1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương cao học môn chính sách công

30 487 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 145 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể dẫn chứng một định nghĩa gần đây nhất của một học giả đã được chấp nhận tương đối rộng rãi trên thế giới, Wiliam Jenkin “ CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau c

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC Môn: Chính sách công

VĐ 1: Khái niệm, các loại và phạm vi bản chất và lịch sử của CSC?

Hiện nay trên thế giới các cuộc tranh luận về định nghĩa CSC vẫn còn

là một chủ đề sôi động và kháo đạt được sự nhất trí rộng rãi Có thể dẫn chứng một định nghĩa gần đây nhất của một học giả đã được chấp nhận tương đối rộng rãi trên thế giới, Wiliam Jenkin “ CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”

Tuy nhiên đối với Việt Nam nhiều học giả trong nước đã tổng kết phân tích một cách cụ thể để chỉ rõ rằng CSC chính là kết quả của các quyết định của chính phủ các quyết định này nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết các VĐ xã hội trong đó là VĐ kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hộitheo mục tiêu tổng quát của Đảng đã vạch ra từ trước Như vậy, có thể nói trong trường hợp của Việt Nam có thể định nghĩa CSC như sau:

1 khái niệm CSC của nước ta hiện nay:

CSC là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chon mục tiêu cụ thể và các giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các VĐ của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định.

Như vậy có thể thấy:

Thứ nhất, chủ thể ban hành CSC là nhà nước, phản ánh mối quan hệ

NN – XH – CD đây là CS của nhà nước và được hiểu là CS của cơ quan nhànước có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước bao gồm Quốc hội, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp Ở nước ta Đảng cộng sản là lực lượng

Trang 2

chính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo XH “điều 4 Hiến pháp”

Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược các định hướng CS đây là căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban hành các CSC Như vậy CSC là CS của nhà nước và CS này cụ thể hóa đường lối,chiến lược của đảng nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân

Thứ hai, CSC phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối

với khu vực công phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng

Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước được nhà nước sử dụng để: (i) Khuyến khích khai thác, SX đảm bảo hàng hóa dịch vụ công, khuyến khích cả với khu vực công và khu vực tư; (ii) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

2 Bản chất của CSC

Thực tế chúng ta thấy rằng các CSC có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: CS của liên hợp quốc, CS của một đảng, CS của chính phủ, CS của chính quyền địa phương, CS của một bộ, Cs của một tổ chức đoàn thể, hiệp hội, Cs của một doanh nghiệp, Những CSC do các cơ quan hay các cấp chính quyền ban hành nhằm giải quyết những VĐ có tính cộng đồng được gọi là CSC nghiên cứu CSC nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước do chủ thể ban hành CSC là nhà nước nên có thể coi CSC là CS của nhà nước

CSC không phải là CS của Đảng, vị trí lãnh đạo của đảng là lực lượngchính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước lãnh đạo xã hội mà thôi bản chất khôngphải là CS của đảng Đảng chỉ vạch ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng mục tiêu CS đó chính là những căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban hành các CSC cụ thể hóa đường lối chiến lược và các định hướng CS của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm phục vụ lợi ích của toàn thể nhân dân nói chung

Trang 3

Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân ban hành CSC để mưu cầu lợi ích cho xã hội CSC là do chính phủ đề xuất xây dựng

và ban hành, bản chất của CSC là công cụ định hướng của nhà nước và côngdân cho mọi hành vi XH với các quy trình phát triển Sự hiện diện của CSC trong đời sống xã hội rõ ràng CSC là công cụ quản lý có liên quan mật thiết đến sự vận động có định hướng của cả hệ thống CSC có thể củng cố mối quan hệ và niềm tin của nhân dân với NN và thống nhất nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân với ý chí quản lý của nhà nước thể hiện qua quá trình hình thành mục tiêu CS Bản chất của CSC là chính trị của đảng cầm quyền thiết lập mối quan hệ giữa người dân với nhà nước CSC tác động đến các mối quan hệ xã hội một cách toàn diện hơn so với pháp luật cụ thể là tác động mang tính cộng đồng, là tác động có mục tiêu mang tính hệ thống liên tục, ổn định và phù hợp với quan điểm chính trị của nhà hoạch định CS

Vì vậy CS là công cụ thể hiện thái độ chính trị của đảng cầm quyền, thông qua Cs Đảng cầm quyền dẫn dắt các quan hệ trong xã hội diễn ra theo định hướng, các cá nhân trong xã hội là những đối tượng trực tiếp tiếp nhận

và thực hiện CS Vì vậy CS chỉ có hiệu lực thực sự khi các cá nhân trong xã hội chịu tiếp nhận và thực hiện và để đạt được điều đó thì điều kiện tối thiểu

là CSC cần minh bạch dễ hiểu và ổn định kèm theo đó vai trò chủ thể để thực hiện CSC phải là của công chúng mặc dù người khởi xướng hành động

là nhà nước

Ví dụ: như CS giáo dục nhà nước ta tuân theo Hiến pháp” Giáo dục vàđào tạo là quốc sách hàng đầu xây dựng hệ thống pháp luật và các CS pháp luật các chương trình dự án các biện pháp mô hình kinh nghiệm của nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đào tạo những người lành nghề năng động, sáng tạo, có niềm tự

Trang 4

hào dân tộc, có đạo đức có ý chý vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

CSC định hướng những hành động do chủ thể CS lựa chọn để giải quyết những VĐ phát sinh trong thực tế cho phù hợp với ĐK, hoàn cảnh ở mỗi giai đoạn từ góc độ quản lý của nhà nước CS là những cách thức tác động của nhà nước vào các lĩnh vực của đời sống xã hội để đạt dược nhiều định hướng.CSC có tác động toàn diện đến VĐ KTXH, đặc biệt CS điều chỉnh động cơ tạo động lực cho hành vi hoạt động của các cá nhân và từng đối tượng cụ thể CS có vai trò định hướng cho các hoạt động KTXH

khuyến khích các hoạt động KTXH theo dịnh hướng Phát huy những mặt tốtcủa nền kinh tế thị trường và hạn chế những mặt tiêu cực của nó; tạo lập sự cân đối trong phát triển kiểm soát và phân phối các nguồn lực cho quá trình phát triển; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động KTXH giúp cho các thực thể vận động phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính thống nhất chặt chẽ trong quá trình vận động của thực thể

Tóm lại bản chất của CSC đó là: Là mối quan hệ nhà nước – công

dân không phải CS của đảng bản chất CSC là chính trị, là thái độ của đảng cẩm quyền quyết định mQH trên như thế nào CSC định hướng, điều chỉnh hành vi công chúng

VĐ 2: Vai trò, mục đích và quy trình xây dựng CSC

1 Vai trò của CSC

- Vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường: Nhà Nước làm nhiệm

vụ định hướng phát triển cho XH tạo một sân chơi công bằng, và khuyến khích các lực lượng, các thành phần kinh tế cùng với nhà nước sử dụng phân

bổ các nguồn lực vào các hướng phát triển toàn diện, hợp lý, vai trò nhà nước trước hết là chính phủ là chủ đạo trong việc xây dựng CSC Phát huy

Trang 5

vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là góp phần bảo đảm công bằng xã hội, vì sự phát triển dân chủ văn minh của đất nước song vẫn giữ được bản sắc chính trị - xã hội của dân tộc.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những VĐ căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay Tại đại hội 10, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải Bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN, NN có cơ chế, CS để đảm bảo sự ưu tiên đó thể hiện ở ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau:

Trên lĩnh vực sở hữu: sự tồn tại của ba chế độ sở hữu ( sở hữu toàn dân,

sở hữu tập thể, sở hữu tưu nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền KTTT ở

VN hiện nay

Trên lĩnh vực quản lý: NN xây dựng CSC tạo điều kiện thuận lợi cho

người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp

Trên lĩnh vực phân phối: NN vừa thông qua hệ thống CSC về kinh tế qua

hoạch định vừa sử dụng các nguồn lực trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước

để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng

ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, hoạch định các CS xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa

NN có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển

và tăng trưởng kinh tế “ ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa, các

quan hệ nhu cầu, lợi ích giữu người với người tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước Tính đúng đắn hợp lý

và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các CSC về

Trang 6

phát triển vĩ mô do nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận XH từ đó

mà có ổn định XH cho phát triển và tăng trưởng kinh tế các CS, pl của nhà nước một mặt phải phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọichủ thể kinh tế mặt khác phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu lợi ích cụ thể của các chủ thể đó

NN ta cũng có vai trò quan to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi

XH bởi mục tiêu căn bản của nền KTTT định hướng XHCN ở VIệt Nam là

góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Có CSC về XH hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tácđộng của CSC về sự tiến bộ do nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau là nhân tố có vai trò quyết định việc gia tăng phúc lợi

Công bằng Xh là một động lực của sự phát triển Xh nói chung của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng Một trong những mục

tiêu của quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN mà NN hướng tới

là xóa bỏ tình trạng mất công bằng xã hội đây là một nhiệm vụ lâu dài mà trong đó CSC đóng vai trò chủ đạo mang lại công bằng xã hội Xây dựng môhình kinh tế cho phép giải phóng con người; ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho quảng đại người lao động Đê thực hiện các mục tiêu đó điều quan trọng nhất là NN có được CSC hiệu quả cụ thể là tạo lập khuôn khổ qua CS Pháp luật cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả Chỉ duy nhất nhà nước có được chức năng này Năng lực điều hành kinh tế bằng CS pháp luật là một thước đo đánh giá sự trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế

Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển KTTT định hướng XHCN thể hiện ở việc nhà nước xây dựng CSC tốt góp phần đắc lực vào việc tạo môi

Trang 7

trường cho thị trường phát triển; như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản

xuất, lưu thông hàng hóa, tạo lập sự phân công lao động theo ngành nghề, vùng kinh tế qua việc NN tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, nghành và nhu cầu chung của Xh

Bên cạnh đó, NN còn có vai trò khuyến khích phát triển qua việc hoạch định CSC Qua việc hoạch định CSC nhà nước chủ động dùng nguồn lực của

quốc gia để khuyến khích Tạo lực đầy cho việc phát triển theo định hướng

mà NN cho là đúng(XHCN) CSC còn đóng vai trò thúc đẩy tham gia hội nhập quốc tế Nn có vai trò kiểm soát và phân phối nguồn lực: CSC về hỗ trợ đặc biệt những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, CSC về khoa học công nghệ, khuyến khích cán bộ khoa học đến công tác ở vùng sâu, vùng xa.Thông qua CSC NN tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động KTXH.CSC nhằm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần các thành phần KT cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh CSC đóng góp cho cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút vốn đầu tư Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao khi có sự hỗ trợ từ phía nhà nước sẽ giúp cho hội nhập kinh tế thuận lợi hơn bằng CSC thúc đẩy hội nhập đúng đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả CS về tăng cường hội nhập, NN góp phần chủ động dùng các nguồn lực quốc gia tác động tích cực vào quá trình phát triển

Thông qua CSC, NN còn đóng vai trò kiềm chế hạn chế các mặt tiêu cực trong đời sống KTXH như chống độc quyền, bảo hộ sản xuất trong nước,

chống gian lận thương mại chống tệ nạn Xh, NN chủ động tạo lập các cân đối trong phát triển: CSC về khuyến khích đầu tư ở vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển, CSC về cân đối cán cân thương mại, CS điều chỉnh tốc độ tăng dân số để cân đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 8

Thông qua CSC, NN cần có vai trò điều chỉnh bằng cách dùng quyền lực

NN để răn đe, ngăn chặn, cưỡng chế phòng ngừa các hiện tượng có thể ảnh

hưởng xấu đến lợi ích công cộng duy trì trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân; duy trì sự công bằng về quyềnlợi giữa các công dân và nhóm công dân và giữa các thành phần kinh tế

Thông qua CSC, NN đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển khu vực

tư nhân năng động với năng suất lao động ngày một cao trong bối cảnh toàn

cầu hóa mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ , quản lý, Vốn làm cho CSC có vai trò thúc đẩy sự phát triển này đem lại lợi ích cho khu vực tư nhân và xã hội Bằng CSC về các VĐ XH, NN có vai trò điều tiết phối hợp hoạt động trong đó NN phải đảm bảo công bằng xã hội thông qua các CS phân phối ( phân phối thu nhập, phân phối cho người nghèo) nhằm điều tiết

sự mất cân bằng, phân hóa giàu nghèo, bất công của xã hội

Nhấn mạnh vai trò của NN trong việc định hướng sự phát triển của nền KTTT ở nước ta là nhấn mạnh vai trò hoạch định CSC không mâu thuẫn với

VĐ có tính nguyên tắc: sự vận hành của nền KTTT nào cũng trước hết và chủ yếu do các quy luật thị trường quyết định Dựa trên việc nhận thức đúng đắn những yêu cầu của các quy luật trong nền KTTT, bằng “CSC có sự tham gia của người dân và doanh nghiệp” NN cụ thể hóa những yêu cầu đó

thành CS phát triển kinh tế - XH xác định đúng bước đi để hiện thực hóa chúng Đây là nhân tố có tác động trực tiếp thúc đẩy nền KTTT vận động phù hợp với quy luật nội tại

NN ta là NN của dân, do dân, vì dân lấy lợi ích của dân tộc đáp ứng đúng nhu cầu phát triển khách quan của Xh làm mục tiêu hoạt động của mình Hệ tư tưởng cách mạng về khoa học là chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng HCM làm một trong những cơ sở xuất phát quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội hội tụ hai yếu tố này Phát triển KTTT định hướng

Trang 9

XHCN chính là việc hoạch định CSC có sự tham gia của người dân và doanh nghiệp.

là một biện pháp cần thiết

CSC phải phục vụ nhân dân vì quyền lợi của nhân dân vì vậy để đảm bảo cho mục đích này NN phải chấp nhận cả những việc khó làm những việcbất lợi cho nhà nước

Như vậy CSC phải có ít nhất 3 mục đích:

- CSC ( do NN, CP đưa ra) là một bộ phận thuộc CS KT và CS nói chungcủa mỗi nước

- Về mặt KT, CSC phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công phản ánh việc đảm bảo hàng hóa dịch vụ công cộng cho nền kinh tế

Trang 10

- CSC là công cụ quản lý của NN, được NN sử dụng để Khuyến khích việc Sx đảm bảo hàng hóa dịch vụ công cho nền kinh tế khuyến khích cả vớikhu vực công và khu vực tư Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

NN thường tránh tham gia vào việc trực tiếp sản suất kinh doanh kể cả các hàng hóa dịch vụ được coi là quốc cấm như vũ khí, bảo vệ an ninh, nhà

tù, Đối với các dịch vụ công thì nhà nước cũng chỉ thu hẹp lại trong một số lĩnh vực đảm bảo công bằng xã hội hoặc do tư nhân không chịu làm như diện công cộng, cảnh sát Đối với các dịch vụ công có thể thu phí hoặc tư nhân sẵn sàng tham gia như y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, giao thông nghiên cứu và chuyển giao thì NN thường để cho tư nhân và các tổ chức phi lợi nhuận làm

CSC là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định CSC, xác định mục tiêu căn cứ kiểm tra, đánh giá xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công.tài nguyên đất nước Mục đích CSC còn được nhìn nhận dưới giác độ NN dân chủ, NN đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân

VĐ 3 XÁc định VĐ và giải pháp CSC ( Quy trình xây dựng và triển khai CS)

Các bước xây dựng và triển khai CS bao gồm 4 bước: Xác định VĐ CS; xây dựng CS; ban hành CS, Đánh giá CS có thể nói khâu xác định VĐ luôn

là mấu chốt quan trọng trong việc xây dựng CSC

1 Xác định VĐ của CSC

Xác định VĐ CSC là giai đoạn khởi đầu nằm trong chu trình CS bao gồm

từ bước khởi đầu phát hiện ra những mâu thuẫn này sinh trong ĐSXH cần được giải quyết bằng CS cho đến khi hoàn thành những mục tiêu của CSC

Trang 11

->< và VĐ CS: những mâu thuẫn XH nảy sinh phải được NN giải

quyết bằng CSC mâu thuẫn được giải quyết thì khoảng cách được lấp đầy theo cách giải thích này thì những mâu thuẫn XH nảy sinh Những VĐ kinh

tế - XH hôm nay không được giải quyết sẽ sớm trở thành VĐ chính trị các trở ngại khó khăn vướng mắc trong XH cần được giải quyết bằng CS hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế xã hội, ngăn cản tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng CS

Liên hệ thực tế tỉnh Quảng nam tại đại hội lần thứ XX, Đảng bộ tỉnh

đã xác định kinh tế của tỉnh đã có chuyển biến tích cực tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn 5 năm đạt bình quân GDP năm 2010 tăng gấp 1,8 lần so với năm 2005, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 17,66 triệu đồng / người/năm, vượt chỉ tiêu đề

ra Tỷ trọng LĐ khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng từ 28,74 % năm 2005 lên đến 40% năm 2010 tuy nhiên đến nay Quảng Nam vẫn còn là tỉnh nghèo,kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ nền kinh tế có quy mô nhỏ, tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng thiếu bền vững, cạnh tranh một số vẫn đề môi trường còn nhiều bức xúc thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đời sống

bộ phận nhân dân khó khăn Người dân là do một phần sự điều hành, quản

lý của chính quyền từ tỉnh đến địa phương còn hạn chế thiếu tập trung, thiếu năng động, sáng tạo, chưa kịp thời dự báo tình hình để điều chỉnh cơ chế CS cho phù hợp …

- Xác định VĐ CSC: Xác định VĐ và đề xuất CS được thực hiện

theo các bước sau:

Thứ nhất, Tổng quan VĐ: TỔng quan rõ ràng về các trở ngại, khó

khăn, vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng CS hoặc các bất hợp

lý gây ><, mất cân bằng, ổn định về KTXH, ngăn cản tăng trưởng hoặc

Trang 12

những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng CS, VĐ CS có mối quan

hệ biện chứng với môi trường xã hội, VĐ chỉ có thể giải quyết bằng CSC thìmới có thể phát triển Theo quy luật vận động VĐ CSC của xã hội mang cả tính hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những VĐ trong tương lai

Thứ hai, Xác định quy mô, mức độ nghiêm trọng của VĐ từ tổng

quan vấn đề của xã hội đã xác định được cần tiến hành nghiên cứu thực tiễn

để xác định quy mô mức độ nghiêm trọng của vấn đề trong đời sống KT-

XH Việc lựa chọn VĐ CS dựa vào tính bức xúc của VĐ CS so với nhu cầu

xã hội, ý nguyện người dân và doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước đối với VĐ CS, năng lực tổ chức VĐ CS của nhà nước

Thứ ba, Trình bày VĐ: Sau khi nghiên cứu vấn đề CS cần được trình

bày một cách rõ ràng, nội dung dầy đủ các phần( mô tả vấn đề, nguyên nhân gây ra, phân tích bản chất vấn đề

Thứ tư, Đề xuất phương án CSC: dựa trên kết quả phân tích nguyên

nhân, bản chất vấn đề để đề xuất phương án CSC nhằm giải quyết được vấn đề

Thứ năm, Phân tích CS phân tích cụ thể các phương án CS xem xét

ưu, nhược điểm của mỗi phương án làm cơ sở cho việc lựa chọn CSC phù hợp nhất

Thứ sáu, Đề xuất CS: Hoàn thiện phương án tối ưu và đề xuất việc

ban hành CS

Chẩn đoán VĐ CSC, đúng bản chất, đúng thời điểm, đúng đối tượng đóng vai trò cực kì quan trọng trong hoạch định CSC thành công Nếu xác định VĐ của Xã hội sai thì xử lý VĐ CS sẽ bị sai Việc chẩn đoán CSC phải xác định đúng những bất hợp lý gây mâu thuẫn tạo mất cân bằng, mất ổn định ngăn cản tăng trưởng, tạo khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế

Trang 13

Do đó phải đi vào bản chất của VĐ của XH như các vấn đề về kinh tế

- XH- CT, XH không đưa ra những VĐ CSC có tính mơ hồ, không khả thi, không có giải pháp xử lý Xác định rõ quy mô và mức độ nghiêm trọng của

VĐ của XH để xác định rõ phạm vi và mức độ can thiệp của CSC xem xét thông qua các chỉ số tin cậy và biện pháp đo lường khoa học để nhận biết rõ:tên gọi VĐ của XH, bằng chứng VĐ, quy mô và mức độ nghiêm trọng của

VĐ, khung thời gian dự định áp dụng CSC

Chẩn đoán đúng bản chất của VĐ CS cần đặt nó trong mối tương tác với các VĐ khác chính là cách thức để xác định rõ nguyên nhân cốt lõi của

VĐ CS Các nguyên nhân gây ra VĐ có thể theo dạng chuỗi, theo thứu tự cótính tổng hợp của nhiều nguyên nhân hoặc có thể là tác động qua lại giữa

VĐ và nguyên nhân

MQH nhân quả của các yếu tố tác động tới VĐ CS để xác định đúng bản chất của VĐ Giả thuyết về các mqh và xác minh các giả thuyết đó lên thành danh mục các mqh (còn được gọi là cây VĐ) Việc xác minh một cáchkhoa học các mqh này sẽ giúp xác định đâu là VĐ chính và cốt lõi đâu là

VĐ phụ và VĐ nhánh, đồng thời cũng đưa ra danh mục các VĐ cần giải quyết và VĐ có thể giải quyết

2 Xác định giải pháp CSC

Xác định giải pháp CSC là việc tìm giải pháp cho các nguyên nhân của

VĐ CS mang tính đồng bộ việc đầu tiên phải tính tới là thiết lập danh mục các VĐ ưu tiên cần xử lý sau khi xác định VĐ CSC một cách minh bạch, dựa trên nguyên nhân cốt lõi, mức độ nghiêm trọng, tần xuất hiện, quy mô, mục tiêu xử lý, cách thức tác động, nguồn lực sẵn có tùy theo hoàn cảnh cụ thể

Khi đưa ra giải pháp cần xem xét cách thức tác động phù hợp để đạt đượcmục tiêu CSC Cách thức tác động phải tác động được tới tâm lý, tư tưởng

Trang 14

để từ đó đối tượng bị tác động có hành động để xử lý chính VĐ đó Đôi khi nhận thức đúng đắn sự vật hiện tượng của các chủ thể tham gia CSC lại đóng vai trò quyết định sự thành công của một CSC đó Can thiệp CS tới đốitượng bị tác động có thể thông qua việc huy động lợi ích kinh tế, quan hệ cộng đồng, giá trị xã hội và tâm lý đám đông.

Giải pháp CSC dẫn tới việc lựa chọn công cụ để can thiệp tùy thuộc vào đặc điểm, năng lực của CP cũng như Đk, hoàn cảnh tính chất kinh tế xã hội của mỗi nhóm đối tượng CS cụ thể

Can thiệp thông qua lợi ích kinh tế: chỉ áp dụng cho đối tượng (i) có đầu

óc tự lập cao, riêng lẻ,(ii) có tư duy kinh doanh, đầu óc rất nhạy với thị trường, đồng thời công cụ này chỉ hoạt động hiệu quả trong môi trường thị trường cạnh tranh hoàn hảo với các điều kiện như: (i) cạnh tranh bình đẳng, không có độc quyền nặng nề, (ii) thị trường thông thoáng, thông tin thị trường dầy đủ không có dào cản gia nhập và rời bỏ thị trường, chi phí giao dịch thấp

Can thiệp thông qua quan hệ cộng đồng: Chỉ áp dụng được đối tượng bị

ràng buộc bởi quan hệ cộng đồng chẳng hạn như thành viên của các cộng đồng nông các tổ chức Xh - dân sự, các nhóm sở thích, các nhóm dân tộc, họhàng, bạn bè, công cụ này chỉ hoạt động hiệu quả nếu các quy định thể chế cộng đồng được thi hành

Can thiệp thông qua giá trị xã hội: tạo nên niềm tin, hệ giá trị được mọi

người tôn trọng và yêu thích Công cụ này đặc biệt có tác dụng đối với các tôn giáo và lý tưởng chính trị điều đó có nghĩa là cần tạo ra sự đồng thuận vềcác giá trị mà các đối tượng bị tác động theo đuổi

Can thiệp thông qua tâm lý đám đông: Chỉ áp dụng cho các đối tượng

đang có nhu cầu về VĐ cần xử lý mà không có tác dụng đối với các nhu cầu bình thường căn bản Công cụ này có hiệu lực trong môi trường thiếu thông

Trang 15

tin đối chiều, đối tượng bị tác động không thể xác định được hành động dựa trên thông tin hiện có mà phải dựa vào người khác.

Liên hệ tại Việt Nam về vai trò của thông tin và minh bạch nhằm thúc đẩy nền KTTT: VN đã tiến hành thúc đẩy công khai dữ liệu và thông tin kinh t, tuy nhiên tiến độ đã chậm hơn dự kiến do thiếu một luật tổng quát về khả năng tiếp cận thông tin Tác động của minh bạch yếu kém đã làm cho sựphát triển của việt nam trở nên tốn kém Một nghiên cứu về tham nhũng trong năm 2011 trong quản lý đất đai đã định sự thiếu minh bạch là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra tham nhũng tại Việt Nam có thể nói minh bạch tài chính đóng vai trò đặc biệt trong quan trọng trong quá trình chuyển đổi kinh tế của VN Trong bối cảnh vai trò tương đối lớn của khu vực công trong nền kinh tế Quản lý tài chính tại Việt Nam trở nên phức tạp chính phủ dã có một khởi đầu tốt đẹp trong việc thiết lập khuôn khổ pháp lý

và thể chế về minh bạch tài chính thông tin về ngân sách NN được đăng tải trên các trang Web của các cơ quan nhà nước đã được cải thiện, Ngân sách

NN chưa công bố thông tin một cách có hệ thống, ngân sách công bố ra dân chúng một cách tương đối tổng hợp tuy nhiên với việc phân cấp ngày càng tăng trong những năm gần đây, tính minh bạch của các quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền đã từng bước được tăng cường theo hướng tuân thủ tốt nguyên tắc minh bạch tài chính, cải thiện hơn công tác quản lý và phân tích tài chính

VĐ 4 Các nguyên tắc định hướng và xây dựng CSC

Với nền KT tăng trưởng mạnh và triển vọng tăng trưởng tích cực, VN đang trên đà đạt được các mục tiêu chủ chốt dặt ra trong kế hoạch phát triển

KT – XH giai đoạn tiếp theo Sự chuyển đổi từ một quốc gia có mức thu nhập thấp sang mức thu nhập trung bình sẽ mang lại một số thách thức mới đòi hỏi phải có sự can thiệp của NN thông qua CSC với một nhóm giải pháp

Ngày đăng: 04/04/2017, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w