Các bộ phận đó có thể là các yếu tố “đầu vào”của quá trình sản xuất, gồm: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kĩ thuật; các khâu trong vòng tuần hoàn của tái sản xuất xã hội, gồm: sản xuấ
Trang 1TRẦN VIỆT PHƯƠNG
GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CÔ TÔ,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRẦN VIỆT PHƯƠNG
GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CÔ TÔ,
TỈNH QUẢNG NINH Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THANH SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và
chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc
hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong
luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Việt Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh”, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự
cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa,
phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái
Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng
dẫn PGS.TS Vũ Thanh Sơn
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác
của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các
bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành
nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Việt Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 4
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 4
1.1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp 4
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 9
1.1.3 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 14
1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 24
1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số địa phương 24
1.2.2 Những bài học kinh nghiệm cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 35
Trang 62.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 36
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37
Chương 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH 40
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Cô Tô ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 46
3.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh 50
3.2 Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2013 53
3.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành 53
3.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng 70
3.2.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế 74
3.3 Đánh giá chung về tình hình chuyển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2013 78
3.3.1 Những kết quả đạt được 78
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế 82
3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 83
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH 85
4.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cô Tô, Quảng Ninh 85
4.1.1 Quan điểm và Phương hướng 85
4.1.2 Mục tiêu 88
Trang 74.2 Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp huyện Cô Tô 89
4.2.1 Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách 89
4.2.2 Triển khai triệt để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 90
4.2.3 Khuyến khích áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ cho nông nghiệp 92
4.2.4 Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp 94
4.2.5 Mở rộng mạng lưới khuyến nông tới cơ sở 95
4.2.6 Huy động các loại nguồn lực cho chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 97
4.2.7 Nâng cao năng lực của nông dân đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp thị trường 98
4.2.8 Tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa nông nghiệp 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KT - XH : Kinh tế - xã hội
NN : Nông nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 3.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng
Ninh giai đoạn 2011 - 2013 54
Bảng 3.2: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt 56
Bảng 3.3: Diện tích gieo trồng và cơ cấu diện tích gieo trồng ngành trồng trọt 58
Bảng 3.4: Cơ cấu diện tích gieo trồng cây lương thực 59
Bảng 3.5: Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng cây công nghiệp 60
Bảng 3.6: Cơ cấu sản xuất ngành chăn nuôi 63
Bảng 3.7: Số lượng đàn vật nuôi của huyện 64
Bảng 3.8: Tình hình phát triển ngành thuỷ sản huyện Cô Tô 67
Bảng 3.9: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo thành phần kinh tế 75
Bảng 3.10: Một số kết quả và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp 78
Bảng 3.11: Năng suất một số loại cây trồng của huyện 79
Hình 3.1: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Cô tô 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước mà trong giai đoạn hiện nay khu vực nông nghiệp truyền thống vẫn được coi là khu vực chủ yếu Vai trò và vị trí của ngành kinh tế nông nghiệp đối với nền kinh tế nói chung và các ngành kinh tế khác nói riêng cho thấy ngành kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam từ trước cho đến nay Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp nhiều loại sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn của nền kinh tế, cung cấp nguồn nhân lực và tạo nên tích luỹ ban đầu cho sự ngiệp phát triển của đất nước Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế Hầu hết các nước phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo sản lượng lương thực, thực phẩm cần thiết đủ để nuôi sống dân tộc mình và tạo nền tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế khác phát triển
Việt Nam là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp, trên 70% dân số sống ở nông thôn và 56% lao động xã hội làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, sáng tạo ra 68% tổng giá trị kinh tế nông thôn, năng suất khai thác ruộng đất và năng suất lao động còn thấp… Để giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng với nước ta
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân Do đó, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như với từng địa phương là rất cần thiết
Cô Tô là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh với trên 89% dân cư sống ở nông thôn và 75,7% lao động nông nghiệp Đời sống của nông dân còn
Trang 11khó khăn, thu nhập thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn trên 6% Trong những năm qua, vấn đề tăng cường quản lý Nhà nước để phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện luôn được quan tâm và từng bước hoàn thiện Tuy nhiên, thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện đảo Cô
Tô còn chậm, cơ cấu nông nghiệp còn bất hợp lý, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao, tình trạng độc canh cây lương thực vẫn tồn tại trong khi đó nhiều tiềm năng phát triển chăn nuôi và thuỷ sản chưa được khai thác tốt Thực trạng này đòi hỏi phải có giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Cô Tô một cách hợp lý
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ - chuyên ngành kinh tế nông nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Luận giải cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại địa bàn huyện trong những năm tới một cách hiệu quả
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
- Mô tả và phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất, khuyến nghị các giải pháp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệptrên địa bàn huyện đảo
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian: Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
* Phạm vi về thời gian: Giai đoạn 2011 - 2013
* Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, tác giả
đề cập và nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại địa phương
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Đề tài góp phần cung cấp các luận cứ để xây dựng một số giải pháp,
bổ sung và hoàn thiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH - HĐH ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất những giải pháp mới sát với thực tế của huyện Cô Tô nên đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích nhằm nâng cao khả năng áp dụng vào thực tiễn ở Cô Tô và các địa phương có đặc điểm tương đồng
- So với các đề tài nghiên cứu về vấn đề này, điểm mới mà đề tài nghiên cứu đó là: Chưa có tác giả nào viết về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận kiến nghị, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở
huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Chương 4: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh theo hướng CNH - HĐH
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1.1 Cơ cấu kinh tế và phân loại cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ phận
khác nhau Các bộ phận đó có thể là các yếu tố “đầu vào”của quá trình sản
xuất, gồm: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kĩ thuật; các khâu trong vòng tuần hoàn của tái sản xuất xã hội, gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng; các ngành sản xuất của một nền kinh tế, gồm: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện cũng khác nhau Do đó, có thể khái quát cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện KT - XH nhất định [11]
Cơ cấu kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên những cơ sở chủ yếu sau:
- Cơ cấu kinh tế là kết quả của sự phân công lao động xã hội, được bắt đầu từ việc tăng năng suất lao động và sự phát triển của các mối quan hệ trao đổi hàng hóa tiền tệ
- Cơ cấu kinh tế phản ánh sự tương tác sống động giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó vai trò quyết định là sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Cơ cấu kinh tế có sự cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận trong một hệ thống với các cấp độ khác nhau, gắn với thời gian, không gian và đặc điểm
Trang 14chính trị, KT - XH nhất định nhằm bảo đảm sự phát triển và có thể tái sản xuất cả về KT - XH
Như vậy, bản chất của cơ cấu kinh tế là sự biểu hiện của các mối quan
hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội, đó là mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng không đơn thuần chỉ là quan hệ về mặt số lượng và tỉ lệ giữa các yếu tố- biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của hệ thống, mà là những mối quan hệ bên trong và bên ngoài của các yếu tố
đó biểu hiện về chất hay sự phát triển của hệ thống [14]
Mối quan hệ giữa lượng và chất trong cơ cấu của nền kinh tế thực chất
là những biểu hiện về tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đó Mặt khác, nền kinh tế quốc dân được phân chia theo nhiều cách thức và ở nhiều cấp độ khác nhau mới có thể thấy hết được các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nền kinh tế đó và nhìn chung người ta thường xem xét từ các góc độ chủ yếu sau:
Cơ cấu ngành kinh tế: phản ánh sự phân công lao động theo hướng
chuyên môn hóa sản xuất, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng khác nhau của nền sản xuất, sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa dạng Cho đến nay, trên thế giới về cơ bản có hai hệ thống phân ngành kinh tế, đó là hệ thống sản xuất vật chất, được áp dụng đối với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và hệ thống tài khoản quốc gia, được áp dụng đối với nền kinh tế thị trường
Sự phân chia các ngành như trên không phải là cách làm duy nhất mà
có sự khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế và
cơ chế quản lý của mỗi nước, nhưng có thể tìm được một cách thức duy trì một cơ cấu hợp lý và có thể lựa chọn được những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư các nguồn lực nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả nhất
Đối với nước ta, theo Quyết định số 10/2007/QĐ- TTg ngày 23/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế của
Trang 15Việt Nam, nền kinh tế nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1; 88 ngành kinh tế cấp 2; 242 ngành kinh tế cấp 3; 437 ngành kinh tế cấp 4 và
642 ngành kinh tế cấp 5
Nông nghiệp thường được xem là một ngành kinh tế, nếu hiểu theo nghĩa hẹp gồm có trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, nếu hiểu theo nghĩa rộng còn bao hàm cả lâm nghiệp và thuỷ sản [5] Theo hệ thống phân ngành kinh tế của nước ta hiện nay, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản là 1 trong 21 ngành kinh tế cấp 1, trong đó được phân chia thành:
- 3 ngành cấp 2 gồm: nông nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan (ngành nông nghiệp); lâm nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan (ngành lâm nghiệp); khai thác và nuôi trồng thuỷ sản (ngành thuỷ sản)
- 13 ngành cấp 3, gồm: trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nhân
và chăm sóc cây giống nông nghiệp, săn bắt, đánh bẫy và hoạt động dịch vụ
có liên quan (7 ngành cấp 3 thuộc ngành nông nghiệp); trồng rừng và chăm sóc rừng, khai thác gỗ và lâm sản, thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải là gỗ
và lâm sản khác, hoạt động dịch vụ lâm nghiệp (4 ngành cấp 3 thuộc ngành lâm nghiệp); khai thác thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản (2 ngành cấp 3 thuộc ngành thuỷ sản)
- 41 ngành cấp 4, bao gồm: 31 ngành thuộc ngành nông nghiệp, 5 ngành thuộc ngành lâm nghiệp và 5 ngành thuộc ngành thuỷ sản
- 56 ngành cấp 5, bao gồm: 41 ngành thuộc ngành nông nghiệp, 8
ngành thuộc ngành lâm nghiệp và 7 ngành thuộc ngành thuỷ sản
Cơ cấu thành phần kinh tế: gắn liền với các hình thức sở hữu về tư liệu
sản xuất và xu hướng chung là là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu ngày càng đa dạng Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là thành phần kinh tế Tuy nhiên, ngày nay giữa các hình thức sở hữu có sự đan xen lẫn nhau tùy thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế, dẫn đến sự phân chia nền kinh tế theo các thành phần kinh tế ngày càng phức tạp Từ mối quan
Trang 16hệ giữa các thành phần kinh tế trong quá trình vận động người ta có thể thấy được xu hướng phát triển và vai trò của từng thành phần kinh tế để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tác động phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế
Cơ cấu vùng kinh tế: phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt
không gian địa lí Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách phù hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ
Tùy theo mục đích quản lý mà có thể phân chia lãnh thổ của một quốc gia thành các vùng với những đặc trưng về mặt kinh tế khác nhau và trong nông nghiệp, cách phân chia lãnh thổ thành các vùng sinh thái nông nghiệp mang một ý nghĩa rất quan trọng, vì từ đó có thể xác lập được các cơ cấu cây trồng - vật nuôi hợp lý, vừa khai thác được lợi thế của mỗi vùng, vừa khắc phục tình trạng phát triển dàn trải, thiếu tập trung để có thể hình thành được các vùng sản xuất chuyên canh có khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần và theo vùng kinh tế là sự biểu hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh
tế giữ vai trò quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành, cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành, các thành phần kinh tế phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối, đạt hiệu quả cao giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế của một nền kinh tế
1.1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản, là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Kinh tế nông nghiệp bao gồm nông
Trang 17nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thưc phẩm cho con người, làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và làm nguồn hàng cho xuất khẩu
Quá trình hình thành và biến đổi của các cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền với các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng không thể tách rời với quá trình hình thành và biến đổi của cơ cấu nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp có thể phân thành các nhóm nhân tố sau:
- Nhóm nhân tố tự nhiên: trước hết đó là điều kiện đất đai , thời tiết ,
khí hậu có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Kinh tế nông nghiệp gắn với điều kiện tự nhiên rất chặt chẽ, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ cho năng suất cao và ngược lại
- Nhóm nhân tố về kinh tế và tổ chức: Trong đó vấn đề thị trường và
các nguồn lực đóng vai trò hết sức quan trọng Hệ thống chính sách kinh tế
vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tê nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Chính sách phát triển kinh tế hàng hoá và chính sách khuyến khích xuất khẩu đã tạo điều kiện để phát triển nền nông nghiệp đa canh, hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá với quy mô ngày càng lớn
- Nhóm nhân tố về kĩ thuật: Tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nó mở ra những triển vọng to lớn trong việc áp dụng những công nghệ mới vào canh tác, chế biến và bảo quản nông sản nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm để có thể hòa nhập vào thị trường thế giới
Trang 18Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Đồng thời trong từng nhóm ngành lại được phân chia thành các bộ phận nhỏ:
- Trong nông nghiệp (theo ngành hẹp) được phân chia thành trồng trọt
và chăn nuôi
Ngành trồng trọt được phân chia tiếp thành: cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu…
Ngành chăn nuôi bao gồm: gia súc, gia cầm
- Ngành lâm nghiệp bao gồm: rừng trồng, rừng tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh, khai thác rừng tự nhiên…
- Ngành ngư nghiệp: bao gồm đánh, bắt cá, nuôi trồng các loại thuỷ hải
sản như tôm, cá…
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến KT - XH từ lạc hậu, mang tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang
bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và
nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế [16]
Sự chuyển dịch đó đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua những bậc thang nhất định của sự phát triển Đầu tiên là sự thay đổi về lượng, khi lượng
đã tích luỹ đến độ nhất định tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất Đó là quá trình chuyển hóa dần từ cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp
và có hiệu quả hơn
Tất nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự tác động của con người có ý nghĩa quan trọng Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến trạng thái phát triển tối ưu đạt được hiệu quả, thông qua các tác động điều khiển có
Trang 19ý thức, định hướng của con người, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các qui luật khách quan
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình chuyển dịch các nguồn lực trong nông nghiệp nhằm gia tăng sản lượng các ngành, trong đó các ngành có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỷ trọng tăng và xu hướng chung đối với sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước là tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản phi lương thực, nhất là các sản phẩm chăn nuôi và thủy sản ngày càng tăng khi thu nhập của dân cư tăng lên Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
là chuyển dịch toàn diện cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng [8] Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp làm thay đổi dần tỷ trọng của từng ngành kinh tế, từng thành phần kinh tế, tỷ trọng lao động của từng ngành trong tổng thể nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ thường được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng các ngành trong tổng giá trị sản phẩm nội địa (GDP) của quốc gia đó hay vùng đó
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện
có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu
cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp với mục tiêu kinh tế- xã hội đó xác định cho từng thời kỳ phát triển
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp: là sự thay đổi tỷ trọng
giữa các ngành và nhóm ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp hiện nay là hướng tới một nền nông nghiệp hàng hóa, sản xuất thâm canh, đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị
- Trong ngành trồng trọt, xu hướng độc canh cây lương thực đã được hạn chế dần, thay vào đó là việc trồng những loại cây có năng suất cao, có giá trị hàng hóa lớn
Trang 20- Trong ngành chăn nuôi cũng sự thay đổi về cơ cấu, những loài vật nuôi có giá trị dinh dưỡng tốt, phù hợp với những yêu cầu của thị trường được chú trọng phát triển
Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp: chủ yếu
diễn ra do sự tác động của các nhân tố KT - XH, trong đó sự định hướng về mặt chính trị- xã hội có vai trò chủ yếu Số lượng các thành phần kinh tế tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp cũng tương đương với số lượng các thành phần kinh tế tham gia trong nền kinh tế quốc dân
Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ nông nghiệp: đang diễn ra mạnh mẽ, hình
thành nên những vùng chuyên môn hóa có sự ổn định về phương hướng sản xuất, về quy mô, về bảo đảm chất lượng và hiệu quả xã hội./
Quá trình Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời kì CNH - HĐH cũng chính là quá trình Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm vào các mục tiêu:
- Khai thác và sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh của nông nghiệp trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương
- Khai thác có hiệu quả các tiềm năng nông nghiệp như đất đai, khí hậu, nguồn nước,
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm góp phần tạo nên khối lượng của cải vật chất ngày càng lớn, cơ cấu sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng và phong phú
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phải góp phần vào việc ổn định và phát triển KT - XH và nâng cao đời sống nhân dân
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời kì CNH - HĐH cũng chính là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm vào các mục tiêu:
- Khai thác và sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh của nông nghiệp
trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương
Trang 21- Khai thác có hiệu quả các tiềm năng nông nghiệp như đất đai, khí
hậu, nguồn nước,
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đảm bảo an toàn lương thực,
thực phẩm góp phần tạo nên khối lượng của cải vật chất ngày càng lớn, cơ
cấu sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng và phong phú chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải góp phần vào việc ổn định và phát triển KT - XH
nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển và yêu cầu phát triển Sự thay đổi trạng thái của ngành nông nghiệp được thể hiện qua hai mặt cơ bản sau:
- Thay đổi số lượng các bộ phận hợp thành ngành nông nghiệp Sự thay đổi này tất yếu kéo theo sự thay đổi về tỷ trọng từng bộ phận trong ngành nông nghiệp
- Số lượng các bộ phận hợp thành không đổi, nhưng tỷ trọng của các bộ phận thay đổi do tốc độ phát triển của chúng khác nhau
1.1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tất yếu xuất phát từ vị trí của nông nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội, từ thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta, từ yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu của nền kinh tế thị trường:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết phải xuất phát từ vị trí của nông nghiệp và thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta
Kinh tế nông thôn trước mắt cũng như lâu dài vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta Theo số liệu thống kê năm 2013, tỷ trọng tổng sản phẩm trong nông-lâm-ngư nghiệp là 2,67% trong GDP Trong tương lai nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất quan trọng bảo đảm các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 22Trên địa bàn nông thôn có 46,9% (theo số liệu thống kê năm 2013) lao
động xã hội, đó là nguồn cung cấp lao động cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, việc xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng lao động phù hợp để phát triển nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế nông thôn nói riêng Mặt khác, nông thôn chiếm 67,64% dân số cả nước, là nơi tập trung gắn bó của nhiều ngành kinh tế, là thị trường rộng lớn, nếu được mở rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp Trước hết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng thúc đẩy hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá, phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản phẩm
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là do đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới đã tạo
đà cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn bắt nhịp vào quá trình chuyển sang kinh tế thị trường Tuy nhiên, nó đang đặt ra cho nông nghiệp những yêu cầu mới, cũng như những thách thức gay gắt trong sự phát triển Trong nền kinh
tế thị trường, các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá Cơ cấu nông nghiệp trong cơ chế thị trường cũng phải bảo đảm và tuân thủ các mối quan hệ đó Thị trường phát triển đòi hỏi cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng phải biến đổi theo hướng đa dạng hơn, tuân thủ các quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường Nông nghiệp không chỉ có nhiệm vụ tăng trưởng sản xuất lương thực
mà còn phải đa dạng hoá sản xuất và sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để
Trang 23trở thành một bộ phận tích cực thúc đẩy nền kinh tế đang từng bước chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta còn xuất phát từ yêu cầu phát triển một nền kinh tế có hiệu quả, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; giải quyết công ăn việc làm và xoá đói giảm nghèo cho cư
dân nông thôn
1.1.3 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế thực hiện một loạt chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội Ngành phản ánh một loạt hoạt động nhất định của con người trong quá trình sản xuất, nó được phân biệt theo tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, đặc tính của sản phẩm sản xuất
ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất
Trong một vùng lãnh thổ (quốc gia, tỉnh, huyện) bao giờ cũng phát triển nhiều ngành kinh tế Mỗi vùng lãnh thổ nông nghiệp bao giờ cũng có nhiều ngành với mối quan hệ mật thiết với nhau Chính vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong nông nghiệp chính là làm thay đổi các quan hệ tỷ
lệ giữa các ngành trong GDP của vùng đó
Các ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội Như vậy phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành các ngành và cơ cấu ngành Chính vì vậy chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình chuyển từ trạng thái cơ cấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp hơn với sự phát triển tiến bộ của khoa học công nghệ, nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi yếu tố nguồn lực của đất nước
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp là phải hướng tới một cơ cấu ngành hợp lý, đa dạng trong đó cần phát triển các ngành chủ lực có nhiều lợi thế để đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu
Trang 24Đồng thời phải kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ và
cơ cấu các thành phần kinh tế
* Chuyển dịch giữa nông nghiệp với lâm nghiệp và ngư nghiệp (thủy sản)
Đây là những ngành sản xuất mà tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai, rừng và nguồn nước, đối tượng sản xuất là giới sinh học Cơ cấu sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của nước ta hiện nay là chưa phù hợp, thể hiện ở chỗ
tỷ trọng sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị nông - lâm - ngư nghiệp Một cơ cấu hợp lý và hiệu quả là phải tăng nhanh tỷ trọng lâm và ngư nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp
* Chuyển dịch giữa trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề
Cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi - ngành nghề là cơ cấu phản ánh một cách toàn diện mối quan hệ trong sản xuất nông nghiệp Đặc điểm của trồng trọt là sản xuất có tính thời vụ Phát triển chăn nuôi và ngành nghề một mặt vừa hỗ trợ cho trồng trọt phát triển, mặt khác tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo mối quan hệ trồng trọt - chăn nuôi - ngành nghề là nhằm tăng tỷ trọng của chăn nuôi và ngành nghề, giảm tỷ trọng trồng trọt Vì vậy, trong sản xuất ở nước ta hiện nay, chủ trương phát triển mọi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính là hoàn toàn đúng đắn
* Chuyển dịch giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành chế biến và dịch vụ
Trong hệ thống kinh tế nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là khâu quan trọng hàng đầu, nó cung cấp sản phẩm cho đời sống xã hội Khâu chế biến bao gồm việc chế biến các sản phẩm cho người, sản phẩm cho vật nuôi và phân bón cho cây trồng Dịch vụ là khâu quan trọng, làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp Dịch vụ vừa là khâu cung cấp các yếu tố sản xuất cho đầu vào, vừa đảm nhiệm khâu tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất (đầu ra)
Trang 25Việc duy trì các mối quan hệ tỷ lệ giữa sản xuất - chế biến và dịch vụ không những đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp hoạt động bình thường mà còn làm tăng giá trị nông nghiệp, tăng sản lượng hàng hóa và nông sản xuất khẩu
* Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa trồng trọt - chăn nuôi - lâm nghiệp
và dịch vụ phục vụ nông nghiệp
Đây là sự phản ánh của phân công lao động xã hội theo ngành gắn liền với sản xuất nông nghiệp trên một địa bàn cụ thể Sự phát triển của khu vực kinh tế nông thôn đã kéo theo sự thay đổi của cơ cấu lao động ở khu vực này Lao động trong nhóm hộ nông - lâm - ngư nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ, tỷ lệ lao động trong sản xuất nông nghiệp giảm đi Đây là một xu hướng tiến bộ, vì nó vừa
có tác dụng sử dụng có hiệu quả hơn việc “toàn dụng” lao động nông thôn, vừa thực hiện nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta
1.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau phát triển Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ chính là sự
bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ là theo hướng đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất
và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn bó cơ
cấu kinh tế của từng vùng với cả nước
1.1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng
Trang 26Trong nông nghiệp tồn tại nhiều thành phẩn kinh tế khác nhau tuỳ mỗi quốc gia, mỗi vùng mà số lượng thành phần kinh tế cũng khác nhau Các thành phẩn kinh tế cơ bản như: kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, hộ gia đình Trong đó kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các nông, sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân và kinh tế hộ tự chủ đang trong xu hướng chuyển dịch từ kinh tế hộ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá và từng bước tăng tỷ lệ hộ kiêm và hộ chuyên ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Do đó chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế chính là sự thay đổi về các đơn vị sản xuất kinh doanh, xem thành phần kinh tế nào nắm vai trò tự chủ trong việc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu cho nền kinh tế chung của xã hội
Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã khẳng định việc chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước và coi trọng việc phát triển kinh tế nhiều thành phần Cho nên xu thế chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế ở nước ta đó là sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế hộ tự chủ là đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra các sản phẩm nông- lâm-thuỷ sản cho nền kinh tế quốc dân
Vì vậy để có sản xuất hàng hoá lớn, nông nghiệp nông thôn nước ta không dừng lại ở kinh tế hộ sản xuất hàng hoá nhỏ mà phải đi lên phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá lớn, kiểu mô hình kinh tế trang trại
Đối với kinh tế hợp tác phải nhanh chóng hoàn thiện việc đổi mới hợp tác xã kiểu cũ theo luật hợp tác xã Đồng thời khuyến khích mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác kiểu mới, đó là những hợp tác xã có hình thức và tính chất đa dạng, quy mô và trình độ khác nhau Hợp tác xã và hộ nông dân cùng tồn tại phát triển theo nguyên tắc tự nguyện của các hộ thành viên và bảo đảm lợi ích thiết thực giữa hai bên
Trang 27Đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011) tiếp tục khẳng định nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Đối với nông nghiệp: Phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả, bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy ưu thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn Khuyến khích tập trung ruộng đất, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, mở rộng xuất khẩu Phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn Xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với từng loại cây, con Khuyến khích tập trung ruộng đất; phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô
và điều kiện của từng vùng Tiếp tục đổi mới, xây dựng mô hình tổ chức để phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với cơ chế thị trường Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng sản xuất Phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh, có giá trị cao
1.1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, mỗi nhân tố đều có vai trò, vị trí và tác động nhất định, có những nhân
tố tác động tích cực nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực Tổng hợp các nhân tố tác động cho phép chúng ta tìm ra các lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phương từ đó có thể lựa chọn một cách sơ bộ một cơ cấu kinh
tế hợp lý, hài hoà, thích hợp nhất với sự tác động của các nhân tố đó, các nhân
tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể được chia thành 3 nhóm:
Trang 28a Điều kiện tự nhiện
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là đối với các nước trình độ công nghiệp hoá còn thấp như nước ta Nhóm nhân tố này bao gồm:vị trí địa lí, điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai,nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu
tố sinh học khác…
Vị trí địa lí thuận lợi và các tiềm năng tự nhiên phong phú của mỗi vùng lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, kinh tế hộ và trang trại cũng phát triển với quy mô lớn
và nhanh hơn so với các vùng khác
b Điều kiện kinh tế - xã hội
Nhóm nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi
cơ cấu kinh tế kinh tế nông nghiệp Các nhân tố xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm:
- Thị trường
Luôn gắn với kinh tế hàng hoá, thị trường có thể được hiểu là lĩnh vực trao đổi trong đó người mua và người bán các loại hàng hoá nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá mua bán Mặt khác
do sự phát triển của xã hội, nhu cầu đa dạng của con người cũng không ngừng biến đổi và nâng cao, đòi hỏi thị trường đáp ứng ngày càng tốt hơn Xu hướng chung là quy mô dân số càng lớn, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ nông nghiệp càng nhiều, còn đối với thu nhập của dân cư, có hai khuynh hướng xảy ra, khi thu nhập còn thấp, tiêu dùng các nông sản thông thường tăng và khi thu nhập tăng, tiêu dùng các nông sản thông thường giảm và tiêu dùng các nông sản chất lượng cao tăng Ngoài ra, tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng một số loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tư phải tìm cách đáp ứng cũng như tác động vào sự hình thành cơ cấu Điều này quy định sự cần thiết phải
Trang 29chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phù hợp với xu hướng biến động và phát triển của thị trường Nhu cầu thị trường ngày càng đa dạng
và nâng cao thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp càng phải phong phú, đa dạng hơn Bên cạnh đó các quan hệ thị trường ngày càng mở rộng thì người sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá và tự lựa chọn thị trường Như vậy các quan hệ thị trường góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phân công lao động trong nông thôn, là cơ sở hình thành cơ cấu nông thôn mới
Thị trường với bản chất của nó là tự phát dẫn đến những rủi ro cho người sản xuất và gây lãng phí các nguồn lực của xã hội vì thế cần phải có sự quản lý của nhà nước ở tầm vĩ mô để thị trường phát triển đúng hướng, lành mạnh, tránh được rủi ro
- Vốn
Để hình thành hay chuyển đổi một cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏi phải có điều kiện vật chất nhất định tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi cơ cấu kinh tế Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này nhất thiết phải đầu tư và phải có vốn đầu tư; các nguồn vốn đầu tư chủ yếu để hình thành và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp gồm: nguồn vốn của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp; nguồn vốn ngân sách; nguồn vốn cho vay của các ngân hàng; nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng; nguồn vốn đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài Giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý và phù hợp với yêu cầu khai thác tốt các nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn
- Trình độ của người lao động
Lao động là một trong những yếu tố đầu vào cùng với các yếu tố khác (vốn đầu tư, khoa học công nghệ… ) đóng vai trò quan trọng quyết định đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Muốn phát triển
và nâng cao chất lượng của một ngành, nghề nào đó thì đòi hỏi kiến thức,
Trang 30trình độ của người lao động trong lĩnh vực đó cũng phải được được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng được yêu cầu của ngành, nghề đó
- Cơ sở hạ tầng nông thôn
Đòi hỏi phải có trình độ phát triển tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Bởi lẽ cơ sở hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn tới hình thành và phát triển các ngành kinh tế, các vùng kinh
tế, đặc biệt là vùng chuyên môn hoá sản suất nông-lâm-ngư nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới trình độ kĩ thuật công nghệ của khu vực kinh tế nông thôn
và do đó là một trong những nhân tố ảnh hưởng có vai trò quyết định tới sự hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
- Sự phát triển các khu công nghiệp, đô thị
Là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị sẽ tạo khả năng cung cấp kĩ thuật
và công nghệ ngày càng hiện đại, tạo nguồn vốn đầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và cải biến của cơ cấu kinh tế nông thôn
- Tổ chức sản suất và phân công lao động
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là phạm trù khách quan nhưng lại là sản phẩm hoạt động của con người Sự tồn tại, vận động, biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp được quyết định bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh
tế trong nông nghiệp là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế
Các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp tồn tại và hoạt động qua các hình thức tổ chức tổ chức sản xuất với các mô hình tổ chức tương ứng; Do vậy các hình thức tổ chức trong nông nghiệp với các quy mô tương ứng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Từ những năm 1990 đến nay trong nông nghiệp nước ta, kinh tế hộ được thừa nhận trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế tư nhân được tạo điều
Trang 31kiện phát triển, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được cải biến theo nội dung mới: hình thành các trang trại, các công ty tư nhân, liên doanh, liên kết… Sự thay đổi về các mô hình sản xuất nêu trên đã tạo ra những điều kiện cho nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tỷ trọng ngành trồng trọt giảm xuống, tăng
tỷ trọng ngành chăn nuôi Trong trồng trọt tỷ trọng cây lương thực giảm, cây công nghiệp và cây ăn quả tăng lên, hình thành vùng chuyên canh tập trung cây công nghiệp dài ngày
Phân công lao động là chuyên môn hóa sản xuất giữa các ngành, các vùng và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó có tác dụng làm đòn bẩy cho
sự phát triển và nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất
Phân công lao động là cơ sở chung cho mọi nền sản xuất hàng hóa Như phân công lao động đặc thù thì phân chia ngành lớn thành các ngành chức năng Như trong nông nghiệp được phân thành ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi, ngành trồng trọt lại được phân thành ngành chức năng như cây công nghiệp, cây lương thưc, cây thực phẩm
Quá trình phân công lao động xã hội là quá trình bố trí lại lao động cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện khoa học kỹ thuật và công nghệ Phân công lao động càng phát triển thì năng suất lao động càng cao, quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng được đẩy mạnh
c Công nghệ và kỹ thuật
Nội dung chủ yếu của cách mạng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp hiện nay tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản là thuỷ lợi hóa, cơ giới hóa, hóa học hóa và sinh học hóa Mỗi lĩnh vực có vai trò tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo các khía cạnh và mức độ khác nhau Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá trình độ: thuỷ lợi hóa, trình độ cơ giới hóa, trình độ hóa học, trình độ sinh học hóa Sự phát triển khoa học công nghệ và việc áp dụng nó vào sản xuất có vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng vì một mặt
Trang 32làm xuất hiện nhiều loại nhu cầu mới, tác động đến sự thay đổi về số lượng, tăng mức nhu cầu của ngành này hay ngành khác, làm thay đổi tốc độ phát triển giữa các ngành Mặt khác nó tạo ra khả năng mở rộng ngành nghề và tăng trưởng các ngành sản xuất chuyên môn hoá cao và phát triển các ngành
đòi hỏi có trình độ công nghệ cao
d Cơ chế, chính sách
Để can thiệp vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo cho các quy luật của thị trường phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực nhằm mục đích tạo đều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao và ổn định Các nhân tố về chính sách có tác động mạnh đến các định hướng lớn và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân nói chung, bao gồm cả cơ cấu kinh tế nông nghiệp Một số chính sách có tác dụng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đó là:
- Chính sách về đất đai:
Để hình thành nền NN hàng hóa phát triển bền vững phải “tích tụ đất đai”,có phương án sử dụng đất dành cho các đối tượng có vốn, có kiến thức, biết làm ăn giỏi, nên tạo cơ hội để người có đất và người muốn phát triển sản xuất nông nghiệp gặp nhau thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ theo đúng pháp luật
- Chính sách về vốn:
Hỗ trợ vốn cho phát triển nông nghiệp và ngành nghề nông thôn bằng các hình thức cho vay đầu tư phát triển, cấp hỗ trợ lãi suất đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, Chính sách hỗ trợ về vốn ưu tiên cho áp dụng thử nghiệm nuôi trồng các giống cây con mới cần có chính sách phát triển nhanh, nhân ra diện rộng và hỗ trợ vốn xử lý môi trường trong quá trình sản xuất nông nghiệp
- Chính sách thuế:
Miễn hoặc giảm thuế doanh thu cho các cơ sở sản xuất giống cây trồng
- vật nuôi và giống thuỷ sản
Trang 33- Chính sách đầu tư kết cấu hạ tầng KT - XH cho nông nghiệp - nông thôn
Tập trung vốn đấu tư cho nông nghiệp- nông thôn tạo điều kiện đẩy nhanh CNH - HĐH Các lĩnh vực được cần đầu tư nhiều như xây dựng hệ thống giao thông, công trình thuỷ lợi, các trạm trại giống và chăm sóc thú y, bảo vệ thực vật Đồng thời, các làng nghề thủ công truyền thống cũng cần được chú trọng
- Chính sách khoa học và công nghệ
Đưa những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất kinh doanh, chú trọng nhân giống cây trồng - vật nuôi, khuyến khích đổi mới thiết bị, công nghệ trong các cơ sở sản xuất, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ kĩ thuật, công nhân lành nghề
- Chính sách dạy nghề, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp - nông thôn
Đầu tư xây dựng trường dạy nghề, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các làng nghề và phát triển công nghiệp nông thôn để thu hút lao động
- Chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Đầu tư xây dựng chợ đầu mối, phát triển mạng lưới chợ, tổ chức quảng
bá các sản phẩm Thị trường là nhân tố tất yếu rất quan trọng đối với tất cả các ngành nói chung và nông nghiệp nói riêng Do đó, cần sự quan tâm hỗ trợ mọi mặt rất lớn từ các ngành, các cấp
1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số địa phương
1.2.1.1 Kinh nghiệm một số địa phương
a Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long - vùng trọng điểm nông nghiệp và an ninh lương thực của cả nước Tỉnh có mật độ dân số cao (khoảng 700 người/km2), với 85% dân số sống ở nông thôn và chủ yếu làm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành tạo ra khoảng 50% trong tổng GDP của tỉnh và chiếm gần 90% giá trị xuất khẩu
Trang 34Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là nhiệm vụ hết sức cần thiết của ngành nông nghiệp để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích và tăng thu nhập của nông dân trong tỉnh Mục tiêu là nhằm xây dựng một nền nông nghiệp tăng trưởng liên tục và bền vững theo vùng sinh thái; tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng và giá trị cao, đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường, mang lại giá trị lợi nhuận ngày càng tăng
Nhìn lại tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2009-2012, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) giai đoạn 2009-2012tăng bình quân 12,35%/năm, cao hơn giai đoạn 2004 - 2008 là 3,76% GDP bình quân trên đầu người tăng từ 7,6 triệu đồng vào năm 2005 lên 14,8 triệu đồng vào năm 2008, xấp xỉ đạt chỉ tiêu cả nhiệm kỳ 20010 - 2015
Năm 2012, tỷ trọng nông nghiệp - thủy sản, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế là 53,5%, 15,2% và 31,3% So với năm 2008, tỷ trọng nông nghiệp - thủy sản giảm 2,05%; công nghiệp - xây dựng tăng 1,12% và thương mại - dịch vụ tăng 0,93% Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,15%/năm, chiếm 42,23% trong GDP Nhờ thực hiện tốt chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi thủy sản bình quân trên mỗi ha đất canh tác ngày càng tăng, năm 2008 đạt 77,78 triệu đồng/ha, tăng 78,07% so với năm 2008 Trong đó huyện Bình Tân
là huyện có giá trị đạt cao nhất: 120,17 triệu đồng/ha nhờ phong trào đưa cây màu xuống ruộng mạnh nhất tỉnh và sử dụng diện tích ao hầm nuôi thủy sản theo hướng thâm canh có hiệu quả nhất
Đến cuối năm 2012, trồng trọt chiếm tỷ trọng 69,7%, chăn nuôi 27%, thủy sản là 3,3% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi Cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng đa canh, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, gắn
Trang 35với thị trường tiêu thụ Ngành trồng trọt chuyển dịch theo hướng giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái, rau màu
Mặc dù, diện tích trồng lúa giảm từ 203.084 ha xuống còn 177.414 ha nhưng nhờ tập trung đầu tư nâng cao năng suất, nên sản lượng lúa hàng năm vẫn ổn định khoảng 900 ngàn tấn; chất lượng lúa được nâng lên và hàng năm xuất khẩu khoảng 300 ngàn tấn gạo Tỉnh đang chú trọng tăng tỷ trọng các loại gạo có chất lượng cao, gạo đặc sản để nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu
Cây ăn trái là thế mạnh sau cây lúa, chiếm tỷ trọng gần 50% giá trị ngành trồng trọt với nhiều loại cây trồng cho sản lượng, chất lượng và hiệu quả cao Toàn tỉnh hiện có 45.874 ha vườn cây lâu năm (trong đó diện tích cây ăn trái gần 39.000 ha), tăng 7,3% so năm 2008 Sản lượng trái cây hiện đạt 466.100 tấn, tăng 21,6% so năm 2008 Đặc biệt, tỉnh đã và đang xây dựng vùng sản xuất và thương hiệu sản phẩm bưởi Năm Roi Bình Minh, cam sành Tam Bình, nhãn và chôm chôm Long Hồ, Trà Ôn,
Diện tích cây màu năm 2012 là 29.677 ha, tăng 46,6% so với năm
2008 Sản lượng màu năm 2012 đạt 545.684 tấn, tăng 42,5% so với năm
2008 Tỉnh đã xây dựng được một số vùng rau màu chuyên canh, luân canh trên đất lúa, vùng rau an toàn với hiệu quả kinh tế cao gấp 2 - 3 lần trồng lúa Hiện tỉnh có 05 hợp tác xã (HTX) sản xuất rau an toàn (RAT): Phước Hậu, Thành Lợi, Vũng Liêm, Tân Quới, Tầm Vu Trong đó, hoạt động mạnh nhất
là 2 HTX Thành Lợi và Phước Hậu Hiện nay, nhiều HTX trong tỉnh đã ký hợp đồng với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh bao tiêu đầu ra cho rau màu của nông dân phục vụ xuất khẩu RAT đẹp về mẫu mã, đảm bảo chất lượng và đặc biệt là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đã và đang là xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng hiện nay
Chăn nuôi tuy gặp nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch bệnh, nhưng nhìn chung vẫn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhất
là chăn nuôi gia súc (bò, heo) với số lượng tổng đàn năm 2012tăng 4% so với
Trang 36năm 2005 góp phần đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 24% vào năm 2008 lên 27% vào năm 2012 Chăn nuôi heo phát triển theo hướng tập trung với qui
mô vừa, chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh theo hướng tập trung với qui mô lớn, đảm bảo vệ sinh thú y và kiểm soát được dịch bệnh
Nuôi thủy sản của tỉnh phát triển rất mạnh, tốc độ tăng bình quân 45,14%/năm Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2012 là 112.878 ngàn tấn, tăng gần 4 lần so với năm 2008, góp phần đưa tỷ trọng ngành thủy sản tăng từ 9,2% vào năm 2008 lên 15,1% vào năm 2012 Loại hình nuôi thủy sản phát triển nhất trong tỉnh là cá tra công nghiệp (ao thâm canh) và nuôi cá lồng bè (chủ yếu là cá Điêu hồng)
Trình độ khoa học - công nghệ trong sản xuất nông nghiệp - thủy sản từng bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, thủy sản Chương trình giống được triển khai thực hiện với nhiều dự án: lúa, cây ăn trái chất lượng cao, Sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn heo Năng lực sản xuất giống đảm bảo 100% nhu cầu giống cho cây ăn trái, giống cá tra đạt 62,5%, thuỷ sản khác đạt 100% nhu cầu, 80% nhu cầu giống heo và 100% giống bò, Có 100% diện tích đất trồng lúa được cơ giới hoá khâu làm đất và suốt lúa, 50% diện tích lúa được gặt bằng máy, 25% sản lượng lúa được làm khô bằng công nghệ sấy, các khâu phun thuốc BVTV, vệ sinh chuồng trại… từng bước được cơ giới hoá
Nông thôn Vĩnh Long phát triển khá nhanh, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới Hiện có 90/94 xã có đường ô-tô tới trung tâm, 72/94 xã có đường liên ấp được nhựa hóa, trên 50% đường sá được bê tông hóa; 90% số
ấp, khóm xe hai bánh lưu thông suốt 2 mùa mưa và khô Nhiều công trình thủy lợi đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng, góp phần khép kín thủy lợi cho 96.000 ha (chiếm 82,53% diện tích đất nông nghiệp), trong đó 49.997 ha chủ động tưới tiêu; 100% số xã có điện, với gần 98% số hộ dân được sử dụng
Trang 37điện; 83% số hộ dân sử dụng nước sạch, 53% dân số sử dụng nước sạch theo quy định về tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch của Bộ Y tế; 80/107 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia và 97/107 xã, phường có bác sĩ; xây mới, nâng cấp nhiều chợ, khu dân cư, khu đô thị
Quan hệ sản xuất luôn được quan tâm xây dựng, hiện có 112/360 trang trại được cấp giấy chứng nhận; 35 hợp tác xã nông nghiệp, 1 liên hiệp hợp tác
xã thủy sản và hơn 2 ngàn tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp Một số hợp tác xã
có được uy tín nhất định về chất lượng và tiêu thụ sản phẩm như Hợp tác xã rau an toàn Thành Lợi, Hợp tác xã bưởi Năm Roi Mỹ Hòa, Hợp tác xã rau an toàn Phước Hậu, Hợp tác xã Tân Thành Công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, ngành nghề, làng nghề truyền thống và dịch vụ nông thôn được phục hồi và phát triển, giải quyết nhiều việc làm cho người dân, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn được thu hẹp dần Tỷ lệ hộ nghèo giảm hàng năm, từ 12,87% vào năm 2008 xuống còn 8,6% vào năm 2012 Một số điều kiện về nhà ở, đi lại, học tập, chữa bệnh được cải thiện tốt hơn Nhiều ấp, khóm, xã đạt chuẩn văn hóa, trình độ dân trí được nâng lên Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật trong những năm gần đây tăng nhanh, từ 18,2% vào năm 2008 lên 29,87% vào năm 2012 Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, lao động trong khu vực nông nghiệp - thủy sản giảm từ 67,6% xuống còn 64,39%, lao động trong khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ tăng lên
b Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương
Giai đoạn 2008 - 2012, kinh tế tỉnh Hải Dương đạt mức tăng trưởng hằng năm 9,3%, cao hơn mức bình quân chung của cả nước Giá trị ở khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,9%/năm; công nghiệp - xây dựng tăng 11,5%/năm, dịch vụ tăng 10,1%/năm Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Trang 38thay đổi theo hướng tích cực, tạo ra giá trị kinh tế cao Hiệu quả sử dụng đất đai, nguồn lao động tốt hơn Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản và phát triển mở rộng "đa ngành, đa nghề"
Kết quả ấy đã chứng minh thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn Hải Dương những năm gần đây Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ những kết quả đã đạt được nhằm phát triển bền vững thì tỉnh Hải Dương cần khắc phục những hạn chế trong nội bộ nền kinh tế, triển khai những biện pháp cơ bản có tính đột phá để xây dựng và định hình rõ rệt hơn cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về định hướng phát triển toàn diện và bền vững nền kinh tế Cấp bách là, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp tái cấu trúc các ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu hợp lý kinh tế, bảo đảm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới với "19 tiêu chí" theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Trước hết là vấn đề nhận thức Thói quen của nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, của cơ chế quan liêu, bao cấp, thiếu tự chủ, độc lập và sáng tạo trong tổ chức vận hành nền kinh tế đang nặng nề Không ít cấp ủy, chính quyền cơ sở còn chỉ đạo, điều hành sản xuất như tổ chức một phong trào, hoặc chỉ dừng ở mức độ xây dựng mô hình Do đó, chưa có những hành động cụ thể, thiết thực để thay đổi và biến đổi lượng/chất trong cơ cấu kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập để tạo ra cái mới, có tính đột phá
Muốn giải quyết vấn đề đó, cần thay đổi cách nghĩ, cách làm dựa vào
cơ chế, chính sách phù hợp, xây dựng các mô hình kinh tế phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực và từng địa phương Hải Dương xác định: Nông nghiệp làm nền tảng, công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn Cơ cấu kinh tế phải chuyển dịch mạnh theo hướng tăng năng lực cạnh tranh và có khả năng thích ứng linh hoạt với sự biến đổi mau lẹ của thị
Trang 39trường Đó là yêu cầu hàng đầu, quyết định cho sự phát triển Phải nâng cấp công nghệ thông qua việc chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới nhất, bảo đảm sự phát triển bền vững Chú trọng chất lượng tăng trưởng và tạo ra sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, bảo vệ, cải thiện môi trường sống với bảo đảm an sinh xã hội của các tầng lớp dân cư Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhằm thay đổi cơ bản cơ cấu nông nghiệp và phi nông nghiệp, tạo sức hút lao động, nhất là người lao động qua đào tạo để
họ có nhiều cơ hội hơn trong tìm kiếm việc làm với mức thu nhập cao, từ đó nâng cao mức sống đại đa số người dân Đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đồng nghĩa với việc tập trung hướng sản xuất vào việc tạo ra những nhóm sản phẩm hàng hóa theo quy mô lớn, công nghệ sạch, đạt chất lượng, hiệu quả và giá trị cao, gắn với chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới Phát triển công nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập Khai thác tốt tiềm năng, tạo bước đột phá trong kinhtế dịch vụ để tăng nhanh tỷ trọng trong cơ cấu tổng thể của nền kinh tế Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển
Các năm 2011 - 2015 được xác định là giai đoạn trọng điểm để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của Hải Dương Tỉnh
đã và đang tích cực rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội tương thích với thực tiễn địa phương và các yêu cầu đặt ra của nền kinh tế thị trường Tập trung lập quy hoạch tổng thể từng ngành, từng lĩnh vực trọng yếu có vị trí then chốt với vai trò là “chìa khoá” và là động lực của nền kinh tế Phát huy lợi thế so sánh, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, tạo ra sản phẩm mũi nhọn, gắn với thị trường và tạo sức cạnh tranh Thúc đẩy phát triển các tiểu vùng, trong đó ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư phát triển tiểu vùng phía Nam tỉnh Để thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững, Hải Dương coi trọng
Trang 40sự gắn kết chặt chẽ và hiệu quả giữa sản xuất nông sản nguyên liệu và công nghiệp chế biến, phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp quy mô lớn và
mở rộng dịch vụ nông thôn
Trong các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn mới, tỉnh đặt ra một cách cụ thể về sự lựa chọn việc “nuôi con gì, trồng cây gì” cho từng vùng, từng địa phương theo tư duy mới, khoa học và cụ thể Người dân trực tiếp tham gia xây dựng kế hoạch và quy hoạch lựa chọn các nhóm cây, con xác định ở ngay trên mảnh đất quê hương của họ Tỉnh chú trọng làm tốt quy hoạch và thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh; phát huy sự chủ động tổ chức sản xuất của nông hộ, trang trại nhằm đạt quy mô hàng hóa lớn, trong đó ưu tiên loại cây trồng, vật nuôi cho sản phẩm hàng hóa chiếm tỷ trọng ưu thế Điểm đáng chú ý là chọn cây, con chủ lực (phát triển cả hai hình thức: đại điền và tiểu điền) cho các vùng chuyên canh nhằm tận dụng tối đa thế mạnh của từng vùng Mặt khác, xác định quỹ đất để quy hoạch và phát triển các vùng cây nguyên liệu, cây công nghiệp tập trung; mở rộng diện tích nuôi cá nước ngọt và các trang trại chăn nuôi, chú trọng nghiên cứu và triển khai bộ giống mới
Đẩy mạnh sự liên kết chặt giữa 4 nhà: nhà quản lý (Nhà nước) - nhà khoa học - nhà nông và nhà doanh nghiệp Tỉnh chú trọng khâu định hướng
hỗ trợ thông tin về thị trường, về các quy trình, quy chuẩn công nghệ sạch, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm; xây dựng và dự báo khả năng liên kết giải quyết đầu ra cho sản phẩm những yếu tố sống còn cho phát triển bền vững của nông nghiệp Đồng thời, chú trọng xây dựng thương hiệu nông sản trước những đòi hỏi khắt khe của thị trường Vì lẽ, thời gian qua, những mặt hàng nông sản của Hải Dương chưa đủ sức cạnh tranh, bởi lối sản xuất manh mún, nhỏ
lẻ, theo thủ công vẫn là chính Do đó, tỉnh tiếp tục đổi mới quy hoạch cả trước mắt lẫn lâu dài, cả về quy mô sản xuất lẫn chất lượng sản phẩm Mục tiêu đặt ra
là, phải tạo dựng được thương hiệu nông phẩm hàng hóa