1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh

103 431 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả phân tích mẫu cho thấy môi trường nước thải tại làng nghề Đại Lâm có dấu hiệu bị ô nhiễm nặng các chất hữu cơ, môi trường nước ngầm có dấu hiệu ô nhiễm sắt, vấn đề quản lý chất t

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THU HIỀN

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG

LÀNG NGHỀ NẤU RƯỢU ĐẠI LÂM, XÃ TAM ĐA,

HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới

sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hiền

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh, người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu,

sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của cô đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin cám ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học “Khoa học Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu ích

và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cám ơn về những đóng góp

có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu

Xin cám ơn các anh chị làm việc tại Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường – Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi tham gia khóa học và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thiết khoa học 2

1.3 Mục đích nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Làng nghề với phát triển kinh tế xã hội 4

2.1.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề 4

2.1.2 Phân loại và đặc trưng sản xuất của các làng nghề 5

2.1.3 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội 7

2.2 Tình hình phát triển làng nghề ở việt nam 11

2.2.1 Vài nét về lịch sử phát triển của làng nghề Việt Nam 11

2.2.2 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay 13

2.2.3 Khái quát về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam 15

2.3 Tình hình phát triển làng nghề tỉnh bắc ninh 20

2.3.1 Lịch sử phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 20

2.3.2 Những tồn tại trong phát triển làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh 21

2.3.3 Tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề trong tỉnh Bắc Ninh 23

Phần 3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

Trang 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Phạm vi nghiên cứu 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu 26

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 26

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 27

3.4.3 Phương pháp khảo sát và lấy mẫu 27

3.4.4 Phương pháp phân tích 33

3.4.5 Phương pháp so sánh đối chứng 34

3.4.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 35

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội làng nghề đại lâm, xã tam đa 36

4.1.1 Vị trí địa lý 36

4.1.2 Địa hình, địa chất 37

4.1.3 Điều kiện khí hậu 37

4.1.4 Điều kiện về thủy văn 38

4.1.5 Điều kiện kinh tế xã hội 38

4.2 Thực trạng sản xuất làng nghề rượu đại lâm 41

4.2.1 Thực trạng chung 41

4.2.2 Phân bố các hộ sản xuất tại làng nghề Đại Lâm 48

4.2.3 Thực trạng phát sinh các nguồn chất thải tại làng nghề Đại Lâm 49

4.3 Hiện trạng môi trường làng nghề đại lâm 55

4.3.1 Hiện trạng môi trường không khí xung quanh 56

4.3.2 Hiện trạng môi trường nước 60

4.3.5 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất làng nghề đến môi trường xã hội 69

4.4 Hiện trạng công tác quản lý môi trường làng nghề đại lâm 72

4.4.1 Chính sách quản lý môi trường của chính quyền địa phương 72

4.4.2 Ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư 73

4.4.3 Hiện trạng chất thải rắn Error! Bookmark not defined 4.5 Các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động sản xuất rượu và cải thiện chất lượng môi trường làng nghề đại lâm 78

Trang 6

4.5.1 Giải pháp về chính sách 78

4.5.2 Giải pháp giáo dục môi trường 79

4.5.3 Các giải pháp công nghệ 79

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 85

5.1 Kết luận 85

5.2 Kiến nghị 86

Tài liệu tham khảo 87

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các dạng chất thải phát sinh tại một số làng nghề địa bàn tỉnh Bắc Ninh 23

Bảng 3.1 Vị trí lấy mẫu không khí 28

Bảng 3.2 Vị trí lấy mẫu nước thải 30

Bảng 3.3 Bảng vị trí lấy mẫu phân tích môi trường nước mặt 31

Bảng 3.4 Vị trí lấy mẫu nước ngầm làng Đại Lâm 32

Bảng 3.5 Bảng các thông số và phương pháp phân tích chất lượng không khí 33

Bảng 3.6 Bảng các thông số và phương pháp phân tích chất lượng nước 34

Bảng 4.1 Cơ cấu phân bố lao động tại xã Tam Đa năm 2014 38

Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi của xã năm 2014 39

Bảng 4.3 Bảng quy mô chăn nuôi lợn của Đại Lâm 42

Bảng 4.4 Nhu cầu sử dụng nguyên, nhiên liệu làng nghề Đại Lâm 42

Bảng 4.5 Giá bán của một số loại rượu ở Đại Lâm 47

Bảng 4.6 Thống kê thu nhập bình quân của làng nghề Đại Lâm 47

Bảng 4.7 Bảng phân bố các hộ nấu rượu và chăn nuôi theo đơn vị hành chính 48

Bảng 4.8 Bảng thống kê các hộ có bể bioags làng Đại Lâm 48

Bảng 4.9 Bảng tính toán khối lượng phát sinh nước thải sinh hoạt làng Đại Lâm 50

Bảng 4.10 Sản lượng rượu gạo và sắn bình quân 1 ngày ở Đại Lâm theo điều tra 51

Bảng 4.11 Nhu cầu phát thải nước ngâm, rửa săn và vo gạo từ quá trình sản xuất rượu làng Đại Lâm 51

Bảng 4.12 Tổng lượng nước thải chăn nuôi làng Đại 52

Bảng 4.13 Bảng dự toán khối lượng chất thải rắn phát sinh trong chăn nuôi tại làng Đại Lâm 54

Bảng 4.14 Bảng kết quả đo đạc và phân tích chất lượng môi trường không khí làng Đại Lâm 57

Bảng 4.15 kết quả phân tích nước thải làng nghề Đại Lâm 61

Bảng 4.16 Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại làng nghề Đại Lâm 64

Bảng 4.17 Kết quả phân tích nước ngầm 67

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đến sức khỏe người dân 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực 13

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu không khí 29

Hình 3.2 Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước thải làng nghề 31

Hình 3.3 Sơ đồ vị trí lẫy mẫu nước mặt làng nghề Đại Lâm 32

Hình 3.4 Sơ đồ vị trí lẫy mẫu nước ngầm làng nghề Đại Lâm 33

Hình 4.1 Bản đồ xã Tam Đa 36

Hình 4.2 Tình hình số hộ sản xuất rượu Đại Lâm từ năm 2011-2015 41

Hình 4.3 Sơ đồ quy trình sản xuất rượu sắn, gạo làng nghề Đại Lâm 43

Hình 4.4 Khu vực sản xuất rượu làng Đại Lâm 45

Hình 4.5 Trang thiết bị sản xuất của làng nghề Đại Lâm 46

Hình 4.6 Sơ đồ phát sinh nước thải và thành phần nước thải từ hoạt động nấu rượu truyền thống Đại Lâm 50

Hình 4.7 Các nguồn phát sinh ra chất thải rắn từ hoạt động làng nghề nấu rượu truyền thống Đại Lâm 53

Hình 4.8 Bã rượu (bỗng rượu) 53

Hình 4.9 Sơ đồ hệ thống xử lý chất thải, nước thải chăn nuôi làng Đại Lâm 76

Hình 4.10 Sơ đồ các yếu tố tác động gây ô nhiễm môi trường làng Đại Lâm 77

Hình 4.11 Sơ đồ xử lý nước thải tập trung làng nghề Đại Lâm 80

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Làng nghề Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh từ lâu

đã nổi tiếng với nghề nấu rượu với 398 hộ tham gia nấu rượu Ngoài nghề nấu rượu Đại Lâm còn kéo theo nghề phụ là chăn nuôi lợn nhằm tăng thêm thu nhập Bên cạnh đó cũng Đại Lâm cũng là một trong những làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở Bắc Ninh Vấn đề nước thải và chất thải rắn từ hoạt động nấu rượu và chăn nuôi hầu như không được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để mà xả trực tiếp ra ao và sông gây ô nhiễm môi trường phá hủy cảnh quan nông thôn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Bằng các phương pháp khảo sát, lấy mẫu phân tích để nghiên cứu thực trạng sản xuất, nguồn phát sinh chất thải và vấn đề quản

lý môi trường của làng nghề Kết quả phân tích mẫu cho thấy môi trường nước thải tại làng nghề Đại Lâm có dấu hiệu bị ô nhiễm nặng các chất hữu cơ, môi trường nước ngầm có dấu hiệu ô nhiễm sắt, vấn đề quản lý chất thải rắn từ hoạt động sản xuất vẫn còn nhiều bất cập đặc biệt là vấn đề về nguồn sỉ than và chất thải từ hoạt động chăn nuôi Từ đó tôi có đề xuất ra một số biện pháp quản lý và

xử lý chất thải nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề góp phần giúp làng nghề cải thiện được các vấn đề về môi trường tạo nên bộ mặt khang trang hơn làng nghề Đại Lâm

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Dai Lam trade village is located on Tam Da commune, Yen Phong district, Bac Ninh province It is famous for brewing alcohol for a long time Dai Lam also has another sideline It is breeding pigs in order to raise the income However Dai Lam is one of the most poluted trade villages in Bac Ninh Almost waste water and hard waste matter from brewing alcohol and breeding are not processed They are sometimes processed but not absolute They are let out the ponds directly It polutes the environment, destroys the beauty of rural area and affects community health By studying and analysing the real situation of production, the source of waste matter and the environment management of the trade village I see that the environment of Dai Lam has the signs of poluting with organic substances The underground water system has the signs of poluting with irons The waste matter management has some problems about coal residues and waste from breedings Because of these problems, I give some management methods and deal with waste matter I hope that my ideas can save environment

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô

và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay cả nước

có tới 2017 làng nghề, riêng đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề Với việc ban hành Nghị định số 134/2004/NĐ – CP (9/6/2004) về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn của Chính phủ thì tốc độ phát triển mở rộng của các làng nghề truyền thống diễn ra khá mạnh Hiện nay, ở hầu hết các làng nghề, mức thu nhập tăng lên nhưng chất lượng cuộc sống lại giảm xuống do môi trường xuống cấp và chi phí cho sức khỏe ngày càng tăng đang đe dọa nghiêm trọng tính bền vững của làng nghề Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề có xu thế ngày càng trầm trọng hơn, trong đó có làng nghề Đại Lâm – một điểm nóng về ô nhiễm môi trường ở tỉnh Bắc Ninh

Làng Đại Lâm, xã Tam Đa nằm phía Đông Bắc của huyện Yên Phong,Tỉnh Bắc Ninh, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km và thành phố Bắc Ninh khoảng 5km, đồng thời lại có tuyến giao thông thủy quan trọng trên sông Cầu chạy qua Với vị trí thuận lợi, Đại Lâm sớm phát triển thương nghiệp buôn bán, trao đổi hàng hóa với các vùng xung quanh

Tam Đa là xã có nhiều ngành nghề phụ phát triển, song tập trung chủ yếu là nghề nấu rượu truyền thống nổi tiếng từ xưa tới nay với sản phẩm rượu Đại Lâm

mà ai cũng biết đến Hiện nay với 398 hộ đang làm nghề nấu rượu kết hợp chăn nuôi lợn Các chất thải từ sản xuất, chăn nuôi và sinh hoạt hàng ngày của người dân chưa qua xử lý đều được đổ trực tiếp vào các ao hồ hoặc đổ ra sông Cầu Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng của xã còn thiếu, chưa đồng bộ càng làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở đây trở nên đặc biệt nghiêm trọng

Chính vì vậy, việc điều tra khảo sát, nghiên cứu các nguồn thải, đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường là cơ sở để đưa ra các giải pháp cụ thể và hữu hiệu giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề Đại Lâm Để góp phần vào việc phát triển làng nghề, bảo vệ môi trường ở địa phương trước tình hình đó tôi

Trang 13

đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” Đề tài thực hiện sẽ cung

cấp các thông tin về hiện trạng môi trường khu vực làng nghề và đề xuất ra một

số giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường phục vụ cho sự phát triển của làng nghề

1.2 GIẢ THIẾT KHOA HỌC

Một lượng lớn nước thải, chất thải từ nấu rượu và chăn nuôi vẫn hàng ngày được thải trực ra ao hồ cống rãnh chung mà chưa được qua xử lý đang là vấn đề nhức nhối và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại làng nghề nấu rượu Đại Lâm cũng như tại các làng nghề nấu rượu khác trên cả nước Theo phản ánh của người dân sống quanh làng nghề vấn đề ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Trong quá trình thực hiện đề tài, các mẫu không khí và nước tại khu vực nghiên cứu sẽ được phân tích nhằm kiểm chứng cho vấn đề ô nhiễm tại làng nghề nấu rượu Kết quả phân tích sẽ trả lời cho câu hỏi môi trường đang bị ô nhiễm như thế nào, ảnh hưởng tới người dân ra sao từ đó mới đề xuất ra một số giải pháp quản lý và xử lý nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động nấu rượu và chăn nuôi gây ra

Thời gian thực hiện bắt đầu từ tháng 2/2015 đến tháng 4/2016

1.5.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

- Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ đánh giá hiện trạng môi trường sản xuất rượu và chăn nuôi làng nghề Đại Lâm Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường cho các

hộ sản xuất rượu và chăn nuôi Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ cho việc học tập và công tác nghiên cứu sau này

Trang 14

- Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong hoạt động nấu rượu chăn nuôi, và đề xuất những giải pháp để cải thiện môi trường cho làng nghề Đại Lâm và nâng cao chất lượng môi trường sống cho cộng đồng dân cư

Cung cấp thông tin cho người dân về hiện trạng môi trường tại địa phương, từ đấy giúp cho người dân nhận biết được các vấn đề môi trường đang xảy ra để người dân ý thức được việc bảo vệ môi trường tại địa phương

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 LÀNG NGHỀ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

2.1.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề

mô nào đó và mang tính ổn định

Theo Thông tư số 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng nghề

- Làng nghề truyền thống là làng nghề có các hoạt động ngành nghề được hình thành từ lâu đời, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay

Tuy nhiên, không phải làng nào có ngành nghề phi nông nghiệp đều được gọi là làng nghề Làng được gọi là làng nghề khi đã đạt được những tiêu chí nhất định

 Tiêu chí làng nghề

Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn đã đưa ra những tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau:

- Nghề truyền thống

Trang 16

+ Là nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm

đề nghị công nhận

+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc

+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

- Làng nghề: Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau:

+ Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

+ Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

+ Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Làng nghề truyền thống: là làng đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận

Trước đây, do chưa thống nhất về tiêu chí làng nghề nên có nhiều tài liệu số liệu rất khác nhau về làng nghề cả nước Theo JICA và Bộ NN&PTNT, năm 2002

cả nước có 2.017 làng nghề; theo tác giả Tăng Thế Cường, Viện Chiến lược và Chính sách Bộ Khoa học và Công nghệ thì có 1.450 làng nghề; theo Bộ Công nghiệp thì có 1.502 làng nghề (2004) Theo kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp

và thủy sản năm 2006 cả nước có 1.077 làng nghề (Tổng cục thống kê, 2008)

2.1.2 Phân loại và đặc trưng sản xuất của các làng nghề

Các làng nghề ở Việt Nam có đặc điểm phong phú đa dạng về nhiều mặt như bề dày lịch sử, ngành nghề và sản phẩm Do đó, các làng nghề có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau Dựa theo các quy định của nhà nước về quan điểm của các nhà nghiên cứu, làng nghề có thể được phân loại theo những cách chủ yếu sau:

Phân loại theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm:

+ Làng nghề thủ công: Làm ra các mặt hàng sử dụng thường nhật như dao, kéo, mây tre đan gia dụng, chiếu Đặc điểm của các làng nghề này là sản xuất thủ công bằng tay và các công cụ đơn giản Do chi phí thấp nên loại hình này khá phổ biến

Trang 17

+ Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Làm ra các mặt hàng có giá trị văn hóa và trang trí như đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tượng gỗ, đá, các đồ mỹ nghệ bằng bạc, dệt thảm

+ Làng nghề công nghiệp: Sản xuất các hàng hóa thành phẩm và bán thành phẩm như sản xuất giấy, dệt, may mặc, gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại, thuộc da

+ Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: Chế biến các loại nông sản như xay xát, sản xuất miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, nấu rượu, giết mổ vật nuôi, chế biến hoa quả

+ Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên liệu: Sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi, cát

+ Làng nghề buôn bán và dịch vụ: Thực hiện bán buôn, bán lẻ và cung cấp dịch vụ

- Phân loại theo số lượng làng nghề:

+ Làng một nghề là làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề phi nông nghiệp xuất hiện, tồn tại và chiếm ưu thế tuyệt đối

+ Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỉ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau Loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh

- Phân loại theo thời gian làm nghề:

+ Làng nghề truyền thống là những làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay

+ Làng nghề mới hình thành là do yêu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của địa phương (chủ yếu là giải quyết vấn đề lao động) Các làng nghề mới hình thành này do còn hạn chế về các điều kiện sản xuất nên sản phẩm của làng nghề thường có chất lượng thấp hoặc ở các công đoạn thô

- Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: Trong những năm gần đây, sự phát triển “nóng” của các làng nghề đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề trong cả nước Căn cứ theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm có thể phân ra các nhóm làng nghề sau:

Trang 18

+ Làng nghề ô nhiễm nặng là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn 5 lần 7 TCCP

+ Làng nghề ô nhiễm trung bình là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn

từ 2 – 5 lần TCCP

+ Làng nghề ô nhiễm nhẹ là làng nghề có các thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải không quá 2 lần TCCP

Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm nhằm đánh giá đặc trưng và quy mô nguồn thải từ hoạt động sản xuất của các làng nghề Cách phân loại này đòi hỏi phải có đầy đủ các số liệu về môi trường đất, nước, không khí tại các làng nghề mới đảm bảo độ chính xác

Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích

mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều

có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đối với môi trường

2.1.3 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội

2.1.3.1 Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH – HĐH

Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển

Xét trên góc độ phân công lao động thì các làng nghề đã có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp

Trang 19

Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường, năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới

Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động, khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi một

sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động

Sự phát triển của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH Sự phát triển lan tỏa của làng nghề đã mở rộng quy mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động (Đỗ Quang Dũng, 2006)

2.1.3.2 Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương

mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác

Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề đã phát triển và hình thành nhiều nghề khác; nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Mặt khác, việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lí lực lượng lao động nông thôn Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển KT-XH ở vùng đó (Ngô Trà Mai, 2009) Đặc biệt, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm truyền thống có ý nghĩa rất quan trọng Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD mỗi năm Trên phương diện xã hội, xuất khẩu hàng thủ công truyền thống là nhân tố quan trọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi

Trang 20

Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động Ở nơi có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập và mức sống cao hơn so với vùng thuần nông

2.1.3.3 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do

Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ công không đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ do thợ thủ công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là quy

mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làng nghề có thể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh Mặt khác, do đặc điểm sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học và tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng số lao động làng nghề

Sự phát triển của làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân

tự do ở nông thôn Quá trình di dân tự do hình thành một cách tự phát do sự tác động của quy luật cung cầu lao động; diễn ra theo hướng di chuyển từ nơi thừa lao động và giá nhân công rẻ đến nơi thiếu lao động với giá nhân công cao, từ nơi

có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao Quá trình này xét trên bình diện chung của nền kinh tế đã có những tác động tích cực làm giảm sức ép việc làm ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu lao động giản đơn ở thành phố; đồng thời làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống xã hội, giảm bớt đói nghèo cho người dân nông thôn Tuy nhiên, nó lại có những tác động tiêu cực tới đời sống KT-XH, gây áp lực đối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở thành thị và là một khó khăn lớn trong vấn đề quản lí đô thị

Việc phát triển các làng nghề được thúc đẩy ở khu vực nông thôn, ngoại thị

là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân Phát triển làng nghề theo phương châm “Ly nông, bất ly hương” không chỉ có khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị

Trang 21

2.1.3.4 Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng của công nghiệp hóa nông thôn Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là biện pháp thúc đẩy kinh tế hàng hóa ở nông thôn phát triển, tạo ra sự chuyển biến mới về chất, góp phần phát triển KT-XH khu vực nông thôn Vì vậy, phát triển làng nghề là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình đô thị hóa

Trong mối quan hệ biện chứng của quá trình sản xuất hàng hóa, các nghề thủ công truyền thống đã phá vỡ thế độc canh trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề trong một làng nông nghiệp Đồng thời cùng với sản xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực ở nông thôn như đất đai, vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, thị trường Vì vậy, một nền kinh tế hàng hóa với sự đa dạng của các loại sản phẩm được hình thành và phát triển, trong mối quan hệ với các ngành nghề khác, làng nghề đóng góp vai trò động lực

Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá Những trung tâm này ngày càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn Hơn nữa, nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Dần dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, nông thôn đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việc hình thành các thị trấn, thị

tứ Vì vậy dễ nhận thấy rằng ở một làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phố chợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ Xu hướng đô thị hóa nông thôn

là xu hướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển về KT-XH ở nông thôn, là yêu cầu khách quan trong phát triển làng nghề (Bộ Công Thương, 2008)

2.1.3.5 Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc

Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy; đồng thời là

sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc Các làng nghề phát triển sẽ bảo tồn, duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị văn hóa của dân tộc Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc

Trang 22

sáng tạo của người thợ thủ công Các sản phẩm của các làng nghề chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng mang sắc thái riêng có của dân tộc Việt Nam, nhiều sản phẩm làng nghề có giá trị, có tính nghệ thuật cao, trong đó hàm chứa những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề và được coi là biểu tượng nghệ thuật truyền thống của dân tộc đồng thời có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những thành tựu, phát minh mà con người đạt được

Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản văn hóa quý báu mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thể hệ sau Cho đến nay, nhiều sản phẩm làng nghề là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật còn được lưu giữ, trình bày tại nhiều viện bảo tàng nước ngoài

2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM

2.2.1 Vài nét về lịch sử phát triển của làng nghề Việt Nam

Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử Đặc biệt, từ giai đoạn đổi mới nền kinh tế đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nước cũng như trên toàn thế giới, sự phát triển của các làng nghề cũng

có những thay đổi lớn, có những thành công mới nhưng cũng có không ít những vấn đề nan giải

Xuất hiện từ rất lâu đời (điển hình như các làng nghề ở Hà Tây cũ, Bắc Ninh, Hưng Yên có từ thời nhà Lê, Nhà Lý) Các làng nghề nông thôn đã có những bước đánh dấu khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam

Làng nghề trước Cách mạng tháng Tám đã khá phong phú, đa dạng, nó được hình thành từ các nghề cũ và một số nghề mới được phát triển nhằm đáp ứng thị trường luôn thay đổi phức tạp (nhìn chung không khác lắm so với các nghề đương thời) Thời gian này, nghề dệt lụa (Hà Đông) đã có những bước tiến

xa hơn, trở thành nghề thủ công xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho số lượng lao động lớn

Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, có thể chia lịch sử phát triển của làng nghề thành các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác

Trang 23

xã Tại một số làng nghề đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước XHCN, với các hàng hóa chính

là hàng thủ công mỹ nghệ Do đó, chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước Cũng chính trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một

- Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Sự suy sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát Nhiều làng nghề đã được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân

- Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng nghề nói riêng Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình… (Nguyễn Thị Huế, 2013)

- Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Do tìm được hướng đi mới cho các sản phẩm của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh tế Việt Nam bước sang một giai đoạn mới Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trường của Việt Nam không ngừng được mở rộng Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng Chạm bạc Đồng Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng…) Hơn nữa nhiều làng nghề mới đã được hình thành (Làng gỗ Đồng

Kỵ, gạch ngói Hương Canh…)

Các làng nghề thu hút rất nhiều lao đông, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện chất lượng cuộc sống Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ

Trang 24

lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…) Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế giới nói chung (Trần Minh Yến, 2003)

2.2.2 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay

Theo thống kê, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực lượng lao động ở nông thôn Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác (Đặng Kim Chi, 2005) Làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản là:

* Phân bố làng nghề trong cả nước

Với các chỉ tiêu đã đề ra, cho nay, Việt Nam có khoảng 2.017 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng nghề, Bắc Ninh (187), Hải Dương (65), Hưng Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng Tuy nhiên, sự phân bố và phát triển các làng nghề lại không đồng đều trong cả nước Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (1.594 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng Miền Trung có khoảng

111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề (Sở tài nguyên môi trường tỉnh Bắc Ninh, 2012)

79

5.5 15.5

Miền Bắc Miền Trung Miền Nam

Hình 1.1 Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực

Trang 25

* Tình hình sản xuất của các làng nghề

- Nguyên liệu cho sản xuất:

Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu xây dựng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên

Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế Các làng nghề chế biến gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ

gỗ ga dụng và gỗ mỹ nghệ Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác

Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các

hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu Do đó, chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây lãng phí tài nguyên

- Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất

Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã

cũ, sử dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dùng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay cho bàn xoay bằng tay

Trang 26

2.2.3 Khái quát về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam

 Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề truyền thống tại Việt Nam

Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề “Môi trường làng nghề Việt Nam” hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liệu không gây ô nhiễm như thêu, may Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy: 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xẩy ra ở các dạng phổ biến sau đây:

- Ô nhiễm nước: ở Việt Nam, các làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc

ra sông Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung nấu kim loại, tẩy giấy

và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi rất khó chịu Hơn nữa là sự vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với các hàm lượng BOD, COD, SS và coliform, các kim loại nặng… ở cả nước mặt và nước ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con người Theo như một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Hầu như toàn bộ hệ thống nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm

Khảo sát tại 40 xã ở Hà Nội cho thấy khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng

từ các hoạt động sản xuất Xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Trì có hơn 30 hộ làm nghề miến dong, bánh đa với công suất từ 30 đến 40 tấn mỗi ngày Toàn bộ nước thải từ ngâm, tẩy trắng bột, cùng với nước thải trong chăn nuôi và sinh hoạt hằng ngày đều chảy trực tiếp vào hệ thống cống rãnh của địa phương, rồi đổ xuống dòng sông Nhuệ Hai xã Phú Diễn và Thượng Cát của huyện Từ Liêm có

Trang 27

nghề sản xuất đậu phụ và tình trạng nước thải từ sản xuất đậu phụ đến nước thải

từ các chuồng lợn cũng đổ ra hệ thống cống chung của xã bốc mùi hôi và ô nhiễm môi trường Ở huyện Từ Liêm còn một số làng nghề sản xuất bánh kẹo, mứt, ô mai, nghề làm dây ni-lon, sản xuất nhựa tái chế, nghề dệt vải cũng trong tình trạng nước thải từ quá trình sản xuất các sản phẩm đó đều thải trực tiếp vào

hệ thống cống thoát nước chung, hay các ao hồ của xã rồi đổ ra các sông Vấn đề

ô nhiễm nước tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm ngày càng trầm trọng Chế biến nông sản thực phẩm là loại hình sản xuất có nhu cầu lớn về sử dụng nước và đồng thời cũng thải ra một lượng nước không nhỏ Nước thải của các làng nghề này có đặc tính chung là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân huỷ sinh học Ví dụ như nước thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao (COD = 13.300 - 20.000mg/l; BOD5 = 5.500 - 125.000 mg/l) Đặc trưng nước thải của một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy chất lượng môi trường nước tại các làng nghề là rất đáng lo ngại (Bảng 2.1) Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài không qua bất

kỳ khâu xử lý nào Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường bị phân huỷ yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất

và suy giảm chất lượng nước ngầm

- Ô nhiễm không khí gây bụi, mùi, tiếng ồn và nóng do sử dụng than và củi chủ yếu trong sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ Mức độ ô nhiễm không khí tại các làng nghề tái chế kim loại cũng không nhỏ Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân loại, gia công sơ bộ, tẩy gỉ, nấu, cán, kéo, đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò đúc thép, hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10-15 lần Tại các làng nghề này, bụi thường có chứa kim loại mà chủ yếu là ô-xít sắt nồng độ lên tới 0,5mg/m3 làm cho không khí có mùi tanh Trong không khí tại các làng nghề này luôn phát hiện được hơi hóa chất độc hại như Cl, HCN, HCl, H2SO4, SO2, CO, NO tuy hàm lượng nhỏ nhưng có mặt thường xuyên trong không khí gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe cộng đồng

Một trong những điểm nóng về khói, bụi là tại các cơ sở sản xuất thép ở Châu Khê (Từ Sơn) Khói bụi từ hàng trăm lò đúc, cán thép không qua bất kỳ một biện pháp xử lý nào được xả trực tiếp vào môi trường, làm cho bầu không khí ở đây trở nên oi nồng, ngột ngạt Đã nhiều năm nay, ô nhiễm môi trường là một bài toán khó giải ở Châu Khê Theo số liệu thống kê, hiện toàn xã có hơn

Trang 28

850 hộ sản xuất, trong đó có gần 160 hộ sản xuất lớn với công suất trung bình

100 tấn/năm, sản phẩm chủ yếu của làng nghề là phôi đúc, sắt thép cán, lưới, dây kim loại, đinh… Các dạng phát thải từ hoạt động tái chế kim loại ở Châu Khê bao gồm: chất thải rắn (phế liệu không sử dụng được), hơi kim loại, các loại khí

ô nhiễm do quá trình cháy vật liệu bám theo phế liệu (sơn, dầu mỡ, polime) trong khi đúc thép sinh ra; bụi, hơi kim loại, khí than… do cắt, cán, kéo thép; nước thải chứa hoá chất và ion kim loại, hơi axit, kiềm sinh ra trong quá trình mạ thép… đều thải vào không khí, nước, đất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của dân

cư địa phương và các vùng lân cận

Kết quả phân tích của Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh cho thấy, hàm lượng bụi tại khu vực dân cư có tác động của hoạt động sản xuất vượt tiêu chuẩn từ 2- 3 lần, nồng độ khí CO, SO2 vượt gần 2 lần và cao gấp nhiều lần tại các lò đúc thép, nhiều loại khí độc hại, bụi sắt, hơi kim loại nặng đều vượt từ 5-

20 lần so với mức cho phép đối với khu dân cư Đặc biệt là yếu tố nhiệt độ tại các xưởng đúc, cán thép vượt nhiệt độ môi trường từ 8-100C

Tại các làng nghề mộc bụi cũng là một vấn đề đáng nói Bụi phát sinh trong quá trình vận chuyển và gia công sản phẩm Nồng độ bụi đo được tại làng mộc Bích Chu (Vĩnh Phúc) trong khoảng 4,8 – 24,5mg/m3, tại làng mộc Minh Tân (Vĩnh Phúc) trong khoảng 2,5 – 18,3mg/m3, tại làng mộc khắc gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) trong khoảng 1,2 – 9,8mg/m3, tại làng mộc Chàng Sơn (Hà Tây) là 4,7-8,3mg/m3 Nồng độ dung môi hữu cơ cũng tương đối cao tại các bộ phận sơn hoàn thiện sản phẩm, do đặc thù sản xuất tại hộ gia đình có mặt bằng chật nên bộ phận sơn thường được bố trí ngoài trời là chính, khả năng phát tán dung môi hữu

cơ ra môi trường xung quanh rất lớn Nhìn chung, so với tiêu chuẩn vệ sinh lao động (3733/ 2002/ QĐ-BYT), các yếu tố ô nhiễm đều có giá trị thấp hơn, bằng hoặc cao hơn Nhưng đa số các cơ sở sản xuất ở các làng nghề ở ngay trong khu vực nhà ở nên nếu so với TCVN 5937-1995 và TCVN 5938-1995 áp dụng đối với khu dân cư thì lại cao hơn rất nhiều lần

- Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…) hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông thường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe

Trang 29

Theo Báo cáo Môi trường quốc gia (2008) cho thấy, tại nhiều làng nghề,

tỷ lệ người mắc bệnh ( đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so với các làng không làm nghề Ở các làng nghề tái chế kim loại, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư, thần kinh rất phổ biến, nguyên nhân gây bệnh là do sự phát thải khí độc, nhiệt cao và bụi kim loại từ các cơ sở sản xuất

Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ

sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mùn, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải Bên cạnh đó,

ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc thu gom, xử lý chất thải

 Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề chế biến nông sản

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm đang là vấn đề bức xúc, nó như một hệ quả tất yếu khó tránh khỏi khi làng nghề chưa đầu tư thỏa đáng cho công tác môi trường

Các làng nghề này thường kết hợp với chăn nuôi lợn để tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp, vì vậy không chỉ nước thải từ hoạt động sản xuất mà nước thải, chất thải từ chăn nuôi cũng đang tác động đến môi trường sống

Theo Phạm Việt Anh đại học Nông Lâm Thái Nguyên thì tại Hà Nội, qua phân tích nước thải cho thấy, các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm có chỉ tiêu quan trắc vượt tiêu chuẩn cho phép cao nhất đến 9.200 lần so với quy chuẩn Điển hình như: Làng bún Phú Đô (phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm) hiện trung bình sản xuất 50 tấn bún/ngày, cung cấp cho gần một nửa thị trường Hà Nội Cả thôn có 205 hộ sản xuất và trên 250 hộ kinh doanh bún Hàng ngày bụi bẩn, dầu rửa bát, xà phòng, nước thải sản xuất bún… thải ra cống tiêu nước đổ thẳng ra sông Nhuệ Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội, thì mẫu nước thải tại hệ thống cống chung cuối làng có chứa hàm lượng BOD vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 4 lần, cặn lơ lửng, chất hữu cơ, nitơ, phốt pho trong nước thải rất cao gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng

Làng nghề sản xuất bún, bánh và dịch vụ xóm Chùa (xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, Phú Thọ) có 70 hộ làm nghề, trong đó có 24 hộ làm bún, bánh Số hộ tham gia sản xuất không nhiều nhưng do quy trình sản xuất còn lạc hậu, nước

Trang 30

thải với hàm lượng tinh bột lớn không được xử lý triệt để khiến môi trường xung quanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng Một số ít hộ tự xử lý bằng cách xây hầm biogas, xây bể lắng còn đa phần thải trực tiếp ra kênh mương nên tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ ô nhiễm do nước thải, chất thải từ làm nghề thải ra

Tại làng nghề nấu rượu Phú Lộc (xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương), toàn bộ nước thải của gần 200 hộ làm nghề nấu rượu, bánh đa và chất thải chăn nuôi được xả thẳng xuống ao, rồi đổ ra kênh trung thủy nông chảy ngang qua thôn, không qua bất cứ công đoạn xử lý nào Nước của hệ thống kênh mương luôn

có màu trắng đục Nhiều ao trong làng trở thành nơi chứa nước thải, rác thải cùng với bùn, cỏ dại và bèo tây ken dày đặc, mùi hôi thối nồng nặc

Còn ở làng nghề làm bánh đa Tống Buồng (xã Thái Thịnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương), từ nhiều năm nay, toàn bộ nước thải sau khi sản xuất bánh đa không qua xử lý mà được thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung của làng Qua phân tích môi trường nước mặt của Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường tỉnh cho thấy hàm lượng COD vượt từ 12-15 lần, TSS vượt từ 2-3 lần, Coliform vượt từ 11-19 lần, Amoni vượt từ 12-16 lần, Photphat vượt từ 26-31 lần tiêu chuẩn cho phép Các hộ sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công truyền thống, chất thải qua ngâm gạo và sản xuất bánh đa được thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên

Làng nghề bánh, bún Huỳnh Dương (xã Diễn Quảng, huyện Diễn Châu, Nghệ An), từ nhiều năm nay tình trạng nước thải chưa qua xử lí của những hộ làm bún, được thải trực tiếp ra môi trường, khiến cả làng phải hứng chịu mùi hôi thối, nhất là vào mùa hè oi bức như hiện nay Ảnh hưởng tới đời sống, sức khỏe cũng như hoạt động sản xuất của hàng nghìn hộ dân xung quanh Không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe, cuộc sống của người dân, trong những năm gần đây, vấn đề

ô nhiễm đã làm cho hơn 2.500m2 lúa không gieo cấy được, hoặc gieo cấy thì chậm phát triển, thu hoạch năng suất thấp

Nhìn chung, hiện các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm cơ bản vẫn mang tính tự nhỏ lẻ, công nghệ chưa được cải tiến, thiết bị thủ công, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, xưởng sản xuất lẫn vào khu dân cư Trong khi đó, để đầu

tư một hệ thống chuyên xử lý nước thải làng nghề rất khó vì các hộ sản xuất không tập trung, địa phương cũng chưa có kinh phí để làm

Trang 31

2.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TỈNH BẮC NINH

2.3.1 Lịch sử phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Theo Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2013), làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu Đến nay, tỉnh Bắc Ninh còn 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng nghề của tỉnh) Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nước

Về phân loại làng nghề có nhiều tiêu chí khác nhau như:

- Làng nghề truyền thống và làng nghề mới: Theo tiêu chí này, hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 30 làng nghề truyền thống và 32 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề truyền thống của cả nước

- Theo tiềm năng tồn tại và phát triển của làng nghề Theo tiêu chí này, Trong số 62 làng nghề ở Bắc Ninh, có thể phân thành 3 nhóm như sau:

1) Số làng nghề phát triển tốt: có 20 làng nghề, chiếm 32%; gồm các làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, sắt, thép, đồng, giấy, Những làng nghề này sản xuất các sản phẩm phù hợp với thị trường, luôn có sự đầu tư tăng cường năng lực sản xuất

2) Số làng nghề hoạt động cầm chừng không phát triển được: 26 làng nghề, chiếm 42%, bao gồm những làng nghề sản xuất, chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp như chế biến từ gạo (mì, bún, bánh, nấu rượu ), nuôi trồng, chế biến tơ tằm, mộc dân dụng

3) Số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một, mất nghề: 16 làng nghề, chiếm 26% Đây là những làng nghề mà sản phẩm làm ra không còn thích hợp với thị trường, do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm công nghiệp như gốm, dụng cụ cầm tay, tranh dân gian, mây tre đan

- Dựa trên các tiêu chí khác như theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm; nguồn thải và mức độ ô nhiễm thì có thể phân chia làng nghề của tỉnh theo các nhóm ngành chính sau:

Trang 32

 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ Nhóm làng nghề này chiếm số lượng lớn trong tổng số 62 làng nghề: Bánh đa thôn Đoài; bánh cuốn Mão Điền; Đậu gù Trà Lâm; Bún Tiền Trong, Tiền Ngoài Khắc Niệm…

 Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ: Dệt nhuộm Tương Giang, tơ tằm Vọng Nguyệt…

 Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng: làng nghề sản xuất vôi Đáp Cầu

 Làng nghề tái chế phế liệu: làng nghề sắt thép Châu Khê; đúc nhôm chì Văn Môn; đúc đồng Đại Bái, Quảng Bố; giấy Phong Khê, Phú Lâm

 Làng nghề thủ công mỹ nghệ: đồ gỗ Đồng Kỵ, Hương Mạc, Phù Khê…

 Làng nghề khác: làng chổi Xuân Hội

2.3.2 Những tồn tại trong phát triển làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh

Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong tỉnh

Tại các làng nghề, số người giàu và khá giàu ngày càng tăng, mức thu nhập

ở các làng nghề cao gấp từ 3 đến 4,5 lần so với các làng thuần nông Nhờ vậy góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Làng nghề còn là nơi cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với

Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề ở Bắc Ninh đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như sản xuất còn chưa ổn định, khả năng tổ chức quản lý, nguồn thiết bị, tài chính, kiến thức thị trường, kết cấu hạ tầng, công nghệ đều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Do đó chất lượng sản phẩm làm ra thấp, không cạnh tranh được thị trường trong và ngoài nước Hầu hết các làng nghề trong tỉnh chưa được quy hoạch hoàn chỉnh, vẫn còn mang tính tự phát

Làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh có sự phát triển khá nhanh và đóng góp nhất định vào sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển của làng nghề đã và đang gây ra những vấn đề tiêu cực về mặt xã hội và môi trường Phát triển bền vững kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường và yếu tố con người đang đặt ra bài toán khó khi môi trường tại một số làng nghề trong tỉnh đang bị suy giảm nghiêm trọng Các vấn đề được đặt ra như sau:

- Quy mô sản xuất nhỏ hẹp, đa số quy mô hộ gia đình: Sản xuất thường xen lẫn trong các khu dân cư nên các phát thải ra môi trường ảnh hưởng lớn tới đời

Trang 33

sống của người dân Do công nghệ, thiết bị lạc hậu và thủ công nên giá trị sản phẩm thấp Vốn đầu tư cho sản xuất, tiếp cận với thiết bị, công nghệ mới rất khó khăn nên ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh của sản phẩm.Thực tế cho thấy, hiện nay ở các làng nghề chỉ có 18% nhà xưởng kiên cố, 85% có sử dụng điện, 37% công việc được cơ giới hóa, còn lại làm bằng tay Mặt khác, việc sử dụng hóa chất, nguyên nhiên liệu rẻ tiền, tận dụng lao động tay nghề thấp; không trang bị các phương tiện bảo hộ lao động nên làm tăng mức độ

ô nhiễm và tăng ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe người lao động (Sở tài nguyên

và môi trường Bắc Ninh, 2012)

- Thị trường tiêu thụ hạn hẹp Công việc tiếp thị sản phẩm còn yếu kém, chưa có khả năng mở rộng thị trường Hiện nay việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong các làng nghề truyền thống phụ thuộc nhiều vào chủ bao tiêu và chủ bao mua Do phụ thuộc chủ bao tiêu về vốn và nguyên liệu, về thị trường tiêu thụ sản phẩm nên các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình thường xuyên bị các chủ bao mua chi phối Cộng thêm, công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm, xây dựng thương hiệu yếu kém, vì vậy nhiều làng nghề rất bị động trong việc tiêu thụ sản phẩm

- Việc thực hiện quy hoạch, định hướng phát triển làng nghề còn chậm Một

số cụm công nghiệp làng nghề tuy được hình thành với mục đích phát triển sản xuất công nghiệp và chuyển toàn bộ số hộ sản xuất thủ công trong làng nghề ra CCN tập trung, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường cục bộ nhưng việc vận động các hộ sản xuất xen lẫn trong khu dân cư ra CCN tập trung còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau

- Môi trường trong các làng nghề bị ô nhiễm quá nặng bởi khói bụi, nước thải, hóa chất và phế liệu Một số làng nghề bị ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng như Phong Khê, Đại Lâm; ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng như Châu Khê Sự ô nhiễm môi trường đã làm cho đời sống nhân dân cũng như sản xuất trong các làng nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng Cùng với nó là bệnh nghề nghiệp đang có xu hướng phát triển

Việc giữ gìn và phát huy giá trị của các làng nghề ngoài ý nghĩa kinh tế còn

có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển du lịch Từ thực trạng trên, để làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh phát triển bền vững gắn với BVMT cần có những giải pháp quản lý phù hợp với thực tiễn

Trang 34

2.3.3 Tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề trong tỉnh Bắc Ninh

Các chất thải phát sinh tại các làng nghề đã và đang gây ô nhiễm, suy thoái chất lượng môi trường nghiêm trọng; gây nhiều tác động xấu tới sức khỏe người lao động và người dân xung quanh Ô nhiễm tại các làng nghề khảo sát có các đặc điểm sau:

- Ô nhiễm tại các làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi của làng nghề Do quy mô sản xuất nhỏ, xen lẫn trong khu dân cư nên đây là dạng ô nhiễm khó kiểm soát

- Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đậm nét đặc thù hoạt động sản xuất; những tác động của các chất thải cũng khác nhau Đối với loại hình sản xuất giấy tái chế, sản xuất lương thực thực phẩm thì ô nhiễm hữu cơ mang nét đặc trưng điển hình, trong khi làng nghề tái chế kim loại thì ô nhiễm chất vô cơ Qua quá trình tìm hiểu về quy trình công nghệ sản xuất, tình trạng thiết bị, quy

mô sản xuất của các cơ sở sản xuất trong các làng nghề cho thấy các dạng ô nhiễm như sau:

Bảng 2.1 Các dạng chất thải phát sinh tại một số làng nghề

2 Đúc Khí thải Hơi kim loại, khí ô nhiễm do cháy các

vật liệu bám theo phế liệu, nhiệt độ, tiếng ồn

3 Cán, cắt, kéo thép Khí thải

Nước thải

Bụi, hơi kim loại, CO, SO2, NO2, tiếng

ồn Kim loại: Zn, Mn

Trang 35

Chất thải rắn

Bụi, CO, SO2, NO2, hơi kim loại,

Xỉ than, vụn kim loại

1 Phân loại Khí thải

Chất thải rắn

Bụi Đinh ghim, nylon…

2 Ngâm kiềm Khí thải

Nước thải

Hơi kiềm

pH cao

Nước thải

Chất thải rắn

Bụi, khói lò hơi (SO2, NO2, CO), nhiệt

độ, tiếng ồn Các chất ô nhiễm chính: nhiệt độ cao, COD, BOD5, TSS Ngoài ra: sunfua,

Chất thải rắn

Bụi gỗ, tiếng ồn Dăm bào, vụn gỗ

Trang 36

COD, BOD5, sunfua, NH3

2 Nghiến đốt, cạo tinh Bụi

Chất thải rắn

Bụi

vỏ tinh tre nứa

3 Hun, sấy bằng rơm trộn

đất sét

Bụi Khí thải

4 Gia công sản phẩm Chất thải rắn Đầu tre nứa, sản phẩm hỏng

Nước thải Chất thải rắn

Bụi than, SO2, NO2, CO COD, BOD, NH3, S2-

Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2013)

Có thể thấy, tùy vào quá trình sản xuất của từng làng nghề mà có các nguồn phát sinh chất thải khác nhau, từ việc xác định được nguồn phát sinh chất thải, thành phần chất thải ta có thể đưa ra được cách xử lý chất thải và cách quản

lý môi trường để nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho từng làng nghề

Trang 37

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là môi trường nước (nước thải, nước mặt

và nước ngầm), môi trường không khí và chất thải rắn của làng nghề nấu rượu Đại Lâm

3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại làng nghề nấu rượu Đại Lâm xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Thời gian thực hiện bắt đầu từ tháng 2/2015 đến tháng 4/2016

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn cần thực hiện những nội dung sau:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực làng nghề nấu rượu Đại Lâm xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

- Thực trạng hoạt động sản xuất rượu của làng nghề

- Hiện trạng môi trường (nước, không khí và chất thải rắn) tại làng nghề nấu rượu Đại Lâm và việc ảnh hưởng từ các hoạt động sản xuất của làng nghề nấu rượu Đại Lâm tới sức khỏe người dân

- Thực trạng quản lý môi trường tại làng nghề nấu rượu Đại Lâm

- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường tại tại làng nghề nấu rượu

Đại Lâm

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập các tài liệu số liệu về điều kiện tự nhiện, kinh tế - xã hội, hiện

trạng môi trường làng nghề nấu rượu Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 2012, 2013, 2014

- Thu thập số liệu kết quả quan trắc nước thải, không khí và chất thải rắn môi trường làng nghề nấu rượu Đại Lâm từ Trung tâm quan trắc môi trường Bắc Ninh năm 2014

- Tìm các thông tin từ tài liệu đã công bố ( sách, báo cáo khoa học, internet) về các vấn đề liên quan đến đề tài

Trang 38

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Lập phiếu điều tra và phỏng vấn các hộ gia đình sẽ được thực hiện nhằm thu thập các thông tin liên quan tới tình hình sản xuất, đặc điểm và các hình thức quản lý, xử lý chất thải của các hộ dân trong làng nghề Đại Lâm

Xây dựng 02 mẫu phiếu điều tra và tiến hành điều tra trực tiếp tại 50 hộ dân trong làng nghề

- Điều tra 40 hộ trực tiếp làm nghề nấu rượu truyền thống về các thông tin như: số nhân công trực tiếp lao động; số lượng nước sử dụng trong 1 tháng; Số lượng nước sử dụng trong 1 ngày; Lượng chất thải rắn phát sinh trong 1 ngày (gồm: Bã rượu, xỉ than, vỏ sắn, rơm, rạ…); Phương pháp xử lý đối với từng loại chất thải rắn đang áp dụng; Gia đình có chăn nuôi kết hợp; lượng nước sử dụng trong chăn nuôi; Hiện trạng hạ tầng thoát nước thải sản xuất và sinh hoạt; Điểm thoát nước thải; Mùi phát sinh từ hoạt động nấu rượu và chăn nuôi; Biện pháp xử

lý mùi đang áp dụng

- Điều tra 10 hộ dân không làm nghề nấu rượu về các thông tin như: Nhu cầu sử dụng nước; Số gia súc chăn nuôi; Số liệu về chất thải của hộ gia đình và hiện trạng xử lý (gồm: rác thải sinh hoạt, nước thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi, chất thải khác); Nguồn tiếp nhận chất thải rắn, nước thải; khoảng cách từ nơi ở đến nguồn có khả năng gây ô nhiễm, tình hình bệnh tật

3.4.3 Phương pháp khảo sát và lấy mẫu

Cách lấy mẫu: Phân lớp theo loại hình sản xuất với tổng dung lượng mẫu

là 64 mẫu, được chia làm 4 lớp:

Lớp 1: Nhóm họ nấu rượu và không có chăn nuôi (8 mẫu);

Lớp 2 Nhóm hộ nấu rượu kết hợp với chăn nuôi trong đó: có hệ thống xử

lý biogas (14 mẫu), không có hệ thống xử lý biogas (12 mẫu);

Lớp 3: Nhóm hộ chăn nuôi không kết hợp với nấu rượu: có hệ thống xử lý biogas (10 mẫu), không có hệ thống xử lý biogas (12 mẫu);

Lớp 4: Nhóm hộ khác không chăn nuôi và không nấu rượu (8 mẫu)

Đối với mẫu không khí

Phương pháp lấy mẫu: Theo thông tư số 28/2011/TT-BTNMT ngày 1/8/2011 của Bộ Tài nguyên môi trường về Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn

Trang 39

Tần suất lấy mẫu: Lấy làm 2 lần/năm, 6 tháng/lần Dựa vào mức độ hoạt động sản xuất tại địa phương nên mẫu sẽ được lấy vào thời gian như sau: lần 1 vào tháng 5/2015 (tháng ít sản xuất) và lần 2 vào tháng 11/2015 (tháng sản xuất nhiều)

Vị trí lấy mẫu: 12 mẫu

Bảng vị trí lấy mẫu, đo đạc chất lượng môi trường không khí được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.1 Vị trí lấy mẫu không khí

1 MK1 Khu vực gần cửa hàng sửa chữa xe máy Cao Hưng đội 1

2 MK2 Trong nhà nấu rượu cơ sở Đào Thị Lan đội 1 (khoảng 30l/ngày) thôn

Đại Lâm

3 MK3 Tại khu vực chuồng lợn cơ sở Đào Thị Lan (5 con lợn, 1 con bò và

có bể Biogas) thôn Đại Lâm

4 MK4 Trong nhà nấu rượu Dương Thu Giang (khoảng 70l/ngày)

5 MK5 Tại khu vực chuồng lợn cơ sở Dương Thu Giang ( 23 con lợn và có

bề biogas) đội 2

6 MK6 Trong nhà nấu rượu cơ sở Nguyễn Anh Minh (khoảng 50l/ngày) đội

3 thôn Đại Lâm

7 MK7 Trong nhà nẫu rượu cơ sở Phùng Văn Tâm ( Khoảng 20l/ngày),đội 4

Thôn Đại Lâm

8 MK8 Tại khu vực chuồng lợn cơ sở Nguyễn Văn Hậu ( nuôi 20 con lợn và

có bể Biogas) đội 5, thôn Đại Lâm

9 MK9 Trong nhà nẫu rượu Hâng Hiền ( Khoảng 50l/ngày) đội 6, thôn Đại

Lâm

10 MK10 Tại khu vực chuồng lợn cớ sở Hàng Hiền ( nuôi 10 con lợn, không có

bể biogas)

11 MK11 Tại khu vực chuồng lợn nhà ông Minh ( nuôi 5 con lợn, 1 con bò và

không có bể biogas) đội 7

12 MK12 Tại khu vực ngã ba vào trường tiểu học đội 7

Trang 40

Sơ đồ vị trí lấy mẫu:

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu không khí

 Nước thải:

- Phương pháp lấy mẫu: TCVN 5999:1995 (Chất lượng nước – Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước thải)

- Tần suất lấy mẫu: 2 lần/năm vào tháng 5/2015 và tháng 11/2015

- Vị trí lấy mẫu: 8 mẫu

Vị trí lấy mẫu và phân tích chất lượng môi trường nước thải tại làng nghề Đại Lâm được thể hiện trong bảng sau:

Ngày đăng: 05/04/2017, 00:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Quốc Khang, Bùi Đình Toái, Nguyễn Thị Thu Quế, 2005, Sổ tay hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề sử dụng phương pháp có sự tham gia của cộng đồng, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề sử dụng phương pháp có sự tham gia của cộng đồng
Tác giả: Bạch Quốc Khang, Bùi Đình Toái, Nguyễn Thị Thu Quế
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 116/2006/TT-BNN – Hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn. Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và phát triển làng nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/2006/TT-BNN – Hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và phát triển làng nghề
Năm: 2006
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010). Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc Gia
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
5. Bộ công thương (2008). Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời hội nhập, Tạp chí công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời hội nhập
Tác giả: Bộ công thương
Nhà XB: Tạp chí công nghiệp
Năm: 2008
7. Đặng Kim Chi (2005). Đề tài KC.08.09, “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam”. Chủ nhiệm Đặng Kim Chi. Viện khoa học và Công nghệ Môi trường. Đại học Bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Chi
Nhà XB: Viện khoa học và Công nghệ Môi trường
Năm: 2005
9. Đỗ Quang Dũng (2006). Phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Hà Tây, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Hà Tây
Tác giả: Đỗ Quang Dũng
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ kinh tế
Năm: 2006
10. Ngô Trà Mai (2009). Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề tỉnh Hà Tây, Luận văn tiến sĩ Địa Lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề tỉnh Hà Tây
Tác giả: Ngô Trà Mai
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Năm: 2009
12. Nguyễn Trinh Hương (2009). Môi trường và sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề ở Việt Nam,Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trinh Hương
Nhà XB: Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động
Năm: 2009
13. Phạm Việt Anh (2016). Tiểu luận Báo động ô nhiễm tại các làng nghề, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận Báo động ô nhiễm tại các làng nghề
Tác giả: Phạm Việt Anh
Nhà XB: Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2016
20. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân và Hà Thị Hảo (2004). Giáo trình chăn nuôi lợn. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2004
22. Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, “Điều tra, đánh giá mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khoẻ cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khoẻ cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
23. Ủy Ban nhân dân xã Tam Đa (2014). Báo cáo kinh tế xã hội năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế xã hội năm 2014
Tác giả: Ủy Ban nhân dân xã Tam Đa
Năm: 2014
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Báo cáo hiện trạng môi trường làng nghề Việt Nam Khác
6. Đặng Kim Chi ( 2005). Làng nghề Việt Nam và môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
8. Đặng Kim Chi (2005). Tài liệu hướng dẫn áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường cho làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, NXB Khoa học và kỹ thuật Khác
11. Nguyễn Thị Huế (2013). Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu Vân Hà huyện Việt Yên Bắc Giang và đề xuất một số giải pháp cải thiện môi trường làng nghề, Luận văn thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
14. Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh (2012). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường làng nghề của tỉnh Bắc Ninh Khác
15. Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Ninh năm 2012 Khác
16. Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo hiện trạng môi trường 5 năm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2015 Khác
17. Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ NN&PTNT (2002), Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ vị trí lấy mẫu: - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ v ị trí lấy mẫu: (Trang 40)
Hình 3.2. Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước thải làng nghề - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 3.2. Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước thải làng nghề (Trang 42)
Hình 4.1. Bản đồ xã Tam Đa - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.1. Bản đồ xã Tam Đa (Trang 47)
Hình 4.3. Sơ đồ quy trình sản xuất rượu sắn, gạo làng nghề Đại Lâm - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.3. Sơ đồ quy trình sản xuất rượu sắn, gạo làng nghề Đại Lâm (Trang 54)
Hình 4.4. Khu vực sản xuất rượu làng Đại Lâm - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.4. Khu vực sản xuất rượu làng Đại Lâm (Trang 56)
Hình 4.5. Trang thiết bị sản xuất của làng nghề Đại Lâm - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.5. Trang thiết bị sản xuất của làng nghề Đại Lâm (Trang 57)
Hình 4.8. Bã rượu (bỗng rượu) - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.8. Bã rượu (bỗng rượu) (Trang 64)
Bảng 4.14. Bảng kết quả đo đạc và phân tích chất lượng - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.14. Bảng kết quả đo đạc và phân tích chất lượng (Trang 68)
Hình 4.10. Sơ đồ các yếu tố tác động gây ô nhiễm môi trường làng Đại Lâm - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.10. Sơ đồ các yếu tố tác động gây ô nhiễm môi trường làng Đại Lâm (Trang 88)
Hình 4.11. Sơ đồ xử lý nước thải tập trung làng nghề Đại Lâm - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.11. Sơ đồ xử lý nước thải tập trung làng nghề Đại Lâm (Trang 91)
Hình 1. Khu vực thu rượu sau chưng cất (tháng 5/2015) - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 1. Khu vực thu rượu sau chưng cất (tháng 5/2015) (Trang 101)
Hình 3. Khu vực nấu rượu và chưng cất nhà anh Thanh (tháng 5/2015) - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 3. Khu vực nấu rượu và chưng cất nhà anh Thanh (tháng 5/2015) (Trang 102)
Hình 5. Khu vực chăn nuôi lợn nhà ông Hải ( tháng 5/2015) - đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu đại lâm, xã tam đa, huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 5. Khu vực chăn nuôi lợn nhà ông Hải ( tháng 5/2015) (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w