1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố vĩnh yên, tỉnh vĩnh phúc (TT)

24 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 458,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính quyền Thành phố Vĩnh yên nói riêng, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc nói chung những năm qua và yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới cho thấy tổ

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐINH XUÂN HẬU

TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 60380102

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ ĐỨC ĐÁN

Phản biện 1: TS NGUYỄN MINH SẢN

Phản biện 2: TS PHAN VĂN HÙNG

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính

Quốc gia

Địa điểm: Phòng họp Nhà Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học

viện Hành chính Quốc gia

Số: 77 – Đường Nguyễn Chí Thanh – Quận Đống Đa – TP Hà Nội

Thời gian: Vào hồi giờ ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia

hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh đã được hình thành và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1945 đến nay Qua các giai đoạn lịch sử, tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh đã đạt được những thành tựu nhất định góp phần vào việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng, xây dựng và củng

cố chính quyền nhân dân vững mạnh

Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập từ tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Vĩnh Yên trở lại là tỉnh lỵ, thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, Chính quyền Thành phố Vĩnh yên nói riêng, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc nói chung trong những năm gần đây được củng cố, tăng cường về tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, từng bước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính quyền Thành phố Vĩnh yên nói riêng, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc nói chung những năm qua và yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới cho thấy tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố Vĩnh Yên hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nhất định như chưa thể hiện rõ sự phân cấp cho chính quyền thành phố Vĩnh Yên thẩm quyền trách nhiệm giữa cá nhân

và tập thể trong hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh còn một số nội dung chưa được làm rõ,

mô hình tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của chính quyền thành phố Vĩnh Yên nhiều điểm chưa hợp lý làm hạn chế hiệu quả hoạt động của chính quyền

Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố Vinh Yên trong giai đoạn hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có tính thực tiễn cấp thiết Chính vì vậy đề tài

"Tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố Vĩnh yên, tỉnh Vĩnh phúc" được chọn làm luận văn thạc

sĩ Luật

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và của

chính quyền địa phương, trong đó đề cập tới chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh dưới giác độ là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước nói chung của chính quyền địa phương nói riêng

Nhóm thứ hai gồm những bài viết, công trình nghiên cứu về pháp luật, về hoàn thiện pháp luật

Những bài viết, công trình này đề cập tới những vấn đề lý luận về pháp luật và hoàn thiện pháp luật mà chưa

đi sâu vào hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ở nước ta nói chung và thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện về tổ chức, hoạt động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Thứ nhất, Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản và thực tiễn về tổ chức và hoạt động chính quyền thành

phố trực thuộc tỉnh

Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ở Việt

Nam nói chung và chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

Thứ ba, Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, hoạt động chính thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh

Phúc

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh và

Trang 4

thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh là một vấn đề lớn và phức tạp Trong phạm vi luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.1 phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các quan điểm đường lối chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đồng thời, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, khảo sát, tổng kết thực tiễn, v.v

5 Những điểm mới của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về tổ chức, hoạt động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn có đóng góp mới sau:

- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn để hoàn thiện về tổ chức, hoạt động chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ở nước ta hiện nay

- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng tổ chức, hoạt động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc làm căn cứ thực tiễn để hình thành quan điểm và giải pháp hoàn thiện tổ chức, hoạt động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện về tổ chức, hoạt động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc đảm bảo các tiêu chí hoàn thiện

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn để hoàn thiện về tổ chức và hoạt động chính thành phố trực thuộc tỉnh nói chung và chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Những kết luận, kiến nghị đưa ra trong luận văn có thể có ý nghĩa đối với việc tìm ra mô hình tổ chức và phương thức hoạt động hợp lí của chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những cán bộ, công chức chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố Vĩnh Yên trong việc tìm hiểu cũng như áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật trong tổ chức, hoạt động của mình

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1 Cơ sở lý luận pháp luật về tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc Chương 2 Thực trạng tổ chức, hoạt động của thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3 Quan điểm giải pháp hoàn thiện tổ chức, hoạt động bộ máy chính quyền thành phố Vĩnh

Yên, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN

THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

1.1.1 Khái niệm chính quyền địa phương

Trước khi có Hiến pháp 2013 ở Việt Nam, nội hàm của khái niệm CQĐP được hiểu về cơ bản theo hai nghĩa:

-Theo nghĩa hẹp (theo cách hiểu thông thường): Chính quyền địa phương (CQĐP) bao gồm Hội đồng nhân dân

(HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta, HĐND và UBND được tổ chức ở cả 3 cấp hành chính là Tỉnh - Huyện - Xã Quan niệm này bắt nguồn từ thực tiễn pháp luật về tổ chức và hoạt động của CQĐP ở nước ta trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945): Hiến pháp và pháp luật nước ta khi quy định về CQĐP thường đề cập 2 cơ quan là: HĐND và UBHC (UBND) Từ tên chương của các bản Hiến pháp 1946, 1959,

1980 và 1992 đến tên của các Luật về tổ chức CQĐP (trừ Luật năm 1958), CQĐP thường được hiểu chủ yếu và trước hết gồm 2 cơ quan là HĐND và UBND hoặc Uỷ ban hành chính (UBHC)

- Theo nghĩa rộng, chính quyền địa phương là cơ quan tổ chức chính quyền ở địa phương không bao gồm

Tòa án, Viện kiểm sát (là những cơ quan thực hiện quyền tư pháp) Ngoài ra, cũng không bao gồm các cơ quan của các Bộ, Ngành trung ương đóng ở địa phương (công an, quân sự, hải quan, thuế…) vì những cơ quan này là của các Bộ ngành trung ương đặt ở địa phương, do các cơ quan Bộ, ngành ở trung ương thành lập, bổ nhiệm, thủ trưởng các cơ quan này và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chúng [47]

1.2.1 Tính chất đặc điểm của chính quyền địa phương

Quyền lực nhà nước về bản chất là thống nhất, không có sự phân chia, dù cho là kiểu nhà nước nào và được

tổ chức theo hình thức liên bang hay đơn nhất, theo nguyên tắc phân quyền hay tập quyền, được phân cấp quản lý theo hình thức phân quyền, tản quyền hay tập quyền Nhưng nhà nước nào cũng phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để quản lý, và do đó chính quyền nhà nước phải thiết kế tương ứng với các đơn

vị hành chính lãnh thổ đẻ quản lý, từ đó dẫn đến khái niệm chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương Như vậy, khi nói đến chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương là nói đến phạm vi, quyền hạn giữa bộ máy cơ quan nhà nước ở trung ương với bộ máy cơ quan chính quyền địa phương

Tính thống nhất của quyền lực nhà nước về phương diện cấu trúc hành chính lãnh thổ đòi hỏi bộ máy nhà nước phải được tổ chức theo một hệ thống, thống nhất đảm bảo tính liên thông của quyền lực từ trung ương xuống địa phương

Bộ máy chính quyền địa phương vừa là một hình thức tổ chức thể hiện quyền lực nhà nước là thống nhất ở địa phương, vừa là hình thức tổ chức các cộng đồng dân cư trong mỗi cấp hành chính - lãnh thổ để thực hiện quyền làm chủ của bản thân mình Như vậy xét về tính chất của chính quyền địa phương được nhìn nhận theo hai phương diện có gắn bó với nhau

Chính quyền địa phương với ý nghĩa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, tức là trong quan hệ quyền lực của nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương là một bộ phận trong một hệ thống cơ quan

quyền lực nhà nước ở địa phương Sự khác nhau giữa nội hàm và ý nghĩa của tập hợp từ “ ở địa phương” và

“ của điạ phương” là khác nhau rất cơ bản, vì thế cần được quán triệt hiểu sâu sắc hơn quan điểm về tính

Trang 6

thống nhất của quyền lực nhà nước mặt khác căn cứ vào hiến pháp và luật tổ chức chính quyền địa phương

về vị trí, chức năng thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, có thể thấy rằng hoạt động của chính quyền địa phương xét trên bình diện thực thi quyền lực và loại hoạt động mang tính chấp hành

Chính quyền địa phương không chỉ đại diện cho quyền lực nhà nước ở địa ở địa phương mà còn đại diện cho lợi ích, ý chí nguyện vọng của các cộng đồng dân cư trong một phạm vi lãnh thổ Vì vậy chính quyền địa phương ở mỗi cấp còn là hình thức tổ chức thực hành dân chủ nhân dân của mỗi địa phương và thật sự là một tổ chức của nhân dân, do nhân, vì nhân dân trong mỗi phạm vi lãnh thổ cụ thể Do đó, việc tổ chức và vận hành chính quyền địa phương ở mỗi cấp phải căn cứ vào đặc điểm phạm vi và nhu cầu, khả năng thực hành dân chủ của các cộng đồng dân cư trên địa bàn

Chính quyền đại phương với tư cách là hình thức thực hiện dân chủ của nhân dân trong từng cấp hành chính – lãnh thổ mới đại diện được quyền lợi, ý chí nguyện vọng của người dân, sâu sát gắn bó người dân, phục vụ đúng kịp thời các yêu cầu của người dân và chịu sự giám sát thực tế của người dân

Để đảm bảo được yêu cầu này chính quyền địa phương phải được giao tự chủ ở mức độ cần thiết có thể đọc lập giải quyết các công việc, các nhu cầu xác thực của từng địa phương, của từng cộng đồng dân cư Trong ý nghĩa này lịch sử phát triển của các mô hình chính quyền địa phương tên thế giới đã chỉ ra nhiều dạng thức khác nhau của chế độ tự quản địa phương

1.1.3 Vị trí vai trò của chính quyền địa phương

Để quản lý xây dựng phát triển kính tế, văn hoá xã hội của đất nước, Việt Nam cũng giống như tất cả các nước trên thế giới đều phải tổ chức các đơn vị hành chính – lãnh thổ và thành lập các cơ quan nhà nước ở đại phương nhằm mục đích

Thứ nhất, để triển khai các quyết định của các cơ quan nhà nước Trung ương

Thứ hai, để nhân dân địa phương tham gia vào các hoạt động của các cơ quan nhà nước và quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương;

Thứ ba, phân cấp cho địa phương để giảm bớt công việc cho cơ quan nhà nước ở Trung ương, từ đó tạo điều kiện cho Trung ương tập trung giải quyết những vấn đề có tính quốc gia;

Thứ tư, việc tổ chức cơ quan nhà nước ở địa phương còn thể hiện bản chất của nhà nước của dân, do dân và

vì dân mọi lợi ích nhà nước đều xuất phát từ nhân dân;

Thứ năm, là việc tổ chức cơ quan nhà nước ở địa phương cũng là để giải quyết tốt quyền lợi của Trung ương

và quyền lợi của mỗi địa phương

Chính quyền địa phương ở các đô thị có vai trò quan trọng không chỉ trong việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn mà còn có vai trò đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của cả vùng hoặc khu vực; là đơn vị hạt nhân của đơn vị hành chính – lãnh thổ lớn hơn, gắn kết chặt chẽ với các đơn vị hành chính lãnh thổ ngoại vi và các khu vực lân cận thành các vùng, các khu vực lãnh thổ để cùng nhau giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tê – xã hội, về cung ứng dịch vụ công mà không bị cắt khúc bởi địa giới hành chính

Trang 7

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ

1.2.1 Khái niệm, vị trí, tính chất, vai trò đô thị

1.2.1.1 Một số khái niệm liên quan

Khái niện Đô thị: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong

những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội 1995) [49]

Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống làm việc theo kiểu thành thị ( Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH kiến trúc, Hà Nội)[29]

Ở đây, đô thị được hiểu theo nghĩa là một đơn vị hành chính - lãnh thổ, do đó, định nghĩa đô thị sẽ chủ yếu dựa trên các quy định của pháp luật, nói cách khác là các định nghĩa có giá trị pháp lý

Khái niện Thành phố nói chung được dùng để chỉ một khu định cư đô thị có dân số lớn Mặc dù

không có thỏa thuận nào về cách phân biệt một thành phố với một thị trấn trong phạm vi ý nghĩa ngôn ngữ, nhiều thành phố đều có một cơ chế hành chính, pháp lý và vị thế lịch sử cụ thể dựa trên luật pháp địa phương [51][52]

Khái niện Thành phố trực thuộc tỉnh là một loại hình đơn vị hành chính nhà nước hiện nay

tại Việt Nam, tương đương huyện, quận và thị xã Thành phố trực thuộc tỉnh là một đô thịvà là trung tâm hành chính, kinh tế của một tỉnh nhưng không phải tỉnh nào cũng có thành phố trực thuộc tỉnh, Một số thành phố trực thuộc tỉnh còn được chỉ định làm trung tâm kinh tế và văn hóa của cả một vùng (liên tỉnh).Tuy về loại hình, thành phố trực thuộc tỉnh là một đô thị và dân cư tại đó được xếp là dân thành thị, nhưng vẫn có thể còn một phần dân sống bằng nông nghiệp ở các xã ngoại thành

1.2.1.2 Vị trí, tính chất, vai trò của đô thị

Vị trí:Thành phố chính yếu được dùng để chỉ một khu định cư đô thị có dân số lớn mặc dù không có thỏa thuận nào

về cách phân biệt một thành phố với thị trấn trong một phạm vi ý nghĩa ngôn ngữ, nhiều thành phố đều có một cơ chế hành chính pháp lý và ví thế lịch sử cụ thể dựa trên luật pháp

Tính chất: Thường thì thành phố có khu nhà ở, khu công nghiệp và khu thương mại cùng với những trách nhiệm

quản lý có thể liên quan đến một vùng rộng lớn Phần nhiều diện tích là nhà ở dựa vào cơ sở hạ tầng là đường sá và

hệ thông giao thông công cộng Mật độ pháp triển rất nhiều tạo điều kiện cho sự tương tác giữa con người và các doanh nghiệp, mang lại lợi ích trong quản lý phát triển đô thị Một thành phố thường liên quan đến các đô thị đi lại giữa các vùng này

Vai trò: Thành phố là một loại hình đơn vị hành chính nhà nước hiện nay tại Việt Nam, tương đương cấp huyện,

quận và thị xã Thành phố là một đô thị và là trung tâm hành chính kinh tế của một tỉnh nhưng không phải tỉnh nào cũng có thành phố Một số thành phố còn được chỉ định làm trung tâm kinh tế văn hóa của cả một vùng ( liên tỉnh).tuy về loại hình, thành phố là một đô thị và cư dân tại đó được xếp là dân thành thị, nhưng vẫn có thể còn phần dân sông bằng nông nghiệp ở các xã ngoại thành

1.2.2 Đặc điểm, Phân loại của đô thị

1.2.2.1 Đặc điểm đô thị

Thứ nhất về đặc điểm địa lý: Đô thị thường là khu vực lãnh thổ không bị cắt khúc và có vị trí địa lý thuận

lợi cho giao thông, thương mại phát triển

Thứ hai, đặc điểm về dân cư: Dân cư đô thị thường không có tính chất thuần nhất như dân cư nông thôn vì

Trang 8

dân cư đô thị có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao và bao gồm cả dân di cư từ các khu vực khác đến

Thứ ba đặc điểm về cơ sở hạ tầng: Cùng với sự phát triển kinh tế, đô thị có cơ sở hạ tầng tương đối phát

triển hơn so với khu vực nông thôn

Thứ tư, đặc điểm kinh tế: Kinh tế đô thị là sự kết hợp đan xen công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương

nghiệp Đô thị là nơi tập trung của các hoạt động thương mại, dịch vụ làm xuất hiện nhiều loại thị trường khác nhau như thị trường lao động, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính

Thứ năm, đặc điểm về việc làm: Điểm khác biệt lớn giữa đô thị và nông thôn là tỉ lệ lao động phi nông

nghiệp Đô thị là nơi tập chung của các loại hình lao động khác nhau như lao động chuyên nghiệp (có trình độ chuyên môn cao hay lao động dịch vụ hoặc bán thời vụ, thường có mức lao động cao hơn so với mức lao động nông thôn)

Thứ sáu, đặc điểm về văn hóa: Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, văn minh đô thị cũng có

những đặc điểm khác biệt với văn hóa nông thôn ở một số đặc điểm sau: văn hóa đô thị không thể hiện tính liên kết cao trong cộng đồng dân cư như văn hóa làng xã vì nó không còn thể hiện ý thức đoàn kết cộng đồng cao trong lĩnh vực lao động, sản xuất, đởi sống hàng ngày mà thường thể hiện tính chất độc lập, tách biệt

Thứ bảy, về trật tự an toàn xã hội: Do có sự khác biệt về điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội

nên đô thị cũng có những điểm khác biệt lớn so với nông thôn trong lĩnh vực an ninh trật tự đô thị

1.2.2.2 Phân loại đô thị

Đô thị loại I: Là thành phố lớn có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc

- Chức năng đô thị:

+ Đô thị trực thuộc trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước

Đô thị loại II: Là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành

- Chức năng đô thị:

+ Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh

Đô thị loại III: Là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị

- Chức năng đô thị:

Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh

Đô thị loại IV:

Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông của một vùng trong một tỉnh Có vai trò thúc đẩy kinh tế xã hội của một vùng trong một tỉnh hoặc một số lĩnh vực trong một tỉnh

Đô thị loại V

Chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã

Trang 9

1.2.2.3 Tiêu chuẩn thành lập chính quyền đô thi theo nghị quyết 1211

1.2.3 Tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh

1.2.3.1 Vị trí, tính chất, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

a,Vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh

+ Vị trí của Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh

Vị trí pháp lý căn cứ vào điều 113 hiến pháp 2013 quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu

ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết

định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân vị trí của HĐND cũng được ghi nhận trong điều 6 của Luật

tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

+ Tính chất Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Cơ sở pháp lý: điều 113, 115, 116 Hiến pháp 2013 và phần những quy định chung trong luật tổ chức chính quyền địa phương 2015

Như đã trình bày ở trên vị trí của Hội đồng nhân dân tao nên những tính chất đặc thu riêng của nó Việc Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh hai tính chất của HĐND mang nhiều ý nghĩa quan trọng, hai tính chất ấy là tính quyền lực và tính đại diện

b, chức năng, nhiệm vụ Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh

- Chức năng của Hội đồng nhân dân

Khoản 1 Điều 26 và điều 54 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của HĐND thành phố trực thuộc tỉnh HĐND thực hiện 02 loại chức năng là “quyết định” và “giám sát”:

- Nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền:

- Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân;

- Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật;

1.2.3.2 Cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Cơ cấu tổ chức

Theo quy định tại (điều 53) Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, về Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Theo quy định tại (điều 5, 86 và 87) luật tổ chức chính quyền địa phương 2015

Trang 10

Quy định về hoạt động Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, HĐND thực hiện 02 loại chức năng là “quyết định” và “giám sát”:

1.2.3.3 Vị trí, tính chất, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

+ Vị trí Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Điều 114 Hiến pháp năm 2013 và điều 8 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định “ Ủy ban nhân dân

do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”

+ Tính chất Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, ủy ban nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước, chấp hành nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp cũng như các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

+ Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

UBND thành phố trực thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, và các văn bản cơ quan nhà nước cấp trên nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh

tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh và thức hiện các chính sách khác trên địa bàn

1.2.2.4 Cơ cấu tổ chức, hoạt động Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

a, Cơ cấu tổ chức Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc

Theo quy định tại (khoản 1 và khoản 2 điều 55) Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015

b, Hoạt động của Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh

Theo quy định tại (điều 5, 113 và 125) luật tổ chức chính quyền địa phương 2015

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trang 11

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA THÀNH PHỐ

2.1.3.2 Thời kỳ đổi mới năm 1986 đến năm 1992

2.1.4 Giai đoạn 1992 đến năm 2015:

2.2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC

2.2.1 Cơ cấu, tổ chức Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở thành phố Vĩnh yên bầu ra

Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh yên được quy định tại (điều 53 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015) theo nguyên tắc sau đây:

a) Thành phố Vĩnh yên có 122.568 nhân khẩu theo (khoản a điều 53 luật luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015) thì thành phố Vĩnh yên được bầu ba mươi hai đại biểu

b) Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân

c) Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên được thành lập hai ban là: Ban pháp chế và Ban kinh tế -

xã hội

Ban của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên gồm có hai Trưởng ban, hai Phó Trưởng ban và tám Ủy viên

2.2.2 Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên

2.2.2.1 Hoạt động ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên

Nhiệm kỳ 2010 - 2015, HĐND thành phố Vĩnh Yên tổ chức 16 kỳ họp; ban hành 118 nghị quyết, trong đó có

43 nghị quyết về công tác tổ chức cán bộ, 39 nghị quyết theo luật định và 36 nghị quyết chuyên đề Đồng thời, tiến hành 420 cuộc giám sát, 270 cuộc tiếp xúc cử tri

2.2.2.3 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên

a) Hoạt động giám sát tại kỳ họp:

Kỳ họp được tiến hành đúng luật định, các đại biểu HĐND cấp thành phố Vĩnh Yên thường về dự kỳ họp đạt

tỷ lệ 95% và đã làm việc thể hiện phong cách trí tuệ, đổi mới, dân chủ, hoạt động có thực quyền và hiệu lực

ý kiến phát biểu, chất vấn thảo luận tại kỳ họp diễn ra một cách nghiêm túc, sôi nổi và thiết thực, Những câu hỏi chất vấn của đại biểu nêu ra đã có nội dung cụ thể, xác đáng; có địa chỉ rõ ràng không chung chung Ý kiến trả lời chất vấn cũng đã đề cao được trách nhiệm và được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn Điều quan trọng là việc chất vấn không phải chỉ nêu tồn tại rồi quy trách nhiệm mà đã từng bước gắn với việc gợi mở những chủ trương, biện pháp để các cơ quan nhà nước nghiên cứu chấn chỉnh hoạt động

b) Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND

Trang 12

Việc kiện toàn lại cơ quan này của HĐND thành phố với chức năng, nhiệm vụ cụ thể theo luật định như là một điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức các hoạt động của HĐND và một bước tiến mới giúp cho HĐND có điều kiện hoạt động thực chất hơn, nhất là ở thời gian giữa hai kỳ họp Những công việc chuẩn bị, triệu kỳ họp, điều hành kỳ họp của Thường trực HĐND đã góp phần quan trọng để hoạt động giám sát tại kỳ họp đi vào trọng tâm, thiết thực, tránh được tràn lan và nhờ vậy nâng cao chất lượng công tác giám sát

c) Hoạt động giám sát của các ban HĐND

Là những cơ quan giúp việc cho HĐND về hoạt động giám sát trong các lĩnh vực tương ứng theo quy định

cụ thể của luật, trong nhiệm kỳ này hoạt động của các ban HĐND được ổn định và chất lương hơn Từng ban trên cơ sở điều hòa của thường trực HĐND đã xây dựng giám sát cụ thể và chuẩn bị báo cáo thẩm định đáp ứng nhu cầu hoạt động của HĐND cấp mình

d) Hoạt động giám sát của đại biểu HĐND

Hầu hết các đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kỳ này trình độ và năng lực đều được nâng lên và có nhiều cố gắng để phát huy vai trò trách nhiệm trong hoạt động, đặc biệt các đại biểu đã chú ý nhiều tới việc thu nhập thong tin đẻ nắm bắt tình hình cụ thể ở thành phố trong việc thực thi pháp luật cũng như thực thi nghị quyết của HĐND qua công việc tiếp xúc cử tri theo định kỳ trước và sau kỳ họp theo đối tượng và chuyên đề, qua

đó giữ mối quan hệ với các tổ chức ở đơn vị bầu cử của mình

2.2.3 Cơ cấu, tổ chức Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.3.1 Cơ cấu tổ chức Uỷ ban nhân thành phố Vĩnh Yên

Theo quy định tại (khoản 1 và 2 điều 55) Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, Nghị định Số: 107/2004/NĐ-CP, Căn cứ khoản b điều 7 Nghị định Số: 08/2016/NĐ-CP được quy định như sau:

Đối với UBND: Về cơ cấu tổ chức của UBND, nếu như trước đây, theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, không phải người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND nào cũng là ủy viên của UBND thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã mở rộng cơ cấu tổ chức UBND theo đó tất

cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND đều là ủy viên của UBND Đây là quy định nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu Về số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính, theo

đó đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05 Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch Đối với đơn vị hành chính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch

Như vậy: Uỷ ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên, nhiệm kỳ 2010-2015 được cơ cấu nhân sự 1Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch và 5 Ủy viên (theo Luật UBND và HĐND 2003)

Về phía UBND có 1 Chủ tịch và 3 Phó chủ tịch có 5 Uỷ viên UBND, 11 phòng và tương đương trực thuộc UBND thành phố, ngoài ra còn có một số đầu mối nữa không trực thuộc UBND, mà trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên như, Cục thống kê, Ngân hàng, kho bạc, Cục hải quan, Toàn án nhân dân, Viện kiểm soát, cục thi hành án dân sự Hiện tại nhiệm kỳ 2016-2021 UBND thành phố Vĩnh Yên được tổ chức (theo luật CQĐP 2015), được cơ cấu nhân

Ngày đăng: 03/04/2017, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm