1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tình xiêng khoảng, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

95 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nhưng mỗi công trình tiếp cận ở các các góc độ khác nhau, song đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

KHAMLA KEODAVANH

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

KHAMLA KEODAVANH

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Luận văn không sao chép từ các công trình nghiên cứu khác Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tôi xin cam đoan!

Người viết luận văn

KHAMLA KEODAVANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Phượng, người đã tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành Luận văn này

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo, các cán bộ Học viện Hành chính quốc gia, nơi tác giả theo học, đã rất nhiệt tình giảng dạy truyền thụ những kiến thức cơ bản và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình học tập và nghiên cứu của tác giả tại Việt Nam Cảm ơn thày

cô giáo Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính quốc gia

Ngoài ra, tác giả cũng chân thành cảm ơn đồng nghiệp đã giúp đỡ, ủng

hộ tác giả trong quá trình học tập và viết luận văn

Một lần nữa, tác giả xin cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 CHDCND: Cộng hòa dân chủ nhân dân

2 CNH - HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3 QLNN: Quản lý nhà nước

4 UBND: Ủy ban nhân dân

5 XĐGN: Xóa đói giảm nghèo

6 XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 6

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nông thôn 6

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển nông thôn 11

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển nông thôn 16

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 18

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về phát triển nông thôn 18

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông thôn 20

1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước về phát triển nông thôn 28

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 31

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 31

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

1.3.3 Điều kiện về nguồn nhân lực 32

1.3.4 Điều kiện về xu thế hội nhập 33

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 35 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH XIÊNG KHOẢNG 35

2.2 THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG 36

Trang 7

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng

Khoảng 36

2.2.2 Hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng 38

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG 46

2.3.1 Kết quả đạt được 46

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 51

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 56

3.1 QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG 56

3.1.1 Quan điểm phát triển nông thôn 56

3.1.2 Mục tiêu phát triển nông thôn 58

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TỈNH XIÊNG KHOẢNG 62

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phát triển nông thôn 62

3.2.2 Hoạch định chiến lược phát triển nông thôn 68

3.2.3 Gắn việc phát triển nông thôn với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội 74

3.2.4 Phân cấp quản lý nhà nước về phát triển nông thôn 76

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Nông thôn là vấn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến an ninh lương thực, mà còn liên quan đến nền tảng xã hội, truyền thống của đất nước Trong một xã hội mà dân cư nông thôn và lao động nông nghiệp chiếm đại bộ phận thì việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải diễn ra có những đặc điểm đặc thù Với các chính sách mới trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, thi hành Luật Đất đai, phát triển kinh tế trang trại, … tạo ra nền tảng cho kinh tế nông nghiệp và nông thôn có nhiều chuyển biến lớn, góp phần làm cho kinh tế đất nước dần đi vào ổn định Trên thực thế, phát triển nông nghiệp

có liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, phân hóa xã hội quá mức thì

dù có đạt được sự tăng trưởng cao cũng chưa thể coi là đã có phát triển Hơn thế nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công được

Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là quốc gia với sản xuất nông nghiệp chủ yếu, diện tích Lào khoảng 26 nghìn km2, trong đó nông thôn chiếm phần lớn Do đó, Đảng nhân dân cách mạng Lào đã đặt vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển Một khi chưa tạo ra được chuyển biến của khu vực kinh tế này thì không thể có được sự phát triển bền vững Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước đã chủ trương phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng chuyên canh, cơ cấu cây trồng hợp lý, đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa về số lượng và tốt về chất lượng Hiện nay, nông thôn Lào có nhiều thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống của nhân dân ở nông thôn được nâng cao Tuy nhiên, nông thôn Lào

Trang 9

vẫn trong tình trạng tự cung, tự cấp, sản xuất nhỏ lẻ, cuộc sống còn lạc hậu, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, tình trạng phát triển nông thôn thiếu quy hoạch, môi trường ô nhiễm, hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hâu, yếu kém, đang là những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của khu vực nông thôn ở Lào giai đoạn hiện nay

Tỉnh Xiêng Khoảng là vùng nông thôn có vị trí quan trọng, có tiềm lực phát triển về kinh tế, du lịch, dịch vụ là rất lớn Nơi đây có các địa danh nổi tiếng có tiềm năng về du lịch như cánh đồng Chum Xiêng Khoảng, các căn cứ địa cách mạng thời kháng chiến, Bên cạnh đó có hệ thống đường quốc lộ phát triển, dọc theo đường 13 nối liền với các tỉnh lân cận, rất thuận lợi cho phát triển, giao thương với các vùng trong cả nước Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động và tổ chức nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Ở Xiêng Khoảng

do xuất phát điểm là tỉnh có đa phần người dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp, đời sống còn nghèo, tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn Không những vậy, trong thời gian qua khoảng cách giàu nghèo, sự phát triển không đồng đều giữa khu vực thành thị và nông thôn trong tỉnh ngày càng sâu sắc

Vì vậy đã đặt ra nhu cầu phải có biện pháp, chính sách thúc đẩy phát triển nông thôn, đảm bảo cho các vùng nông thôn trong tỉnh có bước phát triển mới, đáp ứng yêu cầu của đổi mới, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng trong tỉnh, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn Do đó việc quản lý nhà nước để thúc đẩy phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng càng đặt ra bức thiết Trước thực trạng như vậy, để quản lý vấn đề phát triển nông thôn ở tỉnh

Xiêng Khoảng tốt hơn, tác giả chọn đề tài “Giải pháp quản lý nhà nước về

phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”, để làm đề tài luận văn của mình

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề nông thôn và quản lý nông thôn đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có nhiều công trình ở Lào và Việt Nam đã được công bố như:

- Phan Đại Đoàn: “Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số

vấn đề và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản 1996 Đề cập vấn đề nông thôn nhưng tác giả tiếp cận theo góc độ quản lý xã hội ở nông thôn, trên cơ sở các vấn đề về xã hội ở nông thôn, tác giả luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp để quản lý

- Phạm Kim Giao:“Quản lý nhà nước về nông thôn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 2008 Cũng đề cập vấn đề quản lý nông thôn nhưng tác giả đi theo hướng quản lý nhà nước

- Nguyễn Văn Thụ: “Biến đổi xã hội nông thôn dưới tác động đô thị

hóa và tích tụ ruộng đất”, Nhà xuất bản Đồng Nai, năm 2009 Tác giả đánh giá sự tác động của đô thị hóa đối với vấn đề xã hội ở nông thôn Như vậy cũng đề cập vấn đề nông thôn, tác giả tiếp cận theo hướng những thay đổi về

xã hội ở nông thôn do đô thị hóa

- Đỗ Đức Viên: “Quy hoạch xây dựng và phát triển điểm dân cư nông thôn”, Nxb Xây dựng, năm 1997 Nhằm xây dựng nông thôn mới, tác giả đề cập vấn đề quy hoạch việc xây dựng và phát triển các điểm dân cư

- Luận văn của Phôm Ma với đề tài “Nền kinh tế hàng hóa nông nghiệp của tỉnh Khăm Muộn trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp” bảo

vệ năm 2001 tại Hà Nội Luận văn tiếp cận theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp của tỉnh Khăm Muộn

- Luận văn của Xổmchay Phếtxỉnuồn với đề tài “Vai trò của Nhà nước trong việc nâng cao mức sống và phát triển nông thôn đồng bằng Xêbăng Phay, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” bảo vệ năm 2003 tại Hà Nội Tác giả

đề cập việc phát triển nông thôn đồng bằng Xêbăng Phay dưới tác động của

Trang 11

nhà nước trong việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân vùng đồng bằng này

Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nhưng mỗi công trình tiếp cận ở các các góc độ khác nhau, song đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về QLNN về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng, song những công trình trên đều có giá trị tham khảo cho tác giả trong việc nghiên cứu và làm rõ hơn các vấn đề quản

lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng cả về phương diện

lý luận, thực tiễn và đưa ra cách thức, biện pháp giải quyết các vấn đề của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Trên cơ sở lý luận, nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng, Luận văn đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý của nhà nước về vấn đề này, từng bước nâng cao mức sống cho người dân vùng nông thôn tỉnh Xiêng Khoảng

- Nhiệm vụ:

+ Làm rõ hệ thống lý luận về quản lý nhà nước về phát triển nông thôn + Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự quản lý của nhà nước

về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Là toàn bộ nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông thôn

- Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng giai đoạn 2011 - 2016

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận:

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu vấn đề

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích đánh giá, phương pháp so sánh số liệu, phương pháp chuyên gia để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện lý luận về quản lý nhà nước trong công tác phát triển nông thôn

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu trong các cơ sở giảng dạy về quản lý nhà nước trong lĩnh vực phát triển nông thôn ở các cơ sở giảng dạy công chức Lào

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn cung cấp cho các nhà quản lý tại Lào những bài học kinh nghiệm quý giá trong việc vận dụng về

quản lý nhà nước về nông thôn nói chung, tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Chương 3 Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 13

1.1.1.1 Khái niệm nông thôn

Nông thôn là một khái niệm gắn liền với những vùng, những khu vực sinh của dân cư mà ở đó các cư dân sản xuất và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông đồng thời gắn liền với những hoạt động xã hội trong một cộng đồng nhất định Nông nghiệp là hoạt động sản xuất chủ yếu ở nông thôn Bởi vậy khái niệm nông thôn khá rộng, trong đó có các hoạt động xã hội, cộng đồng diễn ra phong phú, đa dạng

Nông thôn là một khái niệm của xã hội học, nó là một tổng thể, một hệ thống xã hội trên một địa bàn tự nhiên nhất định Nông thôn không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp với những điều kiện tự nhiên của nó, mà còn là khu vực dân cư, nơi có các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các điều kiện sinh hoạt, phong tục tập quán, tâm lý xã hội

Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Nông thôn là khu vực dân cư tập chung chủ yếu làm nghề nông” [42, 652]

Theo cuốn sách nghiên cứu xã hội học của Chung Á và Nguyễn Đình Tấn: “Nông thôn là một khu vực lãnh thổ cư dân chủ yếu của những người làm nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp

và dân cư sống ở nông thôn” [28, 182]

C.Mác và Ăng Ghen cho rằng: “Sự phân công lớn nhất của lao động vật chất và tinh thần là sự tách rời thành thị và nông thôn Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn xuất hiện với bước quá độ từ thời đại dã man lên thời đại văn minh” [29, 53]

Trang 14

Thật ra, nông thôn không phải là một phạm trù vĩnh cửu, nó chỉ xuất hiện khi xã hội chia thành hai địa bàn cư trú dân cư gắn liền với sự phân công lao động lớn nhất của xã hội, mà đặc điểm của nó có số lượng dân cư ít, nền kinh tế lạc hậu, mức sống của nhân dân tương đối thấp Quy luật chi phối sự phát triển của xã hội nông thôn nói chung đã được hình thành trong những năm gần đây Từ thế kỷ XIX, nhiều quan sát có hệ thống về nguồn gốc lịch sử

và sự chuyển đổi của xã hội nông thôn đã được chú trọng, đời sống xã hội ở nông thôn dịch chuyển và phát triển trong môi trường nông thôn, nó có những đặc điểm riêng biệt so với đời sống xã hội đô thị Một sự phác họa cơ bản những điểm chính của sự tương phản giữa môi trường nông thôn và đô thị sẽ cho thấy những cấu trúc và những quá trình sống khác nhau

Như vậy, nông thôn là bộ phận quan trọng cấu thành đời sống xã hội của đất nước Đây là môi trường hình thành, phát triển và thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư nông thôn đáp ứng nhu cầu sản xuất, văn hóa tinh thần của người nông dân Nông thôn cũng

là nơi phát huy và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc bền vững nhất

1.1.1.2 Đặc điểm của nông thôn

Trên cơ sở khái niệm về nông thôn, gắn với điều kiện hoàn cảnh lịch sử

cụ thể ở tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, qua nghiên cứu, tìm hiểu chúng ta có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của nông thôn như sau:

- Toàn bộ những người trồng trọt và những gia đình của họ, trong cộng đồng thường có một số người làm nghề phi nông nghiệp;

- Môi trường tự nhiên ưu trội hơn môi trường xã hội nhân văn, mối quan hệ trực tiếp với tự nhiên;

- Những nông trại mở rộng hay những cộng đồng nhỏ, văn minh nông nghiệp tương phản với kích cỡ cộng đồng;

Trang 15

- Trong cùng một đất nước và ở một giai đoạn phát triển như nhau mật

độ thường thấp hơn so với cộng đồng đô thị;

- So với dân cư đô thị, những cộng đồng ở nông thôn thuần nhất hơn về các đặc điểm chủng tộc và tâm lý;

- Sự khác biệt và phân tầng xã hội ở nông thôn ít hơn ở đô thị;

- Mức độ tương tác đối với mỗi người thấp hơn, phạm vi tác động hẹp hơn, có sự ưu trội của những mối quan hệ bền chắc tương đối và tính cá biệt

Có mối quan hệ tương đối đơn giản và chân thành, tự nhiên;

- Người nông thôn sống nghèo khổ, thiếu thốn về điều kiện vật chất, nhưng họ lại giàu về mặt tình cảm, bao dung, đạo đức, nhân ái

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của khu vực nông thôn, những đặc điểm này dựa trên sự nghiên cứu, tìm hiểu thực tế ở một số nơi trong cả nước cũng như ở nông thôn một số nước lân cận như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc,… Tuy nhiên, những đặc điểm này chỉ mang tính tương đối, bởi khu vực nông thôn hiện nay đang có rất nhiều biến động và có sự thay đổi từng ngày theo hướng không ngừng phát triển, đi lên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.1.3 Vai trò của nông thôn trong sự phát triển kinh tế - xã hội

Nông thôn luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội của mỗi nước và là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới bởi

vì đó là lĩnh vực rộng lớn, sản xuất ra lương thực thực phẩm và nguyên liệu nông nghiệp gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người

Sự phát triển nông thôn còn tạo ra một thị trường rộng lớn cho công nghiệp và các ngành khác, là thị trường cung cấp lao động, cung cấp nguyên vật liệu cho của công nghiệp và dịch vụ

Trên góc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, sự phát triển vững chắc ở nông thôn là nguồn tăng trưởng kinh tế lớn của đất nước Từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà kinh tế cho rằng nông nghiệp là một ngành cung

Trang 16

cấp đầu vào phụ trợ cho công nghiệp chế biến (chủ yếu là lao động) Song những biến động kinh tế xã hội thế giới vào những năm 60 đã chứng minh rằng, nông nghiệp không chỉ đóng vai trò “thụ động” - nguồn cung cấp đầu vào phụ trợ như vào những năm 50 nữa mà nó đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự cân bằng nền kinh tế và từ những năm 70 trở đi, nông nghiệp được coi như một nguồn tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi nước Ở một số nước trên thế giới, điểm xuất phát của sự cải cách kinh tế đều bắt nuồn từ nông nghiệp, nông thôn Qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nông thôn được thể hiện trên một số khía cạnh sau:

Một là, nông thôn sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu (lương thực,

thực phẩm) cho dân cư, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề cơ bản đầu tiên đó là vấn đề đảm bảo

an ninh lương thực, tích trữ dự phòng thiên tai, hạn hán,… Để đáp ứng yêu cầu đó thì nông nghiệp, nông thôn chính là nơi cung cấp đầy đủ và vững chắc nhất cho các mục tiêu cao hơn của nhà nước Thực tế chỉ ra rằng, chỉ khi nào người dân được ăn no, mặc ấm, các điều kiện cơ bản về vật chất được bảo đảm thì khi đó mới có động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực khác

Hai là, nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động cho sự phát triển của công nghiệp và đô thị Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa một mặt tạo ra

nhu cầu rất lớn về lao động, mặt khác lực lượng lao động được giải phóng trong nông nghiệp ngày càng nhiều Số lao động được giải phóng này lại chuyển dịch vào công nghiệp và thành phố Đây là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thị trường lao động trong nông nghiệp là rất lớn, đặc biệt là lại tập trung phần lớn

ở nông thôn, do đó đây là nguồn cung cấp lao động vô cùng phong phú cho các ngành công nghiệp và các khu đô thị lớn nếu biết tổ chức khai thác và đào tạo hợp lý

Trang 17

Ba là, những nước có lợi thế về đất đai, thời tiết, khí hậu như ở nước

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì nông nghiệp giữ vị trí khá quan trọng trong việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm trên thị trường thế giới, mang lại nguồn ngoại tệ cùng để tích lũy phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo tích lũy ban đầu đầu tư trở lại cho phát triển kinh tế xã hội

Bốn là, nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao

gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản xuất ở khu vực công nghiệp Vì vậy, phát triển mạnh nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân

cư nông thôn, từ đó tăng sức mua của khu vực nông thôn là điều kiện hết sức quan trọng làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm công nghiệp, tạo thuận lợi cho công nghiệp phát triển nhanh, ổn định và bền vững

Năm là, nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn đối với sự phát triển bền vững của môi trường Nếu nông nghiệp sử dụng quá nhiều hóa chất,

nhất là phân hóa học và các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, sẽ làm ô nhiễm đất và nguồn nước, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Nếu phá rừng sẽ làm đất bị xói mòn, thời tiết, khí hậu, thủy văn sẽ bị thay đổi theo hướng ngày càng xấu đi Vì thế, trong quá trình sản xuất nông nghiệp, cần phải tìm những giải pháp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường Nếu sử dụng một cách đúng đắn các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào sản xuất nông nghiệp sẽ giúp phòng chống và ngăn ngừa thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, cải tạo khí hậu, đáp ứng các nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của người dân trong cả nước và khách du lịch quốc tế

Nông thôn bao gồm những khu vực rộng lớn, tài nguyên của đất nước chiếm tuyệt đại bộ phận như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển,

Trang 18

nguồn nước Phát triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác và sử dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình

sử dụng

Sáu là, nông nghiệp, kinh tế nông thôn và phát triển đời sống của người dân nông thôn được đảm bảo sẽ góp phần ổn định chính trị - xã hội,

giữ vững an ninh trật tự, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và từng từng bước

đô thị hóa nông thôn

Bảy là, các điểm dân cư nông thôn là bộ phận quan trọng cấu thành đời sống xã hội của đất nước Đây là môi trường hình thành, phát triển và

thúc đẩy các hoạt động kinh tế xã hội, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân

cư nông thôn, đáp ứng các nhu cầu sản xuất, văn hóa tinh thần của người nông dân Nông thôn cũng là nơi phát huy và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc bền vững nhất Như vậy, nông nghiệp và nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống xã hội và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển nông thôn

1.1.2.1 Khái niệm phát triển nông thôn

Từ khá sớm nhiều nước trên thế giới đã xác định tầm quan trọng của kinh tế nông thôn bao gồm cả hoạt động nông nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp rất đa dạng tại nông thôn Nhưng hoạt động phi nông nghiệp này

từ các ngành, nghề thủ công nghiệp, công nghiệp vừa và nhỏ đến các loại hình dịch vụ kinh tế, khoa học công nghệ, công nghiệp và văn hóa xã hội, cung ứng đầu vào cho nông nghiệp, giúp nâng cao năng xuất lao động và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, chế biến nâng cao giá trị của nông sản, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp Kinh tế nông thôn tạo thêm việc làm ngay tại địa bàn dân cư, nâng cao đời sống của nông dân và tạo nên sự giàu có và thay đổi bộ mặt của nông thôn nhờ sự gắn kết giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, gắn kết giữa nông thôn với thành thị, tạo ra

Trang 19

quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, không dồn dân vào thành phố, thực hiện phân công lao động mới, phân bố lại sản xuất, quy hoạch kinh tế, xã hội, tổ chức đời sống dân chủ, công bằng văn minh

Sự phát triển nông thôn còn bao hàm khía cạnh chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội, trật tự an ninh Việc giải quyết đồng bộ các vấn đề trên chính là đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống hiện đại của cộng đồng và mỗi cá nhân trong xu thế phát triển hiện nay Từ mấy thập kỷ qua, các quốc gia tập chung vào hợp tác và cạnh tranh kinh tế, khi vấn đề trung tâm của loài người là phát triển Khi xóa đói giảm nghèo được đặt thành một trong những ưu tiên hàng đầu của các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế, ở khắp nơi người ta chuyển

từ chiến lược nông nghiệp sang chiến lược phát triển nông thôn toàn diện Điều đó cho thấy nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thuần túy thì nông thôn không thể là cơ sở, là bàn đạp của công cuộc công nghiệp hóa đất nước, nông dân khó có sức tái sản xuất mở rộng, khó giàu lên, khó thoát khỏi cảnh nghèo đói được

Ngoài ra quá trình phát triển nông thôn rất phức tạp, không chỉ xét về khía cạnh các vấn đề của ngành mà còn phức tạp vì liên quan đến nhiều đối tượng Sự tham gia này không chỉ liên quan đến hàng triệu người nông dân,

mà còn liên quan đến nhiều hộ phi nông nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức đoàn thể, các hợp tác xã, khu vực tư nhân, cơ quan trung ương và địa phương, các đơn vị thuộc khu vực công và các nhà cung cấp dịch vụ Nông dân là trọng tâm của phát triển nông thôn, vì vậy nông dân phải là trọng tâm của chính sách, họ thực sự phải được tham gia chính vào quá trình phát triển nông thôn, khuyến khích sở hữu và phân quyền cho địa phương, đó chính là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự phát triển

Như vậy, phát triển nông thôn là quá trình phát triển kinh tế nông

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tại địa bàn nông thôn nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, cải thiện đời sống, cân bằng việc quy hoạch và phát triển

Trang 20

nông thôn một cách toàn diện Quá trình này được tiến hành từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ hẹp đến rộng, là quá trình chuyển đổi hết sức phức tạp, khó khăn và lâu dài [35]

1.1.2.2 Đặc điểm của phát triển nông thôn

Thứ nhất, dân cư ở nông thôn cư trú tập trung trong nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định được hình thành do điều kiện tự nhiên, kinh tế

- xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và các yếu tố khác

Thứ hai, kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên: nhà, vườn, ao, ruộng, thường gắn với những điều kiện địa lý

có sẵn (thường chiếm từ 50% lao động trở lên), trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình

Thứ ba, chính trị ở nông thôn: ngoài hệ thống chính quyền huyện, bản

do Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng tộc, già làng, thân thuộc, tôn giáo… điều chỉnh hành vi của các thành viên bằng tục lệ hay quy ước

Thứ tư, văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ, hội… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hoá nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sự phát triển

1.1.2.3 Vai trò của phát triển nông thôn

Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội; là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại Nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển nên sự phát triển bền vững nông thôn

có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác, sử

Trang 21

dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước Việc phát triển nông thôn có những vai trò sau đây:

Một là, phát triển nông thôn đảm bảo cho quá trình sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu gia dụng khác cho đời sống con người Nông nghiệp luôn luôn đóng một vai trò quan trọng vì nó là ngành tạo

ra lương thực, thực phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu hàng đầu của con người là nhu cầu ăn uống; Nông nghiệp là bộ phận cấu thành chủ yếu của kinh tế nông thôn, nó có vai trò ngày càng lớn trong việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước và xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nói chung; Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội Người nông dân sản xuất lương thực thực phẩm không những để nuôi sống họ

mà còn cung cấp cho toàn xã hội, tạo sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển

Hai là, sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng và thực hiện có hiệu quả tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cung cấp lương thực, thực phẩm; cung cấp nguyên liệu để công nghiệp hóa; cung cấp một phần vốn; khu vực nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ

Ba là, phát triển nông thôn là nhân tố kích thích các ngành phi nông nghiệp phát triển Khi nông nghiệp, nông thôn phát triển sử dụng ngày càng nhiều loại máy cơ khí phục vụ nông nghiệp hơn và nếu áp dụng tốt thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào nông nghiệp thì năng suất nông nghiệp tăng lên, các sản phẩm nông nghiệp ngày càng đáp ứng được với thị hiếu người tiêu dùng, người dân ưa chuộng hàng nội địa nhiều hơn, các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ để hỗ trợ cho sản xuất cũng tăng - đây chính là những yếu tố kích thích các ngành phi nông nghiệp phát triển theo Nông nghiệp, nông thôn

Trang 22

phát triển sẽ sử dụng ngày càng nhiều sản phẩm của công nghiệp như: Máy cày, máy xay xát, máy bơm nước, máy bón phân, máy phun thuốc trừ sâu, máy gặt, máy cấy,… Để nâng cao năng suất lao động và giải phóng sức lao động cho người dân Vì thế, khi chúng ta phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ

là nhân tố tích cực để kích thích các ngành phi nông nghiệp phát triển

Bốn là, phát triển bền vững nông thôn góp phần to lớn trong việc bảo

vệ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch và phòng chống, ngăn ngừa thiên tai Nông thôn bao gồm những khu vực rộng lớn, tài nguyên của đất nước chiếm tuyệt đại bộ phận như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển, nguồn nước Phát triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình sử dụng

Năm là, góp phần ổn định chính trị xã hội, an ninh trật tự được giữ vững Phát triển kinh tế nông thôn sẽ làm cho các hoạt động ở nông thôn trở nên sôi động hơn Cơ cấu kinh tế, phân công lao động chuyển dịch đúng hướng có hiệu quả Công nghiệp gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp tại chỗ Vấn đề đô thị hoá sẽ được giải quyết theo phương thức đô thị hoá nông thôn Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được gia tăng ngày càng nhiều trên địa bàn nông thôn Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và vùng kém phát triển

Sáu là, sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hoá ở nông thôn Nông thôn trước đây vốn là vùng có kinh tế, văn hóa lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt phân tán, nhiều hủ tục Nhưng, đây cũng là nơi có truyền thống văn hóa cộng đồng còn sâu đậm Vì thế, phát triển kinh tế nông thôn sẽ tạo điều kiện để vừa giữ gìn, bảo tồn và phát huy

Trang 23

truyền thống văn hóa xã hội tốt đẹp, vừa bài trừ những văn hóa lạc hậu để tổ chức tốt hơn đời sống văn hóa và tinh thần cho người dân khu vực nông thôn

Như vậy việc phát triển nông thôn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, ở nông thôn nói riêng

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển nông thôn

Muốn đánh giá sự phát triển của một vùng hay một quốc gia, người ta phải đo lường sự phát triển của vùng đó tại hai thời điểm nhất định, có thể 1 năm, 2 năm hoặc so sánh vùng này với vùng khác, nước này với nước khác

để đánh giá sự phát triển tại một thời điểm

Người ta tính toán giá trị tiền tệ cho tất cả các loại sản phẩm được sản xuất ra trong nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và các hoạt động khác trong vòng 1 năm

Để đánh giá mức độ phát triển nông thôn trước hết cần phải xây dựng một cách tổng quát các phương pháp đánh giá sự phát triển Phương pháp được sử dụng tương đối rộng rãi để đánh giá sự phát triển là đánh giá sự phồn thịnh của một nước, một vùng, một địa phương Các tiêu chí đánh giá sự phát triển nông thôn ngoài chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế còn hàng loạt các chỉ tiêu khác phản ánh sự tiến bộ xã hội như: vấn đề giáo dục đào tạo, trình độ dân trí, vấn đề nâng cao sức khoẻ cộng đồng, tình trạng dinh dưỡng, tuổi thọ bình quân, nâng cao giá trị cuộc sống, công bằng xã hội, cải thiện môi trường

Có các tiêu chí sau để đánh giá sự phát triển của nông thôn:

Một là, tiêu chí về hạ tầng kinh tế kỹ thuật, bao gồm các nội dung:

- Giao thông phải đảm bảo đường trục bản, liên bản được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt chuẩn quy định của Bộ Giao thông vận tải Đường giao thông phải sạch và không lầy lội vào mùa mưa Đường nội đồng được cứng hoá, xe cơ giới đi lại được

Trang 24

- Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh Đường mương dẫn nước phải được kiên cố hoá

- Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn

Hai là, tiêu chí về cơ sở vật chất, bao gồm các nội dung:

- Tỷ lệ trường học các cấp: mần non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ

sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia

- Nhà văn hoá và khu thể thao cụm bản đáp ứng được quy định của Bộ Văn hóa

- Mỗi cụm bản phải có ít nhất 01 chợ Chợ được xây dựng theo quy định của Bộ Xây dựng

- Mỗi cụm bản phải có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, kết nối internet đến từng bản ở nông thôn

- Nhà ở dân cư không còn nhà dột nát, nhà lán tạm Tỷ lệ nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng ít nhất đạt 70%

Ba là, tiêu chí về kinh tế, gồm các nội dung:

- Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh phải đạt 50%

Trang 25

- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia

Năm là, tiêu chí về môi trường, gồm các nội dung:

- Các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về môi trường

- Không có hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp

- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch

- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về phát triển nông thôn

Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nông thôn thì chúng ta cần phải nắm vững khái niệm thế nào là quản lý nhà nước Theo thuật ngữ hành chính “quản lý nhà nước” được sử dụng khá phổ biến với nhiều cách tiếp cận khác nhau:

- Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là hoạt động của toàn bộ máy nhà nước cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội; các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, các Bộ, Ủy ban hành chính các cấp; cơ quan kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các các viện kiểm sát nhân dân các cấp Ví dụ: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội: xét báo các hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là hoạt động riêng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (quản lý hành chính nhà nước): Chính phủ, các bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các

sở, phòng, ban chuyên môn Ủy ban nhân dân Ví dụ: Chính phủ thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu chương trình, nội dung kế

Trang 26

hoạch giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng, học hàm, học vị các hình thức giáo dục khác, thực hiện phổ cấp giáo dục tiểu học, xóa nạn mù chữ,…

- Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng:

+ Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền bằng bộ máy nhà nước (công quyền) để điều chỉnh các quá trình - xã hội và hành vi của công nhân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa - xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định

+ Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước;

+ Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội và hành vi hoạt động của con người;

+ Quản lý nhà nước (quản lý hành chính nhà nước) là hoạt động hành chính của các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật pháp;

Qua đó, có thể hiểu quản lý nhà nước theo nghĩa bao quát là nói chức năng tổng thể bộ máy nhà nước với tư các là một tổ chức quyền lực và mang tính pháp quyền, là tổ chức công quyền quản lý toàn xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Mặc dù có nhiều giải thich khác nhau

về quản lý Nhà nước nhưng thực chất về nội dung chúng đều có những điểm giống nhau, có những đặc điểm cơ bản phản ánh bản chất của quản lý nhà nước như:

+ Chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp;

Trang 27

+ Khách thể của quản lý nhà nước là các quá trình xã hội (trật tự quản

lý nhà nước, trật tự xã hội do pháp luật quy định) và hoạt động của con người;

+ Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành

Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các khái niệm quản lý nhà nước của các học giả, các nhà nghiên cứu, có thể thống nhất một khái niệm chung nhất về

quản lý nhà nước như sau: Quản lý nhà nước là thuật ngữ chỉ hoạt động thực

hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển - xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước [34, 155]

Từ đó có thể hiểu quản lý nhà nước về phát triển nông thôn như sau:

Quản lý nhà nước về phát triển nông thôn là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước thông qua một bộ máy quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực, các hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn nhằm phát triển nông thôn theo mục tiêu đã định trước

Như vậy, quản lý nhà nước về phát triển nông thôn có sự khác biệt với các loại quản lý đối với nông thôn khác đó là sử dụng quyền lực nhà nước với một bộ máy nhà nước trao cho quyền sử dụng các quyền lực đó Tất cả chủ thể của các quá trình, các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn đều chịu sự tác động của quyền lực này để phát triển đúng hướng và phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng dân cư nông thôn theo các mục tiêu mà Nhà nước đã định hướng mà mục tiêu chung nhất cho mọi thời kỳ là không ngừng phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn, giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông thôn

Nội dung quản lý nhà nước (QLNN) được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động cụ thể của từng cơ quan hành chính nhà nước, từng cấp, từng ngành và toàn hệ thống hành chính nhà nước Các

Trang 28

cơ quan nhà nước với quyền hạn, thẩm quyền xác định với cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp trong hoạt động trên các lĩnh vực và các mặt sau đây:

1.2.2.1 Ban hành văn bản quản lý nhà nước về phát triển nông thôn

Văn bản QLNN là hệ thống các văn bản pháp lý được ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật Hiện nay công tác ban hành văn bản được các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị có chức năng quản lý nhà nước thực hiện, phối hợp chặt chẽ, đảm bảo tính khoa học, hợp lý và hiệu quả Ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vấn đề ban hành văn bản được tiến hành theo Luật ban hành văn bản, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương thực hiện theo phân cấp và theo lĩnh vực quản lý Việc quản lý nhà nước về phát triển nông thôn là tổng hợp các loại văn bản khác nhau, nhưng nhìn chung, cơ bản có hai loại hình văn bản như sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của quá trình xây

dựng pháp luật, một hình thức lãnh đạo của Nhà nước với xã hội nhằm biến ý chí của nhân dân thành luật Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Thứ hai, văn bản hành chính là những quyết định quản lý thành văn

mang tính áp dụng pháp luật hoặc chứa đựng những thông tin điều hành được

cơ quan hành chính hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền ban hành nhằm giải quyết các công việc cụ thể, xác định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với

Trang 29

người vi phạm pháp luật, được ban hành trên cơ sở quyết định chung và quyết định quy phạm của cơ quan cấp trên hoặc của chính cơ quan ban hành

Văn bản hành chính là phương tiện không thể thiếu được trong các hoạt động tác nghiệp cụ thể của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Mặc dù có tầm quan trọng và giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật nhưng văn bản hành chính là cơ sở thực tiễn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh sửa đổi hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy, trên cơ sở những quy định trong việc ban hành văn bản ở Lào, các cơ quan quản lý ban hành các văn bản thuộc lĩnh vực thực thi trên cơ

sở có sự phối hợp chặt chẽ Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ở Lào cũng vậy Các cơ quan quản lý ở trưng ương là Chính phủ, Bộ Nông nghiệp, các Bộ liên ngành ban hành các văn bản liên quan về vấn đề phát triển nông thôn Còn ở địa phương, các tỉnh thực hiện công tác quản lý trực tiếp, các vấn

đề trên địa bàn địa phương mình, căn cứ vào các quy định của cơ quan quản

lý nhà nước cấp trên, các cấp chính quyền ở tỉnh, các Sở, ngành liên quan phối hợp ban hành các văn bản trực tiếp hướng dẫn, thực hiện pháp luật, đảm bảo cho các chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông thôn được thực hiện hiệu quả và đảm bảo chất lượng các văn bản quản lý

1.2.2.2 Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nông thôn

Trong gia đoạn hiện nay, nhà nước CHDCND Lào đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự nghiệp xây dựng đất nước phải đổi mới một cách căn bản phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước

và phát huy năng lực sáng tạo của nhân dân các bộ tộc Đồng thời, để Nhà nước phát huy tốt tính chủ động trong việc thực hiện chức năng quản lý do nhân dân giao phó; nhân dân có thể giám sát và tham gia vào các hoạt động

Trang 30

của bộ máy nhà nước Hiện nay, hệ thống các cơ quan QLNN có tác động tích cực cho việc phát triển nông thôn và nâng cao mức sống của nhân dân

Trong những năm gần đây, Chính phủ thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn giai đoạn 2006 - 2015, do phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban, chủ nhiệm Chương trình; Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động và phúc lợi xã hội

là cơ quan thường trực Các cơ quan quản lý chương trình quốc gia và xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn ở các tỉnh miền núi gồm có: Bộ Kế hoạch

và Đầu tư, Bộ Lao động và phúc lợi xã hội, Bộ Tài chính, Mặt trận Xây dựng đất nước Lào, các Ngân hàng và Cục kho bạc nhà nước là thành viên có trách nhiệm ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện quản lý và điều hành dự án phát triển nông thôn, thực hiện theo cơ chế phối hợp liên Bộ Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của mình mà chủ trì, phối hợp thực hiện

- Các Sở và Ban phát triển nông thôn là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN trên địa bàn tỉnh về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản và phát triển nông thôn; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật

Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hoặc do UBND tỉnh giao về việc quản lý phát triển nông thôn sau đây:

- Trình UBND tỉnh ban hành các quyết định, Chỉ thị về lĩnh vực thược phạm vi quản lý cả sở và chịu trách nhiệm về nội dung các văn bản đã trình

- Trình UBND tỉnh và chịu trách nhiệm về nội dung kế hoạch, kế hoạch phát triển, chương trình, dự án về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản

và phát triển nông nghiệp phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương; các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án về định

cư, tái định cư, điều chỉnh bố chí lại dân cư trong nông nghiệp và nông thôn

Trang 31

- Tổng hợp và trình UBND tỉnh về cơ chế, chính sách, biện pháp khuyến khích phát triển nông thôn; theo dõi, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh về phát triển nông thôn trên địa bàn

- Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư trên địa bàn tỉnh

- Hướng dẫn việc chế biên nông sản, lâm sản, thủy sản phát triển ngành, nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh theo quy định

- Chỉ đạo kiểm tra và chịu trách nhiệm về việc khai thác và sử dụng nước sạch nông thôn trên địa bàn theo quy định của pháp luật

- Phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức công tác dự báo thị trường nông sản, lâm sản, nông sản Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dự án và xây dựng mô hình phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản

và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh

- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ sản xuất của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Thực hiện hợp tác quốc tế theo phân cấp của UBND tỉnh và quy định của pháp luật

Vì vậy, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ về công tác QLNN đối với việc phát triển nông thôn là:

- Hướng dẫn phát triển kinh tế hộ, trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; tổ chức việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm, thủy sản nhà nước trên địa bàn tỉnh theo phương án được duyệt

- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản và phát triển nông thôn của tỉnh theo quy định của pháp luật

- Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trong quản lý ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với cấp huyện Quản lý cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật và phân cấp của

Trang 32

UBND tỉnh, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ

xã phường, thị trấn làm công tác quản lý về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản và phát triển nông thôn theo quy định của Bộ Nông lâm nghiệp,

Bộ Thủy sản và UBND tỉnh Quản lý Tài chính, tài sản của Sở theo quy đinh của pháp luật và phân cấp của UBND tỉnh

- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với UBND các huyện và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn; về thực hiện các biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, bảo vệ rừng, trồng rừng và khai thác lâm sản; chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; phát triển ngành nghề, làm nghề nông thôn

- Hướng dẫn khai thác và sử dụng nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật;

- Hướng dẫn việc chế biến nông sarn lâm sản và muối; phát triển ngành, nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh theo quy định;

- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dự án và xây dựng mô hình phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh; chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình, dự

án được giao; cấp và thu hồi các giấy phép thuộc các lĩnh vực được giao quản

lý theo quy định của pháp luật;

- Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trong quản lý ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với cấp huyện;

- Hướng dẫn, kiểm tra việc cho phép mở cửa ngừng khai thác và ra kế hoạch khai thác cho chủ rừng là tổ chức và UBND cấp huyện sau khi được phê duyệt; việc thực hiện các quy định về trách nhiệm của UBND huyện, trong quản lý, bảo vệ rừng ở địa phương; việc phối hợp và huy động lực

Trang 33

lượng, phương tiện của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn trong bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy, chữa cháy rừng

- Thực hiện các quy định về quản lý sông, suối, khai thác sử dụng về phát triển các dòng sông, suối trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Hướng dẫn việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất thủy lợi, tổ chức cắm mốc chỉ giới trên thực địa và xây dựng kế hoạch, biện pháp thực hiện việc di rời công trình, nhà ở liên quan tới phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông theo quy định

1.2.2.3 Đổi mới hoạt động của các thành phần kinh tế ở nông thôn

- Kinh tế hộ gia đình: khuyến khích kinh tế hộ gia đình bằng các biện pháp như: sớm hoàn thành việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng cho nông dân vay vốn bằng nhiều hình thức phù hợp với cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ đúng lúc, đúng đối tượng có nhu cầu và khả năng

sử dụng hiệu quả vốn vay

- Kinh tế tư nhân, doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn: Khuyến khích mọi người có vốn, có kinh nghiệm quản lý, kinh doanh tự đầu

tư hoặc liên kết, kiên doanh phát triển ngành nghề, dịch vụ, công nghiệp, phát triển kinh tế trang trại ; Khuyến khích phát triển lâu dài kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước theo định hướng, khuyến khích đầu tư của người nước ngoài vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn

- Kinh tế nhà nước ở nông thôn: Hoạt động kinh tế nhà nước trong nông thôn là làm dịch vụ đầu vào, đầu ra, đầu tư vào các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức hoặc không muốn đầu tư, hoặc để hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác

1.2.3.4 Quản lý quy hoạch, xây dựng các điểm dân cư nông thôn

Quy hoạch phát triển nông thôn bao gồm tổng hợp những nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, môi trường, văn hóa liên quan đến con người và các cộng đồng sống ở nông thôn theo các tiêu chí của quá trình

Trang 34

phát triển bền vững Quy hoạch phát triển nông thôn đồng thời là quy hoạch tổng thể trên một vùng nông thôn rộng lớn có động vật, sinh vật và con người cùng sinh sống Mục tiêu của quy hoạch là tăng trưởng không ngừng mức sống của con người và đảm bảo phát triển bền vững

Chính vì thế nhà nước phải quản lý quy hoạch, xây dựng các điểm dân

cư nông thôn nhằm đảm bảo sự phát triển của nông thôn Nhà nước phải có chức năng định hướng, quy hoạch trên cơ sở khoa học, hợp lý, phù hợp với từng vùng, từng điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau để quản lý và khai thác

có hiệu quả các thế mạnh, tạo động lực, tiền đề cho phát triển kinh tế nông thôn

1.2.3.5 Quản lý xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và hạ tầng xã hội nông thôn

Sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội nông thôn, góp phần vào sự thành công của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn không chỉ

là vấn đề kinh tế - kỹ thuật đơn thuần mà còn là vấn đề xã hội quan trọng nhằm tạo tiền đề cho nông thôn phát triển nhanh và bền vững Do vậy, trong đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, việc xây dựng và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn luôn là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền chú trọng và luôn được gắn với các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn

Kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở nông thôn hiện nay đã trở thành động lực chính trong phát triển, nó làm thay đổi bộ mặt nông thôn của cư dân nông thôn, với hệ thống điện, đường, trường, trạm,… là những công trình cơ bản để thúc đẩy phát triển Chính vì vậy, nhà nước quản

Trang 35

lý tốt vấn đề về quy hoạch, xây dựng và phân bổ phù hợp sẽ là cơ sở để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển

1.2.3.6 Đầu tư nguồn lực cho phát triển nông thôn

Đầu tư nguồn lực cho phát triển nông thôn đòi hỏi có sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước, nguồn lực ở đây bao gồm cả về nhân lực, vật lực, tài chính, cơ chế, chính sách cho phát triển,… tất cả các nhân tố này phải được chú trọng và đồng bộ trong từng thời kỳ và ở từng địa phương nhất định, từ

đó cần có sự quản lý khoa học của nhà nước Việc quyết định đầu tư cái gì, ở đâu và như thế nào rất cần ở sự quan tâm của Đảng và Nhà nước để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, khi kinh tế ổn định, mọi mặt của đời sống xã hội nông thôn sẽ ổn định và phát triển

1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước về phát triển nông thôn

Quản lý nhà nước về phát triển nông thôn có vai trò to lớn không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, nội tại của sự phát triển nền nông nghiệp, nông thôn Đến lượt nó việc quản lý, điều chỉnh và hướng dẫn nông thôn đi theo hướng nào, tốc độ phát triển ra sao lại tùy thuộc hướng phát triển chung nền kinh tế đất nước

Trong bất cứ điều kiện nào thì vai trò to lớn QLNN về phát triển nông thôn cũng chỉ được thể hiện khi nó thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của QLNN sau đây:

Thứ nhất, QLNN đối với phát triển nông thôn đóng vai trò định hướng chiến lược cho sự phát triển nông thôn, phù hợp cho từng giai đoạn phát triển kinh tế đất nước QLNN đối với phát triển nông thôn có vai trò nhiều mặt về kinh tế, xã hội của đất nước Việc đảm bảo sự phát triển hài hòa cân đối giữa các lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển toàn bộ nền kinh tế Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, nhà nước cụ thể hóa thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn để

Trang 36

hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn Các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ thể cho toàn bộ nền nông, lâm, ngư nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý nhà nước

Thứ hai, QLNN đối với phát triển nông thôn đóng vai trò điều chỉnh các mỗi quan hệ trong nội bộ nông nghiệp, nông thôn và giữa nông nghiệp, nông thôn với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa dựa trên trình độ xã hội hóa sản xuất hàng hóa ngày càng cao, các mối quan hệ kinh tế trong nội bộ nông nghiệp nông thôn cũng như giữa nông nghiệp nông thôn với phần còn lại của nền kinh tế, thậm chí với nền kinh tế trong khu vực và quốc tế ngày càng phát triển rộng rãi và đa dạng

Sự hình thành và phát triển các mối quan hệ kinh tế đó có thể là phù hợp với mục tiêu của sự phát triển, cũng có thể không phù hợp và thậm chí xa lạ với bản chất kinh tế tốt đẹp của đất nước Trong điều kiện như vậy nhà nước phải thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế để phát triển phù hợp bằng các biện pháp khuyến khích, hạn chế hoạc cấm đoán Các mối quan hệ kinh tế mà nhà nước cần điều chỉnh có hai loại Có loại liên quan đến quyền

sở hữu và sử dụng các tài nguyên, nguồn lực như: Đất đai, nguồn lực vốn góp

cổ phần, Nhà nước cần điều chỉnh bằng luật sao cho sự phát triển đa dạng hóa sở hữu ở mức độ phù hợp Có loại quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất - chế biến - tiêu thụ, dưới những hình thức đa dạng khác nhau, nhà nước cần điều chỉnh bằng cách giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi để các quan

hệ này phát triển một cách tối ưu hiệu quả Có loại quan hệ liên quan đến lĩnh vực phân phối, nhà nước cần hướng dẫn để các quan hệ này được thực hiện một cách công bằng, đúng pháp luật

Thứ ba, QLNN đối với phát triển nông thôn có vai trò hỗ trợ giúp đỡ kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã dịch vụ và các loại hình tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp, nông thôn phát triển Trong điều kiện hiện nay, nước cộng hào dân chủ nhân dân Lào xuất phát từ sản xuất nhỏ tự

Trang 37

cung tự cấp chuyển sang sản xuất lớn, QLNN cần chuẩn bị, hỗ trợ giúp đỡ các

hộ, trang trại hoặc các loại hình doanh nghiệp khác về một số mặt chủ yếu sau:

Hỗ trợ để tạo dựng ý chí làm giàu chính đáng bằng các hoạt động nông nghiệp và kinh tế nông thôn, vấn đề cấp bách hiện nay là tháo gỡ những vướng mắc làm cho người sản xuất chưa thực sự yên tâm; cân nhắc và gạt bỏ hết những vướng mắc mới có thể nảy sinh khi ban hành văn bản chính sách mới, sử dụng khéo léo các quy phạm đạo đức như tôn vinh những điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế nông nghiệp nông thôn

- Giúp đỡ hỗ trợ cho việc chuẩn bị những tri thức cần thiết cả về kỹ thuật và kinh tế để đảm bảo cho việc cạnh tranh thành công trong cơ chế thị trường của các doanh nghiệp nông thôn

- Giúp đỡ về các phương tiện vật chất hoặc điều kiện để tạo ra phương diện vật chất để tạo dựng sự nghiệp kinh doanh, nhất là vấn đề về vốn trong kinh doanh

- Giúp đỡ tạo dựng môi trường thuận lợi và lành mạnh cho kinh tế hộ, trang trại và các doanh nhân khác ở nông thôn phát triển Việc QLNN tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển bằng cách xác lập và vận hành có hiệu quả một hệ thống thị trường đồng bộ ở nông thôn, bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra

Ở đây vấn đề quan trọng nhất là lựa chọn và áp dụng được những hình thức hợp tác sản xuất thực sự có hiệu quả đối với từng hoạt động kinh tế cụ thể ở nông thôn được người dân chấp nhận, Việc QLNN tạo ra môi trường lành mạnh cho sự phát triển bằng cách nhà nước trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến thiên tai, bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự trị an và ngăn chặn tội phạm ở nông thôn

Tóm lại, QLNN đối với phát triển nông thôn thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế nhằm lành mạnh hóa toàn bộ các mối quan hệ

Trang 38

kinh tế, xã hội nông thôn Chỉ có trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ kinh tế lành mạnh được duy trì ổn định, phát triển đúng pháp luật sẽ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển ổn định của xã hội nông thôn

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng khá lớn đến công tác QLNN về phát triển nông thôn Hiện nay, các địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu

ôn hòa thì sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Từ

đó, công tác quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn cũng trở lên thuận lợi và dễ dàng hơn Ngược lại, nếu như ở đâu điều kiện tự nhiên bất lợi, thường xuyên xảy ra hạn hán, lũ lụt, đồi núi hiểm trở, thời tiết khắc nhiệt,… thì đây sẽ là những trở ngại cơ bản cho vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Các nhà quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động, tổ chức các nguồn lực cho phát triển, khắc phục những ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện

tự nhiên,…

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi địa phương khác nhau có sự ảnh hưởng, tác động đến công tác quản lý nhà nước về phát triển nông thôn cũng khác nhau Thực tế cho thấy rằng ở nơi nào các điều kiện về kinh tế, thu nhập, cơ cấu kinh tế phát triển thì ở đó dân trí cao và hiểu biết của họ về pháp luật về công tác quản lý nhà nước được tốt hơn những vùng có điều kiện thấp Ngoài

ra, các điều kiện về xã hội, văn hóa như dân tộc, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe dân cư, đời sống vật chất cao cũng là điều kiện hỗ trợ và thúc đẩy quản

lý về nông nghiệp, nông thôn phát triển Ngược lại, nếu như ở địa phương nào các điều kiện về kinh tế, xã hội còn lạc hậu, trì trệ, sẽ cản trở quá trình phát triển của địa phương Khi mà người dân chưa đủ ăn, đời sống vật chất còn thiếu thốn, thì không thể có được đời sống dân trí cao và từ đó sẽ tiếp thu và

Trang 39

tuân thủ pháp luật không đầy đủ, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước

về phát triển nông thôn

1.3.3 Điều kiện về nguồn nhân lực

Lao động ở khu vực nông thôn hầu hết là lao động phổ thông chưa có nghề nghiệp rõ ràng Trong đó, lao động nông nghiệp chiếm khoảng hơn 90%, với tình hình sản xuất nông nghiệp như hiện nay, việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp mới chỉ đáp ứng cho khoảng 70% lao động Như vậy còn hơn 30% lao động nông nghiệp chưa có việc làm Thời gian lao động chỉ tập trung vào mùa mưa, mùa khô nguồn lao động nhàn rỗi còn khá lớn Lực lượng lao động dồi dào là yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng điều kiện thu nhập còn thấp, việc làm còn thiếu, gây sức ép lớn cho xã hội

Để quản lý nhà nước đạt được hiệu quả thực sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn vị phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ trình độ

và các kỹ năng, kỹ xảo giải quyết công vụ Riêng đối với quản lý nhà nước về phát triển nông thôn thì vấn đề chất lượng nguồn nhân lực luôn là vấn đề cơ bản, quan trọng mang tính quyết định đến chất lượng công tác quản lý Đội ngũ cán bộ, công chức phải là những người có tài, có đức Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó thì vấn đề không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề mà các cơ quan nhà nước phải thường xuyên thực hiện Hiện nay, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội có rất nhiều nội dung như công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, tác động vào kinh tế làm đòn bẩy phát triển, tạo động lực trong từng cơ quan, đơn vị,… Thực tế cho thấy nếu như thiếu đi nguồn nhân lực chất lượng thì hiệu quả công việc sẽ không cao Mục tiêu quan trọng nhất mà quản lý nhà nước về phát triển nông thôn hướng đến vấn đề là quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, khai thác hiệu quả nguồn lực con người, không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao mức sống

Trang 40

cho người dân ở nông thôn Vấn đề này trên thực tế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân Lào cũng đang là vấn đề được các cấp ủy Đảng và Chính quyền coi trọng và tạo điều kiện tốt nhất thúc đẩy phát triển con người, mang lại hiệu quả cao trong công việc

1.3.4 Điều kiện về xu thế hội nhập

Chúng ta có thể hiểu cơ bản về khái niệm hội nhập quốc tế là: Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế

Cách mạng khoa học kỹ thuật tác động vào nông - lâm - ngư nghiệp theo các hướng như: Thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa và hóa học hóa công nghệ sinh học nhằm thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, tạo giống mới cho vật nuôi cây trồng, vừa tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất đem lại hiệu quả cao, cải thiện điều kiện lao động cho nông dân Trong mối quan hệ sản xuất và chế biến, tiêu thụ nông sản, các hình thức đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp là một biện pháp quan trọng đưa nông nghiệp phát triển, tiếp cận với thị trường quốc tế Hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế

đã và đang trở thành xu thế chung, cơ bản của tất cả các quốc gia trên thế giới Không có bất cứ một nước nào, địa phương nào muốn phát triển mà lại thực thi chính sách đóng cửa, do đó, mở cửa hội nhập khu vực và quốc tế trở thành nhu cầu và là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự phát triển của mỗi quốc gia Các địa phương trong từng nước cũng phải hết sức tranh thủ, kêu gọi đầu tư, hướng đến xuất khẩu hàng hóa, nông sản,… thu lại nguồn ngoại tệ

về cho địa phương mình Thực tế chỉ ra rằng, ở đâu, địa phương nào thu hút được đầu tư của nước ngoài thì địa phương đó có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đời sống người dân được nâng cao, vấn đề việc làm được giải quyết,… Chính vì vậy, nó cũng đặt ra vấn đề về quản lý nhà nước đối với phát triển

Ngày đăng: 03/04/2017, 22:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Nhân dân cách mạng Lào (1986), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Chanthabuly, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Chanthabuly
Năm: 1986
2. Đảng Nhân dân cách mạng Lào (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chanthabuly, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Chanthabuly
Năm: 2001
3. Đảng Nhân dân cách mạng Lào (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chanthabuly, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Chanthabuly
Năm: 2006
4. Đảng Nhân dân cách mạng Lào (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chanthabuly, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Chanthabuly
Năm: 2011
23. Chỉ định số 01/TTg, ngày 11/3/2000, của Thủ tướng Chính phủ về “xây dựng tỉnh làm đơn vị chiến lƣợc, huyện làm đơn vị kế hoạch và xây dựng ngân sách, bản làm đơn vị cơ sở tổ chức thực hiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: xây dựng tỉnh làm đơn vị chiến lƣợc, huyện làm đơn vị kế hoạch và xây dựng ngân sách, bản làm đơn vị cơ sở tổ chức thực hiện
31. Lê Đăng Doanh, “Kinh nghiệm và giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở một số nước trong khu vực và nước ta”, Báo Nông nghiệp ngày 2/1/2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm và giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở một số nước trong khu vực và nước ta
7. Báo cáo của Sở nông-lâm-nghiệp tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
8. Báo cáo thống kê của Sở nông-lâm-nghiệp tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
10. Báo cáo của Sở giao thông tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
11. Báo cáo của Phòng phát triển nông thôn về kinh tế của tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
12. Báo cáo khảo sát kiểm tra tình trạng đói nghèo của Ban Chỉ đạo phát triển nông thôn tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
13. Báo cáo tín dụng của Ngân hàng khuyến nông tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
14. Báo cáo chương trình kinh tế - xã hội tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
15. Báo cáo của Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 Khác
18. Ban Tuyên huấn Trung ƣơng Đảng Nhân dân cách mạng Lào (2000), Năm bài học của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong sự nghiệp lãnh đạo, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Khác
19. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của Lào từ năm 2010 đến năm 2015 và năm 2020, Viêng Chăn, 2010 Khác
20. Chương trình hợp tác Lào - Việt Nam, trong về dự án phát triển lương thực ở tỉnh Xiêng Khoảng, 2012 Khác
21. Chỉ thị số 09/BTƢĐ và số 13/TTCP về việc xây dựng thành lập vản và cụm bản phát triển, thành kế hoạch chỉ đạo thực hiện cụ thể địa phương, năm 2008 Khác
22. Chỉ định số 011/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn tổ chức thực hiện mục tiêu quốc gia đối với công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn Khác
24. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2010 - 2020 của tỉnh Xiêng Khoảng, 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w