1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh quảng ninh tt

24 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 384,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây là một số công trình tiêu biểu: - Lê Long 2012, Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Kinh tế,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), du lịch Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Du lịch được coi là một ngành kinh tế tổng hợp, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước; thúc đẩy, bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Có thể thấy, du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của ngành du lịch Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch luôn được chú trọng, không ngừng đổi mới và hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế

Việt Nam đang nhanh chóng trở thành một trong những điểm thu hút du lịch ở khu vực Đông Nam Á Và Quảng Ninh là tỉnh có rất nhiều điểm du lịch hấp dẫn Quảng Ninh có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ nói riêng và của cả nước nói chung, trong đó bao gồm cả phát triển ngành du lịch Du lịch Quảng Ninh đã và đang đóng một vai trò khá quan trọng trong ngành du lịch vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Vùng du lịch Bắc Bộ, không chỉ thu hút được lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước, đồng thời cũng mang lại một nguồn thu tương đối lớn vào ngân sách của tỉnh và Nhà nước Do đó, sự phát triển của du lịch tỉnh Quảng Ninh đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chung và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng Tuy nhiên, tỉnh vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng và lợi thế của mình, ngành du lịch vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định Điều này đặt ra cho tỉnh nhiệm vụ quan trong là phải hoàn thiện và nâng cao hơn nữa quản lý nhà nước về du lịch Để từ đó, định hướng cho sự phát triển về mọi mặt của ngành du lịch, đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều cho nền kinh tế toàn tỉnh

Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công nhằm

góp phần vào giải quyết những vấn đề đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề quản lý nhà nước về du lịch đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu Sau đây là một số công trình tiêu biểu:

- Lê Long (2012), Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Trường Đại học kinh tế

và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái nguyên

- Nguyễn Thị Thùy (2013), Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Du lịch, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại

học Quốc gia Hà Nội

- Lê Anh Cường (2013), Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch ở Thành phố Hạ Long, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh, Đại học

Thái Nguyên

- Đỗ Hồng Thủy (2014), Quản lý nhà nước về bảo tồn khu di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia.

Trang 2

- Đỗ Lyna (2012), Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn

thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia

- Nguyễn Thăng Long (2009), Tăng cường quản lý nhà nước đối với ngành du lịch ở tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành

chính Quốc gia

- Nguyễn Thị Doan (2015), Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội, Luận

văn thạc sỹ Quản lý kinh tế, Trường Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Vũ Thị Hạnh (2012), Phát triển nhân lực du lịch Quảng Ninh 2011 – 2012, Luận văn

Thạc sỹ Du lịch, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Trần Nguyễn Tuyên (2005), Du lịch Việt Nam phát triển theo hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Tạp chí Quản lý Nhà nước, Số 114.

- Vũ Khoan (2007), Đưa du lịch trẻ thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2010, Tạp

không sao chép và trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu nào trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích

Trên cơ sở đánh giá thực trạng vấn đề quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Quảng Ninh để tìm ra các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa quản lý đối với du lịch trên địa bàn tỉnh Qua đó thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước

- Nhiệm vụ

+ Nghiên cứu những lý luận chung về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch

+ Nghiên cứu những kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của các tỉnh thành khác trong cả nước Từ đó, rút ra bài học cho Quảng Ninh

+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh, nêu lên những kết quả đạt được và những tồn tại của vấn đề, chỉ rõ nguyên nhân của vấn đề

+ Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian: Nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh + Thời gian: Nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về du lị.ch ở Quảng Ninh từ năm

2010 – 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật lịch sử, duy vật

biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng; Luật Du Lịch 2005; Luật Di sản văn hóa; cácnghị quyết của Chính phủ và một số văn bản pháp luật khác

Trang 3

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch Từ đó đánh giá thực trạng của vấn đề

+ Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp khảo sát tại một số nơi như bến cảng, bãi biển, khách sạn

+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia, cụ thể ở đây là những người có chức trách, làm việc tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh; hoặc chủ các hộ kinh doanh dịch vụ, du lịch (cửa hàng, công ty du lịch, chủ khách sạn…)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận:Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về du lịch

đối với Việt Nam và cấp tỉnh, ở đây là tỉnh Quảng Ninh;

- Ý nghĩa thực tiễn:

+ Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để các cá nhân, cơ quan ban ngành trong việc

nghiên cứu tình hình du lịch ở Quảng Ninh

+ Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối vơi hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Từ đó đưa ra được những việc đã làm được và chưa làm được, tìm ra nguyên nhân của vấn đề

+ Đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh, phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh

7 Kết cấu luận văn: Gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về du lịch

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 4

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

1.1 Các khái niệm cơ bản

đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.

Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of

Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…”

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất

cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm

ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”.

Các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách 2 nội dung

cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt:

- Thứ nhất, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch

- Thứ hai,du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế

Theo Luật Du lịch do Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 11,

kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[6].

1.1.2 Hoạt động du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm các hoạt động khá đa dạng từ dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lưu niệm và hàng hóa,…các dịch vụ này được gọi là hoạt động du lịch

Luật Du lịch năm 2005 đưa ra khái niệm về hoạt động du lịch như sau: “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư

và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch” [6].

1.1.3 Các loại hình du lịch

Trang 5

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường và trên cơ sở của tài nguyên du lịch có khả năng khai thác và các điều kiện phát triển du lịch, người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch

Việc phân chia các loại hình du lịch căn cứ vào những tiêu chí sau đây:

- Căn cứ vào phạm vi địa lý lãnh thổ:

+ Du lịch nội địa

+ Du lịch quốc tế

- Căn cứ vào mục đích của chuyến đi:

+ Du lịch tham quan văn hóa – lịch sử

+ Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch đến điểm du lịch

+ Căn cứ vào việc khách du lịch sử dụng phương tiện vận chuyển tại điểm đến du lịch

1.1.4 Quản lý nhà nước về du lịch

Quản lý nhà nước về du lịch là một lĩnh vực của quản lý nhà nước (QLNN), là hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước nhằm quản lý vi mô các hoạt động du lịch thông qua hệ thống các chính sách, chương trình, văn bản quy phạm pháp luật các văn bản chỉ đạo, điều hành về lĩnh vực du lịch nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực du lịch [5]

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp từ những quan điểm khác nhau về quản lý nhà

nước đối với hoạt động du lịch, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát như sau: “Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (qua

hệ thống pháp luật) đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra”[5] Quản lý nhà nước về du lịch nhằm đưa du lịch phát triển

theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước và theo quy định của pháp luật

1.1.5 Đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch

Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch diễn ra trong nền kinh tế thị trường

Để hoàn thành sứ mệnh của mình, Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,…và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý hoạt động

du lịch

Hai là, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…phát triển du lịch là cơ sở, là công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động du lịch

Trang 6

Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch và dùng các công cụ này để tác động vào lĩnh vực du lịch.

Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có trình độ, năng lực thật sự.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động du lịch phát triển Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước không thể khác hơn là phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương

Bốn là, quản lý nhà nước còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ quản lý

Nền kinh tế thị trường với những quan hệ kinh tế rất đa dạng và năng động đòi hỏi

có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt là khi vấn đề toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là mục tiêu mà các quốc gia hướng tới Trong bối cảnh đó, phải có một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế

1.2 Những nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về du lịch

Để du lịch thúc đẩy nhanh và bền vững, đảm bảo các mục tiêu về kinh tế, văn hóa,

xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội…quản lý nhà nước về du lịch có các nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp, do đó, nhà nước phải đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch và dùng công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, trở thành kinh tế mũi nhọn của quốc gia Nhà nước phải xác định được chiến lược tổng thể phát triển du lịch phù hợp với điều kiện đất nước, vừa phát huy được tính đặc thù, huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài

Thứ hai, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng từ các quy định chính sách, pháp luật của Nhà nước, buộc mọi người phải tuân thủ theo Để các quy định, chính sách đó đi vào cuộc sống thì Nhà nước phải xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chúng một cách nghiêm chỉnh.Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển Phải đảm bảo tính ổn định, bình đẳng và nghiêm minh trong quá trình thực thi văn bản quy phạm pháp luật

Thứ ba, quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các

cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch

Du lịch là hoạt động mang tính liên ngành, do đó quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử

Trang 7

lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động du lịch phát triển Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy quản lý nhà nước phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương, đồng thời các cơ quan trong bộ máy đó phải luôn được phối hợp chặt chẽ với nhau để đảm bảo du lịch luôn có sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động.

Thứ tư, tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc

tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch

Thứ năm, tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài.

Nâng cao tính liên kết là một điều kiện tất yếu để phát triển bền vững ngành du lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tính liên kết ngành, vùng và quốc gia Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ tạo nên một môi trường, cơ chế kinh doanh thuận lợi, công bằng Hơn nữa, cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư xây dưng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch của địa phương thông qua việc tổ chức các cuộc hội thảo, tổ chức các đoàn công tác kết hợp tham quan trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác trong nước hoặc nước ngoài…

Thứ sáu, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch

Cơ quan nhà nước phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra Để thực hiện tốt nội dung này, cơ quan nhà nước cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các điểm, khu du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành, đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về

du lịch trên địa bàn

1.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về du lịch

Để đảm bảo cho ngành kinh tế du lịch phát triển ổn định, phát huy được tối đa những lợi ích và những hạn chế, tiêu cực thì cần phải có sự quản lý của nhà nước.Nhà nước cần thể hiện vai trò của mình để đảm bảo ngành du lịch phát triển theo định hướng, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhà nước là người đại diện cho nhân dân để đảm bảo các quyền trong hiến pháp của công dân nói chung và văn hóa nói riêng, điều tiết sự phát triển hài hòa, phù hợp với sự phát triển của du lịch, lợi ích văn hóa của các nhóm xã hội, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn du lịch của các dân tộc, các vùng miền trên lãnh thổ cả nước.Sự quản lý của nhà nước đảm bảo cho du lịch phát triển ổn định, phát huy tối đa những lợi thế và hạn chế của những mặt trái Nhà nước định hướng sự phát triển của du lịch bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của hoạt động du lịch và ngành du lịch

Trang 8

Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu buông lỏng quản lý nhà nước để tự nó phát triển, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du lịch bền vững.

Như vậy, quản lý nhà nước về du lịch là việc làm không thể thiếu và thực sự rất cần thiết đối vợi sự phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển của ngành du lịch nói riêng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch

1.4.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Điều kiện tự nhiện là toàn bộ các điều kiện môi trường tự nhiên như: địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; nguồn động, thực vật phong phú; vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn… Đây là cơ sở cho quy hoạch phát triển du lịch và các biện pháp chính sách để phát triển sản phẩm du lịch, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch Những yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi đã giúp cho việc hoạch định phát triển du lịch và đưa ra thực thi các quyết định quản lý nhà nước về du lịch

1.4.2 Các yếu tố về kinh tế xã hội

Tình hình phát triển kinh tế của địa phương là nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển của du lịch và quản lý du lịch Khi kinh tế phát triển ổn định với môi trường chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp và du khách thuận lợi tham gia vào các hoạt động du lịch, điều đó cũng thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước Cơ sở vật chất

kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp cũng như chất lượng dịch vụ du lịch cung cấp cho khách hàng Các thành tựu kinh tế, chính trị cũng có sức thu hút đối với nhiều khách du lịch

1.4.3 Các yếu tố thuộc về đường lối phát triển du lịch

Đường lối phát triển du lịch được biểu hiện cụ thể qua các chính sách, chiến lược xác định phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch về tổng thể dài hạn như: chiến lược đầu

tư, xúc tiến, quảng bá du lịch, chiến lược về sản phẩm, nâng cao chất lượng các dịch vụ, giữ gìn tôn tạo và phát triển tài nguyên môi trường đi kèm với đó là những giải pháp cơ bản nhất để nhằm thực hiện chiến lược Nó góp phần hỗ trợ và giúp các nhà quản lý chủ động trong kế hoạch đầu tư phát triển ngành du lịch, tạo cơ sở xây dựng các quyết sách đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế

1.4.4 Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về du lịch

Bảo đảm quản lý nhà nước về du lịch có hiệu lực và hiệu quả thì nhân tố bên trong này rất quan trọng Nhân tố này được cấu thành bởi ba thành phần: (1) Tổ chức bộ máy; (2)

cơ chế hoạt động; (3) nguồn nhân lực quản lý; (4) nguồn lực cho quản lý Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch bản thân nó cũng là một hoạt động kinh tế khi nó cung cấp sản phẩm là các quyết định quản lý nhà nước Quá trình này cũng đòi hỏi phải có các nguồn lực để thực hiện Do đó số lượng điều kiện nguồn lực cũng quyết định tới chất lượng hoạt động của công tác quản lý nhà nước về du lịch

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của một số địa phương ở Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở Nha Trang

Nha Trang là một thành phố (TP) ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của Thành phố Nha Trang được chú trọng và đẩy mạnh.Trong năm 2015, quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố Nha Trang đã đạt được một số kết quả nhất định nhất là công tác đảm bảo môi trường du lịch lành mạnh, các hoạt động kiểm tra,

Trang 9

xử lý về kinh doanh lưu trú du lịch được tăng cường, hoạt động của Tổ Kiểm tra liên ngành chèo kéo, đeo bám khách du lịch được duy trì UBND thành phố văn bản chỉ đạo Ban Quản

lý Vịnh Nha Trang có kế hoạch chỉnh trang hoặc xây dựng mới nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn theo quy định tại khu vực bến tàu Du lịch Cầu Đá – Vĩnh Nguyên để phục vụ nhân dân và du khách UBND thành phố chỉ đạo các cơ quan, phòng, ban, UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch trên địa bàn thành phố Nha Trang

Để có được những hiệu quả tích cực về phát triển du lịch, Thành phố Nha Trang

đã có những biện pháp tích cực trong vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch Chính quyền địa phương đã xây dựng được các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cụ thể về phát triển du lịch tổng thể, lâu dài trên cơ sở bảo vệ môi trường, an toàn cho du khách Có chính sách tăng cường thu hút vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành du lịch Bên cạnh đó, chính quyền luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhằm đưa công nghệ thông tin hiện đại vào quản lý du lịch Thực hiện các chương trình tuyên truyền, quảng bá theo chuyên đề, kết hợp những sự kiện thể thao, văn hóa, lễ hội lớn trên toàn quốc và tham gia các hội trợ triển lãm, hội thảo du lịch trong nước và quốc tế để giới thiệu rộng rãi tiềm năng du lịch của tỉnh…

1.5.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở thành phố Vũng Tàu

Vũng Tàu là thành phố thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ở vùng Đông Nam Bộ Việt Nam Vũng Tàu là một thành phố ven biển, một địa điểm du lịch của miền Nam Việt Nam Vũng Tàu thích hợp cho những chuyến nghỉ ngơi, thư giãn vào cuối tuần hay các dịp lễ Thời gian qua, TP.Vũng Tàu đã đẩy mạnh quản lý nhà nước về du lịch, qua đó, môi trường văn hóa, kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố từng bước được cải thiện Nhằm nâng cao kỹ năng và cung cách phục vụ khách hàng, hàng năm, TP.Vũng Tàu phối hợp với

Sở Công thương tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng bán hàng và văn hóa kinh doanh cho cán bộ quản lý và nhân viên khách sạn, nhà hàng, quán ăn trên địa bàn thành phố

Tuy nhiên, để tạo bước đột phá cho du lịch TP.Vũng Tàu, thành phố cần đẩy mạnh hơn nữa việc quản lý môi trường du lịch an toàn, thân thiện để khách yên tâm; nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và cung cách phục vụ; duy trì tổ chức các lễ hội, giải thể thao, bóng chuyền bãi biển, festival diều quốc tế, lễ hội ẩm thực phố biển… một cách quy mô và lan tỏa trong cộng đồng để thu hút du khách Thành phố Vũng Tàu cần phát huy vai trò quản lý về du lịch đối với tất cả các đối tượng, mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh dịch vụ và dịch vụ du lịch trên địa bàn toàn thành phố Ngành du lịch cần tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành để tạo được sự chuyển biến đồng bộ trong hoạt động du lịch

1.5.3 Bài học kinh nghiệm rút ra có thể vận dụng cho quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Qua nghiên cứu tinh hình quản lý nhà nước về du lịch của một số địa phương trong nước có ngành du lịch phát triển, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Quảng Ninh, như sau:

Thứ nhất, phải xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho thời gian dài,

hợp lý; có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, và các chính sách khai thác tiềm năng thúc đẩy

du lịch phát triển

Trang 10

Thứ hai, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng thời tạo ra được các sản phẩm du

lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách Xã hội càng văn minh thì nhu cầu của du khách càng phong phú, đa dạng

Thứ ba, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch Mục đích của tuyên truyền,

xúc tiến trong kinh doanh du lịch là nhằm giới thiệu, hình thành và định hướng nhu cầu của

du khách đối với các sản phẩm du lịch của địa phương

Thứ tư, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp

với nhau để phát triển du lịch Trong bối cảnh Việt Nam trở thành thành viên chính thức của

tổ chức WTO, ngành du lịch phải đối mặt với những cạnh tranh ngày càng gay gắt Do vậy, liên kết, hợp tác du lịch giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp du lịch với nhau

để cùng phát triển trở nên cần thiết hơn bao giờ hết

Thứ năm, quan tâm đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch

ở địa phương

Thứ sáu, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động du

lịch, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch

Trang 11

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh là địa phương có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nói riêng và của cả nước nói chung, trong đó bao gồm cả phát triển ngành du lịch

Quảng Ninh là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam Tỉnh có địa hình đa dạng núi, rừng, bờ biển, cửa sông và hàng nghìn hòn đảo Nhìn chung, tỉnh có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cho phát triển du lịch Tỉnh Quảng Ninh có diện tích khoảng 12.000 km2, bao gồm 6.000 km2 đất liền và 6.000 km2 mặt biển với hơn 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, 80% diện tích đất của tỉnh là đồi núi, đường bở biển dài 250km.Dân số tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.177.200 người (năm 2012), có 22 thành phần dân tộc, trong đó có 06 dân tộc

có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cồng đồng và có ngôn ngữ, bản sắc dân tộc

rõ nét, đó là dân tộc Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất

Với những điều kiện tự nhiên và xã hội vốn có, Quảng Ninh sở hữu những tiềm năng lớn để trở thành một điểm đến du lịch chính của Việt Nam Trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Quảng Ninh chính là cửa ngõ thông sang thị trường Trung Quốc, một trong những thị trường lớn nhất thế giới

2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Quảng Ninh là nơi có rất nhiều cảnh quan đẹp nổi tiếng thuận lợi cho việc phát triển

du lịch, trong đó phải kể đến di sản thiên nhiên thế giới như Vịnh Hạ Long Quảng Ninh Vịnh Hạ Long là một tài nguyên du lịch đặc sản có nhiều giá trị nổi trội mang tầm quốc tế Năm 1994, Vịnh Hạ Long đượcTổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc(UNESCO) đưa vào danh mục Di sản Thiên nhiên Thế giới vì những giá trị mang tính toàn cầu về thẩm mỹ.Năm 2011, Vịnh Hạ Long tiếp tục được Tổ chức New 7 Wonders bầu chọn là một trong bảy Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới [21] Quảng Ninh có hệ thống tài nguyên du lịch biển đảo liên hoàn, trải dài 250 km nối liền các Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái

Tử Long, huyện đảo Vân Đồn, vườn Quốc gia Bái Tử Long, huyện đảo Cô Tô, bãi biển Trà

Cổ (Móng Cái) với rừng quốc gia Cát Bà (Hải Phòng) và hệ thống tài nguyên biển cuả Thành phố Hải Phòng Tài nguyên biển đảo Quảng Ninh có giá trị sinh học đa dạng, phong phú với hơn 400 loài hải sản kinh tế đặc trưng của Vịnh Bắc Bộ gồm nhiều loại hải sản quý như: hải sâm, bào ngư, ngọc trai, tôm, cua, cá, mực, hầu, hà,…Đây vừa là nguồn tài nguyên quý cho ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Quảng Ninh vừa là nguồn thực phẩm đặc trưng hấp dẫn, thường xuyên phục vụ các đối tượng khách du lịch và nhân dân trong tỉnh

Quảng Ninh còn có rất nhiều giá trị tự nhiên khác vô cùng đa đạng và phong phú: nước suối khoáng, hồ, hang động, núi, Địa hình Quảng Ninh có một số núi cao, đẹp, có thảm thực vật và hệ sinh thái đa dạng, có khả năng đầu tư phát triển du lịch, nổi bật là Núi

Trang 12

Yên Tử (Uông Bí), núi Bài Thơ (Hạ Long),…Quảng Ninh là một điểm đến vô cùng lý thú với khung cảnh vô cùng độc đáo, tự nhiên mà thiên nhiên đã ưu đãi Từ những thuận lợi mà thiên nhiên mang lại, Quảng Ninh đang chuyển mình thành điểm du lịch hấp dẫn, có sức lôi cuốn mạnh mẽ số lượng khách du lịch trong và ngoài nước.

2.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn

Bên cạnh tài nguyên du lịch gắn với tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh, cần phải đặc biệt kể đến tài nguyên du lịch nhân văn Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hóa lâu đời Nền văn hóa Hạ Long đã được ghi nhận trong lịch sử dựng nước của người Việt

Quảng Ninh được ví như Việt Nam thu nhỏ Xét về tính đa dạng dân tộc, tỉnh Quảng Ninh gồm có 22 dân tộc Các nhóm dân tộc này sống trong cộng đồng riêng của họ,

có phương ngữ riêng và các đặc tính dân tộc riêng Tính đa dân tộc với các tài sản văn hóa bao gồm kiến trúc địa phương, hàng thủ công mỹ nghệ như thêu thùa, đồ gốm, âm nhạc và các lễ hội

Toàn bộ giá trị lịch sử - văn hóa trên vùng đất Quảng Ninh được thể hiện khái quát thông qua hơn 600 di tích lịch sử - văn hóa các loại Trong đó đặc biệt có giá trị khai thác phục vụ phát triển du lịch là 04 di tích – danh lam thắng cảnh được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt bao gồm: Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long, Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Yên Tử, Di tích lịch sử Bạch Đằng và khu di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều Quảng Ninh có nhiều lễ hội văn hóa, dân gian truyền thống mang đặc trưng văn hóa Việt Nam

Cũng giống như các tỉnh, thành phố Việt Nam, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh phổ biến một số loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian truyển thống như dân ca, múa rối nước, thi đấu vật, chọi gà

Tóm lại, có thể thấy, với điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi, với tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, Quảng Ninh thực sự có thế mạnh đòn bẩy để phát triển du lịch và thực tế khách quan đã chứng minh rất rõ Tuy nhiên, vấn đề cần đặt ra là ngành du lịch là phải biết khai thác một cách bền vững, tận dụng một cách có hiệu quả nhất các điều kiện và tài nguyên đó Ngoài ra, cần phải có sự quản lý của cơ quan nhà nước trong vấn đề phát triển du lịch ngày một đi lên, để du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh

2.1.4 Thực trạng hoạt động du lịch của Quảng Ninh

Trong thời gian qua, hoạt động du lịch Quảng Ninh có những khởi sắc và chuyển biến tích cực, mang lại hiệu quả thiết thực; bước đầu đã xây dựng được thương hiệu hình ảnh du lịch của tỉnh; tạo việc làm ổn định cho hàng vạn lao động, góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Hoạt động du lịch Quảng Ninh ngày càng có

sự chuyển biến cả về lượng và chất, từng bước khẳng định được thương hiệu, vị thế, Quảng Ninh dần trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước

Khoảng 05 năm trở lại đây, ngành Du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triển mạnh mẽ thể hiện rõ qua tổng số khách du lịch đến với tỉnh này và doanh thu du lịch tăng mạnh qua từng năm Quy mô du lịch của Quảng Ninh phát triển nhanh, luôn giữ mức tăng trưởng khá và ổn định Từ năm 2011 đến nay, lượng khách du lịch đến tỉnh Quảng Ninh tăng dần, trung bình mỗi năm tăng khoảng 500.000 khách Trong giai đoạn 2013- 2015, tổng số lượng khách du lịch đến quảng ninh đạt 22,7 triệu lượt khách, tăng 12,75% so với giai đoạn 2010 – 2012 Tổng doanh thu trực tiếp từ lĩnh vực du lịch đạt 17.048 tỷ đồng, tăng 65% so với giai đoạn 2010 – 2012, thu xã hội qua hoạt động du lịch ước bằng 60% thu trực

Ngày đăng: 03/04/2017, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w