Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia nói chung và Quy hoạch phát triển điện lực, đặc biệt là phát triển nhiệt điện nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một tron
Trang 1Theo dự báo, sau 2015 Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng, đặc biệt là nhập khẩu than cho phát điện (Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến 2030) Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, GDP bình quân hàng năm sẽ tăng khoảng 7%, nhu cầu điện thương phẩm tăng giai đoạn 2016-2020 tăng khoảng 11,4%; giai đoạn 2021-2025 tăng khoảng 9,1%; giai đoạn 2026-2030 tăng khoảng 7,9%
Phát triển năng lượng phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đảm bảo đi trước một bước với tốc độ cao, bền vững, đồng bộ, đi đôi với đa dạng hóa các nguồn năng lượng và công nghệ tiết kiệm năng lượng là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển năng lượng gắn chặt với giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm thực hiện phát triển năng lượng bền vững
Để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn, các loại hình nguồn phát điện được quy hoạch đa dạng, đầy đủ nhằm khai thác triệt để, có hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp để đảm bảo an ninh năng lượng được Chính phủ quan tâm và định hướng các chủ trương phát triển năng lượng bền vững
Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia nói chung và Quy hoạch phát triển điện lực, đặc biệt là phát triển nhiệt điện nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế là một trong các nội dung quan trọng của QLNN về phát triển bền vững, bao gồm: an ninh năng lượng, khai thác sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với BĐKH… Tại Hội nghị thượng đỉnh khí hậu thế giới COP 21 (Thỏa thuận Paris, thông qua ngày 12/12/2015, đã đi vào lịch sử với sự đồng thuận 195 nước thành viên Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu), Thủ tướng Chính phủ cũng thể hiện trách nhiệm rất rõ ràng của Việt Nam đối với
cộng đồng thế giới: đối với giai đoạn sau năm 2020, mặc dù là một nước đang phát triển
còn nhiều khó khăn, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn cam kết giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và có thể giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp khắc phục các hạn chế tiêu cực để hoàn thiện quản lý nhà nước (QLNN) về phát triển các nhà máy nhiệt điện, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi
trường – phát triển bền vững là rất cần thiết Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về Phát triển Nhiệt điện ở Việt Nam” làm đề tài luận văn chuyên ngành quản
Trang 2lý công nhằm nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực QLNN về phát triển nhiệt điện đáp ứng nhu cầu phát triên kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng và gắn liền với bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn
Tác giả Mikkal E Herberg trong nghiên cứu an ninh năng lượng và châu Á-Thái Bình Dương (Energy security and Asia-Pacific) The National bureau of Asian Reseach
2015 đã khẳng định sự phát triển năng động của khu vực kéo theo nhu cầu về năng lượng
đã và đang đặt ra nhiều thách thức về an ninh năng lượng trong khu vực cũng như sự cần thiết phải có chính sách năng lượng kịp thời, hợp lý của các chính phủ để bảo đảm an ninh năng lượng, mỗi quốc gia cần phải có biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng nguồn năng lượng hiệu quả để bảo đảm duy trì động lực tăng trưởng và phát triển [30]
Đề án: “Điều chỉnh quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020”
có xét đến 2030 (QHĐ7ĐC) do Viện Năng lượng - Bộ Công Thương lập đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước đối với việc phát triển hệ thống điện quốc gia, huyết mạch của nền kinh tế và được nhấn mạnh thêm một số nhân tố thời đại Một trong những nội dung quan trọng mà đề án đã tập trung nghiên cứu là: Đa dạng hóa các nguồn năng lượng sơ cấp để sản xuất điện, trong đó ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, ) góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường [18]
Bài viết: “Quy hoạch hệ thống điện Việt Nam – nhìn từ phía an ninh năng lượng Quốc gia” của Ths.Nguyễn Anh Tuấn và KS Nguyễn Mạnh Cường, Viện Năng lượng,
2015 đã tập trung vào một số vấn đề: Hiệu chỉnh lại dự báo nhu cầu điện đến năm 2030
với mục tiêu giảm dần cường độ tiêu thụ điện, tăng hiệu quả sử dụng điện và hiệu quả đầu tư các công trình điện; tăng cường tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch: điện từ năng lượng tái tạo, từ khí đốt và khí hoá lỏng để giảm thiểu tác động đến môi trường, phát triển bền vững; nghiên cứu đề xuất các giải pháp mới về quy hoạch lưới truyền tải: liên kết lưới truyền tải Bắc-Trung-Nam, truyền tải công suất lớn từ các cụm nhiệt điện - điện hạt nhân từ duyên hải nam Trung bộ về Nam bộ, giảm dòng ngắn mạch [23]
Đề tài Khoa học và công nghệ: “Xây dựng các biện pháp kiểm soát khí nhà kính trong lĩnh vực Nhiệt điện đốt than (NĐĐT) và đề xuất lộ trình áp dụng các biện pháp kiểm soát” của Ths.Nguyễn Thị Thu Huyền và tập thể tác giả Trung tâm Tư vấn Nhiệt
điện - Điện hạt nhân Đề tài bao gồm những nội dung chính: Đánh giá tổng quan những
vấn đề liên quan như Công nghệ và thiết bị các nhà máy nhiệt điện than, Cơ chế quản lý, vận hành sản xuất và quản lý môi trường, đánh giá ảnh hưởng của BĐKH; Xây dựng bộ
tiêu chí đánh giá mức giảm phát thải khí nhà kính lĩnh vực nhiệt điện đốt than; đề xuất lộ
trình áp dụng biện pháp kiểm soát phát thải khí nhà kính lĩnh vực nhiệt điện đốt than [10]
Bài báo: “Phát triển nhiệt điện trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam” của
PGS.TS.Bùi Huy Phùng đã đưa ra những kiến nghị: Rà soát, đánh giá chính xác hơn tiềm
Trang 3cậy cao, tiến hành xây dựng cân bằng năng lượng sơ cấp (Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia), theo đúng Luật Điện lực 2013, làm cơ sở khoa học và pháp lý cho quy hoạch phát triển các phân ngành điện, than, dầu-khí; từ đó sẽ xác định được cơ cấu tối ưu sử dụng các nguồn năng lượng, cũng như cơ cấu nguồn điện cho cả giai đoạn quy hoạch [17]
Tuy nhiên, có thể nói, vấn đề QLNN về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, do đó việc nghiên cứu đề tài “Quản lý Nhà nước về Phát triển Nhiệt điện ở Việt Nam” vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có giá trị nhất định về lý luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường việc quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng QLNN về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam;
- Đề xuất một số giải pháp để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu về khai thác, sử dụng nhiên liệu truyền thống từ sản xuất, phân phối nhiệt điện ở 3 miền: Bắc-Trung-Nam của Việt Nam để đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
- Thời gian nghiên cứu: cho giai đoạn từ năm 2000 đến 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu, thống kê, so sánh, phân tích, đối chiếu và dự báo
6 Những đóng góp của Luận văn
Trang 4- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, bồi dưỡng cho các công chức, viên chức trong lĩnh vực QLNN về tài nguyên
và bảo vệ môi trường, năng lượng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc làm 03 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện nội dung Quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
Trang 5Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN
NHIỆT ĐIỆN Ở VIỆT NAM
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Nhiệt điện
Nhiệt điện là việc biến đổi nhiệt năng của nhiên liệu thành cơ năng rồi điện năng, quá trình biến đổi đó được thực hiện nhờ tiến hành một số quá trình liên tục (một chu trình) trong một số thiết bị của nhà máy nhiệt điện [5]
1.1.2 Vai trò của nhiệt điện
Nhiệt điện giữ một vai trò chủ đạo trong hệ thống điện quốc gia Từ cơ sở ban đầu sau tiếp quản (1954) là 31,5 MW, đến hết năm 2013, chỉ tính riêng nguồn nhiệt điện, tổng công suất đã lên tới 15.539 MW, gấp 500 lần Nhiệt điện chiếm trên 50% tổng công suất trong toàn bộ hệ thống nguồn của cả nước, luôn là nguồn điện năng chủ yếu, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống điện quốc gia Năm 1985, công suất lắp đặt của cả nước
là 1.605,3 MW thì nhiệt điện, bao gồm nhiệt điện than, dầu, tua bin khí chiếm tới 81,9% cơ cấu nguồn, với 70% sản lượng điện của cả nước Đến năm 1995, toàn bộ hệ thống có 4.549,7 M, nhiệt điện chiếm 36,6% cơ cấu nguồn và 20% sản lượng của cả nước
Tuy nhiên, việc phát triển nhiệt điện cũng đứng trước thách thức không nhỏ khi nguồn than và khí trong nước sẽ không đủ cung cấp cho các nhà máy điện, phải nhập khẩu nhiên liệu Do đó, việc đảm bảo ổn định, lâu dài nguồn nhiên liệu than, khí, trong
đó có nguồn nhiên liệu nhập khẩu, cung cấp ổn định cho các nhà máy nhiệt điện sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm bảo đủ điện cho phát triển đất nước
1.1.3 Khai thác, sử dụng nhiệt điện
Việt Nam là nước có tiềm năng về dầu mỏ lớn thứ 3 và có trữ lượng dầu thô đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á Trước đây, khi nhà máy nhiệt điện dầu được xây dựng chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, tuy nhiên hầu hết dầu mỏ ở nước ta sẽ không sử dụng làm nhiên liệu chính để sản xuất điện trong tương lai
Và với tiềm năng và trữ lượng than lớn thứ 2 tại ASEAN, chỉ sau Indonesia, 90% sản lượng than khai thác ở Việt Nam tập trung ở bể than Đông Bắc, do đó đến nay hầu hết các nhà máy nhiệt điện than đều tập trung ở miền Bắc, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Ninh Trong đó có các nhà máy lớn như Quảng Ninh 1 (600 MW), Quảng Ninh 2 (600 MW), Phả Lại 1+2 (1.040 MW)
Ngoài ra, nước ta cũng có trữ lượng khí đốt rất lớn, tỷ số thời gian đảm bảo khai thác lớn nhất Đông Nam Á, lên đến 63,3 năm Các nhà máy nhiệt điện khí lại tập trung nhiều ở khu vực phía Nam, gần các bể khí do PVN đang khai thác Điểm nổi bật của các nhà máy nhiệt điện khí này là thường là tập trung thành cụm nhằm khai thác tối đa hệ thống đường ống vận chuyển khí của PV GAS, do đó hình thành các Trung tâm điện lực (TTĐL) lớn như TTĐL Dầu khí Nhơn Trạch (1.215 MW) và TTĐL Phú Mỹ (4.015 MW) gần 2 bể khí Cửu Long và Nam Côn Sơn; TTĐL Ô Môn (2.800 MW) và nhiệt điện khí
Cà Mau (1.500 MW) gần khu vực bể khí Malay – Thổ Chu [3]
Trang 6Chính đặc điểm trên cũng giải thích cho việc quy hoạch và phát triển nguồn điện của nước ta trong tương lai Nếu như trước đây, xu hướng xây dựng các nhà máy Nhiệt điện là gần khu vực các mỏ than và khí, nhằm tận dụng tối đa lợi thế về nguồn nhiên liệu Tuy nhiên
sẽ đánh đổi lại việc không tối ưu được giữa vị trí nguồn điện với khu vực tiêu thụ
Trong tương lai, việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện sẽ không phải phụ thuộc vào vị trí các mỏ nhiên liệu như hiện tại do chuyển sang xu hướng nhập khẩu nhiên liệu cho sản xuất điện Các trung tâm điện lực lớn (chủ yếu là nhiệt điện than) sẽ được xây dựng dọc theo vùng duyên hải miền Trung và phía Nam nhiều hơn nhằm thuận lợi cho việc nhập khẩu nhiên liệu (than dự kiến nhập từ Australia và Indonesia) và gần các khu vực tiêu thụ điện lớn như miền Nam để giảm áp lực cung ứng cho đường dây 500kV cũng như Hệ thống điện Quốc gia
1.1.4 Sản xuất, phân phối nhiệt điện
1.1.4.2 Nhiệt điện than
Đứng thứ 2 trong cơ cấu các nguồn nhiệt điện nước ta, nguồn nguyên liệu hiện nay toàn bộ được mua từ nguồn than đá trong trong nước của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam với giá ưu đãi, trong tương lai cùng với sự phát triển của các dự án này thì nhiều khả năng nước ta sẽ phải nhập khẩu thêm nguồn than bên ngoài
Chi phí nhiên liệu để vận hành các nhà máy nhiệt điện than thấp hơn nhiều so với nhiệt điện khí khoảng 60% để đạt được cùng mức công suất và nhiệt lượng Do đó nhiệt điện than là nguồn năng lượng được ưu tiên sử dụng thậm chí hơn cả thủy điện do tính ổn định
1.1.4.3 Nhiệt điện dầu, khí
Các nhà máy nhiệt điện dầu thường được xây dựng chung trong tổ hợp các khu nhiệt điện khí, dầu như khu tổ hợp điện dầu khí Phú Mỹ, Nhiệt điện Ô Môn 1,2,3,4, Nhiệt điện Bà Rịa do chi phí sản xuất điện cao nên nhiệt điện dầu chỉ được khai thác nhằm bù đắp lượng điện thiếu tức thời, do đó đóng góp trong cơ cấu nhiệt điện của nhóm này là thấp
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Về tổng thể, QLNN có thể hiểu là sự tác động tổ chức mang tính quyền lực - pháp
lý của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức khi được nhà nước trao quyền tới ý thức, hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức, cơ quan, tới các quá trình xã hội hướng chúng vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định của QLNN và
xã hội Cũng cần phải lưu ý là sự tác động này không phải là sự tác động một chiều mà
có sự tác động hai chiều giữa chủ thể QLNN và đối tượng QLNN nhằm tạo sự hài hòa về lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và các đối tượng có liên quan
Trang 7Từ cách tiếp cận này, QLNN về phát triển nhiệt điện có thể được hiểu là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước, trên cơ sở pháp luật do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước uỷ quyền nhằm bảo đảm nguồn nhiệt điện cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Thứ nhất, tạo khung thể chế, pháp lý cho sự phát triển của nhiệt điện, thị trường nhiệt điện nhằm điều tiết bảo đảm sự cạnh tranh công bằng trên thị trường nhiệt điện
Thứ hai, hoạt động QLNN về nhiệt điện phân biệt rõ hoạt động quản lý kinh doanh nhiệt điện
Thứ ba, hoạt động QLNN về nhiệt điện sẽ giải quyết được những tồn tại của ngành điện quốc gia nói chung và nhiệt điện nói riêng Nhiệt điện Việt Nam vẫn còn những hạn chế, xuất hiện tình trạng mất cân đối giữa các nguồn nhiên liệu, giữa cung ứng
và nhu cầu, giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn đầu tư
Thứ tư, hoạt động QLNN khắc phục hạn chế sự chồng chéo trong phát triển ngành điện Nhà nước có vai trò tạo động lực cạnh tranh quốc gia; thiết lập hạ tầng đồng bộ chi phí thấp; tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giá cả cạnh tranh
1.2.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Thực hiện QLNN về phát triển nhiệt điện phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, bảo đảm tính hệ thống: Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất hệ thống của đối tượng quản lý Nhiệt điện là một quá trình biến đổi nhiên liệu phức tạp
- Thứ hai, bảo đảm tính tổng hợp: Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở tác động tổng hợp của hoạt động phát triển lên đối tượng quản lý (hệ thống các nhiên liệu tạo ra nhiệt điện)
- Thứ ba, bảo đảm tập trung dân chủ: Đây là một trong các nguyên tắc cơ bản của QLNN về phát triển nhiệt điện nói riêng, QLNN nói chung QLNN về phát triển nhiệt điện được thực hiện ở nhiều cấp khác nhau
- Thứ tư, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ: nhiệt điện nói riêng và ngành điện năng nói chung do Bộ công thương quản lý và sử dụng
- Thứ năm, kết hợp hài hòa các lợi ích: như chúng ta đã biết, quản lý phát triển nhiệt điện trước hết là quản lý các hoạt động phát triển do con người tiến hành, là tổ chức
và phát huy tính tích cực hoạt động của con người vì mục tiêu phát triển bền vững
- Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý phát triển nhiệt điện với quản
lý kinh tế, quản lý xã hội
- Thứ bảy, tiết kiệm và hiệu quả: QLNN về phát triển nhiệt điện đòi hỏi nguồn lực lớn, trong khi đó, nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội cũng ngày càng cao
1.2.4 Đặc trưng quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Thứ nhất, QLNN về phát triển nhiệt điện là quản lý một loại hàng hóa đặc biệt
Giá trị sử dụng của hàng hóa nhiệt điện khác với các loại hàng hóa khác Sự biến động của giá nhiệt điện có tác động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Ở góc độ kinh
tế học, lạm phát do chi phí đẩy phần lớn bắt nguồn từ những biến động của giá nhiệt điện Biến động về giá nhiệt điện tạo ra sự biến động về giá của chuỗi hàng hóa Bên cạnh đó, hàng hóa nhiệt điện trong nước có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường quốc tế và rất nhạy
Trang 8cảm với các biến động của đời sống kinh tế - xã hội Chính vì vậy, nhà nước cần phải có
sự nhạy bén, linh hoạt trong hoạt động quản lý, có khả năng phản ứng chính sách kịp thời trước sự biến động ấy
Thứ hai, nhiệt điện là hàng hóa có tính liên thông, kết nối chặt chẽ trong cả nước,
đa dạng về chủng loại, liên quan đến nhiều quá trình, nhiều chủ thể và có yếu tố cấu thành giá phức tạp Hoạt động QLNN về nhiệt điện phải có những công cụ và phương thức quản lý phù hợp với đặc điểm của hàng hóa nhiệt điện Quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh, truyền tải cần có sự can thiệp của nhà nước với mức độ khác nhau và không giống nhau giữa từng nguồn nhiên liệu sản xuất ra nhiệt điện Vì vậy, hoạt động QLNN phải vừa bảo đảm tính thống nhất trong ngành điện vừa phải có những sự điều chỉnh cụ thể, linh hoạt đối với từng loại nhiệt điện
Thứ ba, QLNN về nhiệt điện cần bảo đảm ngành điện đi trước các ngành khác, vì vậy, yêu cầu dự báo, dự đoán về nhiệt điện cần phải được đặc biệt chú ý Hoạt động QLNN cần phải tạo ra sự chủ động cho ngành điện Sự ứng phó, đối phó mang tính chất tình thế về nhiệt điện về lâu dài sẽ tạo ra những hệ lụy cho nền kinh tế và đời sống xã hội
Thứ tư, QLNN về nhiệt điện liên quan đến cơ quan quản lý chức năng và cơ quan quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật và các cấp hành chính Hoạt động QLNN về nhiệt điện liên quan trực tiếp đến cơ quan QLNN trên các chủng loại năng lượng, cơ quan quản lý tài chính, cơ quan về kế hoạch, đầu tư Chính vì vậy, hoạt động QLNN về nhiệt điện cần
có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, các ngành, lĩnh vực
Thứ năm, QLNN về nhiệt điện đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành và lãnh thổ Năng lượng là một khối thống nhất, vì vậy, việc quản lý cần bảo đảm tính thống nhất, không thể chấp nhận sự phân khúc, cắt đoạn trong QLNN về nhiệt điện
1.2.5 Nội dung cơ bản quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhiệt điện, bảo đảm cung cấp đủ điện năng cho phát triển kinh tế-xã hội
- Xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về nhiệt điện trong khu vực; mở rộng kho dự trữ xăng dầu; kết hợp an ninh năng lượng với bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia
- Tổ chức bộ máy QLNN về nhiệt điện
- Hỗ trợ, tạo điều kiện, can thiệp và điều tiết đối với sự phát triển của nhiệt điện
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động liên quan về nhiệt điện
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện của một số quốc gia
1.3.1 Mỹ
Chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng công bố một kế hoạch nhằm đối phó với biến đổi khí hậu, theo đó cắt giảm 30% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong 15 năm tới Ngoài ra, Mỹ cũng quyết định hạn chế đầu tư cho các dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá ở nước ngoài, đồng thời kêu gọi các tổ chức quốc tế và các nước cho vay hạn ngạch khí thải carbon sớm thực hiện các bước đi tương tự Than đá hiện đóng góp tới 42% sản lượng điện của Mỹ nhưng cũng là nguồn thải ra lượng khí CO2 lớn nhất tại các nhà máy điện, chiếm tới 83%
Trang 9Hiện nay, Bộ Năng lượng Mỹ đang triển khai Chương trình nghiên cứu công nghệ than nhằm mục đích hỗ trợ sự phát triển và thương mại hóa các công nghệ tiên tiến, giá thành thấp cho các quá trình đốt than, khí hóa than và khống chế mức phát tán ô nhiễm do đốt than Chương trình này sẽ áp dụng cho cả các nhà máy nhiệt điện hiện có và các nhà máy sắp xây dựng thế hệ mới Trong thực tế, từ chương trình trên, một số công nghệ cao cấp cho mục đích kiểm soát ô nhiễm môi trường khi đốt than (ví dụ các vòi đốt với mức phát tán NOx thấp và các hệ thống tách lưu huỳnh từ khí ống khói ở các nhà máy đốt than nghiền mịn thông thường) đã được thương mại hóa và áp dụng rộng rãi
1.3.2 Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có than antraxit nội địa tương tự than của Việt Nam nhưng sản lượng thấp và không đều nên hàng năm vẫn nhập khẩu than antraxit của nước ta, than bitum của Úc và á bitum của Nga, Mỹ, Nam Phi, Columbia và Indonesia
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu đốt than được Hàn Quốc tiến hành chính tại lò hơi đang sử dụng Các lò hơi này trước đây được thiết kết đốt than antraxit, bitum hoặc á bitum, tức là lò hơi đốt than bột hoặc lò hơi lớp lỏng tầng sôi Hàn Quốc đã đốt thử nghiệm than trộn trên các nhà máy đã có sẵn Tại Nhà máy nhiệt điện Dang-jin có 5 nhà máy nhỏ Trong đó, tổng công suất của các nhà máy 1,2 và 3 là 3.000 MW, mỗi nhà máy
có 2 tổ máy, mỗi tổ máy 500 MW Công suất nhà máy số 4 là 2.000 MW, gồm hai tổ máy, mỗi tổ máy 1.000 MW
Để được tham gia thỏa thuận này, các doanh nghiệp phải được Cơ quan Năng lượng Đan Mạch đưa vào danh sách các doanh nghiệp có cường độ tiêu thụ năng lượng lớn và có thuế năng lượng vượt quá 4% giá trị gia tăng của DN trong năm trước khi tham gia thỏa thuận
1.3.4 Một số gợi ý cho Việt Nam
Từ những kinh nghiệm của một số nước đang phát triển và phát triển, nhận thấy Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật về năng lượng và môi trường
Kiện toàn về tổ chức, hoạt động của hệ thống QLNN về nhiệt điện, cũng như bộ máy tổ chức của Tổng cục năng lượng, Cục điều tiết điện lực để có thể thực hiện hoạt động QLNN một cách hiệu quả nhất
Và để đảm bảo an toàn cung cấp năng lượng, việc xây dựng kế hoạch phát triển năng lượng dài hạn và chính sách năng lượng quốc gia đã trở thành nhu cầu cấp bách, và mang tính chiến lược
Để phát triển ngành điện bền vững, đảm bảo an ninh cung cấp điện, việc đẩy mạnh thực hiệu quản lý nhu cầu điện và sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả là giải pháp quan trọng nhằm giảm công suất, sản lượng tiêu thụ điện, tránh quá tải lưới điện Vì vậy,
Trang 10Việt Nam cần nghiên cứu và thí điểm điều chỉnh phụ tải điện trong giai đoạn cao điểm, đảm bảo an ninh cung cấp điện Việc tích hợp các giải pháp công nghệ tự động điều chỉnh phụ tải ADR vào lưới điện của Việt Nam sẽ cho phép các nhà cung cấp giảm thiểu nhu cầu điện năng trong giờ cao điểm bằng cách làm việc với khách hàng để giảm thiểu
và chuyển hướng nhu cầu tiêu thụ điện năng
Ngoài ra, với vấn đề tiết kiệm năng lượng tại các nhà máy nhiệt điện cần ứng dụng sản phẩm công nghệ mới E-Plus làm phụ gia cho các lò đốt than, dầu và khí của các nhà máy Sản phẩm đã được ứng dụng tại các nhà máy nhiệt điện của Đài Loan và đã thử nghiệm tại một số đơn vị ở Việt Nam Kết quả thử nghiệm ở Việt Nam cho thấy, khả năng tiết kiệm than của các nhà máy từ 3,5 - 12%, lượng dầu đốt tiết kiệm 12 - 20%, lượng phát thải khí độc hại công nghiệp giảm đáng kể
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Quá trình xây dựng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và các Quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam, trong đó có phát triển nhiệt điện phải dựa trên các yếu tố sau: nhu cầu năng lượng để đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiềm năng các nguồn năng lượng sơ cấp trong nước, hợp tác quốc tế về năng lượng (xuất/nhập khẩu năng lượng), phát triển năng lượng/điện phải gắn liền với bảo vệ môi trường – phát triển bền vững
Hiện nay ở nước ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu đó là thủy điện và nhiệt điện Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: nhiệt điện than, nhiệt điện khí và nhiệt điện dầu
Trong chương 1, tác giả đã trình bày một số khái niệm cơ bản như: nhiệt điện, vai trò của nhiệt điện trong quá trình cung ứng điện năng tại Việt Nam, cách thức khai thác, sản xuất, phân phối nhiệt điện… Luận văn cũng đi sâu nghiên cứu nội dung QLNN về phát triển nhiệt điện Vai trò của QLNN về nhiệt điện Các nguyên tắc, sự cần thiết của QLNN về lĩnh vực này
Ngoài ra, luận văn đã tìm hiểu kinh nghiệm QLNN về nhiệt điện tại một số quốc gia như: Đan Mạch, Hàn Quốc, Mỹ để làm cơ sở đối với Việt Nam trong hoạt động QLNN về phát triển nhiệt điện
Từ đó, có một số gợi ý cho công tác QLNN về an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường Cụ thể như: phát triển năng lượng đi đôi với bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái Đảm bảo phát triển bền vững ngành Năng lượng; Phát triển nhanh ngành Năng lượng theo hướng đồng bộ, hiệu quả, trên cơ sở phát huy nguồn nội lực kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế; Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nguồn điện trên cơ sở tiềm năng năng lượng sẵn có ở Việt Nam, hạn chế phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu…
Ngoài ra, cần kiện toàn lại tổ chức cho hệ thống QLNN về nhiệt điện: từ Bộ chủ quan đến các Sở và ban ngành/công ty phục trách về lĩnh vực này
Trang 11Chương 2:
THỰC TRẠNG NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÁT TRIỂN NHIỆT ĐIỆN Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan tình hình tiêu thụ điện năng ở Việt Nam
2.1.1 Vị trí, điều kiện kinh tế - xã hội
Hiện nay, vị trí xây dựng của các nhà máy điện đều phụ thuộc rất lớn vào sự phân
bổ của nguồn tài nguyên thiên nhiên, do đó có sự phân hóa rõ rệt về vùng miền
Bắc bộ là khu vực có tiềm năng khá lớn về tài nguyên than, bao gồm than
Anthracite phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, Sông Đà, Nông Sơn, với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn
Trung Bộ tuy không sẵn các nguồn nhiên liệu để sản xuất điện năng, nhưng lại có
nhiều cảng, thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu than, nên vẫn là sự lựa chọn của các nhà đầu tư để xây dựng các nhà máy nhiệt điện Và nổi bật hơn cả là khu kinh tế Vũng Áng Phát huy vị trí đắc địa trong chiến lược phát triển điện năng quốc gia, Vũng Áng đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các công trình nhiệt điện mang tầm cỡ lớn Theo quy hoạch phát triển năng lượng của Chính phủ, đến năm 2020, Vũng Áng sẽ trở thành một trong những trung tâm nhiệt điện lớn của quốc gia, với tổng công suất 6.450 MW Khu kinh tế Vũng Áng là nơi thuận tiện cho việc cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy qua các cầu cảng (yếu tố quyết định đến tính hiệu quả của dự án nhà máy nhiệt điện)
Nam bộ có thềm lục địa là khu vực có tiềm năng dầu khi lớn Trữ lượng dầu khí
tập trung chủ yếu trong 3 bể trầm tích chính:
2.1.2 Khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản
2.1.2.1 Than đá
Về mặt lý thuyết, Việt Nam là nước có tiềm năng khá lớn về tài nguyên than, bao gồm than Anthracite phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, Sông Hồng, Nông Sơn, với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn Bể than Quảng Ninh là lớn nhất với tài nguyên trữ lượng đạt trên 9 tỷ tấn, trong đó hơn 4 tỷ tấn than đã được thăm dò và đánh giá đảm bảo độ tin cậy Bể than Quảng Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu Than á bitum ở phần lục địa trong
bể than sông Hồng tính đến chiều sâu -1.700m (so với mực nước biển) có trữ lượng đạt 36,96 tỷ tấn và có thể đạt đến 210 tỷ tấn nếu tính đến độ sâu -3.500m Than bùn có tổng trữ lượng khoảng 7,1 tỷ tấn (70% tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long)
Hiện nay, toàn bộ sản lượng than khai thác bằng 2 phương pháp: lộ thiên và hầm
lò, bao gồm 24 mỏ lộ thiên và 49 mỏ hầm lò, chủ yếu tập trung ở Bể than Đông Bắc (tỉnh Quảng Ninh) và các mỏ than ở khu vực phía Bắc (Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nông Sơn) Nhiều năm liền, Việt Nam luôn nằm trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu than nhiều nhất Thế giới, tuy nhiên sản lượng khai thác cũng như xuất khẩu đang giảm dần qua các năm Cụ thể năm 2010, tổng sản lượng than sản xuất đạt 46,98 triệu tấn đã giảm xuống chỉ còn 37,5 triệu tấn than nguyên khai vào năm 2014 (giảm 20,2%)
Trang 122.1.2.2 Dầu mỏ
Đến nay, Việt Nam được đánh giá là quốc gia thuộc nhóm nước có nhiên liệu về dầu và khí Theo thống kê của BP, trữ lượng dầu mỏ của Việt Nam chiếm 0,3% tổng trữ lượng toàn Thế giới Theo đánh giá của ngành dầu khí, tổng trữ lượng dầu khí có thể đưa vào khai thác ở nước ta khoảng 3,8 – 4,2 tỷ tấn dầu quy đổi (TOE), trong đó trữ lượng đã xác minh khoảng 1,05 – 1,14 tỷ TOE Tiềm năng dầu khí của Việt Nam nằm ở 7 bế chính
là Cửu Long, Nam Côn Sơn, Phú Khánh, MaLay Thổ Chu, Sông Hồng, Hoàng Sa và Trường Sa Ở khu vực miền Bắc và miền Trung, tính khả thi và triển vọng thương mại của các nguồn khí không có độ tin cậy cao Do đó hầu hết trữ lượng khí ở nước ta được khai thác ở khu vực miền Nam với hệ thống đường ống vận chuyển, kho chứa được đầu
tư phát triển tương đối đầy đủ
2.1.2.3 Khí đốt
Khí đốt cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện đều được khai thác từ 3 bể khí chính
là Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay Thổ Chu Bể Cửu Long là bể được khai thác lâu đời nhất và có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất Bể Malay Thổ Chu có tiềm năng khí đốt rất lớn Về cơ cấu, khí đốt chiếm 60% tổng trữ lượng, tương đương với 21,8 nghìn tỷ m3 khí Với tiềm năng đó, nếu với nhu cầu tiêu thụ khí hiện tại không thay đổi, các nguồn khí của Việt Nam còn có thể sử dụng đến 63,3 năm Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn khí mới ngày càng khó khăn, chi phí đầu tư rất lớn, để đưa vào sử dụng cần cân đo đong đếm giữa lợi ích kinh tế, cộng với việc các mỏ khí hiện tại ngày càng cạn kiệt dẫn đến thời gian sử dụng chắc chắn sẽ không đạt được con số trên
2.1.3 Khả năng sản xuất, phân phối điện năng
Một nhà máy nhiệt điện than 1.000 MW tiêu thụ bình quân 3 triệu tấn than/năm Tạm bỏ qua những sai lệch so với thực tế của quy hoạch điện VII điều chỉnh, nhu cầu than cho ngành điện đến năm 2020 là 64,1 triệu tấn cho 26.000 MW nhiệt điện than Nhu cầu này sẽ tăng lên 131 triệu tấn khi tổng công suất nhiệt điện than tăng lên đến 55.300
MW vào năm 2030 Trong khi đó theo quy hoạch của ngành than thì lượng than thương phẩm sản xuất của toàn ngành năm 2020 chỉ đạt 60 – 65 triệu tấn và trên 75 triệu tấn năm
2030 Do đó có thể thấy nguồn than trong nước sẽ không thể đáp ứng đủ cho ngành điện
và buộc phải nhập khẩu, điều này sẽ khiến chúng ta khó tự chủ về sản lượng cũng như giá than trong tương lai