Có rất nhiều vấn đề liên quan tới thành công lâu dài của cấy ghép răng ¬ như: nhu cầu thâm mỹ tăng, kiểu khớp cắn cho răng cấy ghép, vật liệu phục hình, các yếu + tố cơ sinh học, khó khă
Trang 1CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
CHUONG 9 NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
| Những nghiên cứu của Branemark và cs đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nha
khoa vì đã mang lại những phương án thay thế răng mất bằng răng cấy ghép với tiên lượng thành công lâu dài rất cao Những nguyên tắc căn bản ban đầu được Branemark đưa ra là: I- cấy implant với phẫu thuật ít sang chấn xương, tránh làm nóng xương trong quá trình khoan xương chính xác tại xỊ trí cay; 2- implant cần có độ ôn định ban dau sau khi cây để tạo điều kiện thuận lợi cho lành thương; 3- Implant không nên chịu lực nhai trong quá trình lành thương từ 3 đến 6 tháng
Branemark cho rằng xương có đủ chất lượng và kích thước, phẫu thuật trong điều
kiện vô trùng với đường vào dễ và ít hạn chế về giải phẫu có thể cho tỷ lệ thành công cao
Tất cả các yếu tố này giảm tối đa nguy cơ và tăng tối đa lợi ích khi hàm giả tháo lắp được thay thế bằng hàm có định Đối với bệnh nhân mất răng từng phân, lợi ích và nguy cơ khác nhau đáng kể tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng Nhu cầu điều trị lúc đó được xác
¬ định bởi các yếu tố giải phẫu và sinh lý, tiên lượng implant sẽ đặt, và tình trạng những
- răng còn lại Những bệnh nhân mất răng từng phần có nhiều phương án điều trị, khác với
4 mắt răng toàn bộ Có rất nhiều vấn đề liên quan tới thành công lâu dài của cấy ghép răng
¬ như: nhu cầu thâm mỹ tăng, kiểu khớp cắn cho răng cấy ghép, vật liệu phục hình, các yếu
+ tố cơ sinh học, khó khăn của thay thế răng đơn lẻ, liên quan của răng cấy ghép với răng
thật, thay đổi kích thước và hình thể xương sau khi mất răng
I- Phân loại bệnh nhân Dựa trên phương pháp lập kế hoạch điều trị “từ trên xuống dưới” với phương án phục hình được xét trước tiên, bệnh nhân cần cấy ghép răng được chia làm ba nhóm: mắt
F răng toàn bộ, mất răng từng phần (cấy ghép nhiều răng) và mất một răng Những bệnh
nhân thuộc các nhóm khác nhau sẽ có các phương án phục hình răng khác nhau (Hình 8.6) Bệnh nhân mắt răng toàn bộ có các khả năng: làm hàm giả tháo lắp toàn bộ, hàm giả tháo lắp chịu lực trên implant, hoặc cầu răng cố định toàn bộ Bệnh nhân mắt răng từng phần có các khả năng: hàm giả tháo lắp bán phần (hàm nhựa hoặc hàm khung); làm cầu răng truyền thống: làm cầu răng cố định với implant, thay thế từng chiếc răng mất bằng
189
Trang 2
CAY GHEP RANG
răng cấy ghép Những vấn đề thường gặp phải trong nhóm bệnh nhân này là không làm được cầu răng do mắt răng đầu tận hoặc khoảng mất răng rộng Khi đó, phương án phục hình chỉ còn lại là hàm giả tháo lắp hoặc cấy ghép răng Bệnh nhân mắt răng đơn lẻ bao gồm những bệnh nhân bị mắt một răng hoặc mất vài răng ở những vị trí khác nhau Phục hình những bệnh nhân mất răng đơn lẻ có các khả năng: làm cầu răng ba đơn vị nếu như
có đủ răng thật làm trụ hoặc cấy ghép một đơn vị răng
2- Implant đơn lẻ Răng cần phục hình tại các vùng khác nhau trong miệng có những yêu cầu khác nhau về thẩm mỹ và chức năng, đồng thời có những hạn chế về mặt giải phẫu khác nhau
Những đặc điểm chung trong cấy implant đơn lẻ là:
- - Yếu tổ thâm mỹ của phục hình được col trọng hơn
- _ Khả năng chống xoay của răng cấy ghép được coi trọng hơn: tránh bị lỏng vít phục hình khi xoay theo trục và khả năng chỉnh góc nghiêng của trụ phục hình
- _ Tỷ lệ chiều dài thân răng — chân răng được coi trọng hơn
- Don giản: giảm chịu đựng cho bệnh nhân, giảm thời gian điều trị, giảm chỉ
phí, các vật liệu và chỉ tiết phục hình tối thiểu Cần hướng tới mục tiêu là đơn
giản hơn cầu răng
- Dé vệ sinh răng miệng
- - Đa dạng hóa phục hình: nha sĩ có thể chỉnh sửa chiều cao, đường kính, góc nghiêng răng
Như vậy, đánh giá vị trí cấy ghép răng là bước quan trọng để lựa chọn kích thước implant va có tư vấn thích hợp cho bệnh nhân về kế hoạch và kết quả điều trị
Xương tại vị trí cấy ghép răng cần có đủ kích thước ngang và dọc đủ chỗ cho implant Kích thước xương tốt nhất cho implant là: 5mm rộng, 13 đến 15mm cao, và 5mm dày Chiều cao của xương ở vùng phía sau hàm dưới được đo từ bờ sống hàm đến ống thần kinh răng dưới Chiều cao xương ở vùng phía sau hàm trên được đo từ bờ sống hàm đến đáy xoang hàm trên Khi kích thước xương không đủ, phẫu thuật viên phải cảnh
báo bệnh nhân tiên lượng thấp hoặc làm phẫu thuật tăng kích thước hoặc chất lượng
xương Thông thường, khi chiều cao ổ răng giảm thì chiều rộng tăng nên thường đủ chỗ
về chiêu ngang cho chân răng
190 | HOANG TUAN ANH
Trang 3Xác định độ đặc xương bằng chụp cắt lớp CT scans với phần mềm chuyên biệt Thêm vào đó, CT scan có thể mô tả vị trí trong ngoài của ống thần kinh răng dưới Kích thước xương có thê đánh giá bằng phim Xquang thông thường và khám lâm sàng
Bảng 9.1 Khoảng cách tối thiểu giữa implant và tổ chức giải phẫu lân cận
Tổ chức liên quan Khoảng cách tối thiếu từ implant
Bản xương phía má 0,5mm
Bản xương phía lưỡi Imm
Implant lién ké 3mm tính từ bờ ngoài của méi implant
Ông thần kinh răng dưới 2mm tính từ bờ trên vỏ xương của ống Thần kinh cằm 5mm tính từ bờ trước của lỗ cằm
Bờ dưới xương hàm dưới lmm
6 rang có thé không thuận lợi cho thâm mỹ hoặc hướng chịu lực của Implant Mật độ xương thuận lợi cho implant
Trang 4CAY GHEP RANG
Ở vùng răng phía trước, các răng thật thường nằm sát bản ngoài xương, đôi khi có thể sờ nắn được chân răng ngay dưới niêm mạc Trong khi đó, implant phải được cấy trong xương nên góc nghiêng của implant không thuận lợi cho phục hình Implant được cấy sát bản xương phía môi, má vì các lý do: phục hình dễ đạt thâm mỹ hơn, kiểm soát lễ khoan dễ hơn, dễ ghép xương phía ngoài trong trường hợp bị lộ một phan implant ngoai
xuong (Hinh 9.3)
Khi đặt implant vung rang cua ham trén, cần lưu ý khoảng cách tối thiéu tir chop
implant téi nén mii 14 1mm Nếu có thể đặt implant vừa tới bản cứng của nền mũi thì rất
tốt cho sự ôn định ban đầu và sự chịu lực của implant
Implant răng cửa giữa cần được đặt lệch khỏi đường giữa để tránh ống răng cửa và
giúp phục hình thầm mỹ dễ hơn Đặc biệt khi khoảng phục hình rộng, nên đặt implant
lệch về phía xa (Hình 9.1)
Hình 9.1 Implant cho răng cửa giữa được đặt lệch về phía xa và nghiêng xa
Xương ở vùng răng phía trước thường ít bị hạn chế về chiều cao, mà thường bị hạn chế chiều dày Trong khi đó, lực tác động lên implant không theo trục dọc Để giảm tỷ lệ chiều cao phục hình/chiều dài implant, nên cấy implant có chiều dài 13mm hoặc hơn
Vùng răng phía trước có đòi hỏi thâm mỹ cao, nên cấy implant ngang mào xương (crestal) hoặc dưới mào xương (subcrestal) để có đủ chiều dày lợi che phủ đường hoàn tat của trụ phục hình Mặt khác, đường kính của cô implant nhỏ được tăng dần qua đường
kính của trụ phục hình, tới đường kính chụp răng sẽ tốt hơn cho tổ chức quanh implant
192 | HOANG TUAN ANH
Trang 5
Tuy nhiên, nếu đặt implant qua sau, sẽ tạo ra túi lợi sâu và tạo điều kiện tích tụ mảng bám
và vi khuẩn trong túi lợi (Hình 9.4)
Khi kích thước và hình thể của xương ô răng không thuận lợi, có thể phải dùng implant có đường kính nhỏ hơn để có thể điều chỉnh góc nghiêng của implant (Hình 9.6)
Một số trường hợp có thể đòi hỏi các phẫu thuật phụ trợ: ghép xương, chẻ xương (Xem thêm chương Đánh giá xương tại vùng răng cấy ghép)
Trong những trường hợp tiêu xương, mắt xương theo chiều đứng, đặc biệt khi mat một răng cửa giữa, việc phục hình thâm mỹ trên implant đặc biệt khó khăn vì đường viền lợi của răng cấy ghép cao hơn của răng thật bên cạnh Khi đó cần thông báo cho bệnh nhân về sự hạn chế thẩm mỹ Để đạt được thẩm mỹ cao, có thể phải ghép xương trước hoặc trong khi cấy implant tùy theo mức độ mất xương Phẫu thuật ghép lợi lẫy từ vòm miệng cũng có thể xem xét
Cấy implant ở vùng răng cửa dưới thường dễ thành công vì kích thước và chất lượng xương thuận lợi cho ôn định ban đầu và tích hợp xương Nếu có thể, nên cấy implant dài, xuyên qua suốt xương xốp và chóp implant tới bản cứng bờ dưới xương hàm
(Hình 9.2)
Hình 9.2 Cấy implant tới bản xương cứng bờ dưới xương hàm sẽ tạo sự ồn định ban đầu
và tang kha nang chiu luc cho implant
193
Trang 6
} B- Cấy implant kích thước 3.75x13mm va ghép bột xuong nhan tao (BioGran, Biomet 3],
Hoa kỳ) C- Sau khi tháo trụ lành lợi D- Trụ phục hình được mài chỉnh và lấy dấu trực
| tiếp như đối với răng thật E, F- Răng cấy ghép và X quang 7 năm sau
194| HOÀNG TUẤN ANH
Trang 7Hình 9.5 A- Ghép lợi bằng vạt tô chức liên kết có cuống lấy từ phía vòm miệng đề tăng
độ dày lợi phía môi B- Ghép tổ chức liên kết tự do, lấy từ vòm miệng với mục đích
tương tự
195
Trang 8CAY GHEP RANG
Hình 9.6 Cấy implant tại vùng răng cửa hàm trên: A- Vị trí gần bản ngoài xương, thuận lợi phục hình B- Implant nghiêng phía môi, nam giữa xương, khi phục hình phải mài trụ phục hình nhiều, có thể cần phải dùng trụ phục hình nghiêng 15” nếu mài chỉnh trụ phục hình không đủ chỉnh góc nghiêng C- Implant nghiêng phía lưỡi, phục hình không đảm bảo thâm mỹ và tổ chức quanh implant không khỏe mạnh D- Implant nghiêng quá mức phía môi và đặt trên mào xương, phục hình không đảm bảo thâm mỹ do lộ cô implant
Vùng răng nanh và răng hàm nhỏ có các đặc điểm: nhu cầu thâm mỹ thấp hoặc
trung bình, hướng chịu lực tương đối thuận lợi, không bị hạn chế về giải phẫu, mật độ
xương thuận lợi
Ở hàm trên, răng hàm nhỏ thứ hai liên quan đến xương hàm trên Ở hàm dưới, răng hàm nhỏ thứ hai liên quan đến ống thần kinh răng dưới Vì vậy, khi cấy implant cho
196 | HOANG TUẤN ANH
Trang 9CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
những răng này, cần xác định chiều cao xương chính xác để không làm tốn thương những
tổ chức giải phẫu quan trọng bên dưới Răng nanh là răng chắc khỏe và chịu lực lớn nên cần được phục hình với implant đủ dài để tỷ lệ thân răng / chân răng được tốt Vì vùng
răng nanh thường không bị hạn chế về chiều cao xương nên thường có thể đặt implant dài
13mm hoặc hơn
Hình 9.7 Cây implant tại vùng răng hàm nhỏ thứ hai hàm trên A- Đo chiều cao xương trên phim toàn hàm B- Cấy implant kích thước 4 x 13mm C- Sau khi tháo trụ liền lợi
D,E- Kiểm tra trên phim và kết quả phục hình
Vùng răng hàm lớn có các đặc điểm: nhu cầu thâm mỹ thấp, hướng chịu lực thuận lợi, chiều cao xương thường bị hạn chế, trong khi chiều rộng và chiều dày xương thường
đủ Mật độ xương ở hàm trên rất kém, trong khi ở hàm dưới tốt hơn cho implant
Trang 10Ở vùng sau xương hàm dưới, chất lượng xương tốt hơn cho implant Tuy nhién,
chiều cao xương có thé bị hạn chế do ống than kinh răng dưới Khoảng cách tối thiểu từ`
chóp implant tới trần ống thần kinh răng dưới là 2mm Khi chiều cao xương không đủ, có
thể xem xét phẫu thuật ghép xương hoặc phẫu thuật giải phóng thần kinh răng dưới
Khi cấy implant cho những răng sau, cần lưu ý góc nghiêng của xương, đặc biệt là sau khi tiêu xương do mất răng (Hình 9.8) Ở hàm trên, chân răng có xu hướng nghiêng
về phía lưỡi, trong khi ở hàm dưới chân răng có xu hướng nghiêng về phía má Góc
nghiêng của implant cần tính toán phù hợp sao cho tránh được tô chức giải phẫu quan trong dé tăng chiều dài implant, đồng thời tạo được góc chịu lực tốt nhất cho implant
198 | HOANG TUAN ANH
Trang 11Schnitman và cs sau khi nghiên cứu 137 răng cấy ghép hai thì với nhiều loại thiết
kế khác nhau, thấy rằng vùng phía trước của hàm dưới có tỷ lệ sống lâu nhất, và phía sau hàm dưới và phía trước hàm trên có tỷ lệ sống lâu trung bình và phía sau hàm trên có tỷ
lệ sóng lâu thấp nhất Mắt rang loai Kennedy I và II là loại mất răng thường gặp nhất vì răng cây ghép thường dùng nhất là dành cho phía sau của hàm dưới và hàm trên `
3- Implant cho mat rang timg phan Nếu tổ hợp tự do giữa số lượng, vị trí răng mất và răng còn lại trên cung răng thì có thể có trên 65000 tổ hợp cho một cung răng Vì vậy, có rất nhiều cách phân loại mất răng
đã được giới thiệu Phân loại mất răng theo Kennedy là một trong những cách phân loại mất răng được ứng dụng rộng rãi nhất cho mất răng từng phần (Hình 9.9) Một trong những ưu điểm chính của phân loại Kennedy là nó cho phép nhận biết ngay khoảng mat răng và phân biệt được nhanh loại hàm giả cô định hay tháo lắp phù hợp cho phục hình khoảng mắt răng đó Khi áp dụng phương pháp lập kế hoạch điều trị “từ trên xuống dưới”
cho phục hình bằng implant, với phương án phục hình được xét đến trước tiên, thì phân loai mat rang theo Kennedy phu hop
Applegate da dua ra tam nguyén tac khi 4p dung phan loai Kennedy nhu sau:
I- Phân loại phải tính đến những răng cần phải nh trước khi phục hình
2- Nếu răng hàm lớn thứ ba mat va không được phục hình thì nó không được tính đến trong phân loại
3- Nếu răng hàm lớn thứ ba còn và nó được dùng làm trụ phục hình thì phải tính đến trong phân loại
4- Nếu răng hàm lớn thứ hai mất và không được phục hình thì nó không được tính đến trong phân loại
5- Vùng mắt răng phía xa nhất luôn quyết định kiểu phân loại
6- Những vùng mắt răng khác mà không quyết định kiểu phân loại thì được xem
như biến thê và ký hiệu bằng số
7-_ Mở rộng kiểu biến thể không được xem xét mà chỉ tính số vùng mất răng bổ xung
Trang 12CAY GHEP RANG
8- Không có các vùng biến thể cho Kennedy IV (những vùng mất răng phía sau
mà đi qua đường giữa đã quyết định kiểu phân loại, xem nguyên tắc 5)
xa D- Class IV: Mắt răng phía trước (qua đường giữa)
Khi phục hình mắt răng từng phần với implant, cần phải xác định số lượng implant cần thiết cho khoảng mắt răng cũng như vị trí và kích thước từng chiếc implant Tuy rằng
số lượng implant càng nhiều càng tốt và kích thước implant càng lớn càng tốt cho khả năng chịu lực của phần phục hình, nhưng cũng cần xét đến khả năng tài chính của bệnh nhân, yếu tố thẩm mỹ và khả năng giải phẫu cho phép của xương Ba nguyên tắc đã được
đặt ra đê xác định vị trí và sô lượng Implant cân cây trên cung hàm
Nguyên tắc I: Trụ tận cùng của khoảng mắt răng (phía gần và phía xa) để tạo khớp cắn với hàm đối cần được xác định trước tiên, để lấp đầy khoảng trống mắt răng của sống
hàm, chú ý đến yếu tố thẳm mỹ Nếu trụ đầu tận là một implant, no phải nam 6 trung tam
của chụp răng dự kiên
200 | HOÀNG TUẤN ANH
Trang 13CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
Nguyên tắc II: Tổng số đơn vị phục hình (số răng) cần tính bằng cách đếm từ răng phía
xa nhất đến răng phía gần nhất, luôn nhớ nguyên tắc I Theo nguyên tac Ante, tổng số
đơn vị này được chia hai và làm tròn số Phải trừ đi số răng thật còn lại nằm trên sống
hàm vùng mat rang nay (nếu có) Số này chỉ ra số implant tối thiểu cần có để phục hình
Số implant tối thiểu này không hạn chế nha sĩ đặt thêm implant nếu như kích thước xương cho phép Mặt khác, áp dụng những công thức này có thể có kết quả là số không
Trong trường hợp này, nha sĩ có thể tính đến một cầu răng truyền thống, chịu lực trên răng thật, điều này cần xác định trước khi điều trị
Nếu số implant cần thiết nhiều hơn hai, một implant nên bỗ xung vào (nếu kích thước ngang và dọc của xương cho phép) để tăng tối đa khả năng phục hình thành công bằng cách cấy tối đa số implant vào khoảng xương cho phép Điều này sẽ tránh khả năng thất bại nhờ giảm sự cần thiết đặt thêm implant sau này và thời gian lành thương Cần chú ý rằng mặc dù số implant cần tối đa có thể, cần giữ khoảng cách 3 đến 4 mm giữa các implant dé dé phuc hinh va bao tri sau này
Nguyén tắc III: Một implant hay răng thật cần có ở mỗi đầu tận (cả phía gần và phía xa)
Mot implant can dat lién ké ngay implant dau tan vi tru dau tan rat quan trọng cho độ ồn định của cầu rang Dat implant lién ké ngay tru đầu tận sẽ dam bảo lực đòn bay tối thiêu nếu như trụ đầu tận hỏng
Vị trí của những implant còn lại sẽ đặt đều trên cung hàm tuỳ theo giải phẫu xương
và những răng còn lại
Hình 9.10 Implant đặt lệch trung tâm thân
răng, tạo ra lực có hại lên Implant
Trang 14
hàm lớn thứ hai Nếu răng đối không còn, không có nhu cầu phục hình răng hàm lớn thứ
hai thì đặt trụ đầu tận ở vị trí răng hàm lớn thứ nhất Trụ đầu tận được đặt ở trung tâm của thân răng dự kiến để dễ đạt được thâm mỹ phần phục hình và không tạo ra lực có hại lên implant Chiều rộng xương trên hàm mất răng Kennedy II được đo từ bờ ngoài của implant đầu xa đến bờ xa của răng thật còn lại
Hình 9.12 Tổng số implant ít nhất cần đặt cho khoảng mat răng là 3 Các implant cần đặt
so le nhau một góc khoảng s° để tăng khả năng chịu lực
202|_ HOÀNG TUẤN ANH
Trang 15
Hình 9.13 Khả năng chịu lực của implant thay đổi theo số luong implant va vi tri
implant Implant chịu lực tốt nhất khi đặt so le nhau (Rangert B., Krogh P., Langer B , 1995)
Hình 9.14 Phim toàn hàm của bệnh nhân nữ 47 tudi, bi mat rang ham trén Kennedy loai
II, viém quanh răng và tiêu xương tiến triển Phục hình với implant cho nhóm răng sau hàm trên Kế hoạch điều trị: nhổ răng l6, ghép xương nâng đáy xoang hàm trên hai bên, sau 6 tháng cấy ba implant cho mỗi bên răng sau hàm trên, sau 4-5 tháng phục hình
Trang 16CAY GHEP RANG
Hinh 9.15 Phim toan ham cua bénh nhan 1 thang sau khi nh6 rang 16 va ghép xương
nâng xoang Xương ghép được lấy từ vùng cằm xương hàm dưới (bón lỗ khoan lấy
xương) và trộn với bột xương nhân tạo (BioGran, Biomet 3l, Hoa kỳ)
Hình 9.16 Phim toàn hàm của bệnh nhân 5 thang sau khi ghép xương
204|_ HOÀNG TUẤN ANH
Trang 17CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
Hinh 9.17 Bénh nhan duge cay ba implant ving rang sau ham trén bén trai: hai implant kích thước 4 x 11.5mm va m6t implant 5 x 11.5mm Sau 1 tháng, bệnh nhân được cay tiép ba implant cho ving rang sau ham trén bén phai
Hình 9.18 Phim toàn hàm của bệnh nhân sau khi phục hình răng sau hàm trên bên trái,
ba tháng sau khi cấy ba implant cho răng sau hàm trên bên phải
Trang 18
Implant vùng răng cửa giữa cần tránh đường giữa đề dễ phục hình thâm mỹ
206 | HOANG TUAN ANH
Trang 20
CẤY GHÉP RĂNG
hàm trên Kế hoạch điều trị: ghép xương nâng đáy xoang hàm trên hai bên, sau 6 tháng
cấy sáu implant cho hàm trên, (xét đến khả năng tài chính tại thời điểm đó, đồng thời xét
khả năng cấy tiếp implant bổ xung sau này), sau 4-5 tháng phục hình B- Phim toàn hàm của bệnh nhân 6 tháng sau khi ghép xương
implant cho bệnh nhân là 6, xét đến việc bệnh nhân có cầu răng toàn bộ hàm dưới trên
răng thật và không hoàn toàn khỏe mạnh B- VỊ tri implant được sắp xếp như sau: một implant dat vào trung tâm các răng đầu tận, một implant dat liền kề theo đó Những implant còn lại được đặt trên khoảng trồng cung hàm còn lại, xét đến các yếu tố: tránh
đường giữa để dễ phục hình thâm mỹ, có thể cay thém implant sau nay dễ dàng, phù hợp
với kích thước giải phẫu xương ô răng hàm trên
A Hình 9.23 A- Bệnh nhân được cấy hai implant tại cung răng trên bên phải (kích thước 5x11.5mm và 4x13mm) và bốn implant tại nửa cung răng trên bên trái (hai implant kích thước 4x13mm và hai implant 5x11.5mm) Implant được sử dụng là Osseotite khớp nối trong (Biomet 31, Hoa kỳ) B- Phẫu thuật bộc lộ implant và lắp trụ lành lợi sau khi cay implant 5 thang
208 | HOANG TUAN ANH
Trang 21
CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
Hình 9.24 Các bước phuc hinh: A- Lap tru lay dau gian tiép khay mé (transfer pickup
coping) vào implant B- Lấy dấu gián tiếp khay mở với khay lấy dấu cá nhân C- Khay lấy dấu được lấy ra, lắp implant mô phong (analog) vao tru lấy dấu D- Phủ silicone lỏng
209
Trang 22
CAY GHEP RANG
quanh trụ lấy dấu và đồ mẫu thạch cao E- Mau thạch cao với implant mô phỏng, lợi giả
bằng silicone lỏng đã được tháo ra F- Thử trụ phục hình trên mẫu thạch cao G- Trụ phục
hình được mài chỉnh song song tại labo răng giả và đúc cầu răng Trụ được lắp vào
implant trong miệng bệnh nhân H- Sau khi xiết chặt, lỗ bắt vít của trụ phục hình được bịt
bằng gutta-percha
Hình 9.25 Khớp cắn (A) và khuôn mặt bệnh nhân (B) sau khi phục hình
210 | HOANG TUAN ANH
Trang 23
CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT
hàm của bệnh nhân
Khó khăn thường gặp phải khi cấy nhiều implant là vị trí đặt implant phải chính xác
và các implant phải song song với nhau Đặc biệt là khi cay implant 6 ving rang cira ham trên là vùng có yêu cầu thâm mỹ cao nhất Nếu implant được cấy vào đúng vị trí nằm
giữa các thân răng phục hình dự kiến thì phục hình sẽ bị ảnh hưởng thẩm mỹ nghiêm trọng Giải pháp an toàn cho phục hình thâm mỹ là tránh đặt implant ở gần đường giữa và
phần phục hình răng cửa sau này là phần cầu răng Khi đó phục hình răng cửa dễ điều chỉnh vị trí cũng như góc nghiêng Thẩm mỹ và phát âm của bệnh nhân sẽ không bị ảnh hưởng
Những bệnh nhân bị mất răng toàn bộ thường bị tiêu xương nhiều nên vùng răng
phía sau bị hạn chế giải phẫu nhiều Kế hoạch điều trị thường phức tạp hơn vì phải xét
nhiều đến các yếu tố: kiểu phục hình, khớp căn, thẩm mỹ khuôn mặt, giải phẫu Khi
khuôn mặt thay đổi và cần phục hồi thâm mỹ khuôn mặt nhìn thắng cũng như nhìn nghiêng, cần phải cân nhắc loại hàm có nền hàm nâng đỡ môi Một số trường hợp có thể
cần phẫu thuật địch chuyển xương hàm để phục hồi kích thước dọc và kích thước trước
sau của xương hàm Những trường hợp tiêu xương nặng, cần phải xem xét khả năng ghép xương trước khi cấy ghép implant Những trường hợp tiêu xương nhẹ hơn, có thể xem xét khả năng phẫu thuật nâng đáy xoang hàm trên hoặc phẫu thuật dịch chuyển dây thần kinh răng dưới
Khi phục hình mắt răng toàn bộ với phương án làm hàm giả tháo lắp trên implant, cần phải cấy ít nhất hai implant cho hàm dưới và bốn implant cho hàm trên Vị trí cay implant trong những trường hợp này không thực sự quan trọng Phẫu thuật viên có thể cây hai implant vào vị trí tương ứng với các răng nanh, là nơi xương thường có kích
thước tốt nhất và ít bị hạn chế về mặt giải phẫu Ở hàm dưới, hai implant có kích thước
lớn (ví dụ 5 x 13mm) là đủ để chịu lực cho hàm tháo lắp Ở hàm trên, có thể cấy thêm hai
implant vao khoảng trông còn lại của các răng cửa, nơi có chât lượng xương tôt nhât
Trang 24Hình 9.26 A- Bệnh nhân nam, 60 tuôi, mắt răng toàn bộ hàm trên, răng sau hàm dưới B-
Bệnh nhân được cấy bốn implant cho vùng răng cửa hàm trên để phục hình với hàm giả tháo lắp chịu lực trên thanh ngang nâng đỡ bang implant, ba implant cho vung rang sau
hàm dưới
Khi lập kế hoạch cấy implant trén ham mat rang toan bd, phau thuật viên cần tính
toán vị trí của các implant sao cho sau này còn có thê cấy thêm ¡implant khi bệnh nhân có
yêu cầu hoặc khi cần tăng số lượng implant dé tăng khả năng chịu lực Ví dụ: bệnh nhân
được cấy số lượng implant tối thiểu để phục hình cầu răng toàn bộ cho hàm trên là tám và
cho hàm dưới là sáu vì khả năng tài chính hạn chê Sau này, bệnh nhân có thê muôn cây
212 | HOANG TUAN ANH
Trang 25CHUONG IX - NHUNG NGUYEN TAC DAT IMPLANT thêm hai implant cho ham trén va hai implant cho hàm dưới Nếu kế hoạch ban đầu không phù hợp, có thể không còn chỗ cho những implant muốn cấy thêm Tương tự như
vậy, khi cay hai implant dé phuc hinh thao lap hàm dưới hoặc bốn implant dé phuc hinh
hàm trên, cân xét đên khả năng sau này bệnh nhân muôn chuyên sang kiểu phục hình có định với cầu răng toàn bộ Khi đó, vị trí các implant ban đầu cần hợp lý để có thể cay thêm nhiều implant nhất có thể
Hình 9.27 A- Bệnh nhân nữ, 65 tuổi, mất răng toàn bộ hàm dưới, răng cửa và răng sau hàm trên B- Bệnh nhân được cấy hai implant cho vùng răng cửa hàm dưới đề phục hình
với hàm giả tháo lắp chịu lực trên hai implant với khớp nối Locator của hãng Biomet 31
Trang 26
CAY GHEP RANG
Bang 9.2 Cac phuong an cay implant để phục hình hàm giả tháo lắp cho mắt răng Tóm
Cấy hai implant độc lập tại vị trí răng nanh trị bệ -_ Sống hàm lý tưởng / Hàm giả lý tưởng chọn
- _ Chỉ có tác dụng neo giữ hàm giả nhất
- _ Hàm giả di động nhiều chọn
Cấy hai implant tại vị trí răng nanh, nối nhau can tl bằng thanh ngang vững tác g
lệ sôi
- _ Sống hàm lý tưởng / Hàm giả lý tưởng
- Neo giữ và ôn định hàm giả tôi thiêu
- _ Sống hàm lý tưởng / Hàm giả lý tưởng
- Neo giữ và ôn định hàm giả trung bình
- _ Sống hàm phía sau hạn chế giải phẫu
- Neo giữ và ôn định hàm giả tôi thiêu
nâng đỡ hàm giả tốt hơn
- Ham gia di động ít hơn