1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở việt nam (tt)

26 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 344,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tổ chức thế giới như Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác tiếp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -BỘ NỘI VỤ -/ - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH THỊ MINH TUYẾT

Phản biện 1: ………

Phản biện 2: ………

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn,

Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp … tầng … Hội trường bảo vệ Luận văn Thạc sĩ

Học viện Hành chính Quốc gia Số: 77, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Thời gian: vào hồi …h ngày … tháng … năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia

hoặc trên trang Web của Khoa Sau đại học,

Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Trước tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp như nội chiến, nạn khủng

bố, khủng hoảng người di cư, dịch bệnh; sự biến đổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, tai nạn đã làm người khuyết tật, trẻ em khuyết tật tăng lên đáng

kể trong những năm gần đây Nhiều tổ chức thế giới như Tổ chức Lao động quốc

tế, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác tiếp tục khẳng định về quyền con người, quyền của trẻ em, quyền của người khuyết tật cũng như quyền của trẻ em khuyết tật trong các Hiến chương, Công ước, Nghị quyết đồng thời xây dựng nhiều chương trình, đề án hỗ trợ người khuyết tật đặc biệt là trẻ em khuyết tật, tuy nhiên nhiều người khuyết tật, trẻ em khuyết tật vẫn đang gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều thiệt thòi, chưa được tiếp cận với các dịch vụ dành cho người khuyết tật, nhiều trẻ em khuyết tật đang bị lãng quên

Tại Việt Nam, sau chiến tranh chống Mỹ hàng triệu người bị thương và tàn tật, những người còn sống tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng về kinh

tế, xã hội và môi trường mà cuộc chiến đã gây ra, nhiều trẻ em dị tật bẩm sinh do

di chứng của chất độc da cam/ Đi ô xin, nhiều trẻ vẫn tiếp tục bị khuyết tật do bom mìn chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh Ngoài hậu quả của chiến tranh, việc gây ra khuyết tật còn do ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh dịch, tai nạn…Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đã có nhiều chương trình, đề án

hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em khuyết tật, tuy nhiên đất nước trong thời kỳ đó còn nghèo do đó việc hỗ trợ, chăm sóc cho người khuyết tật, trẻ em khuyết tật là rất hạn chế

Chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, Đảng, Nhà nước, chính phủ cũng như các tổ chức chính trị xã hội đã có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến người khuyết tật và trẻ em khuyết tật thông qua hàng loạt các chính sách, đạo luật nhằm hỗ trợ người khuyết tật như trong Bộ Luật lao động, Pháp lệnh người khuyết tật được ban hành ngày 30 tháng 7 năm 1998, luật giáo dục, luật phổ cập giáo dục tiểu học, luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, luật dạy nghề cùng hệ thống văn bản pháp quy liên quan, gần đây là việc dự thảo, thu thập ý kiến đóng góp xây dựng Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung và ban hành Luật NKT ngày 17/6/2010 nhằm bảo đảm sự bình đẳng cho NKT, TEKT, dần dần người khuyết tật, trẻ em

Trang 4

khuyết tật đã tiếp cận được các dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, giao thông tại các nơi công cộng và công nghệ thông tin Căn cứ vào Luật người khuyết tật năm 2010; Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật; Đề án giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 đến 2020 (trong đó có nhiều phần về trẻ em khuyết tật), nhiều chính sách cho người khuyết tật đã được xây dựng và tổ chức thực hiện, đặc biệt các chính sách đối với TEKT Theo thống kê của Bộ Lao động và Thương binh Xã hội, hiện nay cả nước có khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật và nhiều trẻ

em đang sống tại gia đình và cộng đồng chưa được chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ khác Để trẻ em khuyết phát triển với khả năng thực sự của mình, hòa nhập với gia đình, với cộng đồng nơi các em sinh ra, đưa các chương trình chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và giáo dục hòa nhập tại cộng đồng là một vấn đề khó khăn và đầy thách thức Tháo gỡ và đổi mới công tác chăm sóc trẻ khuyết tật như mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra phải quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp cho trẻ em khuyết tật, đặc biệt trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay

Với mong muốn của NKT nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được sống bình đẳng như những người bình thường khác, không

bị kỳ thị, phân biệt đối xử, có cơ hội được phát huy khả năng của mình đáp ứng với nhu cầu bản thân và có ích cho xã hội Vậy vai trò và thực trạng của chính sách đối với trẻ em khuyết tật trong bối cảnh chung của đất nước ta hiện nay đang rất cần một cái nhìn, một hướng nghiên cứu mới về thực hiện chính sách đối với TEKT Để hoàn thiện việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam đáp ứng

với yêu cầu hiện nay, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết

tật ở Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành hành chính công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện dưới các hình thức như: Đề tài khoa học; giáo trình; bài báo; bài đăng tạp chí….Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề dưới góc độ tiếp cận như sau:

- Hồ Văn Thông (Chủ biên, 1999), tìm hiểu về khoa học chính sách công,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Chính sách công - Cơ sở lý

luận, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

Trang 5

- Vụ Pháp chế, Bộ Lao động – Thương binh xã hội và Unicef (2009), “Xây

dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo

vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”

- Đề tài ”Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam”, của

Nguyễn Hữu Toàn (2010)

- Tác giả Trịnh Thắng và các cộng sự (2011), “Báo cáo về trẻ khuyết tật tại An

Giang và Đồng Nai năm 2011”

- Tác giả Trần Nam, trong Mục chính sách và pháp luật, Hội nạn nhân Chất

độc Da cam/Dioxin – Việt Nam, năm 2012, “Chính sách đối với người bị nhiễm

chất độc hóa học còn nhiều bất cập”

- Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Bộ Lao động

Thương binh và Xã hội (2013), “Báo cáo năm 2013 về hoạt động giúp người

khuyết tật Việt Nam điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam

- Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên, 2014), Chính sách công - Những vấn đề cơ bản,

Nxb chính trị quốc gia

- Đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người

khuyết tật ở xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, của Nguyễn

Thị Quỳnh, năm 2014

- Tác giả Thụy Bình, trong Tạp chí người khuyết tật, năm 2015, bài báo“Về

vấn đề gia tăng và một số giải pháp gia tăng người khuyết tật”

- Tác giả Nguyễn Đức Minh, năm 2015, bài báo “Chính sách giáo dục hòa

nhập trẻ khuyết tật Việt Nam” Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em, trẻ

em khuyết tật, nhưng chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam, do đó việc lựa chọn của

em không trùng với các công trình nghiên cứu khác

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài để hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với TEKT ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật từ góc độ lý luận

- Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách đối với TEKT ở Việt Nam từ

đó chỉ ra những nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách

- Đề xuất giải pháp và hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2026

Trang 6

4.1 Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam 4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật như thế nào?

- Không gian: Trẻ em khuyết tật ở Việt Nam

- Thời gian: Từ năm 2015 trở về trước và định hướng giải quyết cho thời gian tới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Tiếp cận dựa trên cơ sở những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn

đề người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Áp dụng phân tích các tình huống chính sách, từ đó tổng hợp và phát hiện tính đặc thù, khác biệt và đưa ra những nhận định có giá trị khoa học

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu lý thuyết về chính sách đối với trẻ

em khuyết tật; các văn bản nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng, báo cáo kết quả trợ giúp trẻ em khuyết tật của một số tổ chức hỗ trợ trẻ em khuyết tật

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về lý luận

Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam

6.2 Về thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên

cứu, giảng dạy, học tập và cho các nhà hoạch định chính sách đối với trẻ em khuyết tật, các cấp chính quyền địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT

1.1 Khái niệm về trẻ em khuyết tật và thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật

1.1.1 Trẻ em khuyết tật

1.1.1.1 Trẻ em

- Trong Công ước về quyền trẻ em 1989, văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thời điểm này đã định nghĩa “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em

đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều I)

- Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc

về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ

“người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”

- Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm,

2004 thì trẻ em là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

1.1.1.2 Trẻ em khuyết tật

- Theo Công ước người khuyết tật bao gồm “Những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”

- Tại Trung Hoa, Điều 2 Luật của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật năm 1990 quy định

Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường

Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về người khuyết tật Đại đa số đều dùng từ khuyết tật và tàn tật để chỉ cùng một khái niệm, và được dùng song song trên cả phương diện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy Điều I Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 định nghĩa người tàn tật là: “Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động khiến cho lao động, học tập gặp nhiều khó khăn”

Trang 8

Vậy “Như vậy, dựa trên định nghĩa về người khuyết tật và định nghĩa về trẻ

em, theo tác giả, trẻ em khuyết tật được hiểu là những trẻ em từ 0 đến 18 tuổi có khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng của cơ thể làm hạn chế khả năng hoạt động, gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập, xã hội ”

1.1.1.3 Phân loại trẻ em khuyết tật theo dạng dị tật

1.1.2.4 Đặc điểm của trẻ em khuyết tật

- Do chấn thương hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân tay, ngoài ra trẻ em khuyết tật vận động do tổn thương khu vận động lão bộ

+ Đối với trẻ bị tổn thương về lão bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận thức của trẻ, thậm trí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng

+ Đối với trẻ chậm phát triển vận động, khó khăn khi nói, kém hiểu biết về các quy luật xã hội căn bản, không ý thức về hậu quả về các hành vi của mình, khó khăn khi tự phục vụ, phân tích màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém, thiếu tích cực trong quan sát, tư duy của trẻ thường biểu hiện tính không liên tục, chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa mới tiếp thu, thời gian chú ý của trẻ em chậm phát triển trí tuệ kém hơn nhiều trẻ bình thường

1.1.2 Chính sách đối với trẻ em khuyết tật

1.1.2.1 Khái niệm

Chính sách:

- Ở phạm vi hẹp, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý, là những quy định, điều kiện của chủ thể quản lý đặt ra và thực thi nhằm đưa hoạt động của đối tượng quản lý theo ý chí, mục đích của mình

- Rộng hơn, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý còn được hiểu như là những đối sách, ứng xử của tổ chức, quốc gia đối với môi trường xã hội, tự nhiên và chính trị mà chính thể đó tồn tại Nhất là trong

hệ thống mở về kinh tế, chính trị – xã hội hiện đại, ở đó xuất hiện nhiều mối quan

hệ với những vị trí, vai trò, sự tương tác khác nhau

Chính sách đối với trẻ em

Trang 9

Chính sách đối với trẻ em là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh vực giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em Đó là các chính sách và chương trình hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế; trợ giúp giáo dục, y tế, chỉnh hình, phục hồi chức năng;

hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương trình tiếp cận công trình công cộng, tham gia giao thông và công nghệ thông tin đối với trẻ tàn tật; chính sách và chương trình hỗ trợ gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có hợp phần hoặc nội dung bảo vệ trẻ em; các chương trình dành riêng cho trẻ em

Chính sách đối với trẻ em khuyết tật

Chính sách đối với trẻ em là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh vực trẻ em khuyết tật Đó là các chính sách bảo trợ xã hội, trợ giúp về y tế, giáo dục, hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao, tiếp cận với các dịch vụ công cộng giúp trẻ khuyết tật phát triển với khả năng của chính mình, xoá đi những mặc cảm, phát triển và hòa nhập với cộng đồng như những trẻ bình thường khác

1.1.2.2 Đặc trưng của chính sách đối với trẻ em khuyết tật

Thứ nhất, thực hiện chính sách đối với TEKT bao giờ cũng thông qua những hành vi cụ thể của con người Đời sống xã hội của con người bao giờ cũng được bộc lộ thông qua các hành vi, hoạt động cụ thể trong các mối quan hệ xã hội

Thứ hai, thực hiện chính sách đối với TEKT là hành vi phù hợp với pháp luật

về TEKT Đó là những hành vi cụ thể của con người song thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật có đặc điểm là phải phù hợp với các quy định hiện hành liên quan tới TEKT

Thứ ba, thực hiện chính sách đối với TEKT là một quá trình có mục đích, nó bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau Để biến những quyền và nghĩa vụ pháp lý bảo vệ trẻ em khuyết tật thành những hành vi xử sự trong thực tế thì cần thiết phải thông qua hàng loạt là các hoạt động cụ thể của con người mà các hoạt động đó phải có mục tích, mục tiêu cụ thể

1.1.2.3 Nội dung của chính sách đối với trẻ em khuyết tật

Một là, chính sách giáo dục đối với trẻ em khuyết tật

Hai là, chính sách bảo trợ xã hội

Ba là, chính sách chăm sóc y tế

Bốn là, chính sách về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch

Trang 10

Năm là, chính sách ưu tiên cho trẻ em khuyết tật khi tham gia giao thông

bằng phương tiện giao thông công cộng

Sáu là, chính sách thông tin trợ giúp trẻ em khuyết tật

1.1.3 Thực hiện chính sách đối với trẻ TEKT

Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hóa các chính sách đối với trẻ em khuyết tật đã đề ra

1.2 Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật

1.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật 1.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật

1.2.3 Đôn đốc thực hiện chính sách đối với trẻ em khyết tật

1.2.4 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm trong thực hiện chính sách đối với trẻ

em khuyết tật

1.3 Vai trò của thực hiện chính sách đối với trẻ em TEKT

1.3.1 Thực hiện định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với trẻ

em khuyết tật

1.3.2 Điều chỉnh chính sách của nhà nước đối với trẻ em khuyết tật

1.3.3 Huy động các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chính sách đối với trẻ

em khuyết tật

1.3.4 Thực hiện an sinh xã hội đối với trẻ em khuyết tật

1.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật

1.4.1 Hệ thống thể thế nhà nước

Hiệu lực và hiệu quả của chính sách đối với trẻ em khuyết tật phụ thuộc vào bối cảnh, điều kiện mà nó sinh ra và tồn tại Khi trình độ kinh tế chưa phát triển, hệ thống thể chế, pháp luật chưa hoàn thiện thì chính sách đối với trẻ em khuyết tật chưa đạt được những chuẩn mực mang tính hệ thống do phần lớn giải quyết những vấn đề cụ thể trước mặt

1.4.2 Tính chất của vấn đề chính sách

Đây là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách đối với trẻ em khuyết tật, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn bằng chính sách và tổ chức thực thi chính sách đối với trẻ em khuyết tật

1.4.3 Năng lực thực thi chính sách của cán bộ quản lý và công chức

Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách đối với trẻ em khuyết tật Năng lực thực thi của cán bộ, công chức là thước đo bao

Trang 11

năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai…

1.4.4 Điều kiện tài chính và cơ sở vật chất để thực thi chính sách

Yếu tố này ngày càng có ý nghĩa quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước Theo quy luật phát triển, các hoạt động kinh tế – xã hội ngày càng được tăng cường về quy mô và trình độ để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội Quy mô các hoạt động trên không chỉ tăng về lượng, mà còn lan tỏa trên một không gian rộng, vượt ra khỏi phạm vi

1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở một số nước và giá trị tham khảo cho Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Nhật Bản

1.5.2 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật của Malaysia

1.5.3 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

1.5.4 Giá trị tham khảo cho Việt Nam

Một là, đưa ra nhiều biện pháp ngăn ngừa khuyết tật thông qua đẩy mạnh tuyền

truyền những kiến thức cần thiết, đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc y tế cho bà mẹ

và trẻ em, phòng tránh và căn thiệp sớm có thể gây ra khuyết tật

Hai là, đẩy mạnh chính sách giáo dục hòa nhập để giúp trẻ khuyết tật tự tin

trong giao tiếp, hòa nhập với xã hội

Ba là, xây dựng các công trình công cộng phù hợp cho trẻ em khuyết tật

Bốn là, đâỷ mạnh chính sách phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật về địa

phương và gia đình

Năm là, xây dựng một quỹ dành riêng cho trẻ em khuyết tật Với nguồn quỹ

này các cấp, chính quyền địa phương sẽ chủ động trong việc thực hiện chính sách

Ví dụ, như tại Nhật Bản, sau khi các em khuyết tật được đào tạo nghề nghiệp, bước khởi nghiệp ban đầu của các em để tự lập cuộc sống thì các em được hỗ kinh phí ban đầu từ nguồn quỹ của quốc gia và đã giúp các em giảm bớt các khó khăn trong cuộc sống lập nghiệp giai đoạn đầu

Trang 12

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã trình bày các khái niệm về TEKT, chính sách, khái quát về quy trình tổ chức thực hiện chính sách đối với TEKT, vai trò của nhà nước trong thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật, nội dung của từng chính sách đối với trẻ

em khuyết tật, các yếu tố tác động đến tổ chức thực thi chính sách cũng như kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở một số quốc gia và giá trị tham khỏa cho Việt Nam Các kết quả nghiên cứu ở chương 1, học viên sử dụng làm cơ sở nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam Việc nhận thức chung nhất về trẻ em khuyết tật là cơ sở quan trọng để nghiên cứu hệ thống pháp luật, chính sách và đánh giá thực trạng về thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam và những ảnh hưởng do tình trạng khuyết tật đem lại có tác dụng tích cực trong việc xây dựng các chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ trẻ em khuyết tật tốt nhất

Trang 13

Chương 2 THỰC TRẠNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam và chính sách đối với trẻ em

khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Thực trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

 Số lượng, cơ cấu, độ tuổi và dạng khuyết tật

6 Thiểu năng trí tuệ 3,6

(Theo Nghiên cứu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hợp tác với

UNICEF vào năm 1998 - 1999)

Đa số trẻ khuyết em khuyết tật đều chị đa khuyết tật Khoảng 50% trẻ em

khuyết tật sống trong cộng đồng và khoảng 90% trẻ em sống trong những trung

tâm bảo trợ và bị khuyết tật nặng Có 6,5% trẻ em khuyết tật trong trung tâm bảo

trợ bị chính gia đình mình bỏ rơi, 2,6 % là trẻ em mồ côi và khoảng 9,1% không có

chút liên lạc nào với gia đình Đa số trẻ khuyết tật sống với gia đình (95,85%) và

có người chăm sóc Một nửa số hộ gia đình có trẻ khuyết tật gặp khó khăn lớn về

tài chính, nên không thể cung cấp những điều kiện đầy đủ cho trẻ được phục hồi

chức năng và học hành

 Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tiến hành cuộc Tổng điều tra dân

số và Nhà ở năm 2009, đây là cuộc Tổng điều tra dân số đầu tiên thu thập các

thông tin về tình trạng khuyết tật của người dân và trẻ em khuyết tật Kết quả đã

cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ 5 trở lên chiếm 7,8 % dân số tương

đương với 6,7 triệu người với khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm khoảng

19,7% số người khuyết tật trên phạm vi cả nước Trong đó, số trẻ em khuyết tật

nặng chiếm tỷ lệ cao nhất với 31%; ngoài ra có 27% trẻ khuyết tật trí tuệ; 20% trẻ

Ngày đăng: 03/04/2017, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w