1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)

179 758 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án tiến sĩ Lịch sử gồm 179 trang, trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo. Chương 1: Tổng quan về biến đổi xã hội và những cơ sở của quá trình biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương hai mươi năm đầu đổi mới (19862006) Tập trung trình bày ba vấn đề làm tiền đề cho việc nghiên cứu đề tài luận án. Một là khái niệm và thao tác hóa các nhân tố biến đổi xã hội; hai là bối cảnh kinh tế xã hội ở thành phố hồ chí minh, đồng nai và bình dương trước đổi mới (19761985); ba là hai mươi năm đầu đổi mới ở việt nam và những tiền đề biến đổi xã hội ở các địa. Chương 2: Biến đổi xã hội ở thành phố Hồ chí minh, Đồng Nai và Bình Dương trong hai mươi năm đầu đổi mới (19862006) Chương này trình bày bốn nội dung chính. Một là, quá trình biến đổi trên phương diện kinh tế; hai là quá trình biến đổi trên phương diện dân số; ba là quá trình biến đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp và bốn là quá trình biến đổi trên phương diện văn hóa. Chương 3: Nhận xét về quá trình biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương trong hai mươi năm đầu đổi mới (19862006) Chương ba nêu lên những điểm tương đồng và khác biệt, trong đó, tám điểm tương đồng được trình bày lần lượt là: Chuyển đổi mô hình phù hợp và đạt tăng trưởng kinh tế cao; diễn ra quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh; quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh trên diện rộng; khả năng hội nhập kinh tế quốc tế ngày một tăng cao; hình thành thị trường lao động và nâng cao chất lượng lao động; còn nhiều bất bình đẳng trong cơ hội việc làm và thu nhập; cơ cấu dân số biến đổi nhanh và văn hóa lối sống theo phân nhóm xã hội nghề nghiệp chuyển biến theo hướng tích cực. Hai điểm khác biệt có nguồn gốc từ lợi thế so sánh và vận dụng chủ trương, đường lối đổi mới. Ngoài ra, chương ba còn nêu ba bài học kinh nghiệm trong hai mươi năm đầu đổi mới.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH LONG

QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI XÃ HỘI TRONG HAI MƯƠI NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, ĐỒNG NAI VÀ BÌNH DƯƠNG

(1986-2006)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH LONG

QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI XÃ HỘI TRONG HAI MƯƠI NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, ĐỒNG NAI VÀ BÌNH DƯƠNG

2 PGS.TS PHAN XUÂN BIÊN

3 PGS.TS NGÔ MINH OANH

Phản biện độc lập

1 PGS.TS NGUYỄN CẢNH HUỆ

2 PGS.TS TRẦN ĐỨC CƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu phân tích, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN THANH LONG

Trang 4

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

- BĐXH: Biến đổi xã hội

- CPI: Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)

- ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam

- FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

- GDP: Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)

- KCN: Khu công nghiệp

- KCX: Khu chế xuất

- NDT: Nhân dân tệ

- PTXH: Phân tầng xã hội

- UBND: Ủy ban nhân dân

- VKTTĐPN: Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

- XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Giá trị sản xuất phân theo thành phần kinh tế quốc doanh

và ngoài quốc doanh

62

Bảng 2.2: Số lao động công nghiệp làm việc phân theo thành phần

kinh tế quốc doanh và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

Minh, Đồng Nai và Bình Dương

68

Bảng 2.7: Cơ cấu GDP Tp.HCM phân theo khu vực kinh tế (%) 70 Bảng 2.8: Cơ cấu lao động Tp.HCM theo khu vực kinh tế 72 Bảng 2.9: Cơ cấu GDP phân theo khu vực ngành kinh tế (%) 72 Bảng 2.10: Cơ cấu lao động ở Đồng Nai phân theo khu vực ngành kinh tế 74 Bảng 2.11: Cơ cấu GDP Bình Dương phân theo khu vực kinh tế 75 Bảng 2.12: Lao động làm việc trong các ngành tại thời điểm 1-7 77 Bảng 2.13: Quy mô dân số và tỷ lệ sinh, tử ở thành phố Hồ Chí Minh 79 Bảng 2.14: Quy mô dân số và tỷ lệ sinh, tử ở Đồng Nai 79 Bảng 2.15: Quy mô dân số và tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử ở Bình Dương 80 Bảng 2.16: Biến động cơ cấu dân số theo nhóm tuổi thời điểm 1989 và 1999 81 Bảng 2.17: Cơ cấu dân số Tp.HCM phân theo giới tính, thành thị - nông thôn 82 Bảng 2.18: Cơ cấu dân số Đồng Nai phân theo giới tính, thành thị - nông

Trang 6

Bảng 2.21: Số lượng học sinh, sinh viên và giáo viên, giảng viên ở

Đồng Nai phân theo bậc học

phân theo thành thị, nông thôn, nguồn thu và phân theo nhóm thu

nhập

132

Bảng 3.5: Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở Bình Dương

phân theo thành thị, nông thôn, nguồn thu và nhóm thu nhập

Trang 7

MỤC LỤC

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 11

5 Những đóng góp khoa học của luận án 14

6 Bố cục của luận án 15

Chương 1: Tổng quan về biến đổi xã hội và những cơ sở của quá trình biến đổi xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương hai mươi năm đầu đổi mới (1986 – 2006) 1.1 Khái niệm và thao tác hóa các nhân tố biến đổi xã hội 16

1.1.1 Định nghĩa khái niệm xã hội và biến đổi xã hội 16

1.1.2 Thao tác hóa các nhân tố biến đổi xã hội 19

1.1.3 Một số hướng tiếp cận quá trình biến đổi xã hội 23

1.2 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương trước thời kỳ đổi mới (1975-1985) 25

1.2.1 Vài nét về không gian nghiên cứu 25

1.2.2 Chuyển biến kinh tế mười năm sau giải phóng 30

1.2.3 Chuyển biến xã hội mười năm sau giải phóng 36

1.3 Hai mươi năm đầu đổi mới ở Việt Nam và những tiền đề biến đổi xã hội ở các địa phương 38

1.3.1 Đường lối đổi mới tạo động lực cho quá trình biến đổi xã hội 38

1.3.2 Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương vận dụng chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước 51

1.3.2.1 Thành phố Hồ Chí Minh 51

1.3.2.2 Tỉnh Đồng Nai 53

Trang 8

1.3.2.3 Tỉnh Bình Dương (Sông Bé cũ) 56

Tiểu kết chương 1 60

Chương 2: Biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương trong hai mươi năm đầu đổi mới (1986-2006) 2.1 Biến đổi về kinh tế 62

2.1.1 Biến đổi thành phần kinh tế 62

2.1.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương (1986-2006) 69

2.1.2.1 Thành phố Hồ Chí Minh 69

2.1.2.2 Tỉnh Đồng Nai 72

2.1.2.3 Tỉnh Bình Dương 75

2.2 Biến đổi về dân số 78

2.2.1 Biến động quy mô dân số 78

2.2.2 Biến động cơ cấu dân số theo nhóm tuổi 80

2.2.3 Biến động cơ cấu dân số theo giới tính và thành thị - nông thôn 82

2.3 Biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp 84

2.3.1 Hợp thức hóa các thành phần kinh tế tạo tiền đề biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp 84

2.3.2 Cơ cấu xã hội - nghề nghiệp mới 89

2.4 Biến đổi về văn hóa 97

2.4.1 Phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo 97

2.4.2 Văn hóa - lối sống theo nhóm nghề nghiệp 101

Tiểu kết chương 2 113

Chương 3: Nhận xét về quá trình biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương hai mươi năm đầu đổi mới (1986-2006) 3.1 Những tương đồng 116

3.1.1 Chuyển đổi mô hình phù hợp và đạt tăng trưởng kinh tế cao 116

3.1.2 Diễn ra quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh 119

3.1.3 Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh trên diện rộng 122

Trang 9

3.1.4 Khả năng hội nhập kinh tế quốc tế ngày một tăng cao 125

3.1.5 Hình thành thị trường lao động và nâng cao chất lượng lao động 128

3.1.6 Còn nhiều bất bình đẳng trong cơ hội việc làm và thu nhập 129

3.1.7 Cơ cấu dân số biến đổi nhanh 134

3.1.8 Văn hóa - lối sống theo phân nhóm xã hội - nghề nghiệp chuyển biến theo hướng tích cực 134

3.2 Những điểm khác biệt 136

3.2.1 Khác biệt trong vận dụng chủ trương, đường lối đổi mới vào thực tiễn mỗi địa phương 136

3.2.2 Khác biệt từ lợi thế so sánh 138

3.3 Kinh nghiệm thực tiễn hai mươi năm đầu đổi mới 139

3.3.1 Có chủ trương, đường lối và chính sách phù hợp thực tế phát triển 139

3.3.2 Khơi dậy và khai thác tốt tiềm năng thế mạnh địa phương vào phát triểnkinh tế - xã hội 140

3.3.3 Luôn chú trọng phát triển kinh tế đồng bộ với văn hóa - xã hội 141

Tiểu kết chương 3 142

Kết luận 144

Tài liệu tham khảo 151

Phụ lục 170

Trang 10

ở miền Nam Đến năm 1979, tức là bốn năm sau ngày giải phóng, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong công thương nghiệp và hợp tác hóa trong nông nghiệp

cơ bản đã hoàn thành, Nhà nước nắm giữ hầu như toàn bộ nguồn lực kinh tế - xã

hội và áp đặt cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp cho nền kinh tế

quốc dân Cơ chế kế hoạch hóa tập trung vận hành nền kinh tế quốc dân với những

đặc điểm sau: một là, Nhà nước quản lý sản xuất trực tiếp bằng các chỉ tiêu pháp lệnh Hai là, quan hệ giữa Nhà nước và các đơn vị kinh tế là quan hệ cấp phát và giao nộp Ba là, phạm trù giá trị chỉ tồn tại một cách hình thức và chủ yếu dùng

để tính toán Trên cơ sở của quan hệ cấp phát và giao nộp, các quan hệ kinh tế được hiện vật hóa

Trong những năm đầu sau chiến tranh, phải tái thiết đất nước từ một nền kinh tế kiệt quệ và có sự khác biệt tương đối lớn giữa hai miền Nam - Bắc, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã cho phép Nhà nước hoàn toàn chủ động trong việc điều phối các nguồn lực và nhờ đó xã hội nhanh chóng đi vào ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh được tái khởi động và đã đạt được sự tăng trưởng trong những năm đầu Nhưng ngay sau đó, sự nóng vội và duy ý chí, bất chấp các quy luật kinh tế khách quan, xem nhẹ lợi ích cá nhân và thực hiện chế độ phân phối theo lối bình quân chủ nghĩa trong toàn hệ thống, đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng trì trệ, thiếu sinh khí và mất động cơ phấn đấu cá nhân

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu với hai hình thức

sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể đi cùng là chế độ phân phối được xác định trên

Trang 11

cơ sở đóng góp sức lao động (phân phối theo lao động) vào quá trình sản xuất và việc đánh giá mức độ đóng góp được tiến hành thông qua hệ thống kế hoạch Đối với khu vực quốc doanh và hành chính sự nghiệp, tiền lương là hình thức phân phối chủ yếu; đối với nông dân trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc phân phối dựa trên “công - điểm” (tính theo bình quân công lao động); đối với thị dân, tất cả được hưởng chế độ tem phiếu theo định lượng dựa trên các quy định

về những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu với giá bao cấp như những người trong biên chế Nhà nước

Đến giữa thập niên 80, tình trạng thiếu hụt trong tiêu dùng trở nên nghiêm trọng, lạm phát liên tục tăng, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp giảm sút mạnh, lưu thông hàng hóa rối ren, mức sống người dân tụt giảm, toàn xã hội lâm vào khủng hoảng Thực trạng này đã chứng minh tính kém hiệu quả và không phù hợp của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, yêu cầu đổi mới đã trở nên tất yếu và cấp thiết

Trước tình hình đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) đã buộc phải nhìn nhận những yếu kém và bất cập, từ đó đề ra đường lối đổi mới trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, bắt đầu bằng việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (1986) thay cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đến nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1991) và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (2001)

Thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới, vai trò của Nhà nước trong hoạt động kinh tế đã được xác định lại, Nhà nước không còn quyết định toàn bộ các quá trình kinh tế thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung như trước mà hướng vào hệ chính sách có tác dụng định hướng và điều tiết vĩ mô, các chỉ tiêu, kế hoạch không còn mang tính pháp lệnh mà chỉ mang tính định hướng

Sự thừa nhận và hợp thức hóa tính đa sở hữu và đa thành phần trong cơ chế

và chính sách quản lý kinh tế đã khơi thông các nguồn lực, tạo tiền đề cho phát

Trang 12

triển kinh tế Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh từng bước tăng trưởng mạnh về số lượng đơn vị sản xuất kinh doanh và chiếm tỷ trọng giá trị sản xuất ngày càng lớn trong cơ cấu GDP phân theo khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh Đồng thời với quá trình này là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực kinh tế quốc doanh sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Các thành phần kinh tế mới trong hai mươi năm đầu đổi mới phát triển mạnh cũng đồng nghĩa với sự lớn mạnh của các thành phần xã hội mới, và điều này đã góp phần phá vỡ cơ cấu xã hội công - nông - trí, hình thành một cơ cấu xã hội mới đa dạng

về giai - tầng và khác biệt lớn về địa vị kinh tế, địa vị chính trị và địa vị xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương không những tiến cùng

mà còn tiến nhanh so với nhiều tỉnh thành khác trên cả nước trong quá trình thực hiện đổi mới và đạt được nhiều biến đổi xã hội tích cực Trên cái nền của “khoán hộ” trong nông nghiệp và “kế hoạch ba phần” trong công thương nghiệp, cả ba tỉnh thành đã chủ động vận dụng đường lối và chính sách đổi mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thực tiễn của địa phương theo hướng phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế so sánh Ngay từ những năm đầu đổi mới, Tp.HCM đã khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, xây dựng kinh tế tư bản

tư nhân và tư bản Nhà nước (vốn là những thành phần kinh tế bị cải tạo XHCN trong những năm 1975-1985) với quy mô và tốc độ phát triển nhanh, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương nghiệp - công nghiệp - nông nghiệp; Đồng Nai phát triển mạnh mẽ nền kinh tế theo cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp hợp lý, phát huy các mũi nhọn công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và nông sản xuất khẩu, đích đến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế là công nghiệp - thương nghiệp - nông nghiệp; trong khi đó Bình Dương đề ra mục tiêu thể hiện tính thực tế của một tỉnh nghèo, kinh tế thuần nông: chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng nông nghiệp - công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, từng bước giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần nông, đưa

Trang 13

sang làm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, từng bước xây dựng cơ

cấu kinh tế công nghiệp - thương nghiệp - nông nghiệp

Từ giữa thập niên 90, cả nước bước vào giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo nên những biến đổi to lớn không những trên phương diện kinh tế mà còn tác động và làm biến đổi nhiều phương diện xã hội khác Trước hết là sự tăng trưởng về quy mô và giá trị sản xuất của khu vực kinh tế công nghiệp

- xây dựng; kế đến là thu hút lực lượng lao động từ các ngành kinh tế truyền thống sang các ngành kinh tế hiện đại và từ khu vực nông thôn lên khu vực thành thị; thứ đến là hội nhập kinh tế quốc tế với việc thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật - công nghệ và hội nhập sâu vào thị trường thế giới bởi hoạt động xuất khẩu hàng hóa; sau cùng là tác động và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương trong giai đoạn này đã đẩy mạnh việc thành lập các KCX, KCN, thực hiện nhiều chính sách mở với nhiều

ưu đãi nên đã thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước tạo ra những chuyển biến to lớn trong hoạt động sản xuất kinh tế công nghiệp và hiện đại hóa kỹ thuật, công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất Sự phát triển của khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng đã tạo nhiều việc làm mới với môi trường làm việc tốt, thu nhập cao, nhiều phúc lợi xã hội và cơ hội thăng tiến so với việc làm trong hầu hết các ngành kinh tế truyền thống nên đã thu hút một lượng lớn lao động xã hội, không chỉ trên địa bàn mà còn khắp các tỉnh thành trên cả nước

Khác với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, hầu hết người lao động luôn thụ động chờ sự “phân công công tác” của Nhà nước và được tính công theo lối bình quân, cào bằng Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

đã mở ra cơ hội bình đẳng cho lao động tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh “Sức lao động” được xem là hàng hóa, người lao động và người sử dụng lao động được tự do thỏa thuận mua - bán, từ đó thị trường lao động được hình thành và phát triển Một đặc điểm nổi trội và xuyên suốt hai mươi năm đầu đổi

Trang 14

mới của thị trường lao động là quá trình dịch chuyển lao động làm công ăn lương

từ khu vực quốc doanh sang khu vực ngoài quốc doanh và từ khu vực kinh tế truyền thống sang khu vực kinh tế hiện đại Quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương đã làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, việc làm mới đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn phù hợp; về phía người lao động, để tăng năng lực cạnh tranh trong thị trường lao động, tăng cơ may giành lấy những việc làm tốt đã khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình học tập và nhờ đó chất lượng lao động cũng ngày một được nâng cao

Bên cạnh những thành tựu đạt được, các hiện tượng bất bình đẳng trong cơ hội việc làm và thu nhập đã diễn ra Một bộ phận lao động lớn tuổi trong khu vực kinh tế truyền thống ít có cơ may được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế hiện đại, nguyên nhân là do họ không còn khả năng học tập để chuyển đổi nghề nghiệp và vì độ tuổi và sức khỏe, họ không còn là đối tượng lao động được quan tâm bởi các nhà tuyển dụng Ngoài ra, một

bộ phận lao động di chuyển từ khu vực kinh tế truyền thống ở nông thôn đến khu vực kinh tế hiện đại ở thành thị luôn có khuynh hướng chọn những công việc giản đơn với thu nhập thấp, đẩy lao động địa phương thăng tiến lên những công việc tốt hơn cũng là một nguyên nhân tạo ra sự bất bình đẳng; vấn đề phân hóa thu nhập theo đó cũng diễn ra ngày một sâu sắc hơn, những công việc ổn định và đem lại thu nhập cao thường là những công việc trong các khu vực kinh tế hiện đại và

có địa bàn sản xuất kinh doanh tập trung tại các vùng thành thị, do đó đã dẫn đến

sự bất bình đẳng trong thu nhập giữa thành thị và nông thôn, và giữa các khu vực kinh tế với nhau

Nhìn chung, hai mươi năm đầu đổi mới (1986-2006) đã làm biến đổi xã hội mạnh mẽ và toàn diện, từ chính trị, kinh tế đến các vấn đề cơ cấu dân số, văn hóa

và hệ thống PTXH Đem đến cho Việt Nam nói chung, TP.HCM, Đồng Nai và Bình Dương nói riêng một diện mạo hoàn toàn khác so với trước đổi mới Tuy có

Trang 15

những khía cạnh diễn biến chưa hợp lý và theo chiều hướng tiêu cực nhưng trên tổng thể là sự biến đổi theo chiều hướng tích cực, trong đó, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân là nét chủ đạo

Do vậy, việc tổng kết, đánh giá quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới chẳng những cần thiết cho nhận thức khoa học mà còn nhằm góp

một tiếng nói, một lời bình, một vài đề xuất kiến nghị đối với chủ trương, đường lối và thực tiễn đổi mới

1.2 Mục đích nghiên cứu

Việc chọn và nghiên cứu đề tài “Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (1986- 2006)” là nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

- Tìm hiểu những tác động của đường lối và chính sách đổi mới đến các vấn

đề xã hội ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương trong suốt hai mươi năm đầu thực hiện đổi mới

- Phân tích quá trình biến đổi và phát triển của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương dưới định hướng chiến lược của mỗi tỉnh thành Xem xét các vấn đề kinh tế như là động lực trực tiếp tác động làm biến đổi các phương diện xã hội khác

- Những đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa dưới những tác động của các nhân tố dân số, kinh tế, văn hóa và cơ cấu xã hội - nghề nghiệp trong quá trình vận động phát triển dưới những chủ trương và đường lối đổi mới

- Tính năng động xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới được xem xét ở cấp độ vĩ mô trên hai phương diện năng động theo chiều ngang và chiều thẳng đứng Đây chính là yếu tố động, là sự chuyển biến, là quá trình phân giải cơ cấu

xã hội - nghề nghiệp tương đối ổn định trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp để đi đến hình thành những nhóm xã hội - nghề nghiệp mới trong cơ cấu xã hội - nghề nghiệp đa dạng hơn

Trang 16

- Rút ra những nhận xét về quá trình biến đổi xã hội chính yếu ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương, những xu hướng phát triển cơ bản đảm bảo quá trình phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục diễn biến theo hướng hợp lý, tích cực và đạt được sự phát triển bền vững

Ngoài ra, việc chọn và nghiên cứu quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới còn xuất phát từ mục tiêu tích lũy kiến thức nền tảng cần thiết cho việc theo đuổi hướng nghiên cứu lịch sử xã hội lâu dài của nghiên cứu sinh

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Cho đến nay, không có bất kỳ công trình nào có đối tượng nghiên cứu, không gian và thời gian nghiên cứu trùng với luận án Tuy vậy, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về những lĩnh vực có liên quan như: chuyển biến kinh tế - xã hội, biến đổi cơ cấu dân số, biến đổi văn hóa, phân tầng mức sống, phân hóa giàu - nghèo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam nói chung và Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương nói riêng Những công trình này đã giúp ích rất nhiều cho quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án của nghiên cứu sinh Từ những công trình này nghiên cứu sinh đã kế thừa nhiều vấn đề khoa học quan trọng như: hệ thống lý thuyết làm cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận và kỹ thuật thao tác hóa đối tượng nghiên cứu và các số liệu hữu ích từ kết quả nghiên cứu

- Nhóm các công trình có nhiều ảnh hưởng về cơ sở lý luận, phương pháp

tiếp cận và kỹ thuật thao tác hóa đối tượng nghiên cứu, tiêu biểu như: Khảo sát xã hội học về phân tầng xã hội (1995) Tương Lai, Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam (1998) Nguyễn Quang Ngọc chủ biên, Cơ cấu xã hội

và phân tầng xã hội (2005) Nguyễn Đình Tấn, Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu

xã hội Việt Nam hiện nay (2010) Tạ Ngọc Tấn chủ biên, Hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay (2012) Đỗ Thiên Kính

Các công trình này đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp luận phục

vụ nghiên cứu BĐXH và điểm qua những BĐXH chính yếu, như: biến đổi cơ cấu

xã hội, phân tầng xã hội, phân tầng mức sống, bất bình đẳng trong thu nhập, phân

Trang 17

hóa giàu nghèo, chuyển biến kinh tế Ngoài ra, các công trình này còn chỉ ra nhiều vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình đổi mới và cần được giải quyết nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững

- Nhóm các công trình có nhiều ảnh hưởng về hướng tiếp cận đối tượng

nghiên cứu và kết quả nghiên cứu thực tiễn, tiêu biểu như: Kinh tế Việt Nam: giai đoạn kinh tế chuyển đổi (1996) Trần Du Lịch chủ biên, Kinh tế Việt Nam trên đường phát triển (1997) Vũ Quang Việt, Cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (2002) Nguyễn Thành Xương chủ nhiệm, Lao động nữ di cư tự do: nông thôn - thành thị (2000) Hà Thị Phương Tiến và Hà Quan Ngọc, Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

ở Việt Nam (2006) Bùi Tất Thắng chủ biên, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới, quá khứ và hiện tại (2007) Nguyễn Văn Bích, Mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời

kỳ Đổi Mới (2008) Đỗ Lâm Hoàng Trang, Tư duy kinh tế Việt Nam chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989 (2008) Đặng Phong, Một số vấn đề về biến đổi

cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay (2010) Tạ Ngọc Tấn chủ biên, Biên niên các sự kiện kinh tế Việt Nam 1975-2008 (2012) Đặng Phong và Trần Đình Thiên

Nhìn chung, các công trình kể trên đã tập trung phân tích sâu về mô hình

cơ cấu kinh tế, về cơ chế quản lý và vai trò của Nhà nước đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích xu thế, động thái của quá trình phân hóa giàu

- nghèo và nêu đặc trưng của các nhóm dân cư theo mức độ giàu - nghèo; nêu và phân tích hiện tượng di cư trong bối cảnh đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của đất nước; nhận định về sự biến đổi giai cấp trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường và những quan niệm về công bằng xã hội, đề xuất những phương hướng thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nhóm các công trình tiêu biểu, nghiên cứu sâu quá trình hình thành và phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và từng tỉnh thành thuộc Vùng kinh

Trang 18

tế trọng điểm phía Nam có thể kể đến như: Cơ cấu kinh tế trên địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam (1994) Chu Thừa Ân chủ nhiệm, Nghiên cứu thực trạng phân hóa giàu nghèo ở Tp.HCM (1996) Nguyễn Thị Cành chủ nhiệm, Hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP.HCM (2002) Trần Du Lịch chủ biên, Sự phát triển công nghiệp Bình Dương trong thời kỳ Đổi Mới từ 1986 đến 2003 (2005) Nguyễn Thị Nga, Những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương từ 1945 đến

2005 (2007) Nguyễn Văn Hiệp, Văn hóa hẻm phố Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh (2007) Tôn Nữ Quỳnh Trân và Nguyễn Trọng Hòa, Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bình Dương (1997-2007) (2008) Võ Thị Cẩm Vân, Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: Lý thuyết và thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh (2010) Đỗ Phú Trần Tình, Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở Vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam (1993-2008) (2012) Huỳnh Đức Thiện, Lối sống và tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế (2013) Doãn Chính chủ biên, Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của các cộng đồng nông nghiệp - nông thôn trong quá trình phát triển các khu công nghiệp

(thông qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai) (2013) Nguyễn Văn Quyết

Các công trình này đã khái quát quá trình hình thành và phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và làm rõ nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, như: quá trình chuyển biến cơ cấu kinh tế, quá trình phân hóa giàu - nghèo, quá trình phát triển các khu công nghiệp, quá trình di dân và biến đổi văn hóa Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã cung cấp nhiều số liệu hữu ích giúp ích rất nhiều cho quá trình hoàn thành luận án

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu nhữngbiến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới

ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương được cụ thể trong bốn thành tố cấu thành

xã hội có tác động và quy định đối với quá trình BĐXH là: kinh tế, dân số, văn hóa và cơ cấu nhóm xã hội - nghề nghiệp

Trang 19

- Quá trình biến đổi kinh tế là nhân tố quan trọng, tác động và quy định toàn

bộ quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương Các đối tượng nghiên cứu chính của nhân tố này là quá trình hình thành các thành phần kinh tế mới, quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu GDP và cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế

- Quá trình biến đổi nhân tố dân số được tập trung tìm hiểu trên các phương diện: quy mô và cơ cấu dân số Trong đó, các diễn biến về tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử, di dân, cơ cấu dân số thành thị - nông thôn, giới tính và lứa tuổi được làm rõ

- Quá trình biến đổi cơ cấu nhóm xã hội - nghề nghiệp được tiếp cận từ góc

độ khoa học lịch sử xã hội, tập trung chủ yếu vào diễn tiến của quá trình phân giải nhóm xã hội - nghề nghiệp trong suốt hai mươi năm đầu đổi mới 1986-2006 Trên

cơ sở phân tích các cứ liệu lịch sử đã được ghi chép qua từng năm, từng giai đoạn,

mô tả quá trình phân giải nhóm xã hội - nghề nghiệp và xem nó là một biến số của quá trình biến đổi xã hội

- Quá trình biến đổi của nhân tố văn hóa được xem xét ở hai khía cạnh: biến đổi của hệ thống giáo dục - đào tạo và biến đổi văn hóa - lối sống theo nhóm xã hội - nghề nghiệp

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn không gian: chọn Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương làm địa

bàn nghiên cứu không chỉ vì ba tỉnh thành này có sự chuyển biến sâu sắc dưới tác động của đường lối và chính sách đổi mới, mà còn nhằm tìm hiểu tác động của hai mươi năm đầu đổi mới giống và khác nhau như thế nào đối với những tỉnh thành

có tiền đề khác nhau khi bước vào thời kỳ đổi mới: Tp.HCM với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa của khu vực, có truyền thống phát triển kinh tế công nghiệp

- xây dựng và thương mại - dịch vụ lâu đời, các khu vực kinh tế này luôn chiếm

tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Tp.HCM; Đồng Nai có truyền thống phát triển kinh tế công nghiệp, một số khu công nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động

từ rất lâu đời, như: Khu kỹ nghệ Biên Hòa được Chính quyền Sài Gòn thành lập

Trang 20

vào tháng 05/1963, Khu công nghiệp SONADEZI (Société nationale du Dévelopment dé zones industrielles) được thành lập vào tháng 12-1963; Bình Dương là một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp thuần nông, nghèo và lạc hậu cho tới trước đổi mới

Trong đó, những số liệu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 1986-1996 là số liệu của toàn tỉnh Sông Bé (cũ), vì tỉnh Bình Dương hiện nay là phần phía Nam của tỉnh Sông Bé Năm 1997, tỉnh Sông

Bé được chia tách thành hai tỉnh: Bình Phước và Bình Dương Việc không tách bóc các số liệu từ tỉnh Sông Bé trong một khoảng thời gian dài (10 năm) cũng không làm chệch mục tiêu hay ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

Giới hạn thời gian: nghiên cứu được xác định từ năm 1986 đến năm 2006

Quá trình BĐXH dưới tác động của những chủ trương, đường lối và chính sách đổi mới trong thời gian hai mươi năm có thể đủ để bước đầu tổng kết, đánh giá và rút ra những ưu khuyết điểm của từng giai đoạn trong quá trình đổi mới

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận án, nghiên cứu sinh đã vận dụng nhiều phương pháp và hướng tiếp cận lý thuyết khác nhau, trong đó các phương pháp: lịch sử, so sánh lịch sử, logic và phân tích thống kê là những phương pháp nghiên cứu chính

- Phương pháp lịch sử được vận dụng để mô tả, phân tích và trình bày quá trình BĐXH theo trình tự thời gian từ 1986 đến 2006 và trong phạm vi không gian

đã được xác định Đối tượng nghiên cứu (quá trình BĐXH) là biến số phụ thuộc

do vậy quá trình nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi của các thành tố cấu thành đối tượng nghiên cứu, đó là: thành tố kinh tế, thành tố dân số, thành tố văn hóa và thành tố cơ cấu xã hội - nghề nghiệp

- Phương pháp so sánh lịch sử được sử dụng để tìm ra những mối liên hệ trong quá trình biến đổi giữa các thành tố chính yếu cấu thành xã hội trên cả hai

Trang 21

phương diện, so sánh đồng đại và lịch đại, trên cơ sở đó tìm ra và lí giải các động lực thúc đẩy quá trình biến đổi xã hội

- Phương pháp logic được sử dụng kết hợp với phương pháp lịch sử trong việc mô tả và phân tích quá trình BĐXH trên bình diện tổng quát và chỉ ra xu hướng vận động và phát triển của quá trình này trong thời kỳ đổi mới Phương pháp logic đem lại một cái nhìn cởi mở hơn, ít định kiến hơn đối với một số vấn

đề, như: tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường, phân chia giai cấp, phân tầng xã hội

- Phương pháp phân tích thống kê được sử dụng nhằm xác định mức độ biến đổi của các thành tố cấu thành xã hội chính yếu nhằm làm rõ một cách tổng hợp bản chất cụ thể của quá trình biến đổi xã hội trong điều kiện lịch sử - xã hội xác định bằng những con số cụ thể

Lược đồ 1: Phân tích quá trình biến đổi xã hội thời kỳ đổi mới ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương (1986-2006)

Chú thích: :chiều tác động của các nguyên nhân dẫn đến BĐXH

Trạng thái

xã hội

X 1 tại thời điểm

t 1

Trạng thái

xã hội

X2 tại thời điểm

t 2

Quá trình BĐXH trong hai mươi năm đầu đổi mới (1986-2006)

Trang 22

- Hoạt động phân tích và lý giải quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới 1986-2006 được mô tả khái quát trong lược đồ 1 Các chủ trương, đường lối và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước được tiếp cận từ góc độ lịch sử, xử lý và trình bày theo lịch đại với những chủ đề trọng tâm làm nổi bật tính đổi mới và sự tác động của nó đến thực trạng xã hội và làm biến đổi cái thực trạng ấy theo thời gian; Các vấn đề kinh tế được tiếp cận theo phương pháp lịch

sử và phân tích thống kê làm nổi bật hai vấn đề trọng tâm: biến đổi thể chế kinh

tế và những biến đổi về cơ cấu ngành, quy mô và giá trị sản xuất của nền kinh tế Ngoài ra, phương pháp logic được áp dụng để giản lược các chi tiết và làm nổi bật cái trọng tâm - xu hướng biến đổi chính; Vấn đề dân số được áp dụng phương pháp nghiên cứu phân tích thống kê, làm rõ quá trình biến đổi với những con số

cụ thể theo lịch đại và phân tích mối quan hệ của nó đến các vấn đề kinh tế - xã hội khác; Một số vấn đề xã hội khác được áp dụng phương pháp lịch sử so sánh

và nhiều phương pháp phụ trợ nhằm phân tích đối chiếu theo lịch đại làm nổi bật quá trình biến đổi

4.2 Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu

Tài liệu phục vụ nghiên cứu được sử dụng từ nhiều nguồn khác nhau, trong

đó năm nguồn tài liệu chính là:

- Các sách giáo trình, sách tham khảo và bài báo khoa học về lịch sử xã hội,

xã hội học, văn hóa học của các tác giả trong và ngoài nước được tham khảo và trích dẫn phục vụ cho phần lý thuyết, làm cơ sở lý luận cho luận án;

- Các văn kiện của Trung ương Đảng, các Đảng bộ Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương và các chính sách của UBND tỉnh thành trên địa bàn nghiên cứu được

sử dụng để nêu lên chủ trương, chính sách của quá trình đổi mới;

- Các ấn phẩm của Tổng cục Thống kê và các cục thống kê trên địa bàn nghiên cứu được sử dụng, trích dẫn làm minh chứng cho những chuyển đổi trong quá trình đổi mới;

- Các kết quả nghiên cứu liên quan đến chủ đề của các tác giả đi trước

Trang 23

- Các website trong và ngoài nước

Điều đáng lưu ý là các con số trong những ấn phẩm của các cục thống kê

có nhiều sự sai biệt Nghiên cứu sinh không thể và cũng không có cơ sở để điều chỉnh các con số này, trong khi các số liệu do cục thống kê đưa ra luôn được xem

là số liệu chuẩn và có giá trị nhất

5 ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

- Một là, mô tả và hệ thống quá trình biến đổi xã hội trong thời kỳ đổi mới

ở TP.HCM, Đồng Nai và Bình Dương những năm 1986-2006 dưới góc nhìn lịch

sử, nêu và phân tích quá trình biến đổi của các thành tố cấu thành xã hội ở mức tương đối chi tiết, phác họa những biến đổi trên bốn phương diện qua từng giai đoạn khác nhau từ đó nêu lên những đặc điểm nổi bật của quá trình biến đổi xã hội, cung cấp một cái nhìn toàn cảnh

- Hai là, tiếp cận từ góc độ lịch sử xã hội, làm rõ mối quan hệ của quá trình BĐXH với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và chuyển đổi mô hình kinh tế tổng quát trong hai mươi năm đầu đổi mới; mối quan hệ giữa quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và hội nhập kinh tế quốc tế

- Ba là, phân tích quá trình biến đổi cơ cấu xã hội – nghề nghiệp ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương trong hai mươi năm đầu đổi mới, gắn liền với việc đánh giá lại các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững

- Bốn là, phân tích các số liệu về biến đổi quy mô và cơ cấu dân số đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa biến đổi cơ cấu dân số với quá trình phát triển kinh

tế - xã hội

- Năm là, nêu lên quá trình biến đổi của hệ thống giáo dục và văn hóa - lối sống theo nhóm nghề nghiệp ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương trong hai mươi năm đầu đổi mới

Trang 24

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Luận án ngoài phần dẫn luận, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ

lục, nội dung chủ yếu gồm 3 chương:

+ Chương 1: Tổng quan về biến đổi xã hội và những cơ sở của quá trình

biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương hai mươi năm

đầu đổi mới (1986-2006)

+ Chương 2: Biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình

Dương trong hai mươi năm đầu đổi mới (1986-2006)

+ Chương 3: Nhận xét về quá trình biến đổi xã hội ở thành phố Hồ Chí

Minh, Đồng Nai và Bình Dương hai mươi năm đầu đổi mới (1986-2006)

Trang 25

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI VÀ NHỮNG CƠ SỞ CỦA QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, ĐỒNG NAI

VÀ BÌNH DƯƠNG HAI MƯƠI NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986-2006)

1.1.1 Định nghĩa khái niệm xã hội và biến đổi xã hội

Việc nêu một số định nghĩa và quan điểm khác nhau về hai khái niệm xã hội và biến đổi xã hội là cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất về nhận thức và

đánh giá các vấn đề khoa học xuyên suốt luận án

Từ điển xã hội học Oxford định nghĩa: “nói một cách tổng quát, xã hội là một nhóm những người cùng chia sẻ một văn hóa chung, cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định và tự họ cảm thấy bản thân mình tạo thành một thực thể thống nhất

và riêng biệt”.[49, Tr.617]

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia lại định nghĩa: xã hội là một tập thể hay

một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng lợi ích, các mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa

Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện (1994) chủ biên đã dẫn ra những

quan điểm khác nhau về khái niệm xã hội và những cách dùng khái niệm xã hội theo nghĩa hàn lâm và thông thường

Nhằm làm cho khái niệm xã hội trở nên rõ ràng hơn, dễ nắm bắt hơn, các nhà khoa học đã nổ lực đưa ra những khái niệm cụ thể hơn Ví dụ, thuật ngữ “xã hội công nghiệp” để mô tả một xã hội thể hiện những đặc trưng nổi bật của hệ thống công nghiệp, hay rộng hơn là để biểu thị một xã hội có nền văn hóa, thể chế

và sự phát triển của nó được quy định bởi các quá trình sản xuất công nghiệp; thuật ngữ “xã hội dân sự” với những thuộc tính cơ bản đề cập đến đời sống công cộng hơn là những hoạt động cá nhân hay gia đình; thuật ngữ “xã hội tiêu dùng” đề cập

Trang 26

đến những xã hội được tổ chức xoay quanh sự tiêu dùng, hơn là sản xuất vật chất

và dịch vụ; và nhiều thuật ngữ quen thuộc khác như, “xã hội Việt Nam”, “xã hội pháp”, “xã hội tư bản”, “xã hội chủ nghĩa”…

Nhìn chung, khái niệm xã hội dù là theo nghĩa hàn lâm hay nghĩa thông thường vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất Tuy vậy, nếu phân tích một cách khái quát các định nghĩa khái niệm xã hội và cách dùng thuật ngữ xã hội theo

nghĩa thông thường, có thể nêu ra ba đặc điểm cơ bản sau: thứ nhất, khái niệm xã hội có đặc điểm về lãnh thổ; thứ hai, khái niệm xã hội có đặc điểm về dân cư; thứ

ba, khái niệm xã hội có đặc điểm về hệ thống, liên quan đến chính trị, văn hóa,

pháp luật, trình độ sản xuất…

Biến đổi xã hội hiểu theo nghĩa chung nhất, là một quá trình qua đó các

khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và hệ thống phân tầng xã hội thay đổi theo thời gian

Biến đổi xã hội không những là đối tượng nghiên cứu chính của ngành lịch

sử xã hội mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác, như:

xã hội học, văn hóa học, triết học Vào giữa thế kỷ XIX, do nhu cầu giải thích những thay đổi lớn trên nhiều phương diện đời sống xã hội ở châu Âu, như: tiến trình công nghiệp hóa, các phong trào đấu tranh dân chủ và nhân quyền theo gương cách mạng Mỹ và Pháp, các nhà khoa học đã nổ lực trong phân tích xã hội và tìm

ra những phương pháp tiếp cận lý thuyết đối với các hiện tượng xã hội, nhờ đó các

lý thuyết nghiên cứu về BĐXH đã đạt được những bước tiến dài

Auguste Comte đã phát triển hệ thống lý thuyết động học xã hội, ông cho rằng các xã hội phát triển thông qua một loạt giai đoạn mà ta có thể đoán trước dựa trên sự phát triển tri thức nhân loại Herbert Spencer đưa ra lý thuyết biến đổi mang tính tiến hóa dựa trên sự tăng trưởng dân số và khác biệt hóa cấu trúc Karl Marx thì cho rằng những BĐXH quan trọng nhất là có bản chất cách mạng, chúng diễn ra do đấu tranh giành quyền tối thượng giữa các giai cấp kinh tế Nhìn chung, khuynh hướng của các lý thuyết về BĐXH ở thế kỷ XIX là theo hướng chủ nghĩa

Trang 27

lịch sử và chủ nghĩa không tưởng Đến thế kỷ XX, trên cơ sở kế thừa và phát triển, các lý thuyết về BĐXH xuất hiện ngày càng nhiều hơn, tuy nhiên, ít có sự đột phá trong cách tiếp cận lý thuyết về vấn đề BĐXH, hầu hết đều cho rằng quá trình BĐXH có thể bắt nguồn từ các hoạt động lập pháp và hành pháp của nhà nước, cũng có thể khởi xướng từ phía công dân khi họ tiến hành các phong trào xã hội, hay từ việc truyền bá văn hóa, BĐXH cũng có thể xảy ra từ các phát minh như, thuốc kháng sinh, ti-vi, máy tính và mạng toàn cầu, và cũng có thể là hệ quả có

hoặc không có chủ định của công nghệ.[49, tr.33,34]

Kế thừa di sản của Saint Simon và Auguste Comte, các nhà xã hội học Emile Durkheim, Talcott Parsons và Wilbert E Moore đã đưa ra quan điểm về

BĐXH như sau: nếu xã hội được xem như một khuôn mẫu của các chức năng phức tạp và tương liên, thì biến đổi có thể được giải thích như một hiện tượng phụ trong cuộc tìm kiếm thường xuyên sự cân bằng Đến nữa cuối thế kỷ XX, trên quan điểm cấu trúc - chức năng, nhà xã hội học người Mỹ Neil J Smelser cho rằng:BĐXH là một quá trình gia tăng giá trị, trong đó một loạt điều kiện hay giai đoạn liên tiếp gắn kết nhau Các quan điểm về BĐXH theo tiến hóa luận cũng được kế thừa và

phát triển ở thế kỷ XX, nhìn chung các quan điểm này đều xoay quanh lập luận:

loài người chúng ta - về mặt cá nhân cũng như về mặt xã hội - là sản phẩm của hàng triệu năm thích nghi để sinh tồn và nó có thể biến đổi theo cả hai hướng, tích cực và tiêu cực Theo quan điểm Marxist nói riêng và thuyết xung đột nói chung:BĐXH được nhận thức như là kết quả của cuộc đấu tranh giành lợi ích giữa các giai cấp, các sắc tộc hay nhóm xã hội hơn là cùng tìm kiếm sự đồng thuận.[49 Tr, 34, 35]

Trên cơ sở tiếp thu có phê phán, luận án này tiếp cận thuật ngữ quá trình biến đổi xã hội ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất,quá trình biến đổi xã hội là một biến số phụ thuộc luôn chịu sự

tác động và quy định bởi nhiều biến số, trong đó biến số của các nhân tố chính trị, dân số, kinh tế, văn hóa và cơ cấu xã hội - nghề nghiệp là những biến số có sự ảnh

Trang 28

hưởng lớn đến quá trình biến đổi xã hội Nói cách khác, nghiên cứu quá trình biến đổi xã hội chính là nghiên cứu quá trình biến đổi của các nhân tố cấu thành xã hội

Thứ hai, tiếp cận từ góc độ khoa học lịch sử (lịch sử xã hội), thuộc tính quan

trọng của thuật ngữ là tính diễn tiến của sự biến đổi, nghĩa là nó xem xét sự BĐXH diễn ra theo trục thời gian, nó tập trung vào quá trình - diễn tiến, hơn là thực trạng

- cái đương là

Thứ ba, quá trình BĐXH được nhận biết thông qua các biến số của các

thành tố cấu thành xã hội bởi việc so sánh trạng thái xã hội X1 tại thời điểm t1 với trạng thái xã hội X2 tại thời điểm t2 và cứ thế cho đến trạng thái xã hội Xn tại thời điểm tn Trong luận án này, quá trình biến đổi xã hội được đặt trên trục thời gian

từ 1986 đến 2006 Tùy vào sự diễn tiến và tính chất của quá trình biến đổi của các nhân tố biến đổi xã hội mà khoảng thời gian còn được chia nhỏ hơn

1.1.2 Thao tác hóa các nhân tố biến đổi xã hội

Thao tác hóa và diễn giải các nhân tố biến đổi xã hội là việc làm cần thiết

khi tiến hành nghiên cứu Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới Nhóm nhân tố biến đổi xã hội ở cấp độ thứ nhất được lựa chọn là: biến đổi kinh tế, biến đổi dân số, biến đổi văn hóa và biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp

Đây là những nhân tố quan trọng nhất, nó tác động và quy định quá trình biến đổi

xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.Tiếp theo nhóm nhân tố biến đổi xã hội ở cấp độ thứ nhất là các nhân

tố biến đổi cấp độ thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm…cho đến nhân tố biến đổi thứ

n Trong giới hạn của luận án, không thể thao tác hóa và diễn giải tất cả các nhân

tố biến đổi ở mọi cấp độ Do vậy, luận án này chỉ diễn giải bốn nhân tố biến đổi

xã hội ở cấp độ đầu tiên để từ đó làm rõ quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới

Trang 29

Lược đồ 2: Diễn giải bốn nhân tố biến đổi xã hội ở cấp độ thứ nhất

Biến đổi kinh tế: theo nghĩa chung nhất, kinh tế là tổng hòa các mối quan

hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn Do vậy, biến đổi kinh tế được hiểu là biến đổi của các thành tố cấu thành hệ thống kinh tế

Trong luận án này, biến đổi kinh tế được xem xét trên hai phương diện: thứ nhất là những biến đổi về thể chế kinh tế, nó bao gồm quá trình chuyển đổi từ nền

kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách,

pháp luật của Nhà nước trực tiếp điều chỉnh các quan hệ kinh tế; thứ hai là quá

trình biến đổi về “lượng” của nền kinh tế, nó bao gồm quá trình tăng trưởng và

Quá trình biến đổi xã hội

Biến đổi

kinh tế

Biến đổidân số

Biến đổi cơ cấu

xã hội - nghề nghiệp

Biến đổi văn hóa

độ thứ nhất

Nhóm nhân tố

biến đổi cấp

độ 1, 2, n

Trang 30

chuyển dịch cơ cấu GDP, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế và quá trình biến đổi cơ cấu hàng xuất khẩu

Biến đổi dân số: luôn là vấn đề quan tâm của các ngành khoa học, các tổ

chức xã hội và của mọi quốc gia bởi biến đổi dân số gây ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội

Dân số hiểu theo nghĩa thông thường là số lượng cư dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định trong một khoảng thời gian xác định Dân số hiểu theo nghĩa rộng là những tập hợp người cùng sinh sống trên một lãnh thổ trong một khoảng thời gian xác định, với các đặc trưng về quy mô, kết cấu, mối quan hệ kinh tế, phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ

Dân số được thể hiện theo quy mô, cơ cấu và sự phân bố: quy mô dân số là

tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian xác

định; cơ cấu dân số là tỷ lệ dân số được phân theo giới tính, độ tuổi, trình độ học

vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác Đây là những đặc trưng biểu thị chất lượng dân số, có liên quan chặt chẽ với quy mô và tốc độ gia

tăng dân số; phân bố dân số là sự sắp xếp số dân một cách tự giác hoặc tự phát

trên một lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của chính cư dân và với yêu cầu của

xã hội.Như vậy, nói một cách chung nhất, biến đổi dân số là sự thay đổi về quy

mô, cơ cấu và phân bố dân số cùng với những thuộc tính của nó

Quá trình biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp: là quá trình phân giải cơ

cấu xã hội - nghề nghiệp đương thời, qua đó, các cá nhân vận động và chiếm giữ những vị thế khác nhau trong những nhóm xã hội - nghề nghiệp khác nhau và hình thành một cơ cấu xã hội - nghề nghiệp mới với sự ổn định tương đối trong sự vận động biến đổi liên tục và góp phần quy định quá trình biến đổi xã hội tổng thể

Luận án này xem xét quá trình biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp dưới tác động của quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những

Trang 31

tác động trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương

Biến đổi văn hóa: là một khái niệm có nội hàm rộng và khó nắm bắt, chỉ

riêng khái niệm gốc - văn hóa -đã có hơn 500 định nghĩa Một trong những định nghĩa được nhiều nhà khoa học lựa chọn làm cơ sở lý luận là của Edward Taylor: văn hóa như là một phức hợp của tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật

và tập quán do học hỏi mà có.[49, tr 595]

Biến đổi văn hóa đã sớm được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và

do vậy từ cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện nhiều lý thuyết với những kiến giải khác

nhau về biến đổi văn hóa, như: Thuyết truyền bá văn hóa cho rằng, vấn đề mấu

chốt của biến đổi văn hóa là sự vay mượn hoặc sự truyền bá của các đặc trưng văn

hóa từ xã hội này sang xã hội khác; Thuyết vùng văn hóa cho rằng sự biến đổi văn

hóa diễn ra rất đa chiều và ở nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào cộng đồng đó

là trung tâm hay ngoại vi hay vùng chuyển tiếp; Thuyết tiếp biến văn hóa chỉ ra sự

biến đổi văn hóa trong bối cảnh những xã hội phương Tây và ngoài phương Tây

đã trải qua mối quan hệ lâu dài, đặc biệt là sự ảnh hưởng của những xã hội có ưu

thế đối với người dân bản địa; Thuyết cấu trúc - chức năng cho rằng xã hội là một

hệ thống, trong đó mỗi một bộ phận cấu thành hệ thống đều có những chức năng

cụ thể nhằm duy trì sự ổn định của xã hội Do vậy, văn hóa có chức năng riêng của nó và thường là nó ổn định, nếu văn hóa biến đổi thì thường là do các tác nhân

từ bên ngoài và sẽ dẫn theo sự biến đổi của cả hệ thống xã hội

Xem xét văn hóa như là nhân tố biến đổi xã hội theo thuyết cấu trúc - chức năng dưới góc độ khoa học lịch sử, luận án này tiếp cận quá trình biến đổi văn hóa

từ hai khía cạnh: Thứ nhất là quá trình biến đổi về mặt tri thức mà cụ thể là hệ

thống giáo dục - đào tạo, sự biến đổi này dẫn đến nhiều biến đổi quan trọng khác

mà trước hết và quan trọng nhất là biến đổi lực lượng sản xuất; thứ hai là quá trình

biến đổi văn hóa - lối sống của các nhóm xã hội nghề nghiệp, sự biến đổi này vừa

Trang 32

là kết quả, vừa là nguyên nhân của quá trình biến đổi xã hội hai mươi năm đầu đổi mới

1.1.3 Một số hướng tiếp cận quá trình biến đổi xã hội

Đối tượng nghiên cứu của luận án có nội hàm rộng do đó đòi hỏi phải vận dụng nhiều hướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, luận án này xin dừng lại ở một

số hướng tiếp cận sau: tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích văn hóa, tiếp cận theo thuyết cấu trúc - chức năng và thuyết xung đột

Hướng tiếp cận lịch sử: xem xét quá trình biến đổi của các nhân tố tác

động và quy định BĐXH: chính trị, dân số, kinh tế, cơ cấu xã hội - nghề nghiệp

và văn hóa theo lịch đại một cách khách quan, chân thực, bám sát đối tượng, thời gian, không gian và trên cơ sở so sánh lịch sử làm rõ quá trình BĐXH Phương pháp lịch sử không chỉ đơn thuần trình bày quá trình biến đổi của các nhân tố BĐXH bằng cách sưu tầm và liệt kê nhiều sự kiện, hiện tượng mà còn làm rõ điều kiện phát sinh và đặc điểm biến đổi trong mối quan hệ đa chiều của chúng

Tuy có nhiều ưu điểm nhưng tiếp cận theo phương pháp lịch sử cũng có những khuyết điểm nhất định, trong trường hợp cụ thể của luận án này, khuyết điểm lớn nhất là không có đầy đủ những dữ liệu lưu giữ qua các tài liệu thống kê, các cuộc nghiên cứu lập lại từ góc độ xã hội học Do vậy, chỉ riêng phương pháp lịch sử là chưa đủ để hoàn thành luận án với đầy đủ tính khoa học mà cần phải thực hiện công việc nghiên cứu trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp và nhiều hướng tiếp cận

Tiếp cận phân tích văn hóa (còn gọi là phương pháp xã hội học thấu hiểu):

trong nghiên cứu quá trình BĐXH nhấn mạnh đến yếu tố nội sinh Hướng tiếp cận này cho rằng hành động xã hội của con người không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố ngoại sinh như: môi trường, chính trị, kinh tế mà còn chịu sự chi phối bởi những yếu tố nội sinh như: quan niệm đúng - sai, tri thức, tình cảm Vì vậy, khi nghiên cứu hành động xã hội làm BĐXH cần quan tâm đến động cơ văn hóa từ bên trong của cá nhân hay nhóm xã hội để thấu hiểu hành động xã hội

Trang 33

Tiếp cận quá trình BĐXH theo hướng phân tích văn hóa, tính đa dạng văn hóa là một thuộc tính quan trọng Mỗi quốc gia - dân tộc đều có một nền văn hóa chung làm đại diện nhưng mỗi vùng miền, mỗi giai tầng, mỗi nhóm xã hội đều có

những khác biệt văn hóa (các tiểu văn hóa) Sự khác biệt này quy định sự khác

biệt trong hành động xã hội và nó tác động mạnh mẽ đến các nhân tố BĐXH làm cho quá trình BĐXH trở nên đa dạng, do vậy nó đòi hỏi sự tiếp cận cẩn trọng và thấu đáo trong quá trình nghiên cứu

Tiếp cận theo thuyết hệ thống (còn gọi là thuyết cấu trúc - chức năng): nhà

khoa học xem xã hội là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống con và mỗi hệ thống con lại bao gồm nhiều hệ thống con khác Các hệ thống con ở mỗi cấp độ đều có những chức năng riêng và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành mạng lưới các mối quan hệ, trên cơ sở đó hình thành một hệ thống thống nhất - xã hội

Vì vậy, bất kỳ một hệ thống con nào biến đổi đều dẫn đến sự biến đổi của cả hệ thống

Tiếp cận quá trình BĐXH theo thuyết hệ thống, giúp nhà nghiên cứu vừa tiếp cận sự biến đổi ở cấp độ vĩ mô - xã hội, vừa tiếp cận ở cấp độ vi mô - nhân tố BĐXH, điều này đảm bảo một cái nhìn vừa cụ thể vừa toàn diện Tuy nhiên, tiếp cận theo thuyết hệ thống ít nhiều sẽ mang tính bảo thủ, nó chỉ tiếp cận vấn đề trên phương diện chức năng, theo hướng đồng thuận, nó bỏ qua tính mâu thuẫn và xung đột trong mỗi hệ thống và giữa các hệ thống Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan

và toàn diện trong nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu cần vận dụng thuyết xung đột bổ sung cho hướng tiếp cận lý thuyết

Tiếp cận theo thuyết xung đột: xem xã hội là một hệ thống mất cân bằng,

đầy rẫy những mâu thuẫn và xung đột giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội, cá nhân và xem đây là nguồn gốc của mọi sự vận động, biến đổi Quá trình giải quyết những mâu thuẫn và xung đột xã hội tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển - biến đổi xã hội

Trang 34

Mỗi một mâu thuẫn, xung đột xã hội đều hàm chứa những nguyên nhân và động cơ chi phối sự xung đột Vì vậy, khi tiếp cận vấn đề BĐXH theo hướng xung đột nhà khoa học tiếp cận những nguyên nhân và động cơ của các chủ thể tham gia quan hệ xung đột và nhờ đó nắm bắt quá trình BĐXH từ bên trong, căn nguyên dẫn đến sự biến đổi Mặc dù có nhiều ưu điểm trong nghiên cứu BĐXH nhưng thuyết xung đột vẫn có những hạn chế nhất định, một trong những hạn chế lớn là

đã bỏ qua tính đồng thuận xã hội

1.2 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, ĐỒNG NAI VÀ BÌNH DƯƠNG TRƯỚC ĐỔI MỚI (1976-1985)

1.2.1 Vài nét về không gian nghiên cứu

Về vị trí địa lý: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương thuộc

miền Đông Nam bộ và nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vị trí địa lý của Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hướng phát triển và những thành tựu trong thời kỳ đổi mới

- Phía Đông giáp Bình Thuận, Đông - Bắc giáp Lâm Đồng và Đông - Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, đây là những địa phương có ngành kinh tế du lịch và công nghiệp dịch vụ dầu khí phát triển

- Phía Tây giáp Long An, Tây - Bắc giáp Tây Ninh và Tây - Nam giáp Tiền Giang, là những tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kinh tế-xã hội đang

có sự chuyển biến mạnh

- Phía Nam giáp biển Đông với 15km chiều dài bờ biển

- Phía Bắc giáp Bình Phước

Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương có tổng diện tích tự nhiên 10.655,3 km2 Trong đó, diện tích tự nhiên của Bình Dương là 2.695,2 km2, Đồng Nai là 5.866,4 km2, và TP.HCM là 2.093,7 km2 Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương có hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao thương nội địa cũng như quốc tế:

Trang 35

- Hệ thống giao thông đường thủy: hai con sông lớn là Đồng Nai và Sài Gòn chảy qua, cùng với 15 km bờ biển tạo thành hệ thống giao thông đường thủy hết sức thuận lợi cho việc giao thương giữa các vùng miền trong nước và quốc tế

Hệ thống các cảng Sài Gòn, Gò Dầu, Phú Mỹ, cảng biển tổng hợp Bình Dương

có luồng nước sâu, năng lực tiếp nhận tàu tải trọng lớn Đường thủy đã trở thành

hệ thống giao thông huyết mạch của nền kinh tế Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương

- Hệ thống giao thông đường bộ: có các quốc lộ 1,13, 14, 20, 22, 50 và 51 chạy qua Trong đó, quốc lộ 1 nối liền Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương với các tỉnh ven biển miền Trung, miền Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long; quốc lộ

13, 14 chạy về phía Bắc, đi qua tỉnh Bình Phước và kéo dài suốt Tây Nguyên; quốc lộ 20 chạy xuyên suốt Đồng Nai lên Lâm Đồng đến tận thành phố du lịch Đà Lạt; quốc lộ 22 đi Tây Ninh, qua Campuchia, là một phần trong hệ thống đường xuyên Á; quốc lộ 50 kết nối Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương với tỉnh Long

An và Tiền Giang, quốc lộ 51 đi Bà Rịa-Vũng Tàu, tỉnh có ngành kinh tế du lịch

và công nghiệp dầu khí phát triển Ngoài ra, Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương còn có hệ thống đường tỉnh lộ chằng chịt tạo điều kiện thuận lợi giao thông nội vùng và các vùng phụ cận

- Hệ thống đường sắt: đường sắt thống nhất Bắc - Nam chạy qua Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương, trong đó, nhà ga Hòa Hưng thuộc TP.HCM là điểm cuối Trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển nối với các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Đường sắt thống nhất Bắc-Nam luôn giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hành khách và hàng hóa trên cả nước

- Hệ thống giao thông đường hàng không: sân bay Tân Sơn Nhất thuộc Tp.HCM là sân bay lớn nhất Việt Nam, có diện tích 850ha, đứng đầu về mặt công suất nhà ga với 15-17 triệu lượt khách một năm (quá tải khi lượng khách đạt 25 triệu lượt một năm) Sân bay Tân Sơn Nhất cách thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương và thành phố Biên Hòa, Đồng Nai khoảng một giờ đi đường, đây là sân

Trang 36

bay quốc tế duy nhất trong vùng, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giao thương quốc tế

Về điều kiện tự nhiên: Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương nằm trong vùng

chuyển tiếp giữa miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Địa hình tổng quát có sự thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Nhìn chung, địa hình Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương khá bằng phẳng, có nền đất rắn chắc, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình giao thông, đô thị, khu công nghiệp và khu chế xuất

Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo gió mùa, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ trung bình quanh năm dao động từ 25-270C Do ảnh hưởng của vị trí địa lý nên chế độ gió mùa không gây ảnh hưởng lớn đến chế độ nhiệt, nhưng lại phân hóa thành hai mùa mưa và mùa khô, mỗi mùa kéo dài 06 tháng Mùa mưa khoảng từ tháng 05 đến tháng 10

và mùa khô khoảng từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau Lượng mưa trung bình mỗi năm khoảng 1.500mm và giảm dần từ phía Tây lên phía Bắc Vào mùa mưa, trung bình mỗi tháng có 20 ngày mưa với lượng mưa bình quân từ 200-250mm Chế độ

ẩm của không khí tương đối cao, trung bình năm từ 80-85% và biến đổi theo mùa Tháng có độ ẩm cao nhất lên đến 90% (vào mùa mưa), tháng thấp nhất khoảng

19% (vào mùa khô).[137, tr 239]

Đất ở vùng Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương đa dạng về chủng loại và phân bố thành các vùng tập trung khá rõ nét Vùng đất đỏ bazan tập trung nhiều ở Đồng Nai, đất có tầng phong hóa dày, màu mỡ, phát triển trên địa hình bằng phẳng nên thích hợp cho việc chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, như: cao su, điều,

cà phê và cây ăn quả; đất xám phát triển trên nền phù sa cổ, phân bổ ở các huyện phía bắc của hai tỉnh Bình Dương và Đồng Nai Đất chịu quá trình rửa trôi mạnh nên không màu mỡ bằng đất đỏ bazan, thích hợp trồng các loại cây cao su và hồ tiêu; đất feralit vàng đỏ và đất phù sa, phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Đồng Nai, Sài Gòn và Sông Bé, đất thích hợp trồng lúa và luân canh lúa-hoa màu Nhìn

Trang 37

chung, đất vùng Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương không thích hợp cho việc sản xuất lương thực, nhất là lúa nước, đất thích hợp trồng cây công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng như, khu đô thị, khu công nghiệp và hệ thống đường giao thông

Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương có nhiều khoáng sản quý, như: đất cao lanh, đá xây dựng và ốp - lát, phân bố nhiều ở hai tỉnh Bình Dương và Đồng Nai và đã được khai thác phục vụ cho xây dựng, làm đồ gốm sứ, sản phẩm chịu nhiệt phục vụ trong lĩnh vực công nghiệp

Về lịch sử hình thành: tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Tp.HCM ngày nay

là một phần của vùng đất từ thời xa xưa có tên gọi chung là “xứ Đồng Nai” (Lộc Dã) Từ thế kỷ XV, XVI đã có những nhóm lưu dân người Việt đầu tiên đến lập nghiệp ở đây Đến thế kỷ XVII, dòng lưu dân này ngày càng đông hơn và đã xuất hiện các quần cư quan trọng ở Bình Thuận (Phan Thiết), Bà Rịa (Mô Xoài), Đồng Nai (Cù Lao Phố, Cù lao Rùa, Long Thành), Gia Định (Bến Nghé) Qua một thời kỳ khai phá và định cư tự phát của lưu dân Việt, nơi đây đã trở thành một địa bàn kinh tế và quốc phòng có tính chất chiến lược của Đàng Trong Năm 1623, Chúa Nguyễn cho lập đồn “thương chánh” đầu tiên ở Bến Nghé Đến năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được phái vào kinh lược và tổ chức bộ máy cai trị nơi đây, chính thức hóa một “thực trạng đã rồi” trên phần đất này: chia đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, đất Biên Hòa thuộc Dinh Trấn Biên, đất Sài Gòn chia làm huyện

Tân Bình thuộc Dinh Phiên Trấn [110, tr.13]

Đại bộ phận dân cư của địa bàn này khi ấy xuất xứ từ đất Ngũ Quảng Cũng trong thời kỳ này, Chúa Nguyễn đã cho phép hàng ngàn binh sĩ nhà Minh (bị thất bại trong phong trào chống triều đình Mãn Thanh chạy qua lưu trú) cùng gia đình vào tị nạn, định cư, khai phá vùng Biên Hòa, Đồng Nai Đây là yếu tố đáng lưu ý

về dân cư và nguồn nhân lực nơi đây trong thời bấy giờ.[110, tr.14]

Việc đặt bộ máy cai trị của nhà Nguyễn đã ghi nhận “dấu mốc” quan trọng của công cuộc khai phá vùng đất trọng yếu này Từ ấy, khung cảnh chung đã khởi

Trang 38

sắc: dân cư quần tụ đông đúc hơn; hoạt động khẩn hoang, thương mại bắt đầu nhộn nhịp, cảng Cù Lao Phố trở thành thương cảng, tàu thuyền trong và ngoài nước lui tới tấp nập.Nhìn tổng quát về kinh tế-xã hội, ngay từ thế kỷ XVIII, XIX, nơi đây

đã là vùng kinh tế phồn thịnh của Đàng Trong, là nơi cung cấp thóc gạo và các sản vật nông, lâm, ngư nghiệp có giá trị cho cả nước Hoạt động thương mại còn

vươn ra thị trường các nước lân cận Đông Nam Á và cả Phương Tây.[110, tr.14]

Đến cuối thế kỷ XVIII, cụm quần cư Bến Nghé-Sài Gòn đã trở thành một thành phố với đầy đủ nghĩa của từ, nơi đây đã có “thành” có “phố”, dân cư sống tập trung với sắc thái và tập tính của “thị dân”, ước lượng khoảng vài chục ngàn người Con số này lên đến khoảng 50-60.000 người vào giữa thế kỷ XIX (trước khi Pháp xâm chiếm) Đầu thế kỷ XX, dân số vùng Đồng Nai-Gia Định lên đến trên 1 triệu và đến năm 1945 đạt trên 2 triệu, năm 1955 trên 3 triệu, năm 1971 trên 5,5 triệu, năm 1986 khoảng 7 triệu và năm 1991 khoảng 8 triệu Do vùng đất ở vào vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quân sự nên từ lâu đã

có nhiều công trình điều tra, nghiên cứu về nhiều mặt, trong đó đáng chú ý nhất là

bốn công trình sau: công trình nghiên cứu Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức là hai công trình mang tính địa chí,

mô tả núi sông, đất nước, con người và sản vật của địa phương; cuộc điều tra nắm các hộ dân (4 vạn hộ) và xác định địa giới hành chính, tổ chức làng, xã, tổng, huyện, phủ của Nguyễn Hữu Cảnh vào năm 1689 và cuộc điều tra lập bản đồ đất đai, lập sổ bộ binh, điền toàn địa bạ của Trương Đăng Quế vào năm 1836.[110, tr 15]

Cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp chiếm Nam Bộ và sau đó là cả Việt Nam, thực dân Pháp đã huy động nhiều nhà khoa học và tổ chức nhiều cuộc

“thám hiểm” điều tra, nghiên cứu về địa hình, địa chất-khoáng sản, đất, nước, rừng, dân tộc học và các điều kiện về môi trường

Những năm 1954-1975, Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tiến hành nhiều chương trình điều tra, nghiên cứu có ý nghĩa chiến lược, như: cuộc điều tra

Trang 39

đất, rừng, hải sản; điều tra, quy hoạch các hồ chứa và thủy điện của lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn

Từ năm 1975 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu quy mô về địa hình, địa chất, đất, nước, rừng, biển Kết quả đạt được làm rõ và tương đối có hệ thống các tiềm năng về tài nguyên và điều kiện tự nhiên trên địa bàn

Sài Gòn cùng với vùng ngoại vi Đồng Nai-Gia Định trong suốt 300 năm qua đã làm điểm tựa, hỗ trợ đắc lực trong việc khai phá, phát triển toàn vùng Nam

Bộ Đã từ lâu, rõ ràng nhất là từ giữa thế kỷ XIX, về mặt kinh tế-thương mại, quan

hệ “tổng cung và tổng cầu” không phải chỉ hạn chế ở cộng đồng dân cư trên địa bàn, mà mở rộng ra cả Nam Bộ, một phần của cả nước và vươn ra cả thị trường

1.2.2 Chuyển biến kinh tế 10 năm sau giải phóng

Thành phố Hồ Chí Minh: Cùng với cả nước xây dựng kinh tế xã hội chủ

nghĩa, các thành phần kinh tế được cải tổ, sắp xếp lại và cũng không thoát khỏi tình trạng chung, kinh tế Tp.HCM cũng rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển Những năm 1976-1980 tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 2,2%/năm, đến những năm 1980-1985 với những biện pháp và hình thức tháo gỡ tích cực của Đảng bộ

và nhân dân Tp.HCM, tốc độ tăng trưởng bình quân đã nâng lên thành 8,2%/năm Tuy tốc độ tăng trưởng cao nhưng chưa xứng tầm với vị trí của một thành phố trung tâm

Nông nghiệp, nhiệm vụ đặt ra cho ngành nông nghiệp của Tp.HCM được

thay đổi trong từng giai đoạn cho phù hợp với yêu cầu phát triển chung: từ “vành đai lương thực thực phẩm” những năm 1975-1980 với nhiệm vụ cân đối lương

Trang 40

thực cho các hộ nông nghiệp ngoại thành và một phần thực phẩm cho thành phố, nhất là rau xanh; chuyển qua “vành đai thực phẩm” trong những năm 1980-1990, với nhiệm vụ cung cấp thực phẩm tươi sống và một phần nguyên liệu cho công

nghiệp chế biến của thành phố [171, tr.210]

Trong những năm 1975-1980, Tp.HCM đã phục hóa khai hoang đưa vào sản xuất hơn 70.000ha đất trước đây là “vùng đất trắng”, đưa diện tích trồng trọt

từ 45.000ha lên 115.000ha Sản lượng lúa từ 95.000 tấn năm 1975 lên hơn 160.000 tấn năm 1976 Chỉ sau một năm, màu xanh đã phủ trên “vùng đất trắng”.Giá trị sản xuất nông - lâm-thủy giai đoạn 1975-1980 tăng trưởng bình quân 5,1% năm Ngành nông nghiệp tăng 3,7% năm, trong đó: chăn nuôi tăng mạnh 5,5% năm,

trồng trọt tăng 3,1% năm [171, tr.214]

Để thực hiện được mục tiêu lương thực, Tp.HCM đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, nhằm chủ động tưới tiêu cho lúa và màu Những năm 1977-1980, Tp.HCM đầu tư thủy lợi trên 40% tổng vốn đầu tư cho các huyện ngoại thành.[171,

tr.215]

Trong những năm 1981-1985, sản xuất nông - lâm - thủy đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân tăng 5,9%/năm Ngành nông nghiệp tăng 4,8%/năm, trong

đó: trồng trọt tăng 5,3%/năm, chăn nuôi 3,2%/năm.[171, tr 219]

Công nghiệp,tiếp quản những cơ sở vật chất quý giá của chính quyền Việt

Nam Cộng Hòa và qua hai đợt cải tạo công thương, Tp.HCM đã quốc hữu hoá tài sản của 171 nhà tư sản mại bản và 59 tên gian thương lớn, hình thành 400 xí nghiệp quốc doanh, tạo việc làm cho 270.000 lao động Sau cải tạo, 70% tài sản của giai cấp bóc lột đã thuộc tài sản sở hữu toàn dân Sau những lúng túng ban đầu ngành công nghiệp đã trở lại hoạt động bình thường với nguồn nguyên liệu dự trữ khá lớn Mặt khác, Tp.HCM lại được trung ương chi viện vật tư, nguyên liệu thiết yếu nên sản lượng công nghiệp Tp.HCM tăng nhanh trong những năm 1976-1978 Trị giá sản lượng công nghiệp năm 1977 tăng 31,2% so với năm 1976 [171, tr.113]

Ngày đăng: 04/04/2017, 23:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003), Báo cáo tóm tắt đề án phương hướng phát triển kinh tế xã hội vùng Đông Nam Bộ đến năm 2010, số 648/BKH/CLPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đề án phương hướng phát triển kinh tế xã hội vùng Đông Nam Bộ đến năm 2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2003
17. Bộ Tư pháp (1999), Thông tư số 12/1999/TT-BTP ngày 25 tháng 06 năm 1999 hướng dẫn thi hành một số quy định về đăng ký hộ tịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/1999/TT-BTP ngày 25 tháng 06 năm 1999 hướng dẫn thi hành một số quy định về đăng ký hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1999
18. Chu Thừa Châm-Cao Minh Nghĩa-Nguyễn Thị Nết (1994), Tập biểu số liệu, biểu đồ kinh tế-xã hội của ĐBKTTTĐPN thời kỳ 1986-2010, đề tài đặc biết cấp Nhà nước, mã số , Viện kinh tế Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập biểu số liệu, biểu đồ kinh tế-xã hội của ĐBKTTTĐPN thời kỳ 1986-2010
Tác giả: Chu Thừa Châm, Cao Minh Nghĩa, Nguyễn Thị Nết
Nhà XB: Viện kinh tế Tp. HCM
Năm: 1994
19. Chính phủ (1997), Nghị định số 51-CP ngày 10 tháng 05 năm 1997 về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 51-CP ngày 10 tháng 05 năm 1997 về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1997
24. Cục Thống kê Bình Dương (2000), Công nghiệp Bình Dương 4 năm (1997- 2000), tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp Bình Dương 4 năm (1997- 2000)
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: tài liệu lưu hành nội bộ
Năm: 2000
25. Cục Thống kê Bình Dương (2000), Con số và sự kiện tỉnh Bình Dương 4 năm (1997-2000), tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con số và sự kiện tỉnh Bình Dương 4 năm (1997-2000)
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Năm: 2000
26. Cục Thống kê Bình Dương (2003), Số liệu thống kê chủ yếu 3 năm 2001- 2003, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê chủ yếu 3 năm 2001- 2003
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: tài liệu lưu hành nội bộ
Năm: 2003
27. Cục Thống kê Bình Dương (2004), Bình Dương số liệu thống kê chủ yếu 5 năm 1999-2003, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Dương số liệu thống kê chủ yếu 5 năm 1999-2003
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Năm: 2004
28. Cục Thống kê Bình Dương (2003), Niên giám thống kê 2003, Nxb. Thống Kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2003
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2003
29. Cục Thống kê Bình Dương (2004), Niên giám thống kê 2004, Nxb. Thống Kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2004
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2004
30. Cục Thống kê Bình Dương (2005), Niên giám thống kê 2005, Nxb. Thống Kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2005
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2005
31. Cục Thống kê Bình Dương (2006), Niên giám thống kê 2006, Nxb. Thống Kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2006
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2006
32. Cục Thống kê Bình Dương (2008), Số liệu kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dương 1997-2008, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dương 1997-2008
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2008
33. Cục Thống kê Đồng Nai (1994), Niên giám thống kê Đồng Nai 1993, Biên Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Đồng Nai 1993
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Biên Hòa
Năm: 1994
34. Cục Thống kê Đồng Nai (1999), Niên giám thống kê năm 1998, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 1998
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1999
35. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám thống kê năm 2001, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2001
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2002
36. Cục Thống kê Đồng Nai (2003), Niên giám thống kê năm 2002, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2002
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2003
37. Cục Thống kê Đồng Nai (2005), Niên giám thống kê năm 2004, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2004
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2005
38. Cục Thống kê Đồng Nai (2006), Niên giám thống kê năm 2005, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2005
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2006
39. Cục Thống kê Đồng Nai (2007), Niên giám thống kê năm 2006, Nxb. Thống kê, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2006
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho thấy: thứ nhất,  trước đổi mới, kinh tế Tp.HCM và  Đồng Nai lâm vào tình trạng khủng hoảng, tổng giá trị sản xuất của cả hai thành  phần kinh tế là rất nhỏ - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng s ố liệu trên cho thấy: thứ nhất, trước đổi mới, kinh tế Tp.HCM và Đồng Nai lâm vào tình trạng khủng hoảng, tổng giá trị sản xuất của cả hai thành phần kinh tế là rất nhỏ (Trang 72)
Bảng 2.3: Dân số phân theo thành thị và nông thôn ở Tp.HCM, Đồng Nai và  Bình Dương - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.3 Dân số phân theo thành thị và nông thôn ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương (Trang 74)
Bảng 2.5: Số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.5 Số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ (Trang 76)
Bảng 2.6: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào thành phố Hồ Chí Minh, Đồng  Nai và Bình Dương - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.6 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (Trang 77)
Bảng 2.7: Cơ cấu GDP Tp.HCM phân theo khu vực kinh tế (%) - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.7 Cơ cấu GDP Tp.HCM phân theo khu vực kinh tế (%) (Trang 79)
Bảng 2.16: Biến động cơ cấu dân số theo nhóm tuổi thời điểm 1989 và 1999 - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.16 Biến động cơ cấu dân số theo nhóm tuổi thời điểm 1989 và 1999 (Trang 90)
Bảng 2.17: Cơ cấu dân số Tp.HCM phân theo giới tính, thành thị - nông thôn - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.17 Cơ cấu dân số Tp.HCM phân theo giới tính, thành thị - nông thôn (Trang 91)
Bảng 2.19: Cơ cấu dân số Bình Dương theo giới tính, thành thị - nông thôn - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.19 Cơ cấu dân số Bình Dương theo giới tính, thành thị - nông thôn (Trang 93)
Bảng 2.20: Số lượng học sinh, sinh viên và giáo viên, giảng viên ở thành phố - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.20 Số lượng học sinh, sinh viên và giáo viên, giảng viên ở thành phố (Trang 107)
Bảng 2.21: Số lượng học sinh, sinh viên và giáo viên, giảng viên ở Đồng Nai - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.21 Số lượng học sinh, sinh viên và giáo viên, giảng viên ở Đồng Nai (Trang 108)
Bảng 2.22: Số học sinh, sinh viên và giáo viên phân theo bậc học - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 2.22 Số học sinh, sinh viên và giáo viên phân theo bậc học (Trang 110)
Bảng 3.1: Tình trạng việc làm - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 3.1 Tình trạng việc làm (Trang 138)
Bảng 3.2: Số người không tạo ra thu nhập trong độ tuổi 15-60 - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 3.2 Số người không tạo ra thu nhập trong độ tuổi 15-60 (Trang 139)
Bảng 3.3: Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở Tp.HCM - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 3.3 Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở Tp.HCM (Trang 140)
Bảng 3.5: Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở Bình Dương phân theo  thành thị, nông thôn, nguồn thu và nhóm thu nhập (giá thực tế) - Luận văn Lịch sử: Quá trình biến đổi xã hội trong hai mươi năm đầu đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (19862006)
Bảng 3.5 Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở Bình Dương phân theo thành thị, nông thôn, nguồn thu và nhóm thu nhập (giá thực tế) (Trang 142)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w