1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam

105 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 4,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá hiện trạng môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp giúp chúng ta nắm được chất lượng môi trường đất có đảm bảo điều kiện để canh tác hay không, có đủ điều kiện để tạo ra

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN THỊ HỒNG THƠM

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THUỘC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ

TẠI HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Quốc Hưng

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

H

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Thị Hồng Thơm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được bản Luận văn, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận tình, chu đáocủa TS Phan Quốc Hưng, Giảng viên khoa Quản lý đất đai, sự giúp đỡ, động viên của các Thầy, Cô giáo trong Khoa Môi trường Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể cán bộ Viện Quy hoạch

và Thiết kế nông nghiệp, đã chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo UBND huyện Duy Tiên, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng thống kê, chính quyền các xã, người dân địa phương trong huyện Duy Tiên đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện Luận văn

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Thị Hồng Thơm

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1.Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thuyết khoa học 2

1.3 Mục đích nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3

2.1 Các khái niệm chung 3

2.1.1 Khái niệm về môi trường đất 3 2.1.2 Ô nhiễm môi trường đất 6 2.2 Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đất nông nghiệp 8

2.2.1 Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất 8 2.2.2 Cái giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm đất nông nghiệp 18 2.3 Nghiên cứu về ô nhiễm sông tại Việt Nam 20

2.4 Hiện trạng ô nhiễm đất trên thế giới và Việt Nam 24

2.4.1 Hiện trạng ô nhiễm đất trên Thế giới 24 2.4.2 Hiện trạng ô nhiễm đất tại Việt Nam 27 Phần 3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 36

3.1 Đối tượng nghiên cứu 36

3.2 Phạm vi nghiên cứu 36

3.3 Nội dung nghiên cứu 36

Trang 5

3.4 Phương pháp nghiên cứu 36

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 36

3.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 36

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu 36

3.4.4 Phương pháp phân tích 38

3.4.5 Phương pháp so sánh với các tiêu chuẩn, quy chuẩn 39

3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 42

Phần 4 Kết quả và thảo luận 43

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Duy Tiên 43

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 43

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49

4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện duy tiên 56

4.2.1 Hiện trạng và biến động trong sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2015 56

4.2.2 Tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên đất sản xuất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu 57

4.3 Hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp và nước tưới khu vực nghiên cứu 63

4.3.1 Hiện trạng môi trường đất khu vực nghiên cứu 63

4.3.2 Hiện trạng môi trường nước tưới sông Nhuệ - Châu Giang tại khu vực nghiên cứu 73

4.4 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ đất sản xuất nông nghiệp lưu vực sông Nhuệ tại duy tiên 77

4.4.1 Giải pháp về mặt Chính sách, quản lý 77

4.4.2 Giải pháp kỹ thuật 78

4.4.3 Nâng cao năng suất và chất lượng nông sản trên toàn huyện 79

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Kiến nghị 82

Tài liệu tham khảo 83

PHỤ LỤC 88

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BCHTMT Báo cáo hiện trạng môi trường CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật

KCN Khu công nghiệp

KLN Kim loại nặng

KTST Kích thích sinh trưởng

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

QH&TKNN Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp TCCP Tiêu chuẩn cho phép

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

WHO Tổ chức Y tế thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

2.1 Hàm lượng một số KLN trong phân bón, bùn thải và nước tưới 12

2.2 Hàm lượng KLN trong các loại phân bón 12

2.3 Hàm lượng kim loại nặng trong các loại phân hữu cơ và phân rác 16

2.4 Các chất chủ yếu gây ô nhiễm đất và nguồn gốc 24

2.5 Nồng độ kim loại nặng trong một số mẫu đất nông nghiệp 27

2.6 Hàm lượng Cadmi trong một số loại đất 30

2.7 Hàm lượng kim loại nặng trong đất tại khu vực Công ty pin Văn Điển và Orion Hanel 31

2.8 Hàm lượng trong đất và chỉ số ô nhiễm đất (SPI) bởi chì và cadimi ở các khu vực nghiên cứu tại Làng Hích, Thái Nguyên 32

2.9 Hàm lượng Pb và Cd tổng số trong đất và rau muống thu từ các khu vực khác nhau 33

2.10 Hàm lượng một số kim loại nặng dạng tổng số trong các mẫu đất trồng hoa ở xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội 34

3.1 Tọa độ và địa điểm lấy mẫu đất khu vực nghiên cứu 37

3.2 Tọa độ và địa điểm các mẫu nước tại khu vực nghiên cứu 38

3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích đất 39

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích nước 39

3.5 Giới hạn hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng trong một số loại đất 40

3.6 Giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước mặt 40

4.1 Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên giai đoan 2006 – 2014 50

4.2 Dân số huyện Duy Tiên giai đoạn 2010 – 2014 53

4.3 Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp 56

4.4 Lượng phân bón được sử dụng cho một số loại cây trồng khu vực nghiên cứu 58

4.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại khu vực nghiên cứu 61

4.6 Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loại đất khu vực nghiên cứu 64

4.7 Hàm lượng KLN trong một số loại đất khu vực nghiên cứu 67

4.8 Mật độ vi sinh vật trong một số loại đất khu vực nghiên cứu 71

4.9 Hàm lượng một số chỉ tiêu môi trường nước khu vực nghiên cứu 74

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

2.1 Ô nhiễm đất do phế thải sinh hoạt 154.1 Sơ đồ hành chính huyện Duy Tiên 43

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Duy Tiên là huyện nằm phía bắc tỉnh Hà Nam, với tổng diện tích 12.100,35ha Huyện có cơ cấu kinh tế nông nghiệp tương đối nhỏ (chiếm 19,3% cơ cấu GDP) nhưng đóng vai trò quan trọng, là nguồn thu ổn định của nhân dân Tổng diện tích đất nông nghiệp tới năm 2014 đạt 7.119,73ha, chiếm 58,84% tổng diện tích đất tự nhiên

Qua điều tra khảo sát nông hộ cho thấy, tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo

vệ thực vật tại địa phương hầu hết đều đảm bảo Thực hiện lấy 40 mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu về hàm lượng chất hữu cơ, vi sinh vật tổng số, hàm lượng kim loại nặng, cho thấy: Đất có hàm lượng dinh dưỡng phần lớn từ trung bình đến khá, vi sinh vật tổng

số có mật độ lớn nhất là vi khuẩn tổng số yếm khí Đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng, Cu ở 2/40 mẫu đã vượt QCVN (55,28mg/kg, 55,03mg/kg) Lấy 12 mẫu nước khác nhau tiến hành đánh giá một số chỉ tiêu nước bao gồm: pH, TSS, Cu, Cd, Pb, Zn,

Hg Kết quả cho thấy pH nước khu vực nghiên cứu chưa được đảm bảo, 50% số mẫu không đạt tiêu chuẩn, TSS có nồng độ tương đối cao, đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng ở Pb, có 2/12 mẫu tới ngưỡng cho phép, các chỉ tiêu kim loại nặng còn lại đều nằm trong ngưỡng cho phép

Như vậy, môi trường đất và nước khu vực nghiên cứu đều đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm, để khắc phục cần đưa ra các giải pháp cả về mặt chính sách quản lý và quy trình

kỹ thuật Đồng thời tăng năng suất và chất lượng sản phẩm đảm bảo an ninh lương thực

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Duy Tien district is located in the north of Ha Nam Province with the total area is 12.100,35ha Duy tien distric has a relatively large agro-economic structure and it is stable source of revenue of the people The total area of agricultural land is 7.119,73ha

in 2014, accounting for 58,84 % of total natural land area

Through the household survey showed that the using of fertilizers and plant protection products locally mainly were guaranteed Implementation took 40 soil samples to analyze the items of organic matter content, total microorganisms, heavy metals content, showed that: nutrient content in the soil mostly from moderate to fairly, total anaerobic bacteria had the largest density of total microorganisms Agricultural soil showed signs of heavy metal pollution, Cu concentration in 2/40 samples were over the limitation of Vietnamese standard for agricultural soil (55,28mg/kg and 55,03mg/kg)

12 water samples also took to assess water indicators include: pH, TSS, Cu, Cd, Pb, Zn,

Hg, the results showed that the pH water in the research area were not guaranteed, 50%

of samples were not meet quality standards, TSS concentrations were relatively high, showed signs of heavy metal pollution in Pb, 2/12 samples were over the limitation, the other heavy metals were within the permitted limits

Summary that soil and water environment research area have emerged signs of pollution To overcome that we need to offer solutions both in terms of management policy and process engineering, increasing productivity and product quality to ensure food security

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hà Nam là tỉnh có địa hình trũng, có nhiều ao hồ và các con sông như sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu Giang chảy qua Trong đó, sông Nhuệ là con sông bị ô nhiễm nặng nhất ảnh hưởng đến đất đai trong lưu vực Biểu hiện rõ nhất về hậu quả của việc nước sông ô nhiễm ở đây là hiện tượng cá sông chết hàng loạt, nước bề mặt, nước giếng mạch ngang có mùi hôi Lưu vực sông này đã được Chính Phủ,

Bộ Tài nguyên và Môi trường quan tâm chỉ đạo trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đã có cam kết của các tỉnh trong việc bảo vệ và giảm thiểu ô nhiễm

Duy Tiên thuộc phía Bắc tỉnh Hà Nam,với tổng diện tích đạt 12.100,35ha Huyện có cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng nhỏ (19,3%) nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng, là nguồn thu ổn định của nhân dân Tổng diện tích đất nông nghiệp tới năm 2014 là 7.119,73ha, chiếm 58,84% tổng diện tích đất tự nhiên Là một trong số các huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nước của sông Nhuệ Mặt khác, cùng với quá trình thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, tăng giá trị thu nhập trên đất canh tác những năm qua như việc sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất bảo vệ thực vật đãlàm gia tăng nguy cơ ô nhiễm

Ô nhiễm đất trong sản xuất nông nghiệp đang là vấn đề môi trường rất được quan tâm hiện nay bởi nó liên quan trực tiếp đến chất lượng nông sản, thực phẩm

và do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Việc đánh giá hiện trạng môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp giúp chúng ta nắm được chất lượng môi trường đất có đảm bảo điều kiện để canh tác hay không, có đủ điều kiện để tạo ra những sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày của con người hay không,

từ đó xác định được các nguyên nhân gây ô nhiễm và đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm khắc phục, cải thiện môi trường đất, tạo ra những sản phẩm sạch, an toàn cho người sử dụng

Từ những yêu cầu cấp thiết ở trên, việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông Nhuệ tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam”là cần thiết, giúp nắm rõ hơn về môi trường đất đang từng ngày tạo ra các sản phẩm phục vụ con người Từ đó có các giải pháp tạo ra những sản phẩm sạch, an toàn cho người sử dụng và không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Trang 12

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Chất lượng môi trường đất sản xuất nông nghiệp khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng bởi nhiều nguồn khác nhau, trong đó việc sử dụng nước tưới từ sông Nhuệ là vấn đề đặc biệt quan tâm Theo nhiều nghiên cứu khác nhau đã được chứng minh, nước sông Nhuệ đã bị ô nhiễm nặng nề, chính vì vậy hiện trạng môi trường đất thuộc lưu vực sông Nhuệ tại huyện Duy Tiên có thể bị ô nhiễm hoặc tích luỹ các nguyên tố kim loại nặng có nguồn gốc từ nước tưới Vấn đề đặt ra là chất lượng đất khu vực nghiên cứu có thực sự bị ô nhiễm và mối quan hệ giữa nước tưới với chất lượng đất ra sao? Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất gây có gây những ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất khu vực nghiên cứu? Trên cơ sở những phân tích tính chất đất trên cả 3 mặt là lý, hoá, sinh học, hàm lượng một số kim loại nặng chính trong đất, nước tưới có thể chứng minh và giải đáp câu hỏi này

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG

2.1.1 Khái niệm về môi trường đất

2.1.1.1 Môi trường đất

Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các loài sinh vật cạn Đất còn là nguồn tài nguyên quý giá được con người sử dụng vào hoạt động sản xuất để đảm bảo nhu cầu lương thực và các nhu cầu khác của mình Gia tăng dân số, phát triển công nghiệp cùng với hoạt động đô thị hóa như hiện nay làm cho diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy giảm Các nhà môi trường thế giới đã cảnh báo rằng, cùng với ô nhiễm không khí, nguồn nước thì ô nhiễm đất cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay

Đất là hệ sinh thái độc lập, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng lao động độc đáo, và là yếu tố cấu thành hệ sinh thái của Trái Đất Theo quan điểm hệ sinh thái thì đất là tài nguyên tái tạo được và đất là vật mang của nhiều hệ sinh thái khác Như vậy, con người tác động vào đất chính là tác động vào hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình nó Phụ thuộc vào phương thức sử dụng, đối xử của con người với đất mà đất có thể phát triển theo chiều hướng xấu hoặc tốt (Trần Văn Nhân và Nguyễn Thị Lan Anh, 2003)

Cũng giống như hệ sinh thái tự nhiên khác Hệ sinh thái đất có những mối quan hệ qua lại giữa các thành phần hữu sinh, vô sinh và cũng có khả năng tự điều chỉnh riêng Đó chính là khả năng tự lập lại cân bằng giữa các quần thể sinh vật đất, giữa vòng tuần hoàn vật chất, dòng năng lượng Dòng năng lượng đi qua

hệ sinh thái đất được sử dụng trong quá trình tích lũy, phân hủy các hợp chất hữu

cơ Nhờ sự tự điều chỉnh này mà hệ sinh thái đất được giữ ổn định mỗi khi chịu tác động của các nhân tố ngoại cảnh Tuy nhiên, sư tự điều chỉnh này là có giới hạn, vượt quá giới hạn này thì hệ sinh thái đất có nguy cơ bị ô nhiễm, giảm độ phì, giảm tính năng sản xuất (Trần Văn Nhân và Nguyễn Thị Lan Anh, 2003) Theo VR Villiam “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm của cây” Khả năng của đất cung cấp cho cây về nước, thức ăn khoáng và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ ) để cây sinh trưởng và phát triển bình thường, đó chính là độ phì nhiêu Có thể nói đây là tiền đề cho sự ra đời định nghĩa độ phì nhiêu đất

Trang 14

A.V Ptecbuagski cho rằng: “Đất khác đá mẹ căn bản là ở độ phì nhiêu Độ phì nhiêu là khả năng của đất cung cấp cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng một lượng nước và chất dinh dưỡng cần thiết Đất phì nhiêu không chứa chất có hại cho cây trồng như H2S, CH4…ở đất trũng, nhôm ở đất phèn, Clo ở đất mặn” Forestierr (1959) lại thấy: “ Độ phì nhiêu của đất là do tổng số sét, limon và tổng số bazơ trao đổi quyết định” Theo Tamhale (Ấn Độ-1960), độ phì nhiêu của đất được xác định theo NPK dễ tiêu và tổng số cacbon hữu cơ

Khi nghiên cứu vấn đề địa tô trong nông nghiệp, Mác đã chia độ phì nhiêu của đất ra các dạng sau: độ phì nhiêu thiên nhiên (hay độ phì nhiêu tự nhiên); độ phì nhiêu nhân tạo; độ phì nhiêu tiềm tàng; độ phì nhiêu hiệu lực và độ phì nhiêu kinh tế

Tuy nhiên, nhiều nhà thổ nhưỡng cho rằng nếu định nghĩa về độ phì nhiêu như vậy là chưa đủ, chưa tính đến nhiều điều kiện quan trọng bao gồm các yếu tố nội tại của đất như độ chua, độ mặn và nhiều yếu tố thuộc về vũ trụ như nhiệt độ, ánh sáng, gió bão Ngoài ra, còn phải kể đến loại cây trồng, mỗi một loại cây trồng có thể có nhiều giống khác nhau, mỗi giống lại có nhu cầu về sinh lý, sinh thái khác nhau nên trên cùng một vạt đất, rất có thể không phù hợp và được coi là loại đất có “vấn đề” với giống này nhưng lại rất phù hợp với giống khác Rõ ràng

là sẽ rất cần thiết phải tiến tới thống nhất một khái niệm về độ phì nhiêu đất đầy

đủ, toàn diện hơn, làm định hướng cho những nghiên cứu phục vụ sử dụng và quản lý sử dụng tài nguyên đất đai ngày càng hiệu quả và bền vững

2.1.1.2 Các yếu tố dinh dưỡng trong đất

Sử dụng một số tính chất đất lý hóa học để đánh giá độ phì nhiêu đất cũng

đã được nghiên cứu nhiều ở trong nước cũng như nước ngoài, các chỉ tiêu đã được tìm hiểu nhiều gồm:

a Độ chua trao đổi (pHKCl): Mỗi loại cây trồng chỉ phát triển tốt trong một giới hạn pH nhất định (ví dụ: lúa 5,5 - 6,5, ngô: 6,0 - 7,0, chè: 4,5 - 5,5…) Khi

pH xuống thấp nghĩa là đất chua và rất chua thì sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của rất nhiều loại cây trồng:

+ pHKCl ≤ 3: Sẽ rất hạn chế;

+ pHKCl> 3 - 4: Hạn chế vừa;

+ pHKCl> 4: Hạn chế ít

Trang 15

b Chất hữu cơ (OM): Chất hữu cơ trong đất là nguồn dinh dưỡng có tương quan rất chặt chẽ với độ phì nhiêu của đất, nhất là trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm của nước ta Tỷ lệ chất hữu cơ trong đất rất khác nhau giữa các loại đất Trong cùng một loại đất thì điều kiện địa hình, điều kiện nhiệt ẩm khác nhau, chất hữu cơ của đất cùng không giống nhau Lê Văn Tiềm(1998) cho rằng phần lớn đất trồng ở nước ta đều nghèo chất hữu cơ theo phân cấp dưới đây:

+ Chất hữu cơ ≤ 1%: Rất nghèo;

+ Chất hữu cơ >1 - 2%: Nghèo;

+ Chất hữu cơ > 2 - 3%: Trung bình;

+ Chất hữu cơ > 3 - 5%: Khá;

+ Chất hữu cơ > 5%: Giàu

c Hàm lượng đạm (N): Nito là nguyên tố mà cây trồng cần nhiều nhưng đất lại chứa ít Trong đất Việt Nam, N% chứa khoảng 0,1 – 0,2%; có loại dưới 0,1% như đất bạc màu Hàm lượng N trong đất phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng hữu cơ Nói chung hàm lượng mùn càng nhiều thì đạm càng nhiều (N chiếm 5 – 10% khối lượng của mùn) (Bộ môn Khoa học đất, 2000)

d Hàm lượng lân (P2O5) tổng số và dễ tiêu: Lân là một chỉ tiêu của độ phì nhiêu đất “đất giàu lân mới có độ màu mỡ cao và ngược lại đất có độ màu mỡ cao đều giàu lân” (Bộ môn Khoa học đất, 2000) Giữa lân trong đất và năng suất cây trồng có mối tương quan Phân tích đất ở Trần Phú, Thái Bình năm 1964, Copekin nhận xét:

+ Khi lân tổng số trong đất = 0,05 %, năng suất lúa đạt 12 tạ/ha;

+ Khi lân tổng số trong đất = 0,08 %, năng suất lúa đạt 24 tạ/ha

Phân cấp lân dễ tiêu (F Olsen):

+ Lân dễ tiêu < 5 mg/100g đất: Nghèo lân;

+ Lân dễ tiêu 5 - 10 mg/100g đất: Trung bình;

+ Lân dễ tiêu > 10 mg/100g đất: Giàu lân

e Hàm lượng kali (K2O) tổng số và dễ tiêu: Sau đạm và lân thì kali là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng thứ 3 đối với cây trồng Phân bố và mức độ tập trung kali tuỳ thuộc nguồn đá mẹ, cường độ phong hoá và sự hình thành đất Nhìn chung, đa số đất Việt Nam có quá trình phong hoá mạnh, silicat bị phá huỷ nên lượng K còn lại để cung cấp cho cây trồng tương đối thấp (Nguyễn Vy, 1974) Kali dễ tiêu là phần chủ yếu cung cấp thức ăn cho cây và chỉ tiêu phân cấp

có thể như sau:

Trang 16

+ Kali dễ tiêu < 10 mg/100g đất: Nghèo kali;

+ Kali dễ tiêu 10 - 20 mg/100g đất: Trung bình;

+ Kali dễ tiêu > 20 mg/100g đất: Giàu kali;

2.1.2 Ô nhiễm môi trường đất

2.1.2.1 Khái niệm về ô nhiễm đất

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, ô nhiễm đất là thuật ngữ chỉ sự làm biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau,

và do thải bỏ không hợp lí các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất Ngoài ra, ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất (theo nước mưa) Các nguồn chính gây ô nhiễm đất là: Các loại vi khuẩn, kí sinh trùng phát sinh do việc sản xuất chăn nuôi không hợp vệ sinh, dùng phân tươi bón cây, vv.; Các loại chất thải rắn, phóng xạ, nhựa dẻo, bao bì nilon, kim loại, amiăng phát sinh từ các nguồn thải công nghiệp đưa vào đất; Các loại hoá chất độc hại sinh ra

do sự phân huỷ các loại hoá chất sử dụng trong nông nghiệp (như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, kích thích sinh trưởng ), trong chiến tranh ngấm vào đất

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), ô nhiễm đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, nguyên nhân là do khí thải từ các nhà máy, các xe cơ giới làm ô nhiễm bầu không khí, chất thải từ các nhà máy và khu dân cư đô thị làm ô nhiễm nguồn nước, không khí Khi nước bị ô nhiễm thì đất cũng bị ô nhiễm theo

Ô nhiễm đất còn dẫn đến môi trường khác như nước ngầm, nước mặt, không khí cũng bị ô nhiễm Chất ô nhiễm có thể hoà tan, thấm xuống nước ngầm, hoặc có thể bị dòng nước di chuyển đi nơi khác tạo nên sự ô nhiễm nước trên mặt đất Gió thổi có thể chuyển chất ô nhiễm đi xa làm cho diện tích ô nhiễm mở rộng hơn Bởi vậy, khi đất ô nhiễm cũng có thể trở thành nguồn gây ô nhiễm đối với nước

và không khí Ô nhiễm đất không những làm giảm khả năng sản xuất của đất mà còn lấy đất làm điểm xuất phát để ảnh hưởng tới thực vật, động vật và người - một

số nguyên tố vi lượng hoặc siêu vi lượng có tính độc hại tích luỹ lại trong nông sản phẩm từ đó gây tác hại nghiêm trọng đối với động, thực vật và người

Trang 17

Chính vì sự nguy hại của ô nhiễm đất mà ngày càng có nhiều nghiên cứu về biện pháp quản lý, giảm thiểu tiến đến loại bỏ yếu tố ô nhiễm khỏi đất Mỗi phương pháp xử lý ô nhiễm có ưu và nhược điểm riêng, tùy từng điều kiện cụ thể cũng như nguyên nhân gây nên ô nhiễm mà áp dụng cho phù hợp Như vậy, lựa chọn biện pháp xử lý ô nhiễm đất là bước đi quan trọng không chỉ với mục tiêu phục hồi các vùng đất đã bị ô nhiễm, mà còn đảm bảo nhiều lợi ích trên phương diện kinh tế, xã hội

2.1.2.2 Các yếu tố gây ô nhiễm đất

Có rất nhiều yếu tố gây ô nhiễm môi trường đất, được chia thành 2 nhóm chính: Vô sinh và hữu sinh (Lê Thị Thanh Mai, 2015)

 Nhóm yếu tố vô sinh: Là các yếu tố tự nhiên gây ô nhiễm môi trường đất

- Nhiễm phèn: Do nước phèn từ một nơi khác di chuyển đến Chủ yếu là nhiễm Fe2+, Al3+, SO42-, pH môi trường giảm gây ngộ độc cho cây con trong môi trường đó

- Nhiễm mặn: Do muối trong nước biển, nước triều hay từ các mỏ muối, nồng

độ Na+, K+ hoặc Cl- cao làm áp suất thẩm thấu cao gây hạn sinh lý cho thực vật

- Gley hóa trong đất sinh ra nhiều chất độc cho sinh thái (CH4, N2O, CO2,

- Phân bón: Các chất ô nhiễm có trong phân bón được quan tâm chính là

As, Cd, Hg, Pb, và F Trong số các nguyên tố này, Cd là nguyên tố đáng quan tâm nhất do có khả năng di chuyển vào trong thực vật

- Thuốc trừ sâu, bệnh: Thuốc trừ sâu gây độc trực tiếp đối với những sinh vật có hại và có những ảnh hưởng gián tiếp đến các loại động vật không xương sống trong đất Chúng có thể là thuốc diệt nấm, thuốc diệt côn trùng hay thuốc trừ cỏ Chúng gây ra sự thay đổi lớn về số lượng các loài vi sinh vật và các động vật ăn thịt, phá vỡ cân bằng sinh thái do việc phá hủy một phần lớn hệ vi thực vật

và động vật

Trang 18

- Nước tưới trong sản xuất nông nghiệp: Nông dân dùng nước thải công nghiệp từ các nhà máy thải ra hoặc nước cống thành phố để tưới cho cây, tuy nước đó có thể làm tăng năng suất cây trồng nhưng nếu sử dụng không đúng, lâu dài thích lũy lại có thể gây ô nhiễm đất, làm giảm độ màu mỡ của đất hoặc gây ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển của cây trồng cũng như sức khỏe con người và gia súc

- Chất thải công nghiệp: Các nhà máy hóa chất, các xưởng sản xuất nông dược thải ra Hg, Pb, As Các chất này sau khi tích lũy trong đất thì khó loại ra, gây ảnh hưởng xấu đến cây trồng Từ hoạt động của vi sinh vật, chúng có thể bị tiêu tan dần, tuy nhiên chỉ nằm trong đất một thời gian ngắn trong đất vẫn gây độc hại

2.2 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT VÀ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM ĐẤT NÔNG NGHIỆP

2.2.1 Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất

Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt trong việc sử dụng nông dược và phân hoá học Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau quả ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ con người và động vật

Nguyên nhân gây ô nhiễm đất đến từ rất nhiều nguồn khác nhau Sự phân chia các nguồn gây ô nhiễm cũng rất đa dạng Có thể nhìn nhận một cách tổng quát nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm đất bao gồm: (i) ô nhiễm đến từ nông dược và phân hoá học, chúng tích luỹ dần trong đất qua các mùa vụ; (ii) do các loại chất thải trong hoạt động của con người (rắn, lỏng, khí); (iii) đất cũng là một yếu tố của môi trường cùng với không khí, nước và vành đai sinh vật, nên

nó tiếp nhận những chất ô nhiễm từ các yếu tố khác mọi nơi, mọi lúc Ngoài ra, các vùng khai thác khoáng sản kim loại thường tạo thành một khu vực khuếch tán, khiến cho hàm lượng nguyên tố này trong vùng đất xung quanh cao hơn nhiều so với đất thông thường, đây cũng là nguyên nhân của ô nhiễm đất (Nguyễn Thanh Trung, 2003)

Trang 19

2.2.1.1 Ô nhiễm do sử dụng phân bón

Nhu cầu xã hội ngày càng phát triển cao đòi hỏi con người ngày càng sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tăng năng suất sản lượng sản phẩm Những hoạt động nhằm mục đích kinh tế của con người là nguyên nhân cơ bản làm ô nhiễm môi trường Việc sử dụng phân bón trong nông nghiệp nhiều và không hợp lý đã làm cho môi trường ngày càng xấu đi

Ở nước ta, hàng năm sản xuất hàng triệu tấn phân lân từ các nhà máy lớn (Supephotphat Lâm Thao, Long Thành, Đồng Nai, Văn Điển và Ninh Bình) Dự báo đến năm 2015, lượng phân bón sử dụng ở nước ta sẽ trên 3,5 triệu tấn Trong nguyên liệu sản xuất phân lân có chứa 3% Flo Khoảng 50 - 60% lượng Flo này nằm lại trong phân bón Khi bón nhiều phân lân sẽ làm tăng hàm lượng Flo trong đất và sẽ làm ô nhiễm đất khi hàm lượng của nó đạt tới 10 mg/1kg đất Trong các chất thải của nhà máy sản xuất phân lân có chứa 96,9% các chất gây ô nhiễm mà chủ yếu là Flo Flo trong đất sẽ được tích lũy bởi thực vật, Flo gây độc cho người

và gia súc, kìm hãm hoạt động của một số enzyme, ngăn quá trình quang hợp và tổng hợp protein ở thực vật Khi bón đạm cho cây trồng, cây chỉ sử dụng được 40

- 60%, phần còn lại nằm trong đất và gây ô nhiễm đất Trong phân chuồng, phân bắc chưa hoai mục có chứa nhiều mầm bệnh cho người và gia súc và còn có thể gây hại cho rễ cây vì thế bón phân chuồng khi chưa hoai mục sẽ phản tác dụng (Trần Văn Hiến, 2000)

Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường (BCHTMT) Việt Nam năm 2005, ở Việt Nam, 80% phân hoá học dành cho lúa, lượng NPK bón còn thấp Năm 2000 toàn bộ phân bón cả nước quy ra đơn vị dinh dưỡng nguyên chất là 211.000 tấn, đến năm 2005 dự kiến khoảng 2.708.000 tấn Nếu tính trên mỗi ha: Năm 2000 tổng lượng NPK đã bón là 171,5 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1 : 0,38 : 0,31); bình quân năm từ 2001 – 2003 đã bón 172,6 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1 : 0,55 : 0,36); dự kiến giai đoạn 2004 – 2005 bón khoảng hơn 300 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5:

K2O = 1 : 0,58 : 0,37) so với bình quân thế giới còn thấp Lượng phân bón bình quân sử dụng cho 1 ha gieo trồng rất thấp, đặc biệt ở vùng trung du và miền núi (khoảng 80 – 90 kg/ha), thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc Tuy chưa gây ra những tác động ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng việc bón phân vô cơ đơn độc, liên tục đã ảnh hưởng tới sự chua hoá ở tầng đất canh tác Một số vùng sử dụng đạm nhiều có liên quan tới sự tích luỹ NO3- trong nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

Trang 20

Kết quả điều tra về sử dụng phân bón năm cho cà phê của Trương Hồng và

cs (1996) cho thấy, tại 2 tỉnh Đắklăk và Gia Lai, lượng đạm bón cho cây cà phê biến động rất lớn Ở Đăk Lăk lượng đạm trung bình mà nông dân bón cho cà phê đạt 552kg N/ha, ở Gia Lai là 458kg N/ha Xét về mức năng suất trung bình đạt được thì lượng đạm mà nông dân bón cho cà phê cao hơn so yêu cầu năng suất 3,3 tấn nhân/ha khoảng 180-250 kgN/ha; nông dân Gia Lai bón đạm cao hơn so với năng suất đạt được khoảng từ 100 – 150 kgN/ha (mức khuyến cáo cho năng suất từ 3-4 tấn nhân/ha từ 300-350 kgN/ha đối với cà phê vối, 350-400 kgN/ha đối với cà phê chè).Đối với cà phê chè ở Lâm Đồng, lượng đạm trung bình mà nông dân bón cho cà phê là 639 kgN/ha, cao hơn so với mức năng suất khoảng 230-280 kgN/ha Phạm vi biến động về lượng đạm bón cho cà phê chè cũng rất lớn từ 64 kgN đến 1.597 kgN/ha (Trương Hồng và cs., 1996)

Lượng phân lân trung bình nông dân 2 tỉnh Đăk Lăk và Gia Lai bón cho cà phê vối là 269 kgP2O5/ha/năm, cao hơn rất nhiều (>100%) so với nhu cầu và khuyến cáo của viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp (mức khuyến cáo là 70 – 100kgP2O5/ha/năm) Ở Lâm Đồng cũng có nhận xét tương tự, lượng lân bón cho cà phê chè cũng rất cao, trung bình 489 kgP2O5/ha/năm, cao hơn so với khuyến cáo 100% (mức khuyến cáo từ 150-175 kgP2O5/ha/năm) Việc bón lân với lượng rất cao ở 3 tỉnh trồng cà phê ở Tây Nguyên gây lãng phí phân bón, tăng chi phí giá thành sản xuất và làm cho cây cà phê không hút được kẽm, gây hiện tượng thiếu kẽm đối với cây cà phê Tổng hợp kết quả điều tra cho thấy, tỉ lệ

hộ nông dân bón lân cao hơn so với khuyến cáo là 82%, trong đó tỉ lệ hộ quá cao chiếm 32,5% (Trương Hồng và cs., 1996)

Theo Tôn Nữ Tuấn Nam, năng suất cây trồng ngày càng tăng thì lượng lưu huỳnh do cây trồng lấy đi ngày càng nhiều, trong khi nguồn cung thì có hạn Vì vậy, thiếu hụt S trong đất là một tất yếu và ngày càng trầm trọng, dẫn tới hiệu quả bón phân giảm, tỷ lệ mắc bệnh có liên quan đến thiếu S ngày càng tăng Do vậy, bổ sung

S là một đòi hỏi cấp thiết, đặc biệt đối với cà phê Về loại phân thì SA là phân rẻ tiền

và là nguồn cung cấp S hữu hiệu cần được lựa chọn (Tôn Nữ Tuấn Nam, 2005) Theo Trương Hồng và nhiều nghiên cứu, mỗi vụ cây trồng lấy đi của đất một lượng K rất lớn (ngô 175kg/ha, lạc 170 kg, đậu tương 115 kg/ha, cà phê 232 kg/ha) trong khi khả năng cung cấp K của đất là rất ít, vì vậy cân bằng K phụ thuộc chủ yếu vào nguồn phân bón Tuy nhiên, lượng K bón vào đất phải phù hợp với nền N, P và tùy loại cây trồng Nếu bón cho cà phê 180 N, 100 P2O5 thì lượng bón K2O tương ứng phải là 230 - 250 mới hợp lý, bón thấp hơn hoặc cao

Trang 21

hơn đều không mang lại hiệu quả cao Cũng chính vì lý do này mà nhiều hộ có điều kiện đầu tư phân bón cao nhưng không những không đạt được hiệu quả mong đợi mà còn làm đất xấu hơn (Trương Hồng và cs., 1996)

Lương Đức Loan, Nguyễn Thị Thủy và Trình Công Tư cho rằng bón phân cho cây trồng trên đất đồi Tây Nguyên có tác dụng hạn chế suy thoái và ổn định

độ phì nhiêu đất Vai trò cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu đất của phân bón sẽ càng có ý nghĩa cao trong các trường hợp sử dụng cân đối hữu cơ - khoáng Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh ĐăkLăk năm 2009: tổng lượng phân vô cơ bón trên địa bàn tỉnh 225.293 tấn/năm Bình quân 0,56 - 19,07 tấn/ha/ năm Lượng sử dụng phân bón cao nhất ở huyện M’Đrăk 19 tấn/ha/năm, huyện thấp nhất chỉ hơn 0,2 tấn/ha/năm, trung bình khoảng 2 tấn/ha/năm Với lượng bón này thì chưa gây tác động xấu đến môi trường đất Tuy nhiên, cục bộ ở những hộ và khu vực đầu tư thâm canh cao, đã có tình trạng phú dưỡng NO3-, thiếu hụt lưu huỳnh, kali trong đất, cân bằng dinh dưỡng của đất bị đảo lộn… (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, 2009)

2.2.1.2 Ô nhiễm do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

Võ Đình Quang nghiên cứu hàm lượng một số KLN trong đất phù sa ở huyện Hóc Môn năm 2001 cho kết quả như sau: 7,25 - 81,0 mg/kg Cu; 64,0 - 168,5 mg/kg Zn; 14,5 - 75,75 mg/kg Pb; 0,48 - 1,05 mg/kg Cd; 1,25 - 3,75 mg/kg As; 0,049 - 0,512 mg/kg Hg và 10,58 - 41,03 mg/kg Cr (Võ Đình Quang, 2001) Sau khi phân tích 6 KLN: Cd, Cu, Pb, Hg, Zn, Cr từ 126 mẫu đất trồng lúa, rau bị ô nhiễm bởi nước tưới từ các kênh thải của thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), Nguyễn Ngọc Quỳnh và Lê Huy Bá (2002) đã xác định được: Cr, Pb,

Hg, Cu ở một số mẫu đã bị ô nhiễm nhưng khi so sánh với tiêu chuẩn cho phép của một số nước Châu Âu thì vẫn trong giới hạn cho phép Riêng Cd đã có sự tích lũy cao trong đất với nồng độ từ 9,9 - 10,3 mg/kg, vượt mức độ cho phép 5 lần Kết quả phân tích hàm lượng KLN trong nước và bùn ở các kênh rạch TPHCM của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (Viện QH&TKNN) và Đại học tổng hợp Mainz - Đức cho thấy nồng độ các KLN trong nước ô nhiễm từ

16 - 700 lần Nước ở kênh rạch Nhiêu Lộc -Thị Nghè có hàm lượng Cd cao gấp

16 lần, Cr gấp 60 lần, Zn gấp 90 lần, Pb gấp 700 lần mức cho phép (Viện QH&TKNN, 2010)

Trang 22

Bảng 2.1 Hàm lượng một số KLN trong phân bón, bùn thải và nước tưới

Đơn vị tính: mg/kg Kim

loại

Phân

phốtpho

Phân Nitơ Đá vôi

Bùn cống thải

Phân chuồng

Nước tưới

Thuốc BVTV

As <1 – 120 2 – 120 0,1 – 24 2 – 30 <1 – 25 <10 3 – 30

Cd 0,1 – 190 <0,1 – 9 <0,05 - 0,1 2 – 3000 <0,1 - 0,8 20,05 -

Hg 0,01 – 2 0,3 – 3 - <1 – 56 0,01 - 0,2 - 0,6 – 6

Pb 4 – 1000 2 – 120 20 – 250 2 – 1000 0,1 – 16 <20 11 – 26

Nguồn: Lê Văn Khoa (2001)

Đánh giá hàm lượng As, Hg, Cd, Pb trong các loại phân hoá học, Lê Văn Khoa (2004) cho thấy: phân photphat có chứa hàm lượng As lớn nhất <1 - 1.200 mg/kg, bùn cống thải có hàm lượng Pb, Cd và Hg lớn nhất (Pb: 2 - 7.000 mg/kg, Cd: 2 - 3.000 mg/kg và Hg: <1 - 56 mg/kg)

Nghiên cứu KLN trong phân bón trên thị trường tại các tỉnh phía Nam của Trương Thị Nga, Trương Hoàng Đan năm 2005, cho thấy hầu hết các mẫu phân đều có sự hiện diện của KLN ở các nồng độ khác nhau (bảng 1.2)

Bảng 2.2 Hàm lượng KLN trong các loại phân bón

Đơn vị tính: mg/kg

16 – 16 – 8 9,5 3,1 2,1 0,11

20 – 20 – 0 0,3 6,5 - 0,08 Supe lân 0,35 4 2,2 0,07 DAP Trung Quốc 20,9 3,5 0,59 0,06

16 – 16 – 8 – 13S 10,3 0,24 - 0,07 DAP Việt - Nhật 6,6 14,1 Vết 0,08 DAP Việt Nam 10,4 4 186,2 0,11

Nguồn: Trương Thị Nga và Trương Hoàng Đan (2005

Do hầu hết các mẫu phân bón đều có chứa KLN nên khi bón vào đất để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời cũng đưa vào môi trường các KLN, các chất này có thể tích lũy trong đất làm ô nhiễm đất, được cây trồng hấp thu và tích lũy ở các mô thực vật rồi cuối cùng được chúng ta sử dụng trực tiếp làm thức ăn hoặc gián tiếp qua vật nuôi

Trang 23

Kết quả phân tích hiện trạng ô nhiễm KLN trong đất trồng lúa khu vực phía Nam TPHCM cho thấy hàm lượng Pb từ 14 - 85 ppm (vượt ngưỡng cho phép TCVN 7290 - 2002 là 1,76 lần) (Nguyễn Ngọc Quỳnh và cs., 2001)

Kết quả điều tra về hiện trạng sản xuất rau ở Cần Thơ cho thấy nông dân sử dụng rất nhiều phân bón hóa học khác nhau và bón thúc rất nhiều lần trong vụ với thời gian cách ly rất ngắn Phân hóa học được sử dụng cao thường gấp 1,5 - 2 lần so với yêu cầu của từng loại rau (Viện QH&TKNN, 2006)

Lê Hồng Lịch (2009) khi nghiên cứu thực trạng ô nhiễm KLN trong đất ở vùng chuyên canh rau hoa tỉnh Lâm Đồng đã phát hiện đất chuyên canh rau hoa

có tồn dư chất dinh dưỡng đa lượng quá cao trong đất, ô nhiễm Cd và As trong đất do phân lân và nhiều biến đổi tính chất hóa, lý và sinh học khác của đất chuyên canh rau hoa so với đất đối chứng

Theo nghiên cứu của Viện QH&TKNN, Hà Nội có 108/478 vùng rau với diện tích 932 ha chiếm 35,3% diện tích canh tác không đủ các điều kiện về đất, nước để sản xuất rau an toàn, 77 vùng có chỉ tiêu KLN trong nước tưới vượt quy định cho phép, gồm 16 vùng tưới bằng nước ngầm và 61 vùng tưới bằng nước mặt,

36 vùng có hàm lượng KLN trong đất vượt quy định cho phép (Cd, Cu và Zn) Trong những năm gần đây, hoá chất bảo vệ cây trồng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, gia tăng cả về khối lượng và chủng loại, gồm khoảng

200 loại thuốc trừ sâu, 83 loại thuốc trừ bệnh, 52 loại thuốc diệt cỏ, 8 loại thuốc diệt chuột và 9 loại thuốc kích thích sinh trưởng Năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk

sử dụng 326,25 tấn/năm Liều lượng sử dụng từ 0,46 - 2,04kg/ha/năm Huyện sử dụng nhiều nhất là Krông Ana (2,04kg/ha/năm), Krông Năng (1,83kg/ha/năm), ít nhất là huyện Buôn Đôn, Krông Bông (0,16kg/ha/năm) (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, 2009)

Kết quả khảo sát của Trung tâm Tư vấn Đầu tư Phát triển Nông thôn Việt Nam cho thấy: có tới 3/4 mẫu đất được phân tích ở Tây Nguyên và Đắk Lắk có

dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép

Hàm lượng các KLN trong đất như đồng, kẽm tại một số khu vực hiện ở mức báo động Một số hồ đập dung tích nhỏ, hàm lượng KLN cũng khá cao Các mẫu nước lấy tại vùng trũng và lòng hồ đều có hàm lượng Hg 0,018 mg/l, As 0,007 mg/l, NO3- 0,0031mg/l Tuy nhiên, các khu vực được đánh giá là có ô nhiễm chỉ ở diện hẹp, mang tính cục bộ (Trung tâm tư vấn Đầu tư Phát triển Nông Thôn Việt Nam, 2009)

Trang 24

Như vậy, trong 2 nhóm chất gây hại đối với con người và sinh vật ở môi trường đất thì dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất và nước cao hơn ngưỡng cho phép là vấn đề bức xúc, nổi cộm, cần sớm có giải pháp khắc phục

2.2.1.3 Ô nhiễm đất do nước thải

Nước tưới là một yếu tố không thể thiếu được trong mọi quá trình trồng trọt Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học coi nước tưới như là một thứ “dinh dưỡng” cho cây Sử dụng nước tưới không chỉ đem lại cho thực vật nước mà còn cung cấp cho chúng một số nguyên tố có trong nước Sử dụng hợp lý nguồn nước thải tưới đồng ruộng sẽ tận dụng được lượng Nitơ, Photpho, Kaki trong nước,

có lợi cho cây trồng Nhưng nếu như nước thải chứa một lượng chất ô nhiễm chưa qua xử lý đã được dùng tưới bừa bãi, thì có thể đưa các chất có hại trong nguồn nước vào đất gây ô nhiễm

Hàm lượng và chất lượng nước tưới có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất cũng như chất lượng và năng suất cây trồng Nếu chất lượng của nguồn nước tưới không đạt tiêu chuẩn thì nó không chỉ làm ô nhiễm môi trường đất, các thủy vực lân cận mà còn ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng cây trồng

Hà Nội là nơi tập trung nhiều sông ngòi, ao, hồ, đầm với chiều dài các con sông chảy qua địa phận là: sông Hồng 35 km, sông Đuống 25 km, sông Nhuệ 15

km còn các con sông nhỏ khác khoảng 60 km Khu vực nội thành và các huyện ngoại thành nằm giữa ba con sông lớn là sông Đuống, sông Hồng và sông Nhuệ Ngoài các sông trên khu vực nội thành còn có bốn con sông chính là sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ và sông Sét với tổng chiều dài 36,8 km giữ vai trò thoát nước thải của thành phố và là nguồn nước tưới chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp Trung bình lượng nước thải từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất

đổ vào các hệ thống thoát nước khoảng 550.000 m3/ngày đêm Các chất thải của thành phố cuối cùng đều đổ ra các con sông thoát nước này Các loại nước thải hầu như không được xử lý hoặc xử lý không tốt khiến cho nước sông bị ô nhiễm nặng Do vậy chất độc hại theo dòng chảy tích tụ vào sông ngòi, hồ chứa rồi tiếp tục theo nước tưới gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản (Nguyễn Xuân Cự, 2008)

Việc lợi dụng nước thải để tưới ruộng gây ô nhiễm đất, ảnh hưởng tới người

và gia súc có ở mọi quốc gia Sự kiện “Cadimi” xảy ra ở Nhật Bản năm 1955 là một ví dụ Nông dân ở vùng núi Phú Sĩ một thời gian dài đã sử dụng nước thải của một nhà máy luyện kẽm gần đó để tưới ruộng, Cadimi chứa trong nước thải

Trang 25

tích luỹ dần trong lúa gạo ở khu vực này Hậu quả là những người nông dân bị chứng đau nhức các khớp xương, 34 người chết, 280 người tàn phế Theo một điều tra nông thôn Nhật Bản, năm 1970, diện tích đất ô nhiễm do nước tưới ở Nhật là 190.000 ha, làm thiệt hại 22 tỷ Yên (Nguyễn Thanh Trung, 2003) Trong những năm 70, nông dân Ấn Độ cũng sử dụng tràn lan các nước thải thành thị chưa qua xử lý để tưới ruộng, khiến cho khả năng sản xuất của đất giảm, gây hại tới sức khoẻ nông dân Theo một báo cáo, tỷ lệ nhiễm các bệnh về đường ruột ở người do nông phẩm ở những khu vực này cao hơn gấp 3 lần những nơi khác (Nguyễn Thanh Trung, 2003)

2.2.1.4 Ô nhiễm đất do chất phế thải

Chất phế thải có nhiều dạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến ô nhiễm đất là chất thải rắn Nguồn chất thải rắn có rất nhiều như chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn của ngành khai thác mỏ, rác ở đô thị, chất thải nông nghiệp và chất thải rắn phóng xạ Chủng loại của chúng rất nhiều, hàm lượng các nguyên tố độc trong chúng cũng không giống nhau; tỷ lệ nguyên tố độc hại trong chất thải rắn công nghiệp thường cao hơn; rác thành thị chứa các loại vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng; chất thải rắn nông nghiệp chứa các chất hữu cơ thối rữa và thuốc nông nghiệp còn lưu lại ; chất thải phóng xạ có chứa các nguyên tố phóng xạ như Uranium, Strontium, Caesium những chất thải rắn này được vứt bừa bãi, ngấm nước mưa, và

rỉ ra nước gây ô nhiễm đất, sông ngòi, ao hồ và nguồn nước ngầm, nguồn nước ô nhiễm này lại được dùng để tưới đồng ruộng sẽ làm thay đổi chất đất và kết cấu đất, ảnh hưởng tới hoạt động của vi sinh vật trong đất, cản trở sự sinh trưởng của bộ rễ thực vật và ảnh hưởng tới sản lượng cây trồng (Nguyễn Thanh Trung, 2003)

Hình 2.1: Ô nhiễm đất do phế thải sinh hoạt

(a) Tại Missouri; (b) Tại Virginia

Trang 26

Ngoài ra, khi sử dụng rác thải hữu cơ làm phân bón cũng có thể đưa kim loại nặng vào trong đất Ngay cả các phân bón hữu cơ có nguồn gốc từ phân động vật cũng có hàm lượng kim loại nặng cao Theo nghiên cứu của Phạm Quang Hà và nhiều nghiên cứu, hàm lượng kim loại nặng trong phân hữu cơ và phân rác khá cao (Phạm Quang Hà và cs., 2001) được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.3 Hàm lượng kim loại nặng trong các loại phân hữu cơ và phân rác Nguồn hữu cơ Cu (mg/kg) Pb (mg/kg) Zn (mg/kg) Cd (mg/kg) Phân rác 45 27 150 0,4 Phân lợn 250 14 560 0,7 Phân dê 20 8 80 0,2 Phân gà 65 15 220 1,5 Phân bò 65 20 155 0,5

đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD5 (nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng (KLN) (Nguyễn Đăng, 2003)

Về ô nhiễm không khí, chỉ tính riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên địa bàn tiêu thụ khoảng 210.000 tấn xăng và 190.000 tấn dầu diezel Như vậy đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì,

4200 tấn CO2, 4500 tấn NO2, 116000 tấn CO, 1,2 triệu tấn CO2, 13200 tấn Hydrocacbon và 156 tấn Aldehyt Tại Hà Nội, vào nhưng năm 1996-1997 ô

Trang 27

nhiễm trầm trọng đã xảy ra ở xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính khu vực ô nhiễm khoảng 1.700 mét và nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP) khoảng 2 - 4 lần; xung quanh các nhà máy thuộc KCN Minh Khai – Mai Động, khu vực ô nhiễm có đường kính khoảng 2.500 mét và nồng độ bụi cũng cao hơn TCCP 2-3 lần Cũng tại KCN Thượng Đình, kết quả đo đạc các năm 1997-1998 cho thấy nồng độ SO2 trong không khí vượt TCCP 2 - 4 lần (Nguyễn Đăng, 2003)

Nhìn chung, tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đến năm 2010, nếu tất cả 74 KCN đều sử dụng hết diện tích, thì sẽ thải ra một lượng chất thải rắn lên tới khoảng 3.500 tấn/ngày tức lớn gấp 29 lần so với hiện nay, trong đó có khoảng 700 tấn chất thải độc hại (Nguyễn Đăng, 2003) Các chất thải công nghiệp có thể ở dạng lỏng, khí hoặc rắn, có thể là chất

vô cơ, hữu cơ, xà phòng, thuốc nhuộm, kiềm hay axít, …Đặc biệt nguy hiểm là các KLN như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), asen (As), …

2.2.1.5 Ô nhiễm do khí thải

Các chất khí độc hại trong không khí như ôxit lưu huỳnh, các hợp chất nitơ kết tụ hoặc hình thành mưa axit rơi xuống đất làm ô nhiễm đất Một số loại khói bụi có hại ngưng tụ cũng là nguyên nhân của ô nhiễm đất Ví dụ, các vùng đất gần các nhà máy sản xuất hoá chất Photpho, Flo, luyện kim dễ bị ô nhiễm vì khói bụi, hàm lượng flo chứa trong khoáng chất photpho sử dụng ở các nhà máy phân hoá học thường là 2 – 4%, nếu khí thải không được xử lý thích đáng, có thể làm cho một vùng hàng ngàn km2 đất xung quanh bị ô nhiễm flo nặng Ở gần các xưởng luyện kim, vì trong khí thải có chứa lượng lớn các chất chì, cadimi, crom, đồng nên vùng đất xung quanh sẽ bị ô nhiễm bởi những chất này Đất ở 2 bên đường, thường có hàm lượng chì tương đối cao là sản phẩm của khí thải động cơ (Nguyễn Thanh Trung, 2003)

2.2.1.6 Ô nhiễm đất do vi sinh vật

Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử trùng của các bệnh truyền nhiễm từ các cơ sở y tế Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật

Trang 28

Ngoài những nguồn ô nhiễm trên, các hoạt động tưới không thích đáng, chặt cây rừng, khai hoang cũng tạo thành các hiện tượng rửa trôi, bạc mầu, nhiễm phèn, nhiễm mặn trong đất Theo thống kê, hàng năm diện tích đất này trên thế giới tăng từ 5.000.000 đến 11.000.000 ha (Nguyễn Thanh Trung, 2003) 2.2.1.7 Ô nhiễm đất do hóa chất độc hại

Theo thống kê của chính phủ Mỹ, gần 50% diện tích rừng và đất canh tác ở miền Nam Việt Nam đã bị rải chất độc hoá học từ 1 lần trở lên Mỹ đã sử dụng

72 triệu lít chất làm rụng lá và diệt cỏ có nồng độ cao, trong đó chất độc màu da cam có chứa dioxin chiếm 60%, chất trắng chiếm 13% và chất xanh chiếm 27% Cùng với 15 triệu tấn bom đạn cũng được thả xuống đã huỷ diệt hàng triệu ha rừng và đất trồng trọt, nhiễm độc nhiều nguồn nước, gây tổn hại nghiêm trọng về

số lượng và chủng loại các sinh vật, về chế độ khí hậu thuỷ văn dòng chảy, đặc biệt gây hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ con người (BTN&MT, 2005-2006) 2.2.2 Cái giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm đất nông nghiệp

Theo Niên giám thống kê năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên cả nước là 33,105 triệu ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 79% diện tích đất Theo đánh giá thì tổng diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm, từ giai đoạn 2000 đến nay, diện tích đất nông nghiệp đã chuyển sang mục đích sử dụng khác là 500.000 ha Bên cạnh sức ép diện tích đất nông nghiệp thì vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường đất nông nghiệp cũng là một thách thức lớn đối với nông nghiệp Việt Nam (Nguyễn Thị Minh Hạnh và Nguyễn Thị Kim Hương, 2015) Ngày nay, dưới tác động của con người đất bị thoái hóa nhanh chóng Đất

bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp, một số giải pháp đã được đề xuất nhằm giảm thiểu tình trạng suy thoái, ô nhiễm đất nông nghiệp (Nguyễn Thị Minh Hạnh và Nguyễn Thị Kim Hương, 2015):

- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp cho bà con nông dân, tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn

bà con cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đem lại giá trị kinh tế và BVMT, trao đổi với bà con nông dân về tác hại của việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách…, qua đó, từng bước nâng cao nhận thức của người dân

Trang 29

trong việc BVMT đất nông nghiệp Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, nâng cao

ý thức của người tiêu dùng, hướng họ đến thói quen sử dụng “nông sản sạch” cũng là yếu tố quan trọng để hỗ trợ, thúc đẩy người nông dân phát triển một nền nông nghiệp bền vững gắn liền với việc bảo vệ đất nông nghiệp Cần ứng dụng rộng rãi công nghệ phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trong phòng trừ sâu bệnh cây trồng Nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng công nghệ sạch vào sản xuất Kiểm soát chặt chẽ việc lưu hành và sử dụng thuốc BVTV không có trong danh mục cho phép Sau khi phun thuốc phải bảo đảm đúng thời gian cách ly mới được thu hoạch sản phẩm… Các công tác này góp phần giúp nông dân sử dụng thuốc hóa học trên đồng ruộng một cách đúng đắn, phù hợp, tiết kiệm, đảm bảo môi trường sinh thái và sức khỏe người sử dụng Để ngăn chặn, hạn chế việc đốt rơm, rạ sau thu hoạch… nên sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm, rạ, phụ phẩm ngay tại ruộng đồng để trả lại lượng mùn, chất hữu cơ cho đất

- Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần phải được quy định rõ về chức năng, thẩm quyền, đồng thời, các quy định về

vi phạm hành chính về lĩnh vực BVMT trong nông nghiệp cũng cần phải bám sát với thực tiễn, phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế, kỹ thuật khu vực nông thôn để việc xử lý có thể dễ dàng triển khai và đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với người vi phạm

- Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, cần xây dựng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ cụ thể để khuyến khích người nông dân BVMT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp Ví dụ, tại Nhật Bản, chính phủ thực hiện việc hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân với mức hỗ trợ tùy thuộc vào việc giảm thiểu lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình canh tác Hoặc tại Hàn Quốc, chính phủ cũng chi trả trực tiếp dưới dạng bù đắp những chi phí cho hoạt động

mà người nông dân tiến hành nhằm BVMT trong quá trình sản xuất nông nghiệp

- Hoàn thiện quy định về quản lý chất thải Cần phải xây dựng khung pháp

lý đầy đủ cho vấn đề quản lý chất thải, trong đó có quản lý chất thải nông nghiệp Quản lý chất thải cần đề cao các biện pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải và gắn chúng với các biện pháp hỗ trợ cần thiết về tài chính, kỹ thuật cũng như chế tài nghiêm minh xử lý vi phạm

Trang 30

2.3 NGHIÊN CỨU VỀ Ô NHIỄM SÔNG TẠI VIỆT NAM

Ngày nay vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng ở Việt Nam Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta

dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên nghiêm trọng Một trong những nguồn gây ô nhiễm đất chính là từ nước tưới Theo nghiên cứu của tổ chức Jahid Foundation (Ấn Độ), ô nhiễm các dòng sông

có thể đến từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt và là nguyên nhân của ô nhiễm đất, gây những tác hại lớn cho đời sống của hệ sinh thái và con người (Jahid Foundation, 2011)

Từ nhiều năm nay, tình trạng ô nhiễm các hệ thống sông ngòi trên cả nước

ta đã được báo chí và các cơ quan quản lí nghiên cứu quan tâm.Được biết đến với một mạng lưới sông ngòi dày đặc, ngoài việc phục vụ cho hoạt động giao thông đường thủy, cung cấp nước cho sinh hoạt thì mạng lưới này ở Việt Nam cũng là một trong những nguồn cung cấp nước tưới cho nông nghiệp Do đó, khi các dòng sông ô nhiễm kéo theo hệ lụy lượng nước tưới tiêu bị ô nhiễm, dẫn đến tình trạng tích luỹ chất ô nhiễm trong đất, theo thời gian có thể gây ô nhiễm đất sản xuất nông nghiệp

Trong thời điểm hiện nay, có thể nói rằng tình trạng ô nhiễm trên các dòng sông ở Việt Nam đã tăng ở mức báo động, các dòng sông là nơi xả thải của hoạt động công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, nước thải sinh hoạt Nếu không có biện pháp xử lý phù hợp và kịp thời, những con sông này sẽ không có khả năng phục hồi như ban đầu và trở thành xuất phát điểm gây ô nhiễm đất nông nghiệp ở nhiều vùng trên cả nước Một số hệ thống sông bị ô nhiễm ở Việt Nam bao gồm:

- Hệ thống sông Cầu: Đi qua các tỉnh như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương

- Hệ thống sông Nhuệ: Đi qua các tỉnh, TP như Hòa Bình, TP Hà Nội,

Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Hải Dương

- Hệ thống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn: Đi qua các tỉnh, TP như Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận

- Hệ thống sông Thị Vải: đi qua các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

Trang 31

 Sông Cầu

Là lưu vực sông đã bị ô nhiễm hoàn toàn Dân số trong khu vực khoảng 7 triệu người trên 10.000 km Trong lưu vực, ngoài khu sản xuất công nghiệp lớn nhất Thái Nguyên,qua việc khai thác mỏ và hóa chất, còn có trên dưới 800 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và quy mô công nghiệp nhỏ như các làng nghề tập trung Lượng chất thải lỏng thải hồi vào lưu vực sông Cầu ước tính khoảng 40 triệu m3/năm Riêng khu vực Thái Nguyên thải hồi khoảng 24 triệu m3/năm, gồm nhiều kim loại độc hại như Selenium, Mangan, Chì, Thiếc, Thủy Ngân và các hợp chất hữu cơ từ các nhà máy sản xuất hóa chất BVTV như thuốc sát trùng, thuốc trừ sâu… Tại tỉnh Bắc Ninh, có trên 60 làng nghề đã có từ lâu đời Nơi đây cũng có các ngành chế biến lâm sản và kĩ nghệ giấy, giấy tái sinh Các ngành này

đã phát thải nhiều hóa chất hữu cơ độc hại, trong đó có các chất tẩy trắng chứa Clo, gây nguy cơ ô nhiễm cao nhất Vì trong công đoạn này phát sinh ra Dioxin, mầm mống của căn bệnh ung thư Thêm nữa, trong các phụ lưu của sông Cầu, hầu hết những thông số phân tích đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến hơn

50 lần như: Nhu cầu oxy hóa học (COD), lượng oxy hòa tan (DO), tổng cặn lơ lửng (TSS), nitrit (NO2)… (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

 Sông Nhuệ:

Sông Nhuệ bắt nguồn từ cống Liên Mạc – Hà Nội chảy dọc theo thành phố

Hà Nội đến tận Phủ Lý – Hà Nam Sông Nhuệ có diện tích lưu vực 1070 km2 ( Trịnh và cs., 2007) Nước từ hệ thống sông Tô Lịch và Kim Ngưu – Hà Nội thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 11 – 17m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m3/s (Trịnh và cs., 2007) Theo nhiều kết quả nghiên cứu hàm lượng Cd, Cu, Cr, Pb, Zn, Ni trong nước của hệ thống sông Tô Lịch và Kim Ngưu khá cao do sự đổ thải trực tiếp từ các nhà máy, xí nghiệp dọc theo hai bên

bờ sông (Nguyễn và cs., 2007; Hồ và cs., 2007) Ngoài ra, dọc theo sông Nhuệ còn có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, làng nghề thủ công sản xuất và chế biến kim loại đã thải trực tiếp chất thải xuống dòng sông không qua xử lý Vì thế, nước sông Nhuệ được dự đoán có độ ô nhiễm KLN rất cao, đặc biệt là tại địa điểm chảy qua huyện Thanh Trì nơi giao nhận nước thải từ hệ thống sông Tô Lịch và Kim Ngưu Sông Nhuệ cung cấp nước tưới cho hơn 100.000 ha đất nông nghiệp, trong đó bao gồm 80.000 ha đất nông nghiệp vùng Hà Nam (Trịnh và cs., 2007)

Trang 32

 Sông Thị Vải:

Sông Thị Vải với chiều dài khoảng 76km (đoạn chính khoảng 36km) là một con sông nước mặn, ngắn, khá rộng và sâu, chiều rộng trung bình 400 – 650m, đọ sâu trung bình 22m, nơi sâu nhất 60m Sông Thị Vải mang tính chất của một vùng biển hay một phần vịnh Gành Rái ăn sâu vào đất liền Đây là khu vực rất hấp dẫn các nhà đầu tư do có vị trí thuận lợi về giao thông thủy

bộ, có hệ thống cảng nước sâu phát triển, nằm trong trung tâm phát triển kinh

tế mạnh nhất cả nước thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ và là cửa ngõ giao thông thủy cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Vì vậy, hàng loạt khu công nghiệp và cụm dân cư ven sông phát triển rất nhanh Các hoạt động kinh

tế chủ yếu trên lưu vực hiện nay là công nghiệp (tính đến tháng 4/2006, dọc theo sông Thị Vải có 11 khu công nghiệp, 192 dự án đang hoạt động) và dịch

vụ cảng (Trịnh Thị Long, 2009)

Sông đã bị ô nhiễm nặng nề do phải tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt trong khu vực, nhất là từ các nhà máy, các khu công nghiệp nằm dọc theo 2 bên bờ sông Mỗi ngày sông phải “uống” khoảng 33.267m3 nước thải từ các khu công nghiệp (hầu hết đều chưa qua xử lý, chưa kể đến lượng nước giải nhiệt từ nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ và các nhà máy, cơ sở sản xuất nằm ngoài khu công nghiệp) Ngoài ra, còn có nguy cơ gây ra các sự cố về môi trường tràn dầu của các phương tiện vận chuyển đường thủy, các nguồn ô nhiễm du nhập từ ngoài khơi vào theo chế độ dòng triều (Trịnh Thị Long, 2009)

 Sông Đồng Nai và sông Sài Gòn

Đây không những là lưu vực tập trung một lượng lớn dân cư mà còn là vùng phát triển công nghiệp lớn nhất, mức đô thị hóa nhanh nhất cả nước Với diện tích 14.500 km2, dân số toàn khu vực khoảng 17,5 triệu người Hàng năm, hệ thống lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn tiếp nhận khoảng 40 triệu m3 nước thải công nghiệp, chưa kể một lượng lớn nước thải của trên 30.000 cơ sở sản xuất ,hóa chất, rác thải của thành phố Hồ Chí Minh Nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu m3/năm Ngoài việc bị ô nhiễm bởi nước thải công nghiệp xả ra các hợp chất hữu cơ độc, kim loại độc hại như:

Cu, Pb, Fe, Zn, Hg, Cd, Mg, các loại thuốc bảo vệ thực vật thì nơi đây còn xảy

ra hiện tượng nước sông bị axit hóa: Đoạn sông từ cầu Bình Long đến Bến

Trang 33

Than, tại nhiều thời điểm độ pH xuống đến 4 (độ pH trung hòa là 7) Trọng điểm là sông Rạch Tra, nơi tất cả nước rỉ từ các bãi rác thành phố và hệ thống nhà máy dệt nhuộm ở khu Tham Lương đổ vào Hệ sinh thái vùng chiếm 30% tổng sản lượng quốc dân, là yếu tố sống còn cho sự phát triển đất nước hiện nay, tuy nhiên hiện nay đang bị khai thác quá tải và tàn phá nặng nề (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

 Sông Tiền Giang và Hậu Giang

Đây là vùng hết sức đặc biệt, cũng là lưu vực lớn nhất, đông dân nhất với diện tích 39.000 km2, tổng dân số khoảng 30 triệu người Phát triển kinh tế nơi đây đặt trọng tâm là nông nghiệp và thủy sản, công nghiệp không mang tính trọng điểm nên vấn nạn môi trường không giống các lưu vực kể trên Nhưng việc khai thác nông nghiệp và thủy sản đã trở thành một vấn đề đáng lưu tâm hiện nay

Vấn nạn ô nhiễm hóa chất do dư lượng phân bón và thuốc BVTV là kết quả của việc khai thác tối đa tài nguyên đất cho nông nghiệp Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy, các hóa chất độc hại như DT, Nitrat, hóa chất BVTV thuộc nhóm organophosphate, nguyên nhân của những mầm bệnh ung thư đã xuất hiện trong nước Thêm nữa, hiện nay trên khu vực đã có tới trên 300.000 giếng khoan được đào và sử dụng vào mục đích sinh hoạt, tưới tiêu Điều đáng nói là toàn bộ nước trong vùng đã bị ô nhiễm Asen Việc khai thác thủy sản trên sông, ngoài việc làm cản trở dòng chảy của sông còn gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường do lượng dầu thải từ các thuyền lớn Từ thượng nguồn Châu Đốc, An Giang cho đến tận Mỹ Tho, bè cá trong mùa cá năm 2009 đã chết hàng loạt do nguồn nước bị ô nhiễm từ thượng nguồn Kết quả là trên 40% lượng tôm cá bị thất thoát Ngoài ra,

do việc tận dụng nguồn nước cho tưới tiêu, việc khai thác mở rộng đê điều không hợp lý đã khiến Đồng bằng sông Cửu Long phải đối mặt với vấn đề ngập mặn Nạn hạn hán kéo dài trong khi hệ sinh thái có nguy cơ bị hủy diện do ô nhiễm Phát triển kinh tế không đi đôi với việc bảo vệ môi trường, kết quả tất yếu là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp và cường độ ô nhiễm ngày càng tăng Bộ trưởng bộ Tài Nguyên và Môi Trường cũng đã có công văn chỉ đạo, kêu gọi người dân địa phương có ý thức hơn trong việc sử dụng các dòng sông Nếu không có các biện pháp quản lý và cải tạo hệ thống lưu vực này, chúng sẽ trở thành các dòng sông chết, không có khả năng sử dụng và gây ảnh hưởng đến môi trường (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2011)

Trang 34

2.4 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.4.1 Hiện trạng ô nhiễm đất trên Thế giới

Ô nhiễm đất có thể do nhiều nguồn và nhiều chất khác nhau, một số chất ô nhiễm có thể dễ loại bỏ khỏi đất, nhưng cũng có chất rất khó lấy đi từ đất Việc xác định chính xác mức độ độc hại của các chất cũng như nguồn gốc của chúng giúp cho việc giải quyết vấn đề ô nhiễm đất dễ dàng hơn

Bảng 2.4 Các chất chủ yếu gây ô nhiễm đất và nguồn gốc Dạng ô

nhiễm

Chất ô nhiễm Nguồn gốc chủ yếu

Chất ô

nhiễm vô

As Nông dược chứa As, Hthuỷ tinh 2SO4, y dược, nước thải công nghiệp

Cd Luyện kim, mạ điện, xưởng thuốc nhuộm, hơi thải chứa Cd

Cu Luyện kim, công nghiệp chế đồ đồng, nông dược chứa chất đồng

Cr Luyện kim, mạ, nước thải xưởng in và nhuộm

Hg Xưởng sản xuất hợp chất có chứa Hg, nông dược chứa thuỷ ngân

Pb Nước thải luyện kim, nông dược

Zn Nước thải luyện kim, xưởng dệt, nông dược chứa Zn, phân lân

Ni Nước thải luyện kim, mạ, luyện dầu, thuốc nhuộm

F Nước thải sau khi sản xuất phân lân Muối kiềm Nước thải nhà máy giấy, nhà máy hoá chất

Axit Nước thải nhà máy sản xuất H2SO4, đá dầu, mạ điện

xyanua Mạ, luyện kim, in ấn, phân bón

C12H22 Nước thải công nghiệp đá dầu

Ðá dầu Khai thác đá dầu, luyện dầu, ống dẫn dầu bị rò Nông dược

hữu cơ Sản xuất nông nghiệp và sử dụng Các chất

huyền phù

hữu cơ có N

Nước cống rãnh thành phố, thực phẩm, công nghiệp giấy, công nghiệp xellulo

Nguồn: Giáo trình thổ nhưỡng học, Bộ môn khoa học đất (2006)

Ô nhiễm đất là mối quan ngại của tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp kéo theo những nguy cơ ô nhiễm ngày càng lớn Theo thống kê, hiện nay bình quân mỗi năm ở

Trang 35

châu Âu có khoảng 25 triệu tấn nhựa phế thải và tại các nước đang phát triển có

từ 50 đến 70 triệu tấn loại này bị chôn xuống đất (Kỳ Thư, 2006)

Tân Hoa Xã dẫn lời ông Chu Sinh Hiền, Giám đốc cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc rằng, mỗi năm có tới 12 triệu tấn lúa bị nhiễm bẩn

vì kim loại nặng ngấm vào đất trồng (Kỳ Thư, 2006)

Theo Manahan, Stanley E., có hai vấn đề về môi trường chính có liên quan đến sự chiết và lọc đồng Trước hết là dạng pha loãng của quặng đồng, ví dụ như

ở Mỹ 150-175 tấn vật liệu trơ (không tính sự quá tải được lấy đi trong khai thác mỏ) bị thải ra khi sản xuất một tấn đồng kim loại Vấn đề thứ hai là sự xuất hiện đồng ở dạng sulfit khi sản xuất đồng, một số lượng lớn khí sulfua xuất hiện từ quá trình sản xuất, đặc biệt ở các nước kém phát triển đã thải ra không khí chất ô nhiễm như SO2 (Manahan and Stanley, 2001)

 Hiện trạng ô nhiễm KLN trên thế giới

Ô nhiễm đất nói chung và ô nhiễmđất do kim loại nặng nói riêng đã và đang

là mối quan ngại của tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp kéo theo những nguy cơ ô nhiễm ngày càng lớn Tân Hoa Xã dẫn lời ông Chu Sinh Hiền, Giám đốc cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc cho biết mỗi năm Trung Quốc có tới 12 triệu tấn lúa

bị nhiễm bẩn vì kim loại nặng ngấm vào đất trồng (Kỳ Thư, 2006)

Theo Manahan, Stanley E (2001), có hai vấn đề ô nhiễm môi trường chính

có liên quan đến các hoạtđộng sản xuất đồng kim loại Trước hết là chất thải từ các hoạtđộng này, ở Mỹ khi sản xuất một tấn đồng kim loại sẽ thải ra 150-175 tấn chất thải (bao gồm chất thải từ hoạt động khai thác mỏ) Vấn đề thứ hai là sự xuất hiện đồng ở dạng sulfit trong quá trình sản xuất làm phát sinh một lượng lớn khí sulfua thải ra gây ô nhiễmkhông khí

Nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm các KLN trong môi trường chủ yếu là từ các hoạt động sản xuất của con người (hoạt động công nghiệp khai khoáng, nông nghiệp, phế thải sinh hoạt, rác thải ) Campbell et al (1983) đã chỉ ra rằng khi so sánh lượng KLN bị phát tán bởi tự nhiên và hoạt động sản xuất của con người vào không khí cho thấy tốc độ phát tán bởi con người lớn hơn các quá trình tự nhiên 15 lần đối với Cd, 100 lần đối với Pb, 13 lần đối với Cu và

21 lần đối với Zn

Trang 36

Công trình nghiên cứu của Kabata Pendias và Henryk Pendias (1985) xác nhận rằng tại Anh, hàm lượng Cd trong lớp đất mặt xung quanh vùng khai thác mỏ Zn từ 2 - 336 mg/kg, năm 1993 có khoảng 200.000 ha đất bị ô nhiễm KLN Ở Mỹ, những vùng đất gần các nhà máy chế biến kim loại, hàm lượng Cd rất lớn: 26 - 1500 mg/kg Ở một số nước như: Đan Mạch, Nhật, Anh, Ailen, hàm lượng Pb cao hơn 100mg/kg, phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb, trong khi đó lại thấp ở Alaska, chỉ khoảng 20mg/kg Pb trên lớp đất mặt Vùng Katoviso - BaLan có 70% diện tích đất là vùng độc hại cho sức khoẻ, trong đó chủ yếu là

do ô nhiễm kim loại nặng Khi phân tích cà rốt, cần tây, củ cải đường ở 126 lô đất cho thấy hàm lượng Pb và Cd rất cao Còn tại Kazakhstan, theo Mnatsakanian các con sông tại đây có nồng độ Cu, Zn cao hơn 165 lần và 140 lần nồng độ cho phép (Đặng Đình Kim và cs., 1999)

Khi nghiên cứu về đất bị ô nhiễm thuỷ ngân và Cd tại Nhật Bản, Besnard và cộng sự đã cho biết từ năm 1953 – 1967 trên toàn bộ đất canh tác, Nhật Bản đã

sử dụng hơn 6800 tấn Hg, hàm lượng Hg trong gạo từ 0,02 ppm (1946) tăng lên 0,15 ppm (1966) Trong khi đó theo tiêu chuẩn vệ sinh quy định về hàm lượng

Hg trong lương thực không được vượt quá 0,02 ppm Vì vậy, người dân ở đây đã bắt đầu ngừng và hạn chế bón Hg Tại tỉnh Toyama thuộc khu vực đầu nguồn sông Jinsu, hàm lượng Cd trong lúa được trồng ở vùng này cao hơn gấp 10 lần so với lúa trồng ở khu vực khác nên chúng đã bị cấm gieo trồng Nguyên nhân là môi trường đất vùng này bị nhiễm độc bởi nước thải của mỏ khoáng Shinkhongu (tinh luyện kẽm) Cho tới năm 1992 mới giải độc được khoảng 36% diện tích ruộng đất bị ô nhiễm, chi phí làm sạch đất và chi phí bồi thường tổn thất nông nghiệp lên tới 19 triệu USD/năm (Besnard và cs., 1996)

Besnard và cộng sựđiều tra đất trồng nho nhiễm đồng đã chỉ ra rằng giữa hai dạng đồng trong đất, thì dạng đồng được tích lũy nằm trong chất hữu cơ có hàm lượng lên tới 2000mg/kg, các dạng còn lại chỉ khoảng 500 mg/kg (Besnard

Trang 37

Không chỉ các nước châu Âu, một số nước khu vực Trung đông cũng được cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng Theo Zahra Varasteh Khanlari và cộng sự, hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu đất nông nghiệp tại tỉnh Hamadan, phía tây Iran diễn biến phức tạp, nhiều mẫu thu được có nồng độ cao hơn ngưỡng cho phép của nhiều nước trên thế giới (Zahra Varasteh Khanlari và Mohsen Jalali, 2008)

Bảng 2.5 Nồng độ kim loại nặng trong một số mẫu đất nông nghiệp

Nguồn: Zahra Varasteh Khanlari và Mohsen Jalali (2008)

Từ bảng 2.5 cho thấy trong các mẫu đất phân tích, hàm lượng kim loại rất khác nhau Giá trị trung bình của hàm lượng các kim loại diễn biến theo quy luật Pb>Zn>Ni>Cu>Cd trong đó hàm lượng của chì và kẽm trong đất nông nghiệp cao, trong khi đồng và cadmi lại thấp hơn Khoảng trung bình của kẽm dao động trong khoảng từ 17-125 mg/kg Hàm lượng kẽm tổng số dao động trong khoảng 25,6-102,2 với giá trị trung bình là 59,1 mg/kg Hàm lượng cadimi trong đất dao động từ 1-3,3 mg/kg với giá trị trung bình là 1,67 mg/kg Nồng độ này tương tự như kết quả nghiên cứu của Kabata-Pendias (2001) và thấp hơn nhiều so với trong đá trầm tích

Trang 38

(11,0 mg/kg) Hàm lượng Ni diễn biến trong khoảng 8,9 -57,7 mg/kg với giá trị trung bình là 32,8 mg/kg Giá trị này cao hơn kết quả của Cannon (1978) đối với đất phát triển trên đá vôi (10-20 mg/kg).Hàm lượng đồng tổng số dao động trong khoảng 9,1-27,2 mg/kg với giá trị trung bình là 16,0 mg/kg.Đồng có hàm lượng từ 20-30 m/kg do chủ yếu được liên kết với phần khoáng và chất hữu cơ của đất Các hydroxit Fe và Mn cũng được coi là nguyên nhân cố định Cu, Ni và Zn (Davies 1990) Hàm lượng chì trong đất dao động từ 41,3 -112,3 mg/kg với giá trị trung bình

là 67,9 mg/kg Giá trị này cao hơn của Davies năm 1990 (71 mg/kg)

2.4.2 Hiện trạng ô nhiễm đất tại Việt Nam

Đất là một tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Đất đóng vai trò quan trọng: Là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để sinh vật sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở

và các công trình khác Thế nhưng ngày nay, con người đã quá lạm dụng nguồn tài nguyên quý giá này và đã có nhiều tác động có ảnh hưởng xấu đến đất như: dùng quá nhiều lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, làm cho đất tích trữ 1 lượng lớn kim loại nặng và làm thay đổi tính chất của đất Dân số ngày càng tăng nhanh cũng là vấn đề đáng lo ngại, rác thải sinh hoạt và vấn đề canh tác, nhu cầu đất sinh sống và khai thác khoáng sản, đã và đang dần biến môi trường đất bị ô nhiễm một cách trầm trọng

- Ô nhiễm do sử dụng phân bón hóa học: Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có đến 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây

ô nhiễm môi trường đất Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý (K2SO4), (NH4)2SO4, KCl, super photphat còn tồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kiệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như Al3+, Fe3+, Mn2+, giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suất cây trồng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

- Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối với mọi sinh vật, tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước; tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam còn ít, trung bình từ 0,5 – 1,0 kg ai/ha/năm Tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất (Bộ TN&MT, 2005)

Trang 39

- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt động công nghiệp: Kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây Như tại cụm công nghiệp Phước Long, hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần (Bộ TN&MT, 2005)

 Tình hình ô nhiễm KLN

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đang phải đối mặt với mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường Do hệ thống văn bản pháp luật chưa thật hoàn chỉnh, quá chú trọng về phát triển kinh tế mà chưa quan tâm đến bảo vệ môi trườngđã vàđang đẩy đất nước ta đối mặt với những vấn đề

về môi trường nghiêm trọng Hiện tượng các công ty, xí nghiệp công nghiệp thải chất thải chưa qua xử lý vào môi trường đã gây những hậu quả lớn cho sản xuất nông nghiệp và môi sinh như vụ Vedan xả nước thải trực tiếp ra sông Thị Vải (năm 2008), vụ công ty Tungkuang xả nước thải ra sông Ghẽ (năm 2010) cho thấy cần có những chế tài cụ thể và nghiêm khắc hơn nữa nhằm kiểm soát chặt chẽ từ khâu thiết kế và thi công các công trình, đồng thời xử lý nghiêm những hành vi xâm phạm luật pháp về môi trường của Việt Nam

Hiện nay, ở nước ta các nhà khoa học cũng đang rất quan tâm đến vấn đề ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là trong môi trường đất Những nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra rằng hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd…) trong đất phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gốc đá mẹ và mẫu chất hình thành nên các loại đất đó Ngoài ra kim loại nặng được đưa vào môi trường bởi các hoạt động của con người cũng chiếm tỷ lệ khá lớn, đặc biệt là từ các làng nghề truyền thống Hai tác giả Trần Công Tấu và Trần Công Khánh (1998) khi nghiên cứu kim loại nặng dạng tổng số và di động ở tầng đất mặt 0 - 20 cm trên một số loại đất

đã chỉ ra 7 độc tố (Co, Cr, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn) tập trung chủ yếu ở hai loại đất: đất phù sa thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu của Lê Đức đã chỉ ra rằng hàm lượng kim loại nặng trong các loại đất khác nhau có giá trị thành phần nguyên tố khác nhau và phụ thuộc vào nguồn gốc đá mẹ Trong đất Feralsols phát triển trên đá vôi hàm lượng các nguyên tố Cu, Mn, Mo tương ứng đạt: 52 ± 3mg/kg, 827 ± 18mg/kg, 2,51 ± 0.09mg/kg Trên đất Feralsols có nguồn gốc từ đá Gnai thì hàm lượng Cu và Mn

có xu hướng ít hơn, hàm lượng tương ứng các nguyên tố này trong đất là 28 ± 1mg/kg và 758 ± 11mg/kg (Lê Đức, 1998)

Trang 40

Nghiên cứu của tác giả N.M.Maqsud về hàm lượng kim loại nặng tích tụ trong nước và bùn của các kênh rạch ở vùng nội ô và ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Nồng độ các KLN độc hại trong nước ô nhiễm của các kênh rạch vượt quá giá trị cho phép so với nước sông rạch không ô nhiễm tăng từ 16 đến

700 lần Nước ở các kênh rạch Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Cầu Bông, Ucay so với giá trị tiêu chuẩn có hàm lượng Cd gấp 16 lần, Cr gấp 60 lần, Zn gấp 90 lần, Pb gấp

700 lần Hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích của kênh Nhiêu Lộc tại địa điểm cầu Ông Tá rất cao: Pb (7460 ppm), Cu (1090 ppm), Zn (2200 ppm) Nguyên nhân gây nên sự ô nhiễm trên là do nước thải sinh hoạt, nước thải của các sông nhánh không được xử lý với lượng nước độc hại khoảng 600.000

m3/ngày và với chất thải của khoảng 20.000 cơ sở sản xuất công nghiệp và tác nhân ô nhiễm phân tán do các cơ sở công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công đều trực tiếp hoặc gián tiếp thải nước vào các dòng chảy kênh rạch (N.M.Maqsud, 1998) Hàm lượng Cadimi trong một số loại đất Việt Nam gồm đất phù sa, đất đỏ

và đất xám đã được Phạm Quang Hà (2002) chỉ ra như sau:

Bảng 2.6 Hàm lượng Cadmi trong một số loại đất

Ngày đăng: 05/04/2017, 00:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thư Việt nam (2009). “Ô nhiễm đất”, truy cập ngày 5-4-2009, tại trang web http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm đất
Tác giả: Bách khoa toàn thư Việt nam
Năm: 2009
2. Bộ môn Khoa học đất-Đại học NN Hà Nội (2000), Giáo trình Thổ Nhưỡng. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thổ Nhưỡng
Tác giả: Bộ môn Khoa học đất-Đại học NN Hà Nội
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009). Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp (2009). NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, (Tập 1, 5 và 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
6. Bùi Đình Dinh (1995). “Yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng và chiến lược quản lý dinh dưỡng để phát triển nền nông nghiệp bền vững”, Kết quả nghiên cứu về phân bón, đề tài KN-01-10, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng và chiến lược quản lý dinh dưỡng để phát triển nền nông nghiệp bền vững
Tác giả: Bùi Đình Dinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
7. Đặng Đình Kim và cs. (1999).“Sử dụng các chất hấp phụ sinh học để xử lý ô nhiễm Cr, Ni, Pb trong nước thải công nghiệp”, Hội nghị công nghệ sinh học toàn quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng các chất hấp phụ sinh học để xử lý ô nhiễm Cr, Ni, Pb trong nước thải công nghiệp
Tác giả: Đặng Đình Kim, cs
Nhà XB: Hội nghị công nghệ sinh học toàn quốc
Năm: 1999
8. Đặng Thị An và cs. (2008). “Đất bị ô nhiễm kim loại nặng ở một số khu vực ở Việt Nam”. Tạp chí Khoa học đất 29/2008, tr. 59-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất bị ô nhiễm kim loại nặng ở một số khu vực ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Thị An, cs
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 2008
9. Đặng Thị An và Trần Quang Tiến (2008). “Ô nhiễm Chì và Cadimi trong đất nông nghiệp và một số nông sản ở Văn Lâm, Hưng Yên”. Tạp chí Khoa học đất. 29/2008.tr. 56-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm Chì và Cadimi trong đất nông nghiệp và một số nông sản ở Văn Lâm, Hưng Yên
Tác giả: Đặng Thị An, Trần Quang Tiến
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 2008
10. Đào Thế Tuấn (1994). Hệ sinh thái nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 16- 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái nông nghiệp
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Năm: 1994
11. Đỗ Nguyên Hải (2001). “Đánh giá đất đai và hướng sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn – Bắc Ninh”, Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất đai và hướng sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn – Bắc Ninh
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 2001
12. Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Hữu Thành (2003). "Kim loại nặng (tổng số và trao đổi) trong đất nông nghiệp của huyện Văn Lâm - Hưng Yên", Tạp chí Khoa học đất.19/2003, tr. 167-173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim loại nặng (tổng số và trao đổi) trong đất nông nghiệp của huyện Văn Lâm - Hưng Yên
Tác giả: Hồ Thị Lam Trà, Nguyễn Hữu Thành
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 2003
13. Hội Khoa học đất Việt Nam (2000). “Đất Việt Nam”. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội Khoa học đất Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
14. Kỳ Thư (2006).“Trung Quốc: 175 tỉ USD bảo vệ môi trường”, truy cập ngày 21-7- 2006, tại trang web http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=53987&amp;ChannelID=46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc: 175 tỉ USD bảo vệ môi trường
Tác giả: Kỳ Thư
Năm: 2006
15. Lê Đức (1998). “Hàm lượng Đồng, Mangan, Molipđen trong một số loại đất chính ở miền Bắc Việt Nam”. Tạp chí Khoa học đất 10/1998. tr. 170-181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm lượng Đồng, Mangan, Molipđen trong một số loại đất chính ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Đức
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 1998
16. Lê Đức và Lê Văn Khoa (2001). “Tác động của hoạt động làng nghề tái chế đồng thủ công xã Đại Đồng – Văn Lâm – Hưng Yên đến môi trường đất khu vực xung quanh”. Tạp chí Khoa học đất số 14/2001. tr. 48-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hoạt động làng nghề tái chế đồng thủ công xã Đại Đồng – Văn Lâm – Hưng Yên đến môi trường đất khu vực xung quanh
Tác giả: Lê Đức, Lê Văn Khoa
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 2001
17. Lê Hồng Lịch (2009). “Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm KLN trong đất ở vùng chuyên canh rau hoa tỉnh Lâm Đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm KLN trong đất ở vùng chuyên canh rau hoa tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Lê Hồng Lịch
Năm: 2009
18. Lê Thị Thanh Mai (2015). “Ô nhiễm đất”, Thư viện học liệu mở Việt Nam. Truy cập ngày 26/05/2015 tại trang http://voer.edu.vn/m/o-nhiem-dat/29d2ba17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm đất
Tác giả: Lê Thị Thanh Mai
Năm: 2015
19. Lê Văn Khoa, Lê Thị An Hằng và Phạm Minh Cương (1999). "Đánh giá ô nhiễm KLN trong môi trường đất- nước- trầm tích- thực vật ở khu vực Công ty pin Văn Điển và Công ty Orion Hanel”. Tạp chí Khoa học đất 11/1999. tr. 124-131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ô nhiễm KLN trong môi trường đất- nước- trầm tích- thực vật ở khu vực Công ty pin Văn Điển và Công ty Orion Hanel
Tác giả: Lê Văn Khoa, Lê Thị An Hằng, Phạm Minh Cương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 1999
20. Maqsud N. M. (1998), “Ô nhiễm môi trường ở vùng nội và ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh nhận biết qua lượng KLN tích tụ trong nước và bùn của các kênh mương”, Tạp chí khoa học đất 10/1998, tr. 162- 168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường ở vùng nội và ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh nhận biết qua lượng KLN tích tụ trong nước và bùn của các kênh mương
Tác giả: Maqsud N. M
Nhà XB: Tạp chí khoa học đất
Năm: 1998
21. Nguyễn Đăng (2003). “Thực trạng ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở Việt Nam”. (Khoa học và đời sống, số 20, ngày 31/3/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng
Năm: 2003
22. Nguyễn Ngọc Nông (2003). “Hàm lượng các nguyên tố vi lượng và kim loại nặng trong một số loại đất chính ở vùng Đông Bắc Việt Nam”, Tạp chí khoa học đất. 18/2003. tr. 15 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm lượng các nguyên tố vi lượng và kim loại nặng trong một số loại đất chính ở vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nông
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Ô nhiễm đất do phế thải sinh hoạt. - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Hình 2.1 Ô nhiễm đất do phế thải sinh hoạt (Trang 25)
Bảng 2.5. Nồng độ kim loại nặng trong một số mẫu đất nông nghiệp - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 2.5. Nồng độ kim loại nặng trong một số mẫu đất nông nghiệp (Trang 37)
Bảng 2.6. Hàm lượng Cadmi trong một số loại đất - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 2.6. Hàm lượng Cadmi trong một số loại đất (Trang 40)
Bảng 2.7. Hàm lượng kim loại nặng trong đất   tại khu vực Công ty pin Văn Điển và Orion Hanel - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 2.7. Hàm lượng kim loại nặng trong đất tại khu vực Công ty pin Văn Điển và Orion Hanel (Trang 41)
Bảng 2.10. Hàm lượng một số kim loại nặng dạng tổng số trong các mẫu đất trồng - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 2.10. Hàm lượng một số kim loại nặng dạng tổng số trong các mẫu đất trồng (Trang 44)
Bảng 3.1. Tọa độ và địa điểm lấy mẫu đất khu vực nghiên cứu - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 3.1. Tọa độ và địa điểm lấy mẫu đất khu vực nghiên cứu (Trang 47)
Bảng 3.2. Tọa độ và địa điểm các mẫu nước tại khu vực nghiên cứu - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 3.2. Tọa độ và địa điểm các mẫu nước tại khu vực nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 3.5. Giới hạn hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 3.5. Giới hạn hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng (Trang 50)
Hình 4.1. Sơ đồ hành chính huyện Duy Tiên - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Hình 4.1. Sơ đồ hành chính huyện Duy Tiên (Trang 53)
Bảng 4.2. Dân số huyện Duy Tiên giai đoạn 2010 – 2014 - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 4.2. Dân số huyện Duy Tiên giai đoạn 2010 – 2014 (Trang 63)
Bảng 4.4. Lượng phân bón được sử dụng cho một số loại cây trồng - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 4.4. Lượng phân bón được sử dụng cho một số loại cây trồng (Trang 68)
Bảng 4.6. Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loại đất khu vực nghiên cứu - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 4.6. Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loại đất khu vực nghiên cứu (Trang 74)
Bảng 4.7. Hàm lượng KLN trong một số loại đất khu vực nghiên cứu - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 4.7. Hàm lượng KLN trong một số loại đất khu vực nghiên cứu (Trang 77)
Bảng 4.8. Mật độ vi sinh vật trong một số loại đất khu vực nghiên cứu - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 4.8. Mật độ vi sinh vật trong một số loại đất khu vực nghiên cứu (Trang 81)
Bảng 4.9. Hàm lượng một số chỉ tiêu môi trường nước khu vực nghiên cứu - đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp thuộc lưu vực sông nhuệ tại huyện duy tiên, tỉnh hà nam
Bảng 4.9. Hàm lượng một số chỉ tiêu môi trường nước khu vực nghiên cứu (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm