải quyết các hiện tượng được xem là không thích hợp với lý thuyết thể dựa trên “ngữ pháp” lúc bấy giờ

Một sự phân biệt này tỏ ra quan trọng trong việc phân định chức năng của các tiền tố vị từ có hình thức giống nhau (cùng một tiền tố) Một số nhà nghiên cứu cho rằng tiền tố có chức năng đánh dấu thể, song số khác lại cho rằng nó

biểu thị đặc trưng ngữ nghĩa-từ vựng của vị từ Thể với tư cách là phạm trù ngữ pháp không làm thay đổi nghĩa từ vựng của vị từ, trong khi đó Aktionsart hay các

đặc trưng ngữ nghĩa-từ vựng của vị từ được xem là công cụ cấu tạo từ, vì vậy, cấu tạo từ theo kiểu này nằm ngoài phạm vi của miêu tả ngữ pháp (Dẫn theo Sasse, Hans-Jürgen 1991và Vetters & Vandeweghe 1991)

Như vậy, thể hình thái học được xem là phạm trù bao gồm sự đối lập giữa không hoàn thành và hoàn thành Phạm trù ngữ pháp này thể hiện thông qua

quan hệ đối vị của vị từ trong các ngôn ngữ có hình thái: sự đối lập giữa cặp vị

từ trong tiếng Nga, sự đối lập giữa hình thái passé simple và imparfait trong tiếng Pháp, giữa simple past và progressive trong tiếng Anh Thể hoàn thành và thể không hoàn thành được lý giải bằng nhiều cách khác nhau về phương diện nhận thức và tâm lý Trong các sách ngữ pháp, “thể hoàn thành miêu tả một hành động trong toàn cục, trong khi đó, thể không hoàn thành miêu tả hành động với khúc đoạn thời gian bên trong, hoặc thể hoàn thành miêu tả một sự tình được nhìn từ bên ngoài, còn thể không hoàn thành miêu tả sự tình được nhìn từ bên trong… Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhận thấy có những giá trị khác xuất

phát từ hai hình thái đối lập nhau như vừa nói: (a) Lions eat meat; (b) I got up at

seven every morning last year Trong (a) vị từ biểu thị một thuộc tính “ăn thịt” của sư tử, còn trong (b) mặc dù hình thái là simple past nhưng biểu thị ý nghĩa tái diễn hay thói quen trong quá khứ mà Comrie (1976) gọi là “habitual aspect”

Trang 24

Một sự phức tạp khác nảy sinh trong việc xác định một sự tình trên trục thời gian: thể (aspect) là phạm trù thời gian chủ quan, trái ngược với thì (tense) - cách biểu thị thời gian khách quan Do vậy, việc lựa chọn cách thức miêu tả sự tình, tức việc lựa chọn thể hoàn thành hay thể không hoàn thành, hoàn toàn tuỳ thuộc người phát ngôn Và đây là cơ sở để Smith (1997) dùng thuật ngữ “viewpoint”, nghĩa là “giác độ” hay “góc nhìn”, thay cho thể hình thái học

Có thể thấy rằng hướng tiếp cận thể dựa trên hình thái của vị từ có ảnh hưởng đáng kể đến các lý thuyết hiện đại về thể Comrie (1976) và Dahl (1985)

là hai tác giả có các công trình được xem là kinh điển về lý thuyết thể dựa trên phạm trù hình thái học của vị từ Một “di sản” khác của lý thuyết này là sự đối lập giữa ý nghĩa hoàn thành và ý nghĩa không hoàn thành trong nhiều ngôn ngữ khác nhau được dùng để phân biệt ý nghĩa của hình thức vị từ

Tuy nhiên, điểm hạn chế của hướng tiếp cận hình thái học là không thể áp dụng cho các ngôn ngữ phi hình thái như tiếng Việt, tiếng Trung Chính vì vậy

mà rất nhiều tác giả cho rằng những thứ tiếng này không có phạm trù thể (Emeneau, 1951) Và trong bản thân những thứ tiếng biến hình cũng có vấn đề về xác định ngữ nghĩa của hình thái vị từ, chẳng hạn trong tiếng Anh: (a) Mary

walked in the school (b) Mary walked to the school, nếu chỉ dựa trên hình thái vị

từ rõ ràng không thể xác định được ngữ nghĩa hay nói cụ thể là ý nghĩa thể của hai phát ngôn1

Khác với hướng tiếp cận thể theo tiêu chí hình thái vị từ ở châu Âu, các nhà nghiên cứu thể trường phái Anh-Mỹ tiếp cận thể theo các đặc trưng thời gian trong cấu trúc nội tại của sự tình Những đặc trưng thời gian này được Vendler (1967) gọi là “time-schemata”, chúng tôi tạm dịch là mô hình thời gian của sự tình Hướng tiếp cận này phát triển dựa trên sự phân biệt hành động có đích

(kineseis) và hành động không có đích (energeiai) của Aristotle trong Metaphysicshe Một số nhà nghiên cứu bổ sung một số sự đối lập khác: phân biệt

giữa sự tình tĩnh và sự tình động Sự tình tĩnh thường kéo dài trong một khoảng

1

Sự tình (a ) và (b) đều ở hình quá khứ, nhưng chỉ có sự tình (b) mới mang ý nghĩa hoàn thành

Trang 25

thời gian và là vô kết, còn sự tình động cũng diễn ra trong một khoảng thời gian nhưng lại là hữu kết

0.5.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể ở trong nước

Khái niệm “thể” (aspect) trong tiếng Việt cho đến nay vẫn còn là một lĩnh vực thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Việt ngữ học Nói như vậy để thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu tập trung một cách hệ thống và chuyên biệt về phạm trù này Thể được đề cập đến một cách sơ lược trong các công trình nghiên cứu tập trung vào cách thức biểu thị thời gian trong tiếng Việt trong mối

tương quan với một phạm trù khác như thì (tense) hoặc tình thái (modality) hoặc

trong quan hệ đối sánh với một hoặc hơn một ngôn ngữ khác Đầu tiên, phải kể

đến Cao Xuân Hạo với bài “Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt” (Ngôn ngữ, số

5, 1998) Tác giả cho rằng tiếng Việt là ngôn ngữ “hữu thể vô thì” sau khi đưa ra những minh chứng mang tính loại hình ngôn ngữ và những đối sánh giữa tiếng Việt với những ngôn ngữ có thì khác Huỳnh Văn Thông khảo sát mối quan hệ

giữa vị từ tình thái tiếng Việt với việc biểu đạt ý nghĩa thể trong tiếng Việt (Ngôn ngữ, số 8, số 10, 2000) Tác giả Trần Kim Phượng (2005) trong luận án tiến sĩ với tựa đề “Thời, thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt” tập trung khảo sát chức năng biểu đạt thể của các phó từ như đã và đang trong tiếng Việt

Các tác giả khác như Vũ Thu Ngân (2003) trong công trình nghiên cứu với tựa đề

“Phạm trù thời thể tiếng Pháp và tiếng Việt” (Đây là công trình nghiên cứu cấp

Đại học Quốc gia thuộc ĐHQG Hà Nội), và tác giả Nghiêm Thị Thu Hương

(2014) trong luận án tiến sĩ với tựa “Nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt” đã tập trung vào việc nhận diện hai

phạm trù liên quan đến thời gian như thì và thể, và cách thức thể hiện các phạm trù này trong tiếng Việt nhằm phục vụ cho việc giảng dạy những vấn đề của tiếng Việt có liên quan đến chính hai phạm trù này Luận án của Nguyễn Hoàng Trung

(2006) “Thể trong tiếng Việt” có so sánh với tiếng Anh và tiếng Pháp tập trung

vào khảo sát sự tương tác giữa cấu trúc ngữ nghĩa của các tham tố chung quanh

vị từ và của bản thân vị từ với các chỉ tố “đã, rồi, đang” để xác định ý nghĩa thể

Trang 26

của sự tình Đây là công trình có tính hệ thống và chuyên biệt nhất về thể trong tiếng Việt

0.6 Đóng góp của luận án

0.6.1 Về mặt lý luận

Luận án có đóng góp cụ thể mang tính lý luận về thể và về vị từ chuyển động tiếng Anh-một lớp vị từ tương đối phức tạp do cách mã hoá các thành tố cấu thành chuyển động thông qua việc sử dụng hệ thống giới từ phức tạp của người bản ngữ Anh Trên cơ sở này, luận án bước đầu khảo sát giao diện (interface) giữa cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của câu miêu tả sự tình liên quan do vị chuyển động từ biểu thị

0.6.2 Về mặt thực tiễn

Luận án góp phần vào việc hoạch định nội dung và cách thức giảng dạy cho

người Việt học tiếng Anh hai nội dung mà luận án đề cập: (a) thể trong mối tương quan với thì và (b) vị từ chuyển động tiếng Anh Luận án cũng hướng dẫn

cách sử dụng giới từ, một từ loại quan trọng nhưng lại rất khó học thành công sau

vị từ chuyển động tiếng Anh Ngoài ra, kết quả của các nghiên cứu được thực hiện trong luận án này cũng có thể áp dụng trong hoạt động dịch thuật, cụ thể là dịch Anh-Việt vị từ chuyển động trong tiếng Anh có ít nhất một giới ngữ theo sau trên cơ sở giải mã cơ chế tri nhận chuyển động trong không gian theo tâm lý của người bản ngữ Anh

0.7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan

Tổng hợp và phân tích tình hình nghiên cứu về thể của, xác định cơ sở lý thuyết để triển khai các nội dung nghiên cứu ở các chương sau

Chương 2: Các thuộc tính thể của sự tình chuyển động

Khảo sát các thành tố cấu thành ý nghĩa thể chịu tác động của ngữ nghĩa của các thành tố, ngữ nghĩa của vị từ, và yếu tố ngữ cảnh Do đó, để xác định ý

Trang 27

nghĩa thể của một sự tình, luận án phải tiến hành phân tích mối quan hệ tương tác giữa các thành tố này trong câu miêu tả sự tình liên quan

Chương 3: Ý nghĩa thể của sự tình chuyển: Sự tương tác giữa thuộc tính thể và thể ngữ pháp

Như đã nói, thể là những cách thức khác nhau mà người sử dụng ngôn ngữ dùng để miêu tả một sự tình Nói cách khác, người sử dụng có thể lựa chọn những góc độ khác nhau để miêu tả, lý giải một sự tình Những khác biệt về giác

độ thể được thể hiện qua việc lựa chọn các hình thức ngôn ngữ tương ứng Trong chương này, luận án khảo sát hiệu ứng ngữ dụng của việc hoán chuyển góc miêu

tả, tức hoán chuyển ý nghĩa thể khi miêu tả sự tình

Chương 4: So sánh ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh với tiếng Việt

Đề xuất những hướng tiếp cận trong việc giảng dạy thể và sự tình chuyển động tiếng Anh sau khi xác lập những dị biệt giữa hai bình diện này trong hai ngôn ngữ

Trang 28

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

trên tạp chí The Philosophical Review Trong bài viết này, Vendler phân loại sự

tình dựa trên quan niệm logic về cấu trúc thời gian, theo đó các đặc trưng thời gian nội tại của các loại sự tình một cách có hệ thống trong tương quan với các đối lập bản thể cơ bản của từng loại sự tình Vendler đưa ra bốn biểu đồ thời gian gắn với bốn loại sự tình:

Types of Situations/

Statives (sự tình tĩnh) desire, want, love, believe, own, resemble, be in

New York Activities (sự tình hoạt động/

sự tình đoạn tính vô đích) run, walk, write letters, push a cart, breathe…

Sự phân loại sự tình của Vendler ở trên được thực hiện trên cơ sở xác định những đặc trưng như [ dynamic/động], [ punctual/điểm tính], [ duartive/đoạn tính], [ telic/hữu đích], … Sự tình hoạt động (Activities) diễn ra trong thời gian theo một cách thức đồng nhất; bất kỳ phân đoạn nào của hoạt động cũng có cùng bản chất như toàn bộ hoạt động “Nếu đúng là một người nào đó có chạy bộ nửa giờ thì việc anh ấy chạy bộ tại bất kỳ thời điểm nào trong thời đoạn nửa giờ ấy cũng là đúng” [101:92] Trái lại, sự tình đoạn tính hữu đích (Accomplishments)

không diễn ra theo cách thức đồng nhất: “…với sự tình tôi mất một tiếng viết xong bức thư này, thì chắc chắn là việc tôi viết trong 15 phút đầu của một giờ ấy không được gọi là viết bức thư ấy được” [99:93] Vendler (1967) sử dụng hình

Trang 29

thái tiếp diễn để phân định sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa giữa các loại sự tình Ông cho rằng chỉ có hai loại sự tình là sự tình đoạn vô đích và sự tình đoạn tính hữu đích mới thích hợp với giác độ tiếp diễn (progressive):

John đang ca hát  activities

John đang hát một bài hát  accomplishments

John đang sở hữu một chiếc xe hơi  statives

Prop

name

Aux- S.pre

be-nhận ra-ing conj anh

ta

đã quên

P khóa def.art cửa

John chợt nhận ra rằng anh ta đã quên khóa cửa  achievements

Tuy nhiên, Dowty (1977, 1979), Mourelatos (1978/1981), Vlach (1981), và nhiều nhà nghiên cứu thể khác cho rằng nhiều sự tình điểm tính hữu đích trong

danh mục của Vendler có thể kết hợp với hình thái tiếp diễn: He is winning the race, He is dying, He is reaching the top, He is falling asleep, He is leaving, He

is arriving, v.v Đáng chú ý nhất, do tính hoàn chỉnh của nó, là danh sách bao

gồm các tiêu chí cú pháp và ngữ nghĩa mà Dowty (1979) đưa ra dựa trên sự tổng hoà các quan điểm của Ryle (1949), Vendler (1957/1967), Kenny (1963), Lakoff (1965) và Ross (1972) để phân biệt các loại sự tình mà chúng tôi giới thiệu dưới đây:

Loại sự

tình

Xuất hiện ở hình thái tiếp

diễn

Bổ ngữ của

“force” và “persuade”

Xuất hiện ở thức mệnh lệnh

Mary đang mỉm cười

Mary đang hát một bài hát

Trang 30

Prop name be-Aux- S.pre quen biết-ing prop name

Mary đang quen biết John

John ép Mary phải cười

Prop

name

thuyết phục-ed

prop name

P hát idef.art bài hát

John đã thuyết phục Mary hát một bài

Prop

name

Paul đã ép Mary phải quen với John

Cười lên nào Mary!

Hãy hát lên nào!

Biết câu trả lời rồi đấy!

Mary gượng cười

Mary cẩn thận trả lời câu hỏi

Mary cố tình làm quen với John.

Ngoài ra, Dowty còn đưa ra tiêu chí phân biệt giữa các sự tình hữu đích và

các sự tình vô đích hay sự tình tĩnh bằng cách dùng giới ngữ for + time:

Mary đã đi bộ được một tiếng đồng hồ

Mary đã bị sốt hai ngày

Prop name viết-SP idef.art lá thư P idef.art ngày

Mary đã viết lá thư khoảng một ngày

Trang 31

Prop

name

tìm ra-SP

idef.art cách giải

quyết

này vấn đề P idef.art tiếng

Mary tìm ra cách giải quyết vấn đề này khoảngmột tiếng

Như vậy, chỉ có sự tình hoạt động (a) và sự tình tĩnh (b) có thể kết hợp với

for + time, còn hai sự tình hữu đích không thích hợp với giới ngữ này; nói cách khác sự kết hợp giữa hai sự tình hữu đích (c và d) với giới ngữ for + time khiến

câu miêu tả hai sự tình liên quan khiên cưỡng (c) hoặc sai ngữ pháp (d) Các sự

tình hữu đích, theo Dowty, hoàn toàn tương thích với giới ngữ in + time:

Mary đã đi bộ mất một tiếng

Mary đã bị sốt mất hai ngày

Prop name viết-SP idef.art lá thư P 15 phút-s

Mary đã viết lá thư mất15 phút

Prop

name

tìm ra-SP

idef

art

cách giải quyết

này vấn đề P idef.art tiếng

Mary phải mất một tiếng đồng hồ để tìm ra cách giải quyết vấn đề này

Giới ngữ in cho biết thời lượng cần thiết để sự tình đạt đến đích trong

cấu trúc nội tại (sự tình hữu đích), chính vì vậy, nó không thích hợp với các

sự tình vô đích (a) hay các sự tình tĩnh (b), mà chỉ kết hợp với các sự tình hữu đích (c) và (d)

Ngoài ra, để phân biệt thuộc tính hữu đích và vô đích của vị từ, Dowty sử dụng một phép thử mà trước đó Kenny (1963) đã đưa ra để miêu tả ngữ nghĩa của hình thái tiếp diễn của các loại vị từ tiếng Anh:

Mary đang đi bộ

Mary đã đi tản bộ được một lúc rồi

Mary đang xây một lâu đài cát

Trang 32

Prop name have-Aux-S.pre xây-PP ide.art cát lâu đài

Mary đã xây một lâu đài cát

Theo Kenny (1963), hình thái tiếp diễn miêu tả sự tình hoạt động như (7a) kéo theo sự tình hoạt động được miêu tả bằng thì hiện tại thái hoàn thành (the perfect present) như trong (7b) Nói một cách đơn giản, từ sự tình (7a) người ta

có thể suy ra sự tình trong (7b) Trái lại, từ sự tình hữu đích như (8a), người ta không thể suy ra sự tình như trong (8b) (8a) miêu tả một sự tình đang diễn ra và đang hướng đến đích nội tại (a sand castle), còn sự tình (8b) đã đạt đến đích nội tại của nó, tức từ (8b), có thể nói “there is a sand castle”

Lý thuyết thể và sự tình hậu Vendler rất đa dạng, nhưng nói chung vẫn gắn với cơ sở lý luận về sự tình cũng như các thuộc tính liên quan của sự tình mà Vendler đã đề xuất: xác định những đặc trưng có tính khu biệt giữa các loại sự tình (sự tình hoạt động, sự tình đoạn tính hữu đích, sự tình điểm tính hữu đích),

để trên cơ sở đó xác định thể của sự tình Dưới đây, chúng tôi giới thiệu hai hướng nghiên cứu mở rộng khác dựa trên cách phân loại sự tình của Vendler

1.1.2 Bennett và Partee (1978) và thuộc tính phân đoạn con

Bennett và Partee (1978) đưa khái niệm thuộc tính phân đoạn con

(subinterval property) rất gần với khái niệm đồng nhất của Vendler để phân biệt

sự tình tĩnh, sự tình hoạt động với hai sự tình hữu đích còn lại:

“Nếu một sự tình nhận giá trị đúng ở một thời đoạn I thì sự tình ấy cũng nhận giá trị đúng ở bất kỳ phân đoạn i nào thuộc thời đoạn I.” [26:17]

Chúng tôi minh hoạ nội dung quan điểm này:

Mary đã đi bộ từ 1 giờ đến 3 giờ

Mary đã yêu John từ năm 1990 đến năm 2000

Nếu đúng là Mary đi bộ từ 1 giờ đến 3 giờ thì Mary đi bộ từ 1 giờ đến 2 giờ

cũng là đúng Tương tự, nếu đúng là Mary yêu John từ năm 1990 đến năm 2000 cũng là đúng thì Mary yêu John từ 1990 đến năm 1999 cũng là đúng Vì vậy, nếu

sự tình trong (9a) và (9b) đúng trong toàn bộ thời đoạn I do giới ngữ biểu thị thì

Trang 33

chúng cũng đúng ở bất kỳ phân đoạn con i nào thuộc thời đoạn I Với sự tình

tĩnh, thuộc tính này có thể đúng vì nó không kéo theo bất kỳ sự thay đổi nào và người ta có thể suy đoán rằng không có bất kỳ phân đoạn con nào mà Mary không yêu John Tuy nhiên với những sự tình động, thuộc tính này có vẻ không

đủ hiệu lực Chẳng hạn như sự tình động trong (9a), Mary đi bộ từ một giờ đến

ba giờ, người ta có thể suy đoán rằng Mary đi bộ suốt hai tiếng bất chấp việc có

một phân đoạn thời gian Mary không đi bộ hoặc Mary chạy Như vậy, sự tình

động như (9a) chấp nhận một sự gián đoạn (a gap) trên toàn bộ thời đoạn mà

hoạt động diễn ra Khắc phục sơ hở này trong lý thuyết phân đoạn con của Bennett & Partee (1978), Taylor (1977) đưa ra định đề về các thuộc tính phân đoạn con như sau cho bốn loại sự tình của Vendler:

Nếu P là vị ngữ biểu thị trạng thái S thì P(S) nhận giá trị đúng tại một thời đoạn I, chỉ nếu P(S) cũng nhận giá trị đúng tại tất cả thời điểm thuộc I

i Nếu P là một ngữ biểu thị hoạt động hoặc một hành động đoạn tính hữu đích/điểm tính hữu đích (E), thì P(E) chỉ nhận giá trị đúng tại một thời đoạn I lớn hơn một thời điểm I’ thuộc I

ii Nếu P là vị ngữ biểu thị một hành động đoạn tính hữu đích/điểm tính hữu đích (E), và nếu P(E) nhận giá trị đúng tại thời đoạn I, thì P(E) nhận giá trị sai tại bất kỳ thời điểm I’ nào thuộc I

iii Nếu P là một ngữ biểu thị hoạt động (E), và nếu P(E) nhận giá trị đúng tại thời đoạn I, thì P(E) cũng đúng ở tất cả phân đoạn thuộc I với I lớn

hơn một phân đoạn

Có thể minh họa ý nghĩa của các định đề trên của Taylor qua ví dụ sau:

John đã vẽ con thuyền mất 5 phút

Sự tình (10) diễn ra trong một thời đoạn T=5 phút, và thời đoạn T này cũng chính là thời đoạn cần thiết để sự tình (10) đạt đích (có một con thuyền)

Như vậy, trong bất kỳ phân đoạn t nào thuộc thời đoạn T đều không tồn tại con thuyền Từ phút thứ nhất đến phút thứ tư sự tình (10) không nhận giá trị đúng;

hay nói cách khác, bất kỳ bộ phận e nào thuộc sự tình E đều nhận giá trị sai ở bất kỳ phân đoạn con i nào thuộc thời đoạn I

Trang 34

Hướng tiếp cận “thuộc tính phân đoạn con” củng cố thêm những thuộc tính ngữ nghĩa dùng để phân loại sự tình mà Vendler đã đề ra, song nó không thể giúp xác định chính xác các thuộc tính ngữ nghĩa quan yếu của vị từ nếu chỉ dựa trên các thuộc tính thuần thời gian Chẳng hạn, áp dụng các định đề của Taylor, khó phân định được sự tình hữu đích đoạn tính (accopmplishments) và sự tình hữu đích điểm tính (achievements) vì bản thân sự tình điểm tính không có các phân đoạn con trong cấu trúc thời gian của nó, trên trục thời gian sự tình do vị từ miêu

tả trước điểm thay đổi trạng thái không phải là bản thân sự tình liên quan mà là một phân đoạn nằm ngoài cấu trúc của sự tình:

Prop.name be-Aux-S.pre hấp hối-ing

John đang hấp hối

Vị từ điểm tính trong (11) xuất hiện ở hình thái tiếp diễn và không biểu thị

sự tình “die” (chết), mà nó chỉ miêu tả một phân đoạn trước của “chết”, được sự tình hoá; vì vậy, nó miêu tả một sự tình khác mà kết điểm của nó là “chết”: “John

is dying = John is in agony (John đang hấp hối) Đây cũng là những nhược điểm của hướng tiếp cận này

1.1.3 Dowty (1979) và việc phân tích thành tố sự tình

Kết hợp việc phân loại hành động dựa trên bản thể luận, quan điểm của ngữ nghĩa học tạo sinh trong việc phân tích các thành tố từ vựng (lexical decomposition analysis) và ngữ nghĩa học hình thức (formal semantics) (Chomsky, 1965), Dowty (1979), đã “hiệu chỉnh” phân loại sự tình của Vendler Theo Dowty, các phương tiện cú pháp dùng để phân định bốn loại sự tình của Vendler cho kết quả không nhất quán đối với tất cả các loại sự tình Ông đưa ra

mô hình phân loại sự tình dựa trên 5 thuộc tính ngữ nghĩa, trong đó có bốn thuộc tính thời gian, và một thuộc tính phi thời gian:

Điểm tính và đoạn tính (momentary vs interval);

Thay đổi và không thay đổi (change vs no change);

Thay đổi xác định và thay đổi không xác định (definite change vs indefinte change);

Trang 35

Thay đổi đơn thể và thay đổi phức thể (singulary change vs complex change);

Tác thể và phi tác thể (agentive vs non-agentive);

Dựa trên năm thuộc tính này, Dowty phân sự tình thành bốn loại : sự tình tĩnh, sự tình hoạt động, sự tình chuyển thái phức thể (complex change of state),

và sự tình chuyển thái đơn thể (single change of state) Hai sự tình sau đồng nhất với sự tình hữu đích đoạn tính (accomplishments) và sự tình hữu đích điểm tính (achievements) trong phân loại sự tình của Vendler Khái niệm cốt lõi trong phân

loại của Dowty là khái niệm thay đổi (change) Thuộc tính thứ năm “tác thể” hay

“phi tác thể”là thuộc tính đan giao với bốn thuộc tính trên và trong sơ đồ phân loại sự tình dưới đây của Dowty (1979) thuộc tính thứ năm này “lùi vào hậu cảnh”:

Hình 1.1 Phân loại sự tình theo mô hình Dowty Dựa trên sự kết hợp giữa vị ngữ với hình thái tiếp diễn, Dowty phân biệt sự tình điểm tính và sự tình đoạn tính Ở đây khái niệm “điểm tính” khác khái niệm điểm tính của Vendler ở khả năng kết hợp với hình thái tiếp diễn, tức mang tính chất hình thức, còn “điểm tính” của Vendler mang thuộc tính thời gian thuần

Các vị ngữ điểm tính biểu thị các trạng thái như be asleep, be in the garden, love, know, understand…không có khả năng kết hợp với hình thái tiếp diễn vì câu

Trang 36

miêu tả sự tình tĩnh điểm tính (momentary states) luôn nhận giá trị đúng tại bất

kỳ thời điểm nào thuộc thời đoạn của sự tình, còn các vị ngữ đoạn tính, tức các vị ngữ có khả năng kết hợp với hình thái tiếp diễn, trong đó có những sự tình tĩnh

miêu tả vị trí của chủ thể (sit, stand, lie…) và các sự tình động khác

Câu miêu tả sự tình hoạt động gắn liền với thay đổi trạng thái hay chuyển thái bất định trên phương diện ngữ nghĩa, còn các sự tình đoạn tính hữu đích và điểm tính hữu đích được xác định bằng sự chuyển thái xác định trên trục thời gian:

Paul đã chạy trên bãi biển

Prop name chạy-SP vào trong def.art phòng

Paul đã chạy vào trong phòng

Prop name thắng- SP def.art cuộc đua

Paul đã giành chiến thắng cuộc đua

Câu (12a) miêu tả một sự tình hoạt động gồm một sự thay đổi vị trí mang tính bất định của chủ thể (chuyển vị bất định) Phát ngôn trong (12a) hoàn toàn khả chấp trong bất kỳ tình huống nào có sự chuyển vị bất kỳ của chủ thể diễn ra Như vậy, (12a) nhận giá trị đúng với bất kỳ thời đoạn nào có sự chuyển vị ở bất

kỳ mức độ nào của chủ thể (Paul), và tức là nó nhận giá trị đúng tại một thời đoạn và tại những phân đoạn con khác nhau thuộc thời đoạn đó (Dowty, 1979) Trái lại, câu miêu tả sự tình đoạn tính hữu đích như (12b) là một sự chuyển vị xác định, tức Paul di chuyển đến một đích cụ thể (the room) Câu chỉ nhận giá trị đúng khi sự chuyển vị nhằm đến một đích xác định hoàn thành; vì vậy, những câu như (12b) chỉ nhận giá trị đúng tại một thời đoạn đơn, chứ không phải “tại bất kỳ phân đoạn con nào hay tại một thời đoạn lớn hơn thời đoạn liên quan” [38:17]

Sự tình đoạn tính hữu đích bao hàm một sự thay đổi phức thể, còn sự tình điểm tính hữu đích bao hàm một sự thay đổi đơn thể Sự khác biệt giữa hai loại

Trang 37

sự tình này là sự có mặt trong cấu trúc của sự tình đoạn tính hữu đích là một sự tình gây khiến dẫn đến sự thay đổi liên quan:

John đã xây một căn nhà

John đã rời khỏi căn nhà

Sự chuyển thái phức thể trong (13a) biểu hiện ở chỗ có thể phân đoạn sự tình “built a house” thành những sự tình bộ phận như “laid the foundations”,

“built walls” Trong khi đó, sự tình (13b) chỉ bao hàm một sự chuyển vị đơn nhất, nghĩa là sự chuyển vị giữa hai trạng thái: “ở bên trong căn nhà” và “ở bên ngoài căn nhà”

Một điểm nổi bật nữa trong cách tiếp cận của Dowty là ông phân tích sự tình thành các thành tố mà chúng tôi gọi là các sự tình bộ phận Sự tình tĩnh không bao hàm bất kỳ sự thay đổi nào nên được xem là sự tình đồng chất bất khả phân Trong khi đó, sự tình hoạt động bao hàm những thay đổi đồng chất ở một phân đoạn nào đó thuộc thời đoạn của sự tình, song xét trên toàn thời đoạn nó có thể bao hàm những thay đổi không đồng chất:

Hàng ngày Mary đi học lúc 7 giờ

Mary đang đi học

Dễ dàng nhận thấy, sự tình động trong (14a) được miêu tả dưới góc độ tĩnh,

và nó bao hàm một hoạt động không thay đổi, và được miêu tả về phương diện thể như một sự tình tái diễn hay thói quen (iterative or habitual aspect) Ở điểm này ta thấy sự tình trong (14a) có những tương đồng về thể với sự tình như

“Mary is very punctual” cũng được miêu tả dưới góc độ thể tái diễn hay thói

quen Còn sự tình trong (14b) miêu tả một chuỗi các thay đổi vị trí trong không gian và trong thời gian nên nó tương thích với giác độ tiếp diễn,

Trang 38

ngược lại (14a) không bao hàm bất kỳ sự thay đổi nào nên không thể kết hợp với giác độ tiếp diễn

Các sự tình điểm tính hữu đích và đoạn tính hữu đích bao hàm những thay đổi xác định, nhưng bản chất của sự thay đổi của hai loại sự tình khác biệt nhau

Sự tình hữu đích điểm tính bao hàm sự chuyển thái có thể được diễn giải bằng vị từ “become”/ “trở nên”:

Một quả bom đã nổ tung tại góc đường

Ta có thể diễn giải như sau: nếu gọi “bomb” là a, x là trạng thái đầu, còn y

là trạng thái sau chuyển thái: [a(x) become (exploded) (y)]

Sự tình đoạn tính hữu đích có thể bao hàm một sự tình hoạt động với tư cách là sự tình gây khiến (cause) và một sự tình tĩnh với tư cách là sự tình kết quả:

John đã mở cửa

Ta có thể phân khúc sự tình trong (16) như sau:

[[John does something] CAUSE [BECOME [the door is open]]

Như vậy, [John does something] là sự tình hoạt động gây khiến, còn [the door is open] là sự tình tĩnh kết quả

Như vậy, với việc phân tách sự tình về phương diện ngữ nghĩa-logic như trên, Dowty đồng nhất sự tình gây khiến (causatives) với sự tình hữu đích đoạn tính (accomplishments) Mặt khác, hai thành tố cơ bản trong việc xác định thể của Dowty là sự tình gây khiến được đánh dấu bằng “CAUSE” và sự tình tĩnh kết quả được đánh dấu bằng BECOME trong cấu trúc ngữ nghĩa-logic của sự tình Tuy nhiên, hướng tiếp cận thể dựa trên cấu trúc logic-ngữ nghĩa của vị từ của Dowty dẫn đến một số vấn đề sau:

Khái niệm “sự thay đổi mang tính xác định của trạng thái” (definite change

of state) được biểu thị bằng BECOME của Dowty là tiêu chí để xác định tính hữu

Trang 39

đích của sự tình2 không mang tính bao quát Có một số vị từ như hit, knock, kick, slap, tap, blink, flash… đều miêu tả những sự tình mà điểm kết thúc của chúng là

trở lại trạng thái ban đầu (Talmy, 1985) Vì vậy, mặc dù được xem là biểu thị sự thay đổi xác định nhưng lớp vị từ này không thể phân tích thông qua

“BECOME” vì nó không dẫn đến bất kỳ trạng thái hay hoạt động nào Dựa trên thuộc tính này, Smith (1991) bổ sung một sự tình mới vào phân loại của Vendler,

đó là sự tình điểm tính vô đích (semelfactive), chẳng hạn sự tình He coughed all night với vị từ cough (ho) được xem là sự tình điểm tính vô đích và nó được

miêu tả dưới giác độ thể tái diễn

Việc phân tích sự tình đoạn tính hữu đích như cấu trúc gây khiến của Dowty bộc lộ một số nhược điểm: (a) gây khiến không phải là thuộc tính cần và

đủ trong phân tích sự tình đoạn tính hữu đích Vì sự tình gây khiến không chắc là

sự tình đoạn tính hữu đích, chẳng hạn “Mai dắt chó đi dạo trong công viên 20 phút” là một sự tình gây khiến, nhưng không phải sự tình đoạn tính hữu đích

Mặt khác, sự tình đoạn tính hữu đích không nhất thiết phải có tính gây khiến,

“Mai lái xe từ nhà đến trường mất 20 phút” là sự tình chuyển động có đích hay

nói cách khác đó là sự tình đoạn tính hữu đích, nhưng không phải là sự tình gây khiến; (b) việc xem sự tình đoạn tính hữu đích có cấu trúc gây khiến dẫn đến những hệ lụy không mong muốn trong việc xác định kiểu loại sự tình Việc xác

định ý nghĩa thể của hai sự tình “Nam ăn một trái xoài” và “Nam ăn xoài” không

dựa trên cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ mà dựa trên thuộc tính định lượng của tham

tố bổ ngữ trực tiếp: “Nam ăn một trái xoài” là sự tình đoạn tính hữu đích, còn

“Nam ăn xoài” là đoạn tính vô đích

1.2 Hướng tiếp cận thể dựa trên quan hệ bộ phận-tổng thể của sự tình 1.2.1 Ngữ nghĩa học sự tình (event-based semantics)

Thuật ngữ event-based semantics thường được sử dụng trong phân tích ngữ nghĩa học dựa trên quan điểm của Davidson (1969) Davidson cho rằng các câu miêu tả hành động (action sentences) có một biến ẩn biểu thị và lượng hoá sự

2

(Trong nghiên cứu còn có một tiêu chí khác để xác định thuộc tính này, đó là sự đồng nhất về không gian và thời gian của sự tình.)

Trang 40

tình (e) Tham tố sự tình này được đánh dấu bằng các ngữ đoạn chỉ lượng trong câu, và do đó, những câu như trong (17) được xem là có cấu trúc logic (17b) khác với cấu trúc tham tố truyền thống (18c):

17 a John buttered the toast (John đã phết bơ vào cái bánh nướng.)

b e butter (John, the toast, e)

c butter (John, the toast)

Như vậy, theo quan điểm Davidson, câu hành động được phân tích thành cấu trúc tham tố với một tham tố nhiều hơn cấu trúc tham tố truyền thống, đó là

tham tố sự tình (e) Do đó, vị từ butter trong (17b) được xem như biểu thị mối

quan hệ ba tham tố giữa chủ thể thực hiện hành động “phết bơ” (John), và đối tượng “nhận” bơ (the toast) và một sự tình “phết bơ”, và câu (17b) được xem là khẳng định sự tồn tại của sự tình do nó miêu tả

Phân tích câu hành động của Davidson, Mourelatos (1978) đưa ra mô hình phân loại sự tình như sau:

Hình 1.2 Loại sự tình theo cách phân loại của Mourelatos (1978) Theo sơ đồ này, sự tình được lưỡng phân thành trạng thái và hành động

(occurences), sau đó hành động tiếp tục được phân thành quá trình (processses)

và biến cố (events), biến cố lại tiếp tục phân hai tiểu loại đối lập nhau về thuộc tính thời gian là diễn trình (developments) và điểm tính (punctual occurence) Sự

tình quá trình (processses) đồng nhất với sự tình hoạt động (activities) của

Vendler, còn biến cố (events) là sự tình động hữu đích bao gộp hai tiểu loại diễn trình và điểm tính, đồng nhất với hai sự tình đoạn tính hữu đích và sự tình điểm

tính hữu đích của Vendler Mouralatos đưa ra các ví dụ sau để minh họa cho ba loại sự tình chính như trong (18):

Situations

States Occurrences

(actions) Processses

(activities)

Events (performances) Developments

(accomplishments)

Punctual occurrences (achievements)

Ngày đăng: 05/04/2017, 00:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Cấu trúc sự tình hữu kết và vô kết  Như vậy, có thể nói sự tình hữu kết là sự tình được miêu tả trong toàn cục,  còn sự tình vô kết chỉ được miêu tả một phân khúc nào đó của nó - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 2.1 Cấu trúc sự tình hữu kết và vô kết Như vậy, có thể nói sự tình hữu kết là sự tình được miêu tả trong toàn cục, còn sự tình vô kết chỉ được miêu tả một phân khúc nào đó của nó (Trang 90)
Hình 2.2 Cấu trúc tri nhận của Accomplishments–sự tình đoạn tính hữu đích - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 2.2 Cấu trúc tri nhận của Accomplishments–sự tình đoạn tính hữu đích (Trang 92)
Hình 2.5 Cấu trúc tri nhận của Achievements–sự tình điểm tính hữu đích  Trong sự tình chuyển động do sơ đồ trên biểu thị, ta thấy thực thể chuyển  động (Meggie) liên tục thay đổi  vị trí trong  không  gian,  và sự thay đổi này này  cùng ứng với diễn tiến  - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 2.5 Cấu trúc tri nhận của Achievements–sự tình điểm tính hữu đích Trong sự tình chuyển động do sơ đồ trên biểu thị, ta thấy thực thể chuyển động (Meggie) liên tục thay đổi vị trí trong không gian, và sự thay đổi này này cùng ứng với diễn tiến (Trang 96)
Hình 2.11 Chuyển động bao gộp hướng và đích - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 2.11 Chuyển động bao gộp hướng và đích (Trang 103)
Hình 3.2 Sự khác biệt giữa across the room và across to the lamp - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 3.2 Sự khác biệt giữa across the room và across to the lamp (Trang 116)
Hình 3.3 Cấu trúc của sự tình điểm tính vô đích - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 3.3 Cấu trúc của sự tình điểm tính vô đích (Trang 119)
Hình 3.5 Giác độ không hoàn thành của sự tình (11b) - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 3.5 Giác độ không hoàn thành của sự tình (11b) (Trang 122)
Hình 3.8 The climbers were reaching the top of Mt. Whitney - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 3.8 The climbers were reaching the top of Mt. Whitney (Trang 127)
Hình 4.4 Tiêu điểm của sự tình điểm tính hữu đích miêu tả dưới giác độ tiếp diễn  Như vậy, giác độ tiếp diễn hay cụ thể là hình thái tiếp diễn chỉ miêu tả  một phân khúc hay một bộ phận của sự tình liên quan (như trong hình 4.4) - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 4.4 Tiêu điểm của sự tình điểm tính hữu đích miêu tả dưới giác độ tiếp diễn Như vậy, giác độ tiếp diễn hay cụ thể là hình thái tiếp diễn chỉ miêu tả một phân khúc hay một bộ phận của sự tình liên quan (như trong hình 4.4) (Trang 167)
Hình 4.5 Tiêu điểm của sự tình điểm tính vô đích miêu tả dưới giác độ tiếp diễn - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 4.5 Tiêu điểm của sự tình điểm tính vô đích miêu tả dưới giác độ tiếp diễn (Trang 167)
Hình 4.7 Giác độ tiếp diễn miêu tả một phân khúc trước sự tình hay tiền sự tình  Dựa trên các ý nghĩa thể của sự tình - kết quả của sự tương tác giữa giác độ thể - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 4.7 Giác độ tiếp diễn miêu tả một phân khúc trước sự tình hay tiền sự tình Dựa trên các ý nghĩa thể của sự tình - kết quả của sự tương tác giữa giác độ thể (Trang 170)
Hình 4.9 Sự tình điểm tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 4.9 Sự tình điểm tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành (Trang 174)
Hình 4.8 Cấu trúc sự tình chuyển động đoạn tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành  Như vậy, giác độ hoàn thành không tập trung vào một phân khúc hay một - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 4.8 Cấu trúc sự tình chuyển động đoạn tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành Như vậy, giác độ hoàn thành không tập trung vào một phân khúc hay một (Trang 174)
Hình 4.10: Cấu trúc của sự tình điểm tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành  Tóm  lại,  sự  tình  chuyển  động  dưới  giác  độ  hoàn  thành  có  ý  nghĩa  thể  tuỳ  thuộc  vào  loại  sự  tình,  tức  sự  tương  tác  giữa  loại  sự  tình  với  hình  thái  si - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình 4.10 Cấu trúc của sự tình điểm tính hữu đích dưới giác độ hoàn thành Tóm lại, sự tình chuyển động dưới giác độ hoàn thành có ý nghĩa thể tuỳ thuộc vào loại sự tình, tức sự tương tác giữa loại sự tình với hình thái si (Trang 175)
Hình như những nếp nhăn nheo lạ lùng trên gương mặt vẫn gặp lại - Ý nghĩa thể của vị từ chuyển động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt
Hình nh ư những nếp nhăn nheo lạ lùng trên gương mặt vẫn gặp lại (Trang 408)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm