Từ những con số trên, Bộ Tài chính đánh giá rằng thuế suất TTN về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể như: khắc phục những tồn tại, hạn chế về mức thuế suất TTN trong quá trình thự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
người gây ô nhiễm phải trả tiền
Lê Thị Thanh 1353801011214
Võ Thị Hồng Thoa 1353801011227
TP Hồ Chí Minh, tháng04 năm 2016
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Phí BVMT Phí Bảo vệ môi trường
PPP Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiềnOECD Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
Trang 3Tài nguyên thiên nhiên là những của cải có sẵn trong tự nhiên, là món quà màthiên nhiên ban tặng cho con người Tuy vậy, nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải
là vô tận Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đang diễn biến theo chiều hướng tiêu cực, bị thu hẹp cả về số lượng và chấtlượng Đặc biệt, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu sử
dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng cao Luật TTN, Luật bảo vệ môi trường ra đời
đã góp phần giải đáp được những trăn trở của cộng đồng về việc bảo vệ nguồn tàinguyên thiên nhiên dưới sự tác động của nhu cầu phát triển kinh tế bằng cách đặt ra
các công cụ kinh tế để đánh vào hành vi khai thác, sử dụng của con người Tuy nhiên,trong thời gian qua, việc áp dụng các biện pháp này trong thực tế vẫn chưa thực sựhiệu quả Luật TTN hiện hành mặc dù có những đóng góp tích cực trong việc quản lý,khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng chưa thực sự giải quyết đượcnhững tồn tại, bất cập trong thực tiễn Nhận thức được sự cấp thiết đó, nhóm chúng tôichọn đề tài “Thu, nộp, sử dụng TTN gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trảtiền trên cơ sở điều tra xã hội học” ghi nhận những ý kiến nhất định trên03 nhóm đối
tượng: sinh viên, người làm việc trong lĩnh vực tài chính (thuế, kế toán) và người đi
làm trong lĩnh vực khác; nghiên cứu quy định của văn bản pháp luật Việt Nam, đồngthời có sự so sánh, đánh giá, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
1 Lý luận chung
1.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng, đặc biệt tại cácquốc gia công nghiệp, vì vậy 24 nước công nghiệp và ủy ban cộng đồng châu Âu, Nam
Tư cũ của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation
and Development – OECD) nhóm họp và soạn thảo nên “Nguyên tắc người gây ônhiễm phải trả tiền”
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (polluter pays principal, viết tắt là
PPP) được sử dụng như là nguyên tắc nền tảng phổ biến trong quá trình xây dựng
chính sách và triển khai vận dụng các công cụ quản lý môi trường vào thực tiễn, trởthành kim chỉ nam cho các chính sách về môi trường, được biết đến rộng rãi không chỉ
các nước thành viên OECD mà còn phổ biến ở ngoài OECD Theo định nghĩa chính
thức của OECD thì nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là “nguyên tắc được
Trang 4dùng để phân bổ chi phí cho các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằmkhuyến khích việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránhlàm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốc tế”1 Người gây ô nhiễm theo phạm vixác định của nguyên tắc này bao gồm người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên,người có hành vi xả thải vào môi trường, người có những hành vi khác gây tác động
xấu tới môi trường Nguyên tắc xuất phát từ quan điểm cho rằng môi trường là mộtloại hàng hóa đặc biệt, do đó, để khai thác, sử dụng thì phải bỏ tiền ra mua quyền khaithác, quyền sử dụng, quyền tác động đến hàng hóa đặc biệt này Mục đích của nguyêntắc này trước hết nhằm tạo công bằng giữa các chủ thể trong việc khai thác, sử dụngtài nguyên, bởi lẽ tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân và xuất hiện hầu hết tạimọi khía cạnh trong nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, do đó, nếu tài nguyêncạn kiệt sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống Ngoài ra, nguyên tắc
người gây ô nhiễm phải trả tiền tác động vào lợi ích kinh tế của các chủ thể nên góp
phần điều chỉnh hành vi của con người theo hướng tích cực hơn Để thực hiện nguyêntắc này đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu: tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải
tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường, phải đủ sức tácđộng đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan, hay nói cách khác khôngđược thu bình quân, không được thu hình thức Hình thức trả tiền theo nguyên tắc này
bao gồm: thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường, phí bảo vệ môi trường, tiền phải trảcho việc sử dụng dịch vụ (dịch vụ thu gom rác, dịch vụ quản lý chất thải gây hại), tiềnchi trả cho việc sử dụng các cơ sở hạ tầng (tiền thuê kết cấu hạ tầng trong khu côngnghiệp bao gồm cả tiền thuê hệ thống xử lý chất thải tập trung) và chi phí phục hồi
môi trường trong khai thác tài nguyên
1.2 Thuế tài nguyên
TTN là một trong những biện pháp can thiệp kinh tế đối với tổ chức, cá nhân khaithác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Namnhằm tăng doanh thu cho nhà nước và đảm bảo sự công bằng của xã hội Con người
tác động vào tài nguyên thiên nhiên dưới nhiều hình thức khác nhau như khai thác, xử
lý, sử dụng nhưng TTN chỉ đánh vào hành vi khai thác Như vậy, hành vi khai thác
1
Xem thêm “The polluter-pays principle – OECD analyses and recommendations”:
http://www.oecd.org/officialdocuments/publicdisplaydocumentpdf/?cote=OCDE/GD(92)81&docL anguage=En
Trang 5được xem là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ nộpTTN.Để khắc phục tình trạng
lãng phí tài nguyên thiên nhiên, tăng cường tập trung nguồn thu từ hoạt động khai thác
tài nguyên thiên nhiên vào ngân sách nhà nước, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp
lệnh TTN Sau một thời gian áp dụng thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hànhPháp lệnh TTN sửa đổi 1998 Nhằm điều chỉnh biểu TTN cho phù hợp với điều kiệnkinh tế Việt Nam trong những năm 2000, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hànhPháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh TTN 1998 Qua những năm Pháp lệnh
được ban hành và có hiệu lực, việc quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên chuyển biến theo chiều hướng tích cực, góp phần quan trọng vào
sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội Tuy nhiên, khi xét đến tình đồng bộ với nhữngsắc luật hiện hành như Luật đầu tư, Luật dầu khí, Luật quản lý thuế thì nhiều quy
định trong Pháp lệnh không còn phù hợp Bên cạnh đó, từ những năm 2000, Việt Nambước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, nền kinh tế đã có những chuyển biến rõ rệt, các
hoạt động đầu tư, khai thác được mở rộng hơn không chỉ về quy mô mà còn về chủthể Với mục đích giải quyết những bất cập này, ngày 25/11/2009, Quốc Hội khóa XII
đã ban hành Lu ật TTN thay thế cho Pháp lệnh TTN 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung Pháp lệnh TTN năm 20082 Như vậy, Luật TTN có hiệu lực từ ngày 01/7/2010 đã
tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc, là công cụ hiệu quả để nhà nước quản lý và
điều phối hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ quốc gia
Kết luận mục 1:
Thu, nộp, sử dụng TTN gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đượchiểu là mức tiền TTN mà chủ thế có hành vi khai thác nộp không được mang tính bìnhquân và hình thức Tiền phải trả phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động
đến tài nguyên thiên nhiên, từ đó góp phần hình thành nên ý thức tiết kiệm, khai thác
có kế hoạch, tránh lãng phí của các chủ thể thông qua việc tác động đến chính lợi íchkinh tế của họ Ngoài ra, số tiền mà chủ thể khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc đối
tượng chịu TTN trả phải đủ sức để tái tạo, khắc phục lại những hậu quả, thiệt hại dohành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên gây ra, đồng thời thực hiện các chức năng và
nhiệm vụ khác của Nhà nước Bên cạnh đó, Nhà nước có thể quản lý được chủ thểkhai thác tài nguyên trên lãnh thổ là ai, loại tài nguyên nào, số lượng là bao nhiêu Từ
2 Nguyễn Thị Thu Huyền, Giáo trình Luật thuế, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr 379.
Trang 6những thông tin trên, Nhà nước có thể đưa ra những chính sách, biện pháp hợp lý tác
động vào hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, tránh nguy cơ gây cạn kiệt nguồn
tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường nhằm tạo nên sự ổn định và bền vững của tài sảnquý giá này
2 Chế độ thu, nộp thuế tài nguyên và sử dụng nguồn thu thuế tài nguyên gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
2.1 Chế độ thu, nộp thuế tài nguyên
2.1.1 Thực trạng về chế độ thu, nộp thuế tài nguyên
Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng số tiền thu TTN bình quân trong giai đoạn
2011 – 2014 đạt 39,1 nghìn tỉ đồng/năm, chiếm 4,9% tổng thu ngân sách nhà nước,
trong đó dầu thô chiếm 79% tổng số thu TTN, còn lại 21% là những loại tài nguyên
khác3 Từ những con số trên, Bộ Tài chính đánh giá rằng thuế suất TTN về cơ bản đã
đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể như: khắc phục những tồn tại, hạn chế về mức thuế
suất TTN trong quá trình thực hiện Biểu thuế trước đó, góp phần nâng cao hiệu quảquản lý Nhà nước đối với tài nguyên nói chung và bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia
nói riêng; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nơi có
khoáng sản được khai thác; đảm bảo đơn giản, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho ngườinộp thuế và cơ quan Thuế4
Tuy nhiên, các doanh nghiệp và các nhà môi trường học cũng đưa ra nhiều luồng
ý kiến trái chiều về TTN
Thứ nhất, theo các doanh nghiệp, mức thuế suất đánh vào hành vi khai tháckhoáng sản ở nước ta cao hơn nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thếgiới: Thuế suất TTN của Việt Nam dao động từ 2% - 35% tùy theo từng loại khoángsản, trong khi đó Úc chỉ dao động từ 1,6% - 7,5%; còn ở Trung Quốc khoảng từ 5% -10% Mức thuế cao sẽ gây ảnh hưởng đến việc nộp thuế của nhiều doanh nghiệp, đặcbiệt là dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền – số tiền thuế nộp vàomang tính chất đề phòng, bảo vệ và đảm bảo tái tạo môi trường trước khi thực hiệnhoạt động khai thác, sử dụng, bởi đa số các doanh nghiệp không có đủ nguồn tài chính
ứng trước, điều này dễ dẫn tới tình trạng kê khai sai hoặc trốn thuế Đồng thời, thuế
3
Tạp chí tài chính, số ra ngày 15/11/2015
4
Tạp chí tài chính, số ra ngày 15/11/2015
Trang 7suất cao còn làm cho giá thành sản phẩm bị nâng lên theo, giảm sức cạnh tranh của cácsản phẩm tài nguyên, khoáng sản trong nước; có thể xem đây cũng là m ột nguyên nhândẫn đến tình trạng khai thác lậu, buôn lậu tài nguyên, khoáng sản nhằm trốn tránhtrách nhiệm đối với nhà nước.
Thứ hai, “Tiền cấp quyền khai thác” và đăng ký cấp quyền khai thác đối với các
người khai thác khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Do đó, trên
thực tế dễ dẫn đến những sai sót vì sự quản lý không đồng bộ, cụ thể nếu như trongviệc đăng ký cấp quyền khai thác Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý không chặtchẽ thì Bộ Tài chính không thể thu TTN đối với những chủ thể đó, ngân sách nhà nướcthất thu
Thứ ba, việc áp thuế suất TTN là gần như đồng loạt, không có sự chênh lệch,phân biệt giữa các khu vực khác nhau Điều này dẫn đến nhiều bất cập, do trên thực tế,
sự thuận lợi, khó khăn giữa các vùng miền, các vị trí địa lý là khác nhau
Thứ tư, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý cấp phép khai thác tài nguyên và cơquan Thuế còn thiếu chặt chẽ; công tác quản lý khai thác tại địa phương còn bị buônglỏng; hệ thống thông tin về trữ lượng, chủng loại tài nguyên khai thác chưa đầy đủ Từ
đó, hoạt động thu thuế có thể giảm hiệu quả, không đồng bộ, thống nhất, gây ra nhữngkhó khăn trong việc thực hiện chính sách TTN
Cuối cùng, theo ý kiến của các nhà môi trường học, một số loại tài nguyên có giátrị cao như san hô đỏ, đá bazan dạng cột… vẫn chưa được quy định thu TTN hoặc mứcthuế suất chưa thật sự phù hợp dẫn tới việc thất thu ngân sách và khai thác không hợp
lý, hiệu quả.5
2.1.2 Quy định pháp luật Việt Nam về chế độ thu, nộp TTN
TTN là một loại thuế gián thu TTN đánh vào sản phẩm khai thác chịu thuế là cáctài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, như:Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩmcủa rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật); Tài nguyên thiên nhiên
5
Nguồn: http://nature.org.vn/vn/wp-content/uploads/2014/10/2.-Tax-in-EI-Giang.pdf )
Trang 8khác.6 Trên cơ sở Luật TTN, chúng tôi có những phân tích về việc thu, nộp nghĩa vụ
tài chính này gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền như sau:
2.1.2.1 Về đối tượng chịu thuế:
Luật TTN 2009 đã quy định rõ từng nhóm tài nguyên thiên nhiên thuộc đối
tượng chịu loại thuế này, cụ thể đó là nhóm khoáng sản kim loại; khoáng sản không
kim loại; dầu thô; khí thiên nhiên, khí than; sản phẩm rừng tự nhiên, trừ động vật; hảisản tự nhiên; nước thiên nhiên; yến sào thiên nhiên và các tài nguyên khác…7 Và hầuhết các loại tài nguyên thiên nhiên chịu sự điều chỉnh của thuế này là các loại khoángsảncó tác động tương đối lớn đối với việc phát triển nền công nghiệp của nước ta cũng
như ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường khi tiến hành khai thác
2.1.2.2 Về đối tượng nộp thuế:
Luật TTN số 45/2009/QH12 đã quy định rõ đối tượng nộp thuế là tổ chức, cánhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu TTN Thông tư 152/2015/TT – BTCnêu cụ thể các chủ thể trên là: tổ chức, hộ kinh doanh đối với hoạt động khai tháckhoáng sản; doanh nghiệp đối với hoạt động khai thác tài nguyên; các chủ thể khác
được quy định rõ tại Điều 3 Thông tư này Việc xác định rõ chủ thể như vậy sẽ dễdàng hơn trong việc thu nộp thuế và áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả
tiền Đồng thời xác định rõ từng loại hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên gắnvới từng chủ thể được cấp phép sẽ giúp cho nhà nước dễ dàng quản lý hơn việc thu,nộp TTN của các loại chủ thể này, chủ thể nào khai thác thì chủ thể đó có trách nhiệm
đứng ra nộp thuế cho nhà nước, tránh được bất cập trong việc xác định đối tường nộp
thuế dẫn dến thất thu
Kết quả khảo sát trên 3 nhóm đối tượng về chủ thể trực tiếp kê khai nộp TTN chothấy sự đồng tình khá cao của những người được khảo sát với quy định này, cụ thể67% số người được khảo sát, 55% số người được khảo sát làm việc trong lĩnh vực tàichính (thuế và kế toán, gọi chung là nhóm Tài chính) cho rằng TTN phải do ngườikhai thác trực tiếp kê khai nộp thuế tài nguyên Cùng với đó, cũng có một số lượng
đáng kể còn lại cho rằng đây là nghĩa vụ của Doanh nghiệp chế biến (33% ý kiến
chung và 45% với nhóm người làm trong lĩnh vực tài chính)
Trang 9Tuy nhiên, chính sách thuế chưa quy định rõ việc thu TTN đối với hộ gia đình,
cá nhân khai thác tài nguyên, vật liệu xây dựng thông thường trên khuôn viên đất ở
bán cho đơn vị kinh doanh vật liệu xây dựng, nên cầnquy định cụ thể vào Luật;Đối với
hoạt động khai thác nhỏ lẻ: Người mua gom tài nguyên khôngcó cam kết với ngườibán tài nguyên nhỏ lẻ nộp thay TTN thì không phải kê khai nộp thuế dẫn đến việc lợidụng trốn thuế8 Đây là một thiếu sót trong việc quy định và quản lý các đối tượng nộp
thuế khai thác nhỏ lẻ dẫn đến việc thất thu thuế và không thể áp dụng nguyên tắcngười gây ô nhiễm phải trả tiền, gây thiệt hại không nhỏ đến lợi ích chung
2.1.2.3 Về sản lượng tài nguyên tính thuế và giá tính thuế:
Về sản lượng tài nguyên tính thuế:
Theo Thông tư 152/2015/ TT – BTC hướng dẫn Luật TTN 2009 thì sản lượng
tài nguyên tính thuế đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng,khối lượng thì được xác định là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyênkhai thác trong việc tính thuế9 Ngoài ra Luật TTN còn chia ra các loại tài nguyên khác
như: tài nguyên khai thác mà chưa thể xác định được số lượng, trọng lượng, khốilượng; tài nguyên không bán mà để sản xuất sản phẩm khác; nước thiên nhiên, nước
khoáng thiên nhiên hay tài nguyên khai thác thủ công Việc chia ra các nhóm tàinguyên khác nhau trong việc xác định sản lượng tài nguyên tính thuế đã góp phầnkhông nhỏ trong việc xác định một cách dễ dàng hơn sản lượng tài nguyên khai thác
67
97
67 96
Trang 10được Nhiều loại tài nguyên khi khai thác có lẫn tạp chất và khó xác định được sảnlượng chính xác của chúng, mặt khác công nghệ kỹ thuật của một số chủ thể vẫn chưađược cải tiến nên việc khai thác sẽ gây hao phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường Do
vậy, pháp luật cần quy định một cách tính sản lượng khai thác tài nguyên cụ thể, xác
định đúng được giá tính thuế để tránh thất thu nguồn thuế Khi xác định rõ được sảnlượng tài nguyên tính thuế, việc áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền sẽ
dễ dàng hơn, góp phần không thu bình quân và tượng trưng
Về giá tính TTN:
Theo quy định của Luật TTN 2009/QH12, giá bán tài nguyên không phân biệt
nơi tiêu thụ, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên, giá tính thuế đó khôngđược thấp hơn giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định và trường hợp nếu giá bán tài
nguyên thấp hơn giá tính TTN do UBND cấp tỉnh quy định thì phải tính TTN theo giá
do UBND cấp tỉnh quy định10 Giá tính TTN được xác định cụ thể qua các nhóm chủthể đã đư ợc phân chia rõ ràng: nhóm loại tài nguyên xác định được giá bán sản phẩm,loại tài nguyên không xác định được giá bán; loại tài nguyên được khai thác không bán
ra trực tiếp mà phải qua khâu sản xuất chế biến sau đó mới bán ra thị trường; một sốloại tài nguyên cụ thể khác như các loại nước thiên nhiên, nước khoáng thiên nhiên và
gỗ Việc phân chia cụ thể từng nhóm loại tài nguyên để xác định giá tính thuế dễ dàng
hơn, bởi lẽ mỗi nhóm tài nguyên có tính chất khác nhau và có những loại tài nguyên
rất khó có thể xác định được giá bán Cụ thể như loại tài nguyên không xác định đượcgiá bán do chứa nhiều chất khác nhau thì sẽ được xác định là giá bán đơn vị tài nguyêntừng chất, căn cứ vào tổng doanh thu bán tài nguyên trong tháng11; hay giá tính thuế
xác định trong các trường hợp cụ thể như đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất
thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân12và giá này do nhà nước công bố
2.1.2.4 Về thuế suất:
Theo quy định của Luật TTN số 45/2009/QH12, thuế suất TTNđược phân theo
các nhóm và loại tài nguyên như sau:
Nhóm tài nguyên sản phẩm của rừng tự nhiên bao gồm các loại gỗ nhóm I, II, III,
IV, V,VI…; cành, ngọn, gốc, rễ; củi; trầm hương, kì nam; và các sản phẩm khác của10
Điều 6 Thông tư 152/2015/TT-BTC.
Trang 11rừng tự nhiên…13 có thuế suất dao động trong khoảng 5% đến 30%, nhìn chung thuếsuất của nhóm tài nguyên này khá cao như với gỗ loại I là 25-30%, gỗ loại II là 20-30% hay trầm hương, kì nam là 25-30%, biên độ dao động thuế suất khá thấp Nhómhải sản thiên nhiên; nước thiên nhiên;yến sào thiên nhiên và các tài nguyên khác cómức thuế suất không cao và biên độ dao động thuế suất nhỏ, cụ thể như ngọc trai, bào
ngư, hải sâm thuộc nhóm hải sản tự nhiên có thuế suất từ 6-10% hay nước khoángthiên nhiên, nước nóng thiên nhiên thuộc nhóm nước thiên nhiên có thuế suất từ 8-
10%, yến sào thiên nhiên dao động từ 10-20% Những loại tài nguyên thuộc nhóm nàyhầu hết là những loại tài nguyên có thể tái tạo được và là loại tài nguyên được con
người sử dụng thường xuyên trong cuộc sống, việc khai thác những loại tài nguyên
này không cần phải có công nghệ cao và việc khai thác ít dẫn đến ô nhiễm môi trườngcho nên thuế suất của các loại tài nguyên nhóm này tương đối thấp và dao động khôngnhiều
Nhóm khoáng sản kim loại có mức thuế suất dao động từ 5 % đến 25% với cácloại khoáng sản kim loại tiêu biểu như sắt, mangan, titan, vàng, bạc, chỉ, kẽm,
bauxite,… mức độ dao động thuế suất của nhóm kim loại tương đối lớn và có sự chênh
lệch rõ giữa các nhóm kim loại Khoáng sản không kim loại cũng có biên độ dao độngkhá lớn và mức thuế suất có sự chênh lệch rõ ràng,tiêu biểu như dolomite và sét chịulửa có biên độ dao động từ 7-20%; kim cương, rubi có độ dao động từ 16-30%; thạchanh tinh thể dao động từ 12-25% hay khoáng sản không kim loại khác dao động từ 4-25% Tiếp theo là nhóm dầu thô và khí thiên nhiên, khí than: mức thuế suất của dầu
thô dao độngtừ 6-40%, khí thiên nhiên từ 1-30% Có thể thấy hai loại tài nguyên nàybiên độ dao động thuế suất cực kì lớn và mức thuế suất tối đa lên đến 30% và 40%
Quy định biên độ dao động lớn như vậy bởi lẽ hai nhóm tài nguyên này thuộc nhóm tàinguyên quý và là một nguồn quan trọng cho phát triển công nghiệp ở nước ta, hơn nữaviệc đánh thuế suất của hai loại tài nguyên này được xác định lũy tiến từng phần phụthuộc vào sản lượng khai thác và diện dự án đầu tư
Việc quy định mức thuế suất của các nhóm tài nguyên do Ủy ban thường vụQuốc hội quy định cụ thể theo từng thời kì tùy thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế vànhững hệ lụy của môi trường từ việc khai thác, mức thuế suất đó phải đảm bảo cácnguyên tắc phù hợp với danh mục, nhóm tài nguyên; góp phần quản lý nhà nước đối
13
Khoản 1, điều 7 luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12.
Trang 12với tài nguyên, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên
và góp phần đảm bảo nguồn thu ngân sách14 Quy định mức thuế suất qua từng thời kì
và đảm bảo được các nguyên tắc trên thì việc áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm
phải trả tiền sẽ được thực hiện một cách triệt để, không thu bình quân và tượng trưngmức thuế mà dựa vào nhóm, loại tài nguyên khai thác, sản lượng khai thác để đánhthuế đối với chủ thể khai thác
Kết quả khảo sát dựa trên Biểu mức thuế suất TTN15cho kết quả hầu hết là hợp lý
đối với mức thuế suất của 15 loại tài nguyên từ các nhóm tài nguyên nói trên (đều trên
50% ở cả 3 nhóm) Tuy nhiên cũng có không ít người đánh giá mức thuế suất đối vớitừng loại tài nguyên hiện nay là không hợp lý Điều đó cho thấy đối chiếu trong cùngmột nhóm tài nguyên thì tùy mức dao động có thể dẫn đến mức thuế suất chỉ hợp lý
đối với một số loại tài nguyên, mức thuế suất với những loại tài nguyên còn lại là cao
hoặc thấpcho thấy rằng mức thuế suất các loại tài nguyên quy định hiện nay chưa thực
sự hợp lý để đạt nguồn thu cao nhất
Cụ thể, đối với khoáng sản kim loại hay nhóm khoáng sản không kim loại mứcthuế suất cao, thấp hay hợp lý được đánh giá không giống nhau:
− Đối với tất cả những người được khảo sát: Nhóm kim loại vàng; đồng;
bạc, thiếc, chì, kẽm có thuế suất được đánh giá đa phần là hợp lý và thấp: hợp
lý khoảng 59-79%, thấp khoảng 14-32%; cao khoảng 7-15%; Nhóm cáckhoáng sản không kim loại và sắt thì thuế suấtngoài mức hợp lý được đánhgiá là cao nhiều hơn: hợp lý khoảng 64-75%, cao khoảng 19-22%, thấpkhoảng 6-20%