1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Công tác bạn đọc tại thư viện Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

42 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUHiện nay chúng ta thừa nhận rằng vật chất, năng lượng thông tin và bảnsắc văn hóa dân tộc là các nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của quốcgia, đặc biệt trong điều kiện c

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương 1: GIỚI THIỆU VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM 4

1.1.Vị trí và chức năng 4

1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 4

1.3 Cơ cấu tổ chức 6

Cơ cấu tổ chức Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam 7

CÁC TỔ CHỨC CHUYÊN MÔN, HÀNH CHÍNH 7

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO 10

1.4.Lịch sử hình thành và phát triển 10

Chương 2: Công tác phục vụ bạn đọc tại Thư viện - Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam 28

2.1.Giới thiệu hệ thống thư viện 28

2.2.Thành phần bạn đọc và nhu cầu tin của các nhóm bạn đọc: 31

2.2.1.Thành phần bạn đọc: 31

2.2.2.Sinh viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: 31

2.2.3.Cán bộ, giảng viên: 32

2.2.4 Nhu cầu tin của bạn đọc ở Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam: 33

2.3 Các hình thức phục vụ: 33

2.3.1 Phục vụ đọc tại chỗ: 33

2.2.3 Phục vụ mượn về nhà 36

Chương 3: Giải pháp và đề xuất 38

1.1 Điểm mạnh: 38

1.2 Hạn chế: 38

1.2.1 Về VTL: 38

1.2.2 Về công tác phục vụ bạn đọc: 39

2 Một số đề xuất: 39

KẾT LUẬN 40

Trang 2

MỞ ĐẦU

Hiện nay chúng ta thừa nhận rằng vật chất, năng lượng thông tin và bảnsắc văn hóa dân tộc là các nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của quốcgia, đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn

ra trên quy mô lớn như hiện nay, khoa học công ngệ đang trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp của xã hội thì thông tin khoa học và công nghệ, thật sự trởthành những nhân tố quan trọng tạo nên những ưu thế về kinh tế và chính trịcủa đất nước Thực tế phát triển của nền kinh tế xã hội và văn hóa ngày càngkhẳng định vai trò to lớn của thông tin Sự phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ đã mang lại những biến đổi sâu sắc chưa từng có trong lịch sử nhânloại và đưa nhân loại chuyển sang một bước phát triển mới về chất ở những nămđầu thế kỷ 21.Và bất kỳ một thời đại nào, sự phát triển mạnh mẽ về chất cũngkéo theo sự phát triển mạnh mẽ của thông tin

Đối với nước ta, để có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu haykhông , thì con đường nhanh nhất là phải nắm bắt kịp thời sự phát triển của khoahọc kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Nhưng để có thể nắm bắt được các thông tin

về khoa học công nghệ hay không thì công tác thông tin phải rất được chú trọng

và quan tâm hàng đầu Như vậy chứng tỏ rằng tác động thông tin khoa học cómột vị trí đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia nói chung và đối với nước tanói riêng trong quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội

Có thể nói trong lịch sử phát triển của loài người chưa có một thành tựukhoa học nào lại tác động mạnh mẽ, rộng khắp và nhanh chóng đến sự thay đổicủa bộ mặt kinh tế , của sự phát triển của xã hội như tin học Các cơ quan thôngtin thư viện ở nước ta từ cuối những năm 80 đã bắt đầu ứng dụng công nghệthông tin vào một số khâu trong công tác kỹ thuật cơ bản trong dây chuyềnthông tin tư liệu Đặc biệt trong những năm gần đây, việc tự động hóa hoạt độngthông tin

Cùng với sụ phát triển chung của các thư viện chuyên ngành hệ thống thưviện công cộng cũng được chú ý, xây dựng và từng bước hiện đại hóa Đi đầu

Trang 3

trong hệ thống thư viện công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội Thư việnViện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, đã nhiều lần nhận được bằng khencủa thư viện Thành phố Hà Nội

Qua thực thực tập tại Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam em đãmạnh dạn tìm hiểu công tác phục vụ bạn đọc tại thư viện Viện Văn hoá Nghệthuật quốc gia Việt Nam, thực trạng và có kiến nghị những giải pháp, đề xuất đểthư viện hoạt động ngày càng hiệu quả hơn Bài báo cáo của em ngoài lời mởđầu và kết luận Em bố cục bài viết thành 3 phần chính tương ứng với ba chương

Chương1: Giới thiệu về Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt NamChương 2: Thực trạng công tác bạn đọc tại thư viện Viện Văn hoá Nghệthuật quốc gia Việt Nam

Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị

Trang 4

Chương 1 GIỚI THIỆU VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM 1.1 Vị trí và chức năng

Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam là đơn vị sự nghiệp khoahọc, trực thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, có chức năng nghiên cứu, triểnkhai hoạt động khoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa nghệ thuật và vănhóa du lịch

Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (sau đây gọi tắt là Viện) có condấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật; trụ sở tại thành phố Hà Nội

lý luận, lịch sử, văn hoá, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch Việt Nam.Nghiên cứu về văn hoá, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch nước ngoài phùhợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện; kiến nghị áp dụng những thành tựu, kinh

Trang 5

nghiệm nghiên cứu phát triển văn hoá, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịchcủa nước ngoài phù hợp với đặc điểm tình hình Việt Nam.

Sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể; xây dựng, quản lý vàphát triển ngân hàng dữ liệu về di sản văn hoá phi vật thể của các dân tộc Việt Nam;thực hiện sản xuất phim nhân học để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy

Nghiên cứu tư vấn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

Tổ chức đào tạo tiến sỹ các chuyên ngành văn hoá, nghệ thuật và văn hóa

du lịch theo chỉ tiêu phân bổ của Nhà nước

Thực hiện hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng sau đại họcvới tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực văn hóa, gia đình,thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật

Thực hiện hoạt động thông tin khoa học dưới hình thức hội nghị, hội thảokhoa học, xuất bản tạp chí Văn hóa học và các công trình khoa học về văn hóa,gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật

Xây dựng trang tin điện tử (Website) riêng, quản lý và cung cấp cácnguồn thông tin khoa học của Viện, tham gia vào hệ thống thông tin chung củacác Viện, các Bộ, ngành có liên quan

Thực hiện các hoạt động dịch vụ về nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồidưỡng sau đại học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện và quy định củapháp luật

Cải tiến công tác quản lý, hoàn thiện bộ máy tổ chức của Viện theo hướngtinh giản, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả; thực hiện các nội dung cải cách hànhchính theo chương trình, kế hoạch công tác của Bộ

Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng đào tạocủa cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và

số lượng người làm việc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý tổ chức bộmáy, nhân sự; thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người

Trang 6

lao động, người học thuộc phạm vi quản lý của Viện theo quy định của pháp luật

và phân cấp quản lý của Bộ

Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản được giao, ngân sách được phân bổ vàcác nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao

Các ban chuyên môn:

a Ban Nghiên cứu Chính sách và Quản lý văn hoá;

b Ban Nghiên cứu Di sản văn hoá;

c Ban Nghiên cứu Văn hóa Sinh thái và Du lịch;

d Ban Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật nước ngoài;

đ Ban Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử văn hoá nghệ thuật;

e Ban Nghiên cứu Nghệ thuật;

g Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình;

h Trung tâm Dữ liệu di sản văn hoá;

i Trung tâm Nghiên cứu dư luận về văn hoá, thể thao và du lịch;

k Trung tâm phát triển công nghiệp văn hóa

Các tổ chức trực thuộc:

a Khoa Sau đại học;

b Phân viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế;

c Phân viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Thành phố Hồ ChíMinh;

Trang 7

d Tạp chí Văn hóa học.

Phân viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế và Phân viện Văn hoáNghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh có con dấu, được mởtài khoản tiền gửi theo quy định của pháp luật

Tạp chí Văn hóa học là cơ quan ngôn luận của Viện Văn hoá Nghệ thuật quốcgia Việt Nam, có con dấu để giao dịch, hoạt động theo quy định của pháp luật.Viện trưởng Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam có trách nhiệm quyđịnh nhiệm vụ cụ thể, bố trí, sắp xếp viên chức theo cơ cấu chức danh, tiêuchuẩn nghiệp vụ và người lao động cho các phòng, ban, tổ chức trực thuộc; xâydựng và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Viện

Cơ cấu tổ chức Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

4 Chuyên san Nghiên cứu Nghệ thuật

5 Ban Nghiên cứu Mỹ thuật

6 Ban Nghiên cứu Âm nhạc, Múa

7 Ban Nghiên cứu Sân khấu

8 Ban Nghiên cứu Điện ảnh

Năm 1976: Ngoài các phòng ban trên, Viện Nghệ thuật còn có Phân viện Nghệ thuật Việt Bắc và Phân viện Nghệ thuật Tây Bắc.

II Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam (1988 1997)

-1 Lãnh đạo Viện (Viện trưởng, các Phó Viện trưởng)

2 Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật

3 Viện Nghiên cứu Mỹ thuật

Trang 8

4 Viện Văn hoá

5 Viện Nghiên cứu Sân khấu

6 Viện Âm nhạc và múa

7 Viện Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1993 tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật trở thành cơ quan thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin

III Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật 2003)

(1997-1 Lãnh đạo Viện (Viện trưởng, Phó viện trưởng);

2 Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo;

3 Phòng Thông tin - Kỹ thuật;

4 Phòng Hành chính Tổng hợp;

5 Ban Văn hoá đương đại

6 Ban Văn hoá cổ truyền (Di sản văn hoá);

7 Ban Thông tin;

8 Ban Văn hoá thế giới;

9 Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1999: Phân viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật tại thành phố Huế trực thuộc Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật, được thành lập theo Quyết định số 06/1999/QĐ-BVHTT.

IV Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin (2003-2007)

1 Viện trưởng và các Phó Viện trưởng;

2 Phòng Khoa học - Đào tạo - Hợp tác quốc tế;

3 Phòng Thông tin - Thư viện;

4 Phòng Tài vụ;

5 Phòng Hành chính - Tổ chức;

6 Ban Nghiên cứu Di sản Văn hoá phi vật thể;

7 Ban Nghiên cứu Chính sách và Phát triển văn hoá;

8 Ban Nghiên cứu Thông tin;

Trang 9

9 Ban Nghiên cứu Văn hoá Thông tin nước ngoài;

10 Ban Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử văn hoá;

11 Trung tâm Dữ liệu di sản văn hoá;

12 Phân viện Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin tại thành phố Huế;

13 Phân viện Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin tại thành phố Hồ Chí Minh;

14 Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin

Năm 2006, Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á

V Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (từ 2008)

3 Các ban chuyên môn:

a) Ban Nghiên cứu Chính sách và Phát triển văn hóa;

b) Ban Nghiên cứu Di sản văn hóa;

c) Ban Nghiên cứu Văn hóa Sinh thái và Du lịch;

d) Ban Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật nước ngoài;

đ) Ban Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử văn hóa nghệ thuật;

e) Ban Nghiên cứu Nghệ thuật;

g) Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình;

h) Trung tâm Dữ liệu di sản văn hóa;

i) Trung tâm Nghiên cứu dư luận về văn hóa, thể thao và du lịch;

k) Trung tâm phát triển công nghiệp văn hóa

4 Các tổ chức trực thuộc:

a) Khoa Sau đại học;

Trang 10

b) Phân viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế;

c) Phân viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh;d) Tạp chí Văn hóa học

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO

Thời kỳ mang tên Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật và Viện Văn hóa Thông tin, từ năm 2000, Viện có 1 Hội đồng khoa học và đào tạo làm nhiệm vụ

-tư vấn cho Viện trưởng về công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nghiên cứusinh

1.4.Lịch sử hình thành và phát triển

Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam 40 năm xây dựng và phát triển

Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngày nay, mà tiền thân là Viện Nghệ thuật được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1971 đến nay đã tròn 40 năm Bốn

thập kỷ là một quá trình không dài với lịch sử phát triển của một viện nghiêncứu, nhưng đã đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của một cơ quannghiên cứu khoa học về văn hóa, nghệ thuật của một Bộ đa ngành như Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch

Từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Khác với một số viện nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 40 năm qua, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã có những lần thay đổi tên gọi và

cơ cấu tổ chức Có thể thấy sự thay đổi ấy ở năm thời kỳ sau:

Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghệ thuật

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa, thôngtin, lãnh đạo Bộ Văn hóa trước đây mà nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchluôn chú trọng công tác nghiên cứu khoa học Những năm sáu mươi của thế kỷ

XX, Vụ Âm nhạc và múa có Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Múa, Vụ Mỹ thuật

có Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, ngày 1 - 4

- 1971, GS Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, đã ký quyết định

44/VH-QĐ thành lập Viện Nghệ thuật, tiền thân của Viện Văn hóa Nghệ thuật

Việt Nam ngày nay Vị trí của Viện được xác lập: "là cơ quan giúp Bộ nghiên

Trang 11

cứu những vấn đề thuộc về lý luận học thuật của các bộ môn nghệ thuật: mỹthuật (gồm cả mỹ nghệ), sân khấu, nhạc, múa, điện ảnh theo đường lối, quanđiểm nghệ thuật của Đảng và Nhà nước" Lãnh đạo Bộ đã phân công nhà lý luận

Hà Xuân Trường, Thứ trưởng Bộ Văn hóa trực tiếp kiêm nhiệm làm việntrưởng, đồng thời điều động những nghệ sĩ, cán bộ quản lý từ các trường, cục,

vụ, viện như các ông Nguyễn Phúc, Trần Đình Thọ, Nguyễn Đức Nùng, TrầnBảng, Nguyễn Đức Lộc, Phạm Đình Sáu, Tú Ngọc, Đặng Đình Trung, Lê Huy

về làm nhiệm vụ quản lý các ban chuyên môn của Viện Cùng với việc này, lãnhđạo Bộ và lãnh đạo Viện đã mở cửa chiêu hiền đãi sĩ tập hợp lực lượng khoa học

ở nhiều nơi, nhiều nguồn khác nhau về Viện Nghệ thuật như các ông Hồ Sĩ

Vịnh, Nguyễn Từ Chi v.v Đáng lưu ý là định hướng thành lập Tổ chuyên sannghiên cứu nghệ thuật do nhà lý luận Hà Xuân Trường làm chủ nhiệm, hoạ sĩ,nhà giáo Trần Đình Thọ làm Tổng biên tập, ông Nguyễn Phúc làm uỷ viên

thường trực Ban biên tập tờ chuyên san Hoạt động của Viện Nghệ thuật trong

những ngày gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi ngayvào quỹ đạo của một Viện làm công tác nghiên cứu khoa học Rồi các đề tài nghiêncứu văn hóa nghệ thuật được triển khai Một số các công trình được hoàn thành

Năm 1973, từ chuyên san Thông báo nghệ thuật lưu hành nội bộ, tạp chí Nghiên

cứu Nghệ thuật của Viện Nghệ thuật đã ra mắt bạn đọc số đầu tiên.

Năm 1976, đất nước thống nhất, Viện đón nhận số cán bộ của Sở Văn hóa

khu tự trị Tây Bắc, Việt Bắc để cóPhân viện Nghệ thuật Tây Bắc, Phân viện

Nghệ thuật Việt Bắc thuộc Viện Nghệ thuật Ngày 25-8-1976, Bộ trưởng

Nguyễn Văn Hiếu ký quyết định chuyển ngành âm nhạc giải phóng thành Viện

Âm nhạc rồi bổ sung vào Ban Nghiên cứu Âm nhạc của Viện Nghệ thuật Cũng

từ năm này, việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ở Tây Nguyên và Nam Bộ đượcViện khẩn trương triển khai

Lực lượng nghiên cứu của các ban nghiên cứu trong Viện phát triển cả về

số lượng và chất lượng, thực tiễn công tác quản lý và công tác nghiên cứu khoahọc đòi hỏi phải có những viện nghiên cứu chuyên sâu theo lĩnh vực Năm 1978,

Trang 12

các ban nghiên cứu lần lượt chuyển thành các viện nghiên cứu: Ban Nghiên cứu

Mỹ thuật thành Viện Mỹ thuật, Ban Nghiên cứu Sân khấu thành Viện Sân khấu, Ban Nghiên cứu Âm nhạc và Múa thành Viện Âm nhạc và Múa Viện Nghệ thuật chuyển thành Viện Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử Nghệ thuật, rồi chuyển

thành Viện Văn hóa Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật cùng các Viện Sân khấu,

Văn hóa, Âm nhạc, Mỹ thuật đều trực thuộc Bộ Văn hóa Ban Nghiên cứu Điện ảnh được chuyển sang một cơ quan khác của Bộ Văn hóa.

Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng chủ trương kiện toàn tổ chức ngành vănhóa và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa Ngày 16-6-1988, Bộ trưởng

Trần Văn Phác đã ký quyết định 592/VH-QĐ hợp nhất các Viện Văn hóa, Viện

Nghiên cứu Sân khấu, Viện Âm nhạc và Múa, Viện Mỹ thuật và tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuậtđể thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Cuộc

hợp nhất lần này của các viện chuyên ngành, như sự trở về của những người anh

em đi làm ăn xa, trở về ngôi nhà chung Một ban lãnh đạo Viện với Viện trưởng

Lê Anh Trà và 4 phó Viện trưởng: Nguyễn Phúc, Tô Ngọc Thanh, Trần ViệtSơn, Nguyễn Đức Lộc điều hành các công việc của Viện, riêng ông Trần Việt

Sơn trực tiếp làm Viện trưởng Viện Mỹ thuật, ông Nguyễn Đức Lộc trực tiếp làm Viện trưởng Viện Sân khấu Tại phía Nam, tổ thường trú phía Nam của Viện

Văn hóa và Phân viện Âm nhạc và Múa củaViện Âm nhạc và Múa được hợp

nhất thành Viện Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh Có thể nói, với

4 viện chuyên ngành trực thuộc và một phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh

cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam khá đông đảo và hùng hậu Nhiều cán bộ

của Viện là những nhà khoa học có uy tín, tên tuổi Có thể kể đến về văn hóadân gian và âm nhạc dân tộc học với Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Lư Nhất Vũ v.v ;

về lý luận văn hóa với Lê Anh Trà, Hồ Sĩ Vịnh, Trường Lưu v.v ; về mỹ thuậtvới Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Thái Bá Vân, Trần Lâm

Trang 13

Biền, Nguyễn Bá Vân v.v ; về âm nhạc với Nguyễn Xinh, về sân khấu vớiHoàng Chương, Trần Việt Ngữ, Đoàn Thị Tình v.v ; về múa với Lâm Tô Lộc.

Một sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện là Viện đượcchính phủ giao nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh vào năm 1991 Đây cũng là cơ

sở đào tạo trên đại học duy nhất ở nước ta đào tạo phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ), tiến

sĩ (nay là tiến sĩ khoa học) về văn hóa nghệ thuật với hai mã số: lịch sử văn hóa

và nghệ thuật, mã số 5.03.13, nghệ thuật âm nhạc mã số 5.08.02 Hoạt động đàotạo trên đại học này có tác động rất lớn đến công tác đào tạo nguồn nhân lực vànghiên cứu khoa học của Viện cũng như của ngành Văn hóa thông tin

Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tách ra thành cơ quan

thông tin lý luận của Bộ Văn hóa - Thông tin

Năm 1995, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, ngày 1-3-1995, Thủtướng chính phủ ký quyết định số 123/TTg về việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn

vị trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin Căn cứ vào quyết định này, ngày

22-12-1995, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Trần Hoàn đã ký quyết định

5775/QĐ-TC thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông

tin Phục vụ cho việc liên kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo của các

chuyên ngành, các viện chuyên ngành trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt

Nam chuyển về các trường đại học: Viện Mỹ thuật chuyển về trường Đại học

Mỹ thuật; Viện Âm nhạc chuyển về Nhạc viện Hà Nội; Viện Sân khấu chuyển

về trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, Viện Văn hóa chuyển về trường Đại họcVăn hóa Hà Nội

Ngày 30-1-1996, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Trần Hoàn ký quyết định

162/TC-QĐ xác định chức năng nhiệm vụ của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

Vị trí của Viện được xác định: "là cơ quan nghiên cứu khoa học cơ bản trực thuộc

Bộ Văn hóa - Thông tin, có chức năng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Văn hóa vànghệ thuật Việt Nam, cung cấp các căn cứ khoa học phục vụ công tác quản lý vàhoạch định các chính sách của Bộ Văn hóa - Thông tin nhằm xây dựng nên một nềnVăn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc"

Trang 14

Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật

Năm 1996, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao nói trên, Viện Văn

hóa Nghệ thuật Việt Nam đã được xếp vào Danh mục 41 viện đầu ngành quốc

gia ở Việt Nam theo Quyết định 782/TTg ngày 24-10-1996 của Thủ tướngChính phủ Vì thế, ngày 2-10-1997, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Nguyễn

Khoa Điềm đã ký quyết định đổi tênViện Văn hóa Nghệ thuật Việt

Nam thành Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Vị trí, chức năng của Viện vẫn

được khẳng định như quyết định 162/TC-QĐ

Ngoài các phòng chức năng, các ban nghiên cứu và Phân viện tại thànhphố Hồ Chí Minh của Viện theo quyết định 162/TC-QĐ, ngày 25-2-1999, Bộtrưởng Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định thành lập Phân viện Nghiên cứuVăn hóa Nghệ thuật tại thành phố Huế

Cùng với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, đào tạo tiến sĩ, từ năm

1997, Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật được giao thêm nhiệm vụ làm thành

viên Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa, trực tiếpđiều hành nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộcViệt Nam Ngoài nhiệm vụ làm tư vấn cho lãnh đạo Bộ: đề xuất, kiểm tra cácđịa phương thực hiện dự án, Viện còn trực tiếp tiến hành một loạt các dự án sưutầm, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam Bộ Văn

hóa - Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho xây dựng tại Viện

Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam một ngân hàng dữ liệu (databank) về di sản văn

hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam

Từ năm 2000, Viện chuyển nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc

mã số 5.08.02 cho Nhạc viện Hà Nội, Viện chỉ còn lại đào tạo tiến sĩ lịch sử,chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13

Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin

Ngày 16-7-2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị

ký quyết định 29/2003/QĐ-BVHTT đổi tên Viện thành Viện Văn hóa - Thông

tin Ngày 08 - 07 - 2004, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị

Trang 15

ký quyết định 52/2004/QĐ-BVHTT quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Viện Văn hóa - Thông tin Vị trí của Viện được xác định:

"là đơn vị sự nghiệp khoa học, có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt độngkhoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa thông tin" Từ vị trí và chức năng

này, các phòng, ban nghiên cứu, hai phân viện cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa

Thông tin đã được thành lập Năm 2006, Bộ Văn hóa - Thông tin lại cho thành

lập Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á tại Viện

Năm 2003, công tác đào tạo tiến sĩ của Viện có sự thay đổi Từ mộtchuyên ngành đào tạo tiến sĩ Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13, BộGiáo dục và Đào tạo đã cho phép Viện đào tạo tiến sĩ Văn hóa học với 3 chuyênngành Văn hóa học mã số 62.31.70.01; Văn hóa dân gian mã số 62.31.70.05;Quản lý văn hóa mã số 62.31.73.01; tiến sĩ Nghệ thuật học với 3 chuyên ngành:

Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu mã số 62.21.40.01; Lý luận và Lịch sử

mỹ thuật mã số 62.21.20.01; Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyềnhình mã số 62.21.50.01

Thời kỳ mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Ngày 31-7-2007, Quốc hội khóa XII, đã thông qua quyết nghị thành lập

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trong nghị định 185/NĐ-CP ngày

25-12-2007, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam là một viện nghiên cứu trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Viện Văn hóa - Thông tin được chuyển thành Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

Ngày 25-6-2008, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh ký quyết định số BVHTTDL qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức

2845/QĐ-của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Vị trí 2845/QĐ-của Viện được xác định: “là đơn

vị sự nghiệp khoa học trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chức năngnghiên cứu, triển khai hoạt động khoa học và sau đại học về văn hóa nghệ

thuật” Cơ cấu các phòng ban được thay đổi so với thời kỳ mang tên là Viện Văn

hóa - Thông tin, để phù hợp với công việc nghiên cứu ở một bộ đa ngành, trong

Trang 16

đó đáng lưu ý là Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình, Trung tâm Nghiên cứu Dưluận về văn hóa, thể thao và du lịch.

Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư 10 về đào tạo tiến

sĩ, trao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo sau đại học Phòng Khoa học, đào tạo

và hợp tác quốc tế được tách làm hai: Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học và hợptác quốc tế; để gánh vác công việc ngày càng nhiều và phức tạp về đào tạo tiến

sĩ của Viện

Đáp ứng quan hệ phát triển ngày càng sâu rộng về văn hóa, thể thao và dulịch của Việt Nam và Hàn Quốc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyếtđịnh số 1943/QĐ-BVHTTDL ngày 22-6-2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch thành lập Văn phòng xúc tiến xây dựng Trung tâm giao lưu văn hóa Việt -

Hàn trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

40 năm trôi qua, từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật ViệtNam là một chặng đường Viện đã qua nhiều lần thay đổi cơ cấu tổ chức, tên gọi,nhưng tựu trung vẫn luôn luôn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạosau đại học hàng đầu về văn hóa, nghệ thuật của ngành văn hóa, thể thao và dulịch Việt Nam

Bốn mươi năm hoạt động của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Nhìn lại một chặng đường phát triển, rõ ràng những thế hệ các nhà nghiêncứu tại Viện Nghệ thuật mà nay là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã liêntục không ngừng phấn đấu, đóng góp vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học về vănhóa nghệ thuật nước nhà Có một điều cần khẳng định, những hoạt động nghiêncứu khoa học và thành tựu của các viện chuyên ngành như Viện Sân khấu, Viện

Âm nhạc và Múa, Viện Văn hóa, Viện Mỹ thuật (từ năm 1988 đến năm 1995) vàtạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật (từ năm 1988 đến năm 1993) trong thờigian là bộ phận trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cũng chính làhoạt động nghiên cứu và thành tựu của Viện Thành tựu của Viện trong nhữngnăm qua thể hiện qua các mặt hoạt động sau:

Trang 17

Về nghiên cứu khoa học

Công tác nghiên cứu khoa học được thực hiện từ những ngày đầu mớithành lập Trong khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ đang hồi

ác liệt, thế hệ những nhà nghiên cứu đầu tiên của Viện đã mang hết tâm sức củamình cho những đề tài khoa học Từ đi điền dã đến các hội thảo, các nhà nghiêncứu của Viện đã rất cần mẫn và say sưa Những ngày đầu mới giải phóng miềnNam, cán bộ của Viện lại hăm hở nhiệt tình đi nghiên cứu ở Tây Nguyên, ởvùng đồng bào Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long Nhiều công trình có giá trịcủa các nhà nghiên cứu trong Viện như các công trình của nhà lý luận Hà XuânTrường, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi v.v được hoàn thành và công bốtrong thời kỳ này

Vai trò là cơ quan nghiên cứu tư vấn cho lãnh đạo Bộ Văn hóa rồi Bộ Vănhóa - Thông tin và nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Viện càng ngàycàng được thực hiện tốt Suốt 40 năm Viện đã có những đóng góp quan trọngtrong việc tư vấn, tham mưu cho các cơ quan Đảng và Nhà nước hoạch định cácchính sách ở tầm vĩ mô về văn hóa, nghệ thuật, thông tin như: Xây dựng đề áncho mục tiêu “sưu tầm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thểcác dân tộc Việt Nam” trình lãnh đạo Bộ và Chính phủ cho thực hiện vào cuốinăm 1996; tham gia công việc nghiên cứu, khởi thảo văn bản để trình hội nghịlần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng Cộng sản ViệtNam ra nghị quyết: "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc", tham gia tổng kết 20 năm xây dựng điển hình văn hóahuyện Hải Hậu của Bộ Văn hóa - Thông tin; góp phần xây dựng đề án “Chươngtrình quốc gia có mục tiêu về văn hóa (2001-2010)”; đóng góp tích cực vào việcsoạn thảo “Quy hoạch chiến lược phát triển văn hóa 2001-2010” của Bộ Vănhóa - Thông tin; tham gia Ban tổng kết 20 năm đổi mới, lý luận và thực tiễn củaBan chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; tham gia xây dựng “Chiến lược pháttriển văn hóa Việt Nam đến năm 2020" để Thủ tướng Chính phủ ban hành năm2008; 02 cán bộ của Viện đã tham gia Hội đồng Lí luận Trung ương nhiệm kỳ

Trang 18

2001-2006 và nhiệm kỳ 2011-2015; 01 cán bộ tham gia Hội đồng tư vấn choThủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển khoa học, công nghệ quốc gianhiệm kỳ 1998-2003; 01 cán bộ tham gia Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tưvấn cho Thủ tướng Chính phủ về di sản văn hóa nhiệm kỳ 2004-2009; nhiệm kỳ2010-2014 Viện có 02 cán bộ tham gia trong tổng số 27 thành viên của Hộiđồng di sản văn hóa quốc gia; 01 cán bộ tham gia Tổ biên tập của Ủy ban sửađổi Hiến pháp năm 1992 của Quốc hội khóa XIII.

Công tác nghiên cứu khoa học cơ bản và triển khai được nhiều kết quả.Viện đã tham gia thực hiện đề tài cấp Nhà nước về “Xây dựng nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” do nguyên Bộ trưởng Nguyễn KhoaĐiềm trực tiếp làm chủ nhiệm Trong chương trình nghiên cứu khoa học cấp

Nhà nước: Văn hóa, con người và phát triển nguồn nhân lực, Viện đã thực hiện

đề tài cấp nhà nước KX 05: Thực trạng đời sống văn hóa nông thôn vùng Bắc

Bộ và Nam Bộ do TSKH Phan Hồng Giang làm chủ nhiệm và đề tài cấp Nhà

nước KX.05: Khảo sát thực trạng Văn hóa đô thị ở Việt Nam do GS.TS Đình

Quang làm chủ nhiệm TSKH Phan Hồng Giang và PGS.TS Nguyễn Chí Bền

đã tham gia đề tài cấp Nhà nước của Hội đồng Lý luận Trung ương do GS.TS

Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam, những

vấn đề lý luận và thực tiễn trong hai năm 2003-2004 Viện đã tham gia đấu thầu

và trúng thầu đề tài cấp nhà nước KX.09.09: Bảo tồn và phát huy giá trị của các

di tích văn hóa - cách mạng và danh lam thắng cảnh của Thăng Long Hà Nội do

PGS.TS Nguyễn Chí Bền làm chủ nhiệm đề tài và đề tài cấp Nhà nước

ĐTĐL-05:Hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa do TS Trần Chiến Thắng làm chủ nhiệm đề tài Viện

được giao thực hiện đề tài cấp nhà nước: Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến

trình đổi mới và hội nhập quốc tế mã số KX.03.13/06-10 do TSKH Phan Hồng

Giang làm chủ nhiệm đề tài, TS Bùi Hoài Sơn làm thư ký đề tài.Viện được giaohàng chục đề tài cấp Bộ, đã hoàn thành, nghiệm thu đa số đều đạt từ loại khá trởlên Trong ba năm 2000-2003, Viện đã thực hiện dự án "Chính sách văn hóa vì

Trang 19

sự phát triển” mà giai đoạn 1 là xây dựng Báo cáo quốc gia về hiện trạng văn

hóa Việt Nam giai đoạn 1990-2002 do SIDA Thụy Điển tài trợ Báo cáo đã được

hoàn thành và hội đồng nghiệm thu của Bộ Văn hóa - Thông tin đánh giá tốt, đãchuyển ngữ sang tiếng Anh, nhóm chuyên gia tư vấn nước ngoài do SIDA Thụy

Điển mời đánh giá đã đánh giá cao báo cáo này Viện đã thực hiện đề tài Dòng

quà tặng và vốn xã hội cùng GS.TS Lương Văn Hy (trường Đại học Toronto)

dưới sự tài trợ của Hội đồng khoa học xã hội Canada) Quỹ Toyota (Nhật Bản)

đã tài trợ cho nghiên cứu viên Bùi Hoài Sơn thực hiện đề tài Internet với thanh

niên Hà Nội, đề tài hoàn thành đạt kết quả tốt, đã in song ngữ Anh/Việt công bố

với bạn đọc trong năm 2006

Hoạt động hội nghị hội thảo là hoạt động được chú trọng Viện đã tổ chứcnhiều hội nghị cấp quốc gia thành công như Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 60năm Đề cương Văn hóa Việt Nam vào năm 2003, hội thảo khoa học nhân kỷniệm lần thứ 240 năm sinh Nguyễn Du năm 2004 v.v Viện cũng chọn những

đề tài đang là vấn đề "hóc búa, gay cấn" trong đời sống học thuật và quản lý văn

hóa mà tổ chức các hội thảo khoa học Đó là hội thảo khoa học vềNhà rông

-nhà rông văn hóa ở Tây Nguyên (2003), Nhìn lại 10 năm mở thể nghiệm lễ hội Phủ Giày (2004), Múa bóng - một hình thức diễn xướng dân gian Nam

Bộ (2004), Di sản nhà vườn xứ Huế và vấn đề bảo tồn (2002), Sản phẩm văn hóa và phát triển du lịch ở Huế, di sản văn hóa thế giới (2006), Mô hình tổ chức

lễ hội đền Trần năm 2012 (2011) v.v

Lần đầu tiên trong lịch sử của Viện, năm 2004, Viện tổ chức thành công

hội thảo khoa học quốc tế: Á - Âu về đa dạng văn hóa và giao lưu văn hóa trong

bối cảnh toàn cầu hoá với sự có mặt của 50 nhà khoa học, hoạt động văn hóa

đến từ 25 nước Á- Âu Từ năm 2004 đến nay, Viện đã tổ chức thành công 14 hội

thảo khoa học quốc tế tại Việt Nam và nước ngoài như: Giá trị văn hóa của các

nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam

Á (năm 2004) và Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp quan họ ở Bắc Ninh, Việt Nam) (năm 2006); Văn hóa thông tin Lào,

Trang 20

Việt Nam, trong hội nhập quốc tế (năm 2008); Văn hóa và văn minh tộc người sông Hồng (năm 2008); 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh (năm 2009) Sự thay đổi đời sống kinh tế xã hội và vấn đề bảo tồn, phát huy văn hóa cồng chiêng ở Việt Nam và các nước trong khu vực (năm

2009):Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương

đại (năm 2010); Di sản văn hóa Nam Trung Bộ với phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế (năm 2011); Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại, nghiên cứu trường hợp thờ Hùng Vương của Việt Nam (năm 2011) v.v…

Các cán bộ khoa học của Viện đã tham dự nhiều hội thảo khoa học quốc

tế ở Việt Nam và các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đức, Ấn Độ,New Zealand, Canada, Hoa Kỳ, Philipin, Nhật Bản v.v Hội thảo khoa họcquốc tế Việt Nam học lần thứ 2 do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chứcnăm 2004 tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện đã có 10/316 tham luận của các họcgiả trong nước và nước ngoài Hội thảo quốc tế thường niên của Hội nhân họcHoa Kỳ năm 2008 tại Hoa Kỳ, 05 cán bộ khoa học của Viện có tham luận thànhmột tiểu ban trình bày trong hội thảo Năm 2011, tại hội thảo quốc tế của Hộinhân học Đông Á tại Hàn Quốc, 04 cán bộ khoa học của Viện đã có tham luận,thành một tiểu ban trình bày trong hội thảo Trên tinh thần khiêm tốn nhất, vẫnphải ghi nhận cố gắng không mệt mỏi ấy của cán bộ khoa học của Viện, tronghội nhập quốc tế, đưa Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngang tầm với cácviện nghiên cứu trong khu vực

Hoạt động thông tin khoa học được chú trọng và phát triển Thời kỳ Viện

mang tên là Viện Nghệ thuật, tạp chíNghiên cứu Nghệ thuật của Viện, dưới sự

lãnh đạo của chủ nhiệm Hà Xuân Trường, nhà lý luận; Tổng biên tập Trần ĐìnhThọ và nỗ lực của Ban biên tập gồm những nhà khoa học đầy uy tín như các nhà

lý luận Nguyễn Phúc, Hồ Sĩ Vịnh, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi v.v đã là

cơ quan ngôn luận khoa học có uy tín trong nước, tập hợp được những nhànghiên cứu có tên tuổi trong nước, công bố nhiều công trình có giá trị Thời kỳsáp nhập các viện chuyên ngành thành Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, các

Trang 21

vị lãnh đạo các viện chuyên ngành lại cũng là thành viên của hội đồng biên tậptạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, vì thế, hàng loạt công trình nghiên cứucủa các nhà nghiên cứu trong Viện cũng được công bố ở tạp chí này Thời kỳViện mang tên Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, cơ quan ngôn luận củaViện là Thông báo khoa học Đến nay, 28 số Thông báo khoa học đã ra mắt bạnđọc, góp phần đáng kể trong hoạt động thông tin khoa học và đào tạo nghiêncứu sinh của Viện Mặt khác, Viện đã liên kết với tạp chí Khoa học Xã hội ViệtNam (Vietnam social sciences) để xuất bản 8 số tạp chí bằng tiếng Anh giớithiệu các công trình của các nghiên cứu viên trong viện với bạn đọc bằng tiếngAnh.

Những năm qua, Viện đã xuất bản một số đầu sách có giá trị như Từ điển

Văn hóa học (sách dịch), Văn hóa học - những bài giảng (sách dịch), Vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (nhiều tác giả), Tổng mục lục các công trình nghiên cứu Chăm pa (Nguyễn Hữu Thông chủ biên), Katu, kẻ sống đầu nguồn nước (Nguyễn Hữu Thông chủ biên), Văn hóa phi vật thể Hội An (Bùi Quang

Thắng chủ biên), Văn hóa phi vật thể Thăng Long (Phan Hồng Giang chủ biên),

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam (nhiều tác giả), Vùng Văn hóa quan họ Bắc Ninh (nhiều tác giả), Công cuộc đổi mới, cội nguồn của lý luận và thực tiễn (Phạm Quang Nghị), Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, tổng mục lục các công trình nghiên cứu gồm 4 tập, Lễ hội Gióng (nhiều tác giả) cùng một

số tuyển tập các tiểu luận của các nhà nghiên cứu trong Viện Ngoài ra, cán bộnghiên cứu của Viện còn công bố hàng trăm tiểu luận, công trình khoa học trêncác tạp chí trong và ngoài nước Một số công trình được các đồng nghiệp đónnhận với sự đánh giá cao về giá trị khoa học và thực tiễn Uy tín khoa học củaViện được mở rộng hơn

Từ năm 1997, Viện được giao quản lý và thực hiện mục tiêu Sưu tầm, bảo

tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa Ngoài việc tư vấn, tham

mưu cho lãnh đạo Bộ về kế hoạch phân bổ cho các địa phương, giám sát, kiểm

Ngày đăng: 04/04/2017, 22:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w