Phương pháp nghiên cứu bệnh học bệnh sán dây Taenia hydatigena trên chó gây nhiễm .... Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRỊNH ĐỨC LONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
DỊCH TỄ, BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH
DO SÁN DÂY TAENIA HYDATIGENA GÂY RA
Ở CHÓ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRỊNH ĐỨC LONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
DỊCH TỄ, BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH
DO SÁN DÂY TAENIA HYDATIGENA GÂY RA
Ở CHÓ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 64 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chúng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Đức Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm
ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, phòng quản lý và đào tạo Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Lãnh đạo, cán bộ phòng Ký sinh trùng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh vật; cán bộ Thú y, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi - Thú y của tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Với lòng biết ơn chân thành, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: TS Nguyễn Văn Quang, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân dân tại các địa điểm tiến hành thí nghiệm, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Trịnh Đức Long
Trang 5TP : Thành phố
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần loài và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở chó tại
ba huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên 38
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các địa phương 39
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena theo tuổi chó 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm và cường độ sán dây Taenia hydatigena theo tính biệt của chó 44
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó theo mùa vụ 45
Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại ba huyện, thành tỉnh Thái Nguyên 48
Bảng 3.7 Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó 50
Bảng 3.8 Tỷ lê ̣ và các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị bệnh sán dây Taenia hydatigena 52
Bảng 3.9 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh sán dây 55
Bảng 3.10 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó khỏe và chó bị bệnh sán dây Taenia hydatigena 56
Bảng 3.11 Công thức ba ̣ch cầu của chó khỏe và chó bi ̣ bê ̣nh 60
Bảng 3.12 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp 63
Bảng 3.13 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng 64
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó qua mổ
khám tại ba huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên 40
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây Teania hydatigena theo tuổi chó 42 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena theo tính biê ̣t
củ a chó 44
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó theo mùa
vụ 46
Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại ba
huyện, thành tỉnh Thái Nguyên 48
Hình 3.6: Đồ thị tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở
chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 50
Hình 3.7 Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán
dây Taenia hydatigena 57
Hình 3.8 Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của chó bị bệnh sán dây
so với chó khỏe 62
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 3
1.1.2 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 13
1.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó 14
1.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó 15
1.1.5 Chẩn đoán bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó 18
1.1.6 Phòng và trị bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó 19
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 28
2.2.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó 29
2.2.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán dây Taenia hydatigena gây ra ở chó 29
2.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó 29
Trang 92.3.2 Phương pháp xác định mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây
Taenia hydatigen ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở
lợn 33
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu bệnh học bệnh sán dây Taenia hydatigena
trên chó gây nhiễm 34 2.3.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh sán dây
Taenia hydatigena gây ra ở chó tại thành phố Thái Nguyên 35
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây Taenia hydatigena ở
chó tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.1 Tình hình nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại ba huyện,
thành của tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.2 Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia
hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại
ba huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên 47
3.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây Taenia
hydatigena ở chó gây nhiễm 51
3.2.1 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh sán dây Taenia
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chó là loại động vật được nuôi nhiều trên thế giới, nó được xem là con vật gần gũi với con người Chính vì vậy, tại các nước phát triển chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận Ở nước ta, trong những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục
vụ những mục đích khác nhau Tuy nhiên, chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó cũng ngày càng nhiều hơn Bệnh dịch không những gây thiệt hại cho chó mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người Ngoài những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại cho chó như các bệnh dại, bệnh Care, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus,… bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiê ̣t ha ̣i cho chó, đă ̣c biệt khí hậu nóng ẩm ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng tồn tại và phát triển
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Vương Đức Chất, Lê Thị Tài (2004) [1], trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó và mèo Một trong những loài sán dây gây ra tác hại lớn cho chó đó
là sán dây Taenia hydatigena
Sán dây Taenia hydatigena ký sinh làm cho chó gầy yếu, suy nhược, thiếu
máu, có hô ̣i chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và sẽ chết do kiệt sức (Tô
Du và Xuân Giao, 2006) [3]
Những năm gần đây, chó vẫn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong
cả nước, trong đó có tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, chó thường được nuôi theo
phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây Taenia hydatigena thì rất dễ
phát tán mầm bệnh, làm cho người và các vật nuôi khác dễ nhiễm và mắc bệnh
ấu trùng Cysticercus tenuicollis Đặc biệt, việc đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y
trong giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa
Trang 11được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến, khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ấu trùng sán trên vật nuôi là khá cao
Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ, triệu chứng,
bệnh tích do sán dây Taenia hydatigena gây ra ở chó để từ đó xây dựng các quy
trình phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó, mà còn góp phần phòng chống bệnh
ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác
Xuất phát từ nhu cầu của thực tế nuôi chó ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi
thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng
bệnh do sán dây Taenia hydatigena gây ra ở chó tại tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị"
2 Mục đích của đề tài
Có cơ sở để chẩn đoán bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó, từ đó
xây dựng biện pháp phòng chống bệnh do sán dây gây ra trên chó nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện
thêm các nghiên cứu về bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó và các biện pháp
phòng trị bệnh trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của sán
dây Taenia hydatigena ký sinh ở đường tiêu hóa chó, đồng thời là những
khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở Thái Nguyên và các địa phương khác
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh sán dây cho chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn, bảo vệ sức khỏe con người và vật nuôi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó
1.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học
Cho đến nay hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [11])
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:
Trang 13Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782
Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940
Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782
Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt
Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium
caninum, Taenia hydatigen, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo
Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea
Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [15] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam
Việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên mô tả
Trang 14loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người (Nam Bộ) Sau này một số
nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, (1970); Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, (1976) cho rằng, loài thuộc giống
Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni Tuy nhiên sự phán đoán này không
dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti (1959), loài
Diphyllobothrium mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra erinacei-europaei
thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)
Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo
nhà, cầy, chó (Hà Nội) có loài Diphyllobothrium reptans Theo Yamaguti, loài này thuộc giống Spirometra
Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin K I., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium
mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch
sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài
Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một kết luận không
chính xác và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller,
1937 và muốn coi đây là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo
Nguyễn Thị Kỳ 2003, [11])
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài
Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân
loại và không có mẫu Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã mô tả hoàn
chỉnh loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])
Trang 151.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
* Đặc điểm chung
Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị
Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết:
Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng
màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau)
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có loài sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc, ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài sán
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ
Thân sán dây gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không
có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa tử cung với vô số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc
điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea)
Trang 16Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây được bao phủ bởi lớp tiểu bì, sau đó đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng,
cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các loài sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể
Hệ thần kinh của sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm phần trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí
Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính
Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển
ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát triển của
hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai
và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau
Trang 17Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết
để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp
(Pseudophyllidea), tử cung là những ống cong, dẫn từ ootyp đến lỗ ngoài (nằm ở
mặt bụng của mỗi đốt) Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy
theo mức độ hình thành của trứng Ở sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung
kín, không có lỗ ngoài Ở những sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ
Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá,
một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12]
* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:
- Giống Dipylidium Leuckart, 1863
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết:
+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 – 17 cm, gồm 80 – 250 đốt
Đầu rộng 0,24 – 0,50 mm Đầu có vòi hình chóp, có 4 – 10 hàng móc, mỗi hàng có từ 16 – 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 – 0,016 mm, móc hàng
Trang 18cuối cùng dài 0,003 – 0,008 mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1 – 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3 – 30 trứng, có kích thước 0,026 – 0,060 mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020 – 0,036 mm
- Giống Taenia Linnaeus, 1758
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết:
+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng
Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 – 44 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 – 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 – 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và
có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 – 700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không
có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 –
10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm
Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng của
lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng
Trang 19+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm
400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp thành hai hàng móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330
mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các núm sinh dục hơi nhô ra Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 – 0,800, rộng 0,130 – 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo đi từ lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm
- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810
Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết:
+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt Đầu
không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098 - 0,133
mm, vòi 0,100 – 0,140 mm Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước
và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043 mm, móc hàng dưới dài 0,020 – 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình rộng hoặc
có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 - 40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025 – 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở hai bên đốt,
tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng và hình dạng không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 - 0,036 mm
Trang 20Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng túi,
trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con)
- Giống Multiceps Goeze, 1782
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11]:
+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250 đốt,
rộng gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài 0,150 mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300 mm Cổ dài 2 -
3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và
đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350 mm, rộng 0,110 – 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa
và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục, vỏ mờ
đục, vỏ mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật
- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết:
Trang 21+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m Đầu không có
vòi, có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt Kích thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài hơn móc bên
1.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây Taenia hydatygena
Theo Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) [32], chu kỳ sinh học của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau,
có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể là động vật không xương sống
Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời
Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán dây:
Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh ở ruột của chó
Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục
+ Loài Taenia hydatigena
KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán, vào đến ruột,
ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng gây bệnh Cysticerus tenuicollis sau
3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau
2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [13] cho biết: Những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là, do có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà sự reo rắc trứng ở đó
Trang 22được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới
1.1.2 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis
Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [20], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là
những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ
Theo Johannes Kaufmann (1996) [51], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký
sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, ấu trùng Cysticercus
tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả
cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc
Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo
ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [13])
Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở
KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sammuel – Girma G Zewde, 2010 [62])
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9] cho biết: ở những vùng nuôi nhiều
chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều Tỷ lệ
nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng
Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật
khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn
Trang 231.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó
Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây Taenia hydatigena gây ra đã được nhiều
tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [33]: chó săn thường nhiễm sán dây do ăn thịt thỏ chứa ấu trùng Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò sát sinh mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn Chó nuôi trong nhà mắc sán do ăn bọ chó trên mình nó chứa ấu trùng Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… là ấu trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều loài sán dây
ký sinh nhất
Skarabin và Petrov (1963) [24] cho biết, nếu như đường xâm nhập của các giun sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều loại giun sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn phải các mô và các cơ quan của KCTG chứa ấu trùng giun sán ở giai đoạn cảm nhiễm Với cách
xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia hydatigena do ăn phải cừu có ấu
trùng sán
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [34], chó nhiễm sán
dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis
Dalimi A và cs (2006) [45] đã kiểm tra 83 chó ở các tỉnh phía Tây của Iran
thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium caninum; 53,01% chó nhiễm Taenia
hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps;
13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus
Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [51], tỷ lệ nhiễm loài
Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%
Từ năm 2004 – 2009 Xhaxhiu D và cs (2010) [63]: mổ khám 111 chó từ các vùng ngoại ô Tirana của Albania để kiểm tra giun sán đường tiêu hóa, phát hiện được
3 loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%); Taenia hydatigena (16,2%);
Echinococcus granulosus (2,7%)
Trang 24Ở nước ta, loài Taenia hydatigena, được phân bố rộng ở cả 3 vùng:
đồng bằng, trung du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị
Kỳ, 1994) [10]
Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ (2000) [22] kiểm tra 130 mẫu phân chó ở Thành phố Huế thấy: chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi nhiễm với tỷ lệ cao
Biến động nhiễm sán dây ở chó tùy theo giai đoạn tuổi Chó con bị nhiễm từ rất sớm Theo dõi 138 chó bị bệnh sán dây ở Hà Nội cho thấy, chó con từ 27 - 30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán (Phạm Sỹ Lăng, 2002 [15])
Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát giết mổ không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những khí quan của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [12])
Tuổi thọ của sán trưởng thành dài có thể tới hàng chục năm, nên loài ăn thịt mang sán là nguồn gieo rắc căn bệnh nguy hiểm Mỗi đốt sán chửa chứa hàng nghìn trứng sán Chó mang trứng sán phát tán khắp nơi
Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát tán mầm bệnh Trứng sán dây có sức đề kháng mạnh ở ngoại cảnh, có thể sống lâu ở những nơi ẩm ướt
Sán dây là động vật sống ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu trình phát triển chúng cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian, vật chủ chứa Vì vậy, sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ Ngoài quy luật phân bố của vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [11])
1.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó
1.1.4.1 Đặc điểm gây bệnh của sán dây Tania hydatigena ở chó
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], trong quá trình ký sinh sán dây gây ra những tác hại lớn cho chó, biểu hiện ở những tác động sau:
Trang 25Móc và giác bám của sán trưởng thành làm tổn thương niêm mạc ruột và
mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể Sán dây tiết độc tố làm ký chủ rối loạn thần kinh (có triệu chứng bại liệt hoặc gần giống chó dại) Sán lấy dinh dưỡng của ký chủ làm con vật gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng Nếu nhiều, sán cuộn lại làm tắc hoặc thủng ruột
Tác hại của sán dây chó gây ra thể hiện qua 4 tác động sau:
- Tác động cơ giới: Với số lượng lớn ký sinh, sán dây dùng giác bám bám sâu vào niêm mạc ruột, gây tổn thương, viêm ruột và xuất huyết
- Tác động tiết độc tố: Trong quá trình ký sinh, sán dây tiết ra độc tố Độc tố
có thể là sản phẩm các tuyến tiết ra hoặc các chất bài tiết của sán dây, tác động đến
hệ thần kinh, làm cho chó mệt mỏi, kém ăn Chó con bị bệnh cấp tính có thể bỏ ăn, tiêu chảy…
- Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: sán nuôi dưỡng bản thân bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng qua toàn bộ bề mặt cơ thể Do số lượng sán nhiều và tồn tại trong thời gian kéo dài làm chó gầy yếu, thiếu máu, giảm sức đề kháng
- Tác động mang trùng: Sán bám chặt vào niêm mạc ruột, gây tổn thương, phá vỡ phòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn từ môi trường xâm nhập gây nên các bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng
1.1.4.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây Taenia hydatigena
Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [33], chó chỉ biểu hiện triệu chứng nếu có quá nhiều sán ký sinh, các triệu chứng thường gặp là: đau bụng, đi tả, ăn không đều, ngứa hậu môn, có khi bị co giật; cuối cùng thiếu máu, gầy rạc Chó thường ỉa
ra những đốt sán lòng thòng ở hậu môn, chó cọ hậu môn vào tường để đẩy sán ra
Đỗ Thái Dương và Trịnh Văn Thịnh (1978) [34] cho biết: bệnh tích thường thấy ở chó bị bệnh sán dây là viêm niêm mạc ruột non ở chỗ sán ký sinh, có khi thấy lồng ruột và tắc ruột nếu sán rất nhiều cuộn lại
Chó nhiễm sán có thể ỉa chảy, da khô hoặc giảm cân, đôi khi có hiện tượng cắn phía sau hoặc chạy xung quanh (Seymour Weiss, 1996 [57])
Trang 26Chó nhiễm sán dây nhẹ triệu chứng lâm sàng không rõ Khi nhiễm nặng, con vật có thể bị nôn mửa, viêm ruột cata mạn tính, ăn ít, ngứa hậu môn Một số trường hợp có triệu chứng giả dại, 4 chân run giật hoặc bị liệt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs,
1999 [12])
Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cho biết: thể cấp tính thường gặp ở chó từ 1 – 4 tháng tuổi, biểu hiện kém ăn, nôn mửa liên tục do sán bám vào vách ruột gây ra những tổn thương niêm mạc và kích thích gây nôn Chảy máu ruột do đầu sán
có nhiều móc bám vào vách ruột nên phân có màu xám hoặc đỏ tươi Viêm ruột thứ
phát do những vi khuẩn đường ruột bội nhiễm: E coli, Staphylococcus aureus Rối
loạn tiêu hóa làm chó lúc táo, lúc tiêu chảy, trong phân có niêm mạc ruột tróc ra và có lẫn những đốt sán rụng ra Nếu không được chăm sóc tốt và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết cao 60 – 70% do viêm ruột, mất máu, mất nước và rối loạn điện giải
Thể mãn tính thường gặp ở dạng trưởng thành: chó ăn ít, gầy còm, rối loạn tiêu hóa, viêm ruột mạn tính, trong phân có đốt sán già rụng ra, khi ra ngoại cảnh đốt sán vẫn cử động được Giai đoạn cuối chó biểu hiện hội chứng thần kinh: run rẩy, hoặc ngơ ngác nằm lỳ một chỗ, hoặc trở nên dữ tợn Nếu không được điều trị chu đáo chó trưởng thành có thể chết trong trạng thái thiếu máu kéo dài và kiệt sức
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], bệnh sán dây ở thể cấp: chỉ chiếm 30% số chó nhiễm sán, thường thấy ở chó non dưới 6 tháng tuổi Sán gây ra các tổn thương ở ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào tổ chức ruột, gây hội chứng viêm ruột cấp Vật bệnh thể hiện: nôn mửa liên tục, ỉa chảy nặng, phân tanh khắm và đôi khi có xuất huyết ruột Chó thường chết sau 3 – 5 ngày nếu như không được điều trị kịp thời Ở chó con còn thấy hiện tượng rối loạn thần kinh do độc tố của sán kích thích thần kinh trung ương như: ngơ ngác, run rẩy, đi siêu vẹo…
Thể mạn tính: chiếm tỷ lệ cao, biểu hiện rõ nhất là chó bệnh gầy còm xơ xác, thiếu máu, rụng lông, trông như chỉ còn da bọc xương, nhưng chó vẫn ăn khỏe Ngoài ra chó còn bị rối loạn tiêu hóa kéo dài, khi táo bón, khi ỉa chảy và nôn khan
Trang 27Bệnh gây hậu quả nghiêm trọng với chó con, có thể gây tắc nghẽn ruột Nhìn chung sán dây ở chó thường vô hại, nhưng khi nhiễm với số lượng lớn có thể gây viêm đường tiêu hóa, gây tiêu chảy
Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [3], chó bị bệnh sán dây thường gầy yếu, suy nhược, thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, viêm ruột, giảm khả năng sinh sản, chết
do kiệt sức
Đặc biệt trong bệnh sán dây ở chó trưởng thành, chó vẫn ăn khỏe, nhưng gầy dần, trong phân phát hiện thấy đốt sán già, những đốt sán khi ra ngoài vẫn
cử động được trong vài giờ (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [17])
1.1.5 Chẩn đoán bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó
Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [34] cho biết: việc chẩn đoán dễ khi chó ỉa ra những đốt sán và thường lòng thòng ở hậu môn, gây ngứa
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], (2008) [13]:
- Đối với chó còn sống: Kiểm tra phân tìm trứng sán và đốt sán dây
Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể trực tiếp tìm đốt sán trong phân Trường hợp chó nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán thì xét nghiệm phân tìm đốt sán và mảnh đốt bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943), cho cặn lên đĩa Petri và đặt lên 1 tấm bìa màu đen, tìm đốt sán bằng kính lúp Có thể dùng phương pháp Fulleborn tìm trứng sán dây Đối với sán dây bộ
Pseudophyllidea tử cung có lỗ thông ra bên ngoài nên trứng được đẻ ra bên
ngoài, do vậy kể cả khi trong ruột chó có sán dây ký sinh nhưng không tìm thấy được đốt sán trong phân vẫn có thể kết luận chó nhiễm sán qua việc xét nghiệm phân tìm trứng
- Đối với chó đã chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống : có thể
mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành
Trang 28Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16] cho biết, có thể dựa vào kết quả kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó bị mắc bệnh sán dây
Chu Thị Thơm và cs (2006) [37] cho rằng: để xác định loài sán dây trưởng thành một cách chính xác, để sán dây chết tự nhiên trong nước sạch, ép mỏng trong cồn etylic 700 Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong mẫu vật, làm trong và gắn tiêu bản lên phiến kính để chẩn đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây
1.1.6 Phòng và trị bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó
1.1.6.1 Điều trị bệnh
Chữa bệnh sán dây cho chó phải đạt ba yêu cầu:
+ Trước hết phải tiêu diệt sán dây: Để tẩy sán dây cho chó phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng không độc đối với ký chủ Nên chọn thuốc có hiệu lực cao đối với sán dây, tức là phải loại thải được cả các đốt thân và đốt đầu của sán dây, nếu đốt đầu vẫn còn sót lại, chỉ sau một thời gian ngắn, nó sản sinh các đốt thân và thành con sán hoàn chỉnh mới; đồng thời thuốc ít nguy hiểm đối với chó, giá thành hợp lý và dễ dùng nhất
+ Phải ngăn chặn để chó không tái nhiễm
+ Phải tăng cường sức đề kháng của chó: cho ăn đủ dinh dưỡng, khoáng và vitamin Giữ gìn vệ sinh tốt, dùng thuốc chữa các triệu chứng nếu có
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [5], hiện nay trên thị trường có nhiều loại
thuốc mới có tác dụng tốt trong điều trị các loài sán dây thuộc giống Taenia và giống Dipylidium
* Các dẫn xuất của Isoquinolin và Benzazephin
Cho đến nay, các thuốc nhóm này là những thuốc chống sán dây có hiệu quả nhất, ít độc nhất
+ Praziquantel: Là dẫn xuất của pirazino – Iso quinolin
- Cơ chế tác dụng:
Trang 29Tác dụng diệt sán dây nhanh Thuốc làm co thắt ngay lập tức các cơ của sán, tiếp đó là liệt và chết Thuốc còn làm tổn thương lớp vỏ bọc của sán Thuốc đặc biệt tốt với sán trưởng thành, cũng tác dụng tốt với các ấu trùng
Thuốc phân bố đồng đều ở tất cả các tổ chức khí quan, thuốc vượt qua hàng rào máu – não Các dạng phân hủy của thuốc được thải qua nước tiểu
- Tác dụng phụ: Thuốc ít độc Ở chó dùng liều gấp 40 lần liều điều trị cũng chỉ gây nôn là dấu hiệu nặng nhất Sử dụng được cho gia súc có chửa
+ Espirantel: Tác dụng diệt sán dây rất tốt, đặc biệt sán dây ở các loài ăn thịt
Ở chó liều gấp 90 lần liều điều trị cũng không gây độc
Liều lượng: 5,5 mg/kg thể trọng
* Các Salicilanilid
+ Niclosamid:
- Cơ chế tác dụng: Niclosamid ức chế quá trình phosphoryl hóa trong cơ
thể sán Thuốc có tác dụng tốt đối với các loài sán thuộc giống Taenia và giống
Trang 30spp, 2 chó nhiễm Echinococcus granulosus và 2 chó nhiễm cả hai loài Dipylidium caninum, Taenia spp với liều 0,1 ml/ kg thể trọng Thí nghiệm được
theo dõi chặt chẽ, nhốt riêng từng chó để kiểm tra sự thải phân Kết quả, sau 2 hoặc 3 ngày dùng thuốc không thấy mẫu phân nào dương tính, không có phản ứng phụ nào xảy ra, hiệu quả tẩy trừ là 100%
Phạm Sỹ Lăng (1992) cho biết: tẩy cho 67 trường hợp chó nhiễm sán dây, thấy tỷ lệ sạch sán và khỏi bệnh đạt 85% khi dùng Yomesan (còn có tên là
Niclosamid (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [17])
Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2]: cơ chế tác dụng của Niclosamid là ức chế sự hấp thu đường và ngăn cản quá trình phosphoryl hóa trong ty lạp thể của sán dây Sự phong tỏa chu trình Krep dẫn đến tích lũy acid lactic và giết chết sán Sự kích thích quá mức hoạt động của adenosine triphosphate (ATP) của ty lạp thể có thể liên quan đến tác dụng của Niclosamid với sán dây Sán dây chết và bị nát trong đường tiêu hóa trước khi rời ký chủ, vì vậy không tìm thấy đầu và đốt sán trong phân gia súc được tẩy
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], để tẩy sán dây có thể dùng:
- Arecolin, uống hoặc trộn thức ăn liều 0,002 – 0,003 g/kgTT Trước khi cho uống thuốc cho chó nhịn đói 16 – 20 giờ Để đề phòng con vật nôn mửa có thể cho uống 1 – 2 giọt dung dịch iod trước khi cho uống Areconlin 15 – 20 phút
- Arecolin, tiêm dưới da liều 0,02 – 0,05 g (tương đương 4 – 10 ml dung dịch arecolin 0,5%) Nếu cần, có thể tiêm nhắc lại sau 1 giờ
Bùi Thị Tho (2003) [36] cho biết: Arecolin là ancoloid có trong hạt cau, hạt cọ Cơ chế tác dụng của thuốc là làm tê liệt hệ thần kinh trung ương của sán, nhất là đầu và các đốt chưa thành thục Sán bị tê liệt không bám vào ruột và được bị đẩy ra ngoài theo phân
Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cũng cho biết:
- Niclosamide: dạng bột màu vàng, cho uống với liều 80 – 100 mg/kgTT Thuốc chỉ cho uống một nửa liều vào buổi sáng khi chưa cho ăn Sau đó 1 giờ
Trang 31cho uống nốt nửa liều còn lại 3 giờ sau khi uống thuốc mới cho ăn bình thường, sau 6 – 10 giờ sán bị chết và theo phân ra ngoài Sau 20 ngày nếu vẫn phát hiện thấy đốt sán trong phân chó phải tẩy lại lần 2 theo đúng quy trình như lần đầu
- Lopatol: thuốc do hãng CIBA (Thụy Sĩ) sản xuất Thuốc có hiệu lực cao tẩy sán dây cho chó, mèo (tẩy sán sạch 80 – 85%), an toàn, không gây phản ứng phụ Có thể dùng cho chó từ 3 tuần tuổi Thuốc có thể uống trực tiếp hay trộn với một ít thức ăn Chỉ uống một lần, liều 50mg/kg TT Cho chó uống khi đói và sau đó 1 –
2 giờ cho ăn uống bình thường, không phải kiêng hay nhịn ăn Nếu chưa sạch sán có thể tẩy lại lần 2 sau một tuần như quy trình lần đầu
- Mebendazol: cho chó uống với liều 80 – 100 mg/kg TT Thuốc chia làm 3 lần uống trong 3 ngày để tẩy sán dây
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], nguyên tắc điều trị là tẩy sán kết hợp với điều trị hội chứng viêm ruột do sán gây ra cho vật bệnh Để điều trị triệu chứng có thể dùng các loại thuốc sau:
- Điều trị viêm ruột: Biseptol, Trimethoxazol 24%, chống nôn: atropin 1% , chống chảy máu ruột: vitamin K
- Bổ sung các thuốc trợ lực, tăng sức đề kháng cơ thể như:
+ Truyền huyết thanh mặn ngọt đẳng trương: 100 – 150 ml/10 kgTT/ngày Glucoza 30%: tiêm mạch máu với liều 3 – 5 ml/con
+ B.complex tiêm bắp, liều 3 – 5 ml/ngày
+ Vitamin B12: chống thiếu máu
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1], Lê Thị Tài và cs (2006) [25] đề cập đến một số bài thuốc nam dùng
để tẩy sán dây cho chó có hiệu quả cao như:
- Nước sắc hạt cau: hạt cau 100g (giã nhỏ), nước sạch 500 ml Đun sôi, cô đặc còn lại 20 ml, lọc bỏ bã, cho uống liều 5 – 10 ml/kg TT Trước khi cho uống, cho nhịn ăn 4 – 5 giờ Sau nửa giờ uống nước sắc hạt cau, cho uống thuốc tẩy (Na2SO4 hoặcMgSO4)
Trang 32- Hạt bí ngô phối hợp với nước sắc hạt cau: Nhân hạt bí ngô: 50 – 100 g, cho chó ăn vào sáng sớm lúc đói Hạt cau 60 – 80 g cho thêm nước, đun sôi, sắc đặc cho uống, sau khi uống nửa giờ cho uống liều thuốc tẩy (Na2SO4 hoặcMgSO4)
Nước sắc hạt cau có tác dụng làm tê liệt đầu sán, hạt bí ngô có tác dụng làm
tê liệt khúc giữa và khúc đuôi con sán Do đó sự phối hợp này sẽ tẩy sán được triệt
Theo Skrjabin (1963) [24], muốn diệt trừ bệnh giun sán thì phải dự phòng
có tính chất chủ động; dùng tất cả các phương pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hóa học (thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt giun sán ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)
Các tác giả Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]; Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1]; Tô Du và Xuân Giao (2006) [3]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], Bùi Quý Huy (2006) [8]
đã đề xuất biện pháp phòng bệnh sán dây ở chó như sau:
- Định kỳ tẩy sán dây cho chó 4 lần/năm
- Diệt KCTG của các loài sán dây bằng cách: thường xuyên tắm cho chó mèo; định kỳ tẩy uế, vệ sinh chuồng nuôi, cũi nhốt chó và môi trường xung quanh; hàng ngày dọn chuồng, thu gom phân đổ vào hố ủ Định kì kiểm tra phân phát hiện mầm bệnh và theo dõi chó bệnh để tẩy dự phòng
- Cho chó ăn thức ăn chín, ăn sạch và uống sạch
- Có chế độ kiểm soát sát sinh chặt chẽ, không cho chó ăn những bộ phận
có ấu trùng
Trang 33- Không thả rông chó mèo, không cho chó bệnh tiếp xúc với bên ngoài để hạn chế lây nhiễm mầm bệnh
Theo Valerie Foss (2003) [61], định kỳ phun thuốc diệt ve, rận 2 lần/năm,
và cứ 3 tháng lại dùng thuốc tẩy sán dây, không cho chó ăn sống các phủ tạng, khí quan của cừu, lợn, trâu bò…
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ
Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước
Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum
tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện một số công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần loài sán dây ở người được chú ý hơn, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và động vật hoang dã
Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus
tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó
Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và
thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm thông tin về một số loài sán trong đó có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis
Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã tổng hợp được hầu hết những nghiên cứu
trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu
Năm 1967, hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc,
trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena
Trang 34Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy Giông, cầy Hương, và chó nhà được mổ
khám phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps
multiceps, Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum ký sinh
Kết quả kiểm tra 130 chó tại thành phố Huế của Lê Hữu Nghị và Nguyễn Văn Duệ (2000) [22] thấy: chó nhiễm sán dây rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến
một năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao, trong đó tỷ lệ nhiễm Dipylidium caninum
là 13,07%
Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng từ năm 1982 – 1985 thấy: trong 138 chó bị
bệnh sán dây có 101 chó nhiễm Dypilidium caninum, chiếm tỷ lệ 73,91% Chó con
từ 27 – 30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán Chó nuôi ở thành phố chủ yếu bị bệnh sán dây
loài Dypilidium caninum (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng, 2002 [15])
Theo Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình (2009) [7], kiểm tra 597 mẫu phân chó tại thành phố Cần Thơ, có 95 mẫu nhiễm sán dây (15,91%) Chó
nhiễm sán dây Dipylidium caninum ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm biến động từ
14,78 – 16,58%
Phạm Sỹ Lăng (1992) cho biết: tẩy cho 67 trường hợp chó nhiễm sán dây, thấy tỷ lệ sạch sán và khỏi bệnh đạt 85% khi dùng Niclosamid còn có tên là
Yomesan (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [17])
Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2]: cơ chế tác dụng của Niclosamid là ức chế sự hấp thu đường và ngăn cản quá trình phosphoryl hóa trong ty lạp thể của sán dây Sự phong tỏa chu trình Krep dẫn đến tích lũy acid lactic và giết chết sán Sự kích thích quá mức hoạt động của adenosine triphosphate (ATP) của ty lạp thể có thể liên quan đến tác dụng của Niclosamid với sán dây Sán dây chết và bị nát trong đường tiêu hóa trước khi theo phân ra ngoài môi trường, vì vậy không tìm thấy đầu và đốt sán trong phân gia súc được tẩy
Trang 351.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo kết quả nghiên cứu của Dalimi A và cs (2006) [45], kiểm tra 83 chó ở
các tỉnh phía tây của Iran cho thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium caninum; 53,01% chó nhiễm Taenia hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps; 13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus
Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [51], tỷ lệ nhiễm loài
Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%
Mổ khám 111 chó ở các vùng ngoại ô Tirana của Albania từ năm 2004 – 2009
để kiểm tra giun sán đường tiêu hóa, Xhaxhiu D và cs (2010) [63] phát hiện được 3
loài sán dây ký sinh ở chó là Dipylidium caninum (65,8%); Taenia hydatigena (16,2%); Echinococcus granulosus (2,7%)
Tuzer E và cs (2010) [59] đã nghiên cứu và xác định được hiệu quả của thuốc Praziquantel trong điều trị sán dây cho chó Tác giả đã tiến hành thí
nghiệm trên 26 chó nhiễm sán dây, trong đó có 14 chó nhiễm Dipylidium
caninum, 8 chó nhiễm Taenia spp, 2 chó nhiễm Echinococcus granulosus và 2
chó nhiễm cả hai loài Dipylidium caninum, Taenia spp với liều 0,1 ml/ kg thể
trọng Thí nghiệm được theo dõi chặt chẽ, nhốt riêng từng chó để kiểm tra sự thải phân Kết quả, sau 2 đến 3 ngày dùng thuốc không, kiếm tra phân chó thấy mẫu phân nào dương tính, không có phản ứng phụ nào xảy ra, hiệu quả tẩy trừ là 100%
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Chó nuôi tại một số địa phương của tỉnh Thái Nguyên
- Bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2015
* Địa điểm nghiên cứu:
- Đề tài được thực hiện ở các xã phường của 3 huyện, thành thuộc tỉnh Thái Nguyên (huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên)
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
+ Phòng Ký sinh trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
+ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
* Vật liệu nghiên cứu:
- Động vật trong nghiên cứu:
+ Chó ở các địa phương (để mổ khám thu thập sán dây)
+ Dê, lợn ở các địa phương (để mổ khám thu thập ấu trùng sán dây Cysticerscus
tenuicollis)
+ Chó:
8 chó (2 tháng tuổi, khỏe mạnh) để bố trí thí nghiệm nghiên cứu bệnh học bệnh
sán dây Teania hydatigena
20 chó bị bệnh sán dây để bố trí thử nghiệm thuốc tẩy sán dây trên diện hẹp
80 chó bị bệnh sán dây để bố trí thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng
Trang 37- Các loại mẫu dùng trong nghiên cứu:
+ Mẫu ấu trùng sán dây Cysticerscus tenuicollis thu thập từ dê và lợn
+ Mẫu sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó
+ Thuốc tẩy sán dây ở chó: niclosamide, praziquantel
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên
2.2.1.1 Tình hình nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại ba huyện thành của
tỉnh Thái Nguyên
- Thành phần loài và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở đường tiêu hoá chó tại ba huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các đi ̣a phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó theo tuổi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó theo tính biệt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó theo mùa vụ
Trang 382.2.1.2 Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena
ở chó với tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại ba huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại ba huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên
- Xác định tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó với tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại ba huyện, thành
thuộc tỉnh Thái Nguyên
2.2.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó
- Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh sán dây Taenia
2.2.3.1 Thử nghiệm thuốc tẩy sán dây Taenia hydatigena cho chó
- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp
- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây trên chó ở thực địa
2.2.3.2 Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh sán dây Taenia hydatigena gây
ra trên chó ở tỉnh Thái Nguyên
2.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó
2.3.1.1 Bố trí điều tra tình hình nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó
Trang 39Thu thập mẫu sán dây ở đường tiêu hóa của chó theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc (Nguyễn Như Thanh, 2011) [26] Mẫu được thu thập tại các huyện, thành thuộc tỉnh Thái Nguyên Cụ thể như sau:
2.3.1.2 Phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó
* Phương pháp mổ khám, thu thập và định loại sán dây ở chó:
Để tìm sán dây ký sinh ở hệ tiêu hoá, tiến hành mổ khám chó theo phương pháp mổ khám không toàn diện cơ quan tiêu hoá, thu thập mẫu sán dây ký sinh ở ruột của chó (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [13])
Cách mổ khám và thu thập sán dây: Dùng kéo nhọn, sắc cắt dọc theo chiều dài của ruột, nạo nhẹ niêm mạc ruột và gạt toàn bộ chất chứa vào cốc thuỷ tinh dung tích 500 ml có chứa nước sạch Dùng phương pháp lắng cặn (Benedek, 1943) để thu thập sán dây Đếm số lượng sán dây ở mỗi chó
Sán dây sau khi thu thập được làm chết tự nhiên trong nước lã, sau khi làm sạch bằng nước cất bảo quản trong cồn 700 Phân loại sơ bộ các loài sán dây đã thu thập được dưới kính lúp và kính hiển vi, căn cứ vào hình thái, cấu tạo của sán dây trưởng thành theo khoá định loại của Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] Việc xác định chính xác thành phần loài sán dây ở đường tiêu hoá chó được thực hiện ở Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Trang 40* Định loài sán dây: Định loài sán dây theo hệ thống phân loại của
Schulz và Gvozdev, (1970) trên tiêu bản nhuộm Carmin (Phan Thế Việt và cs,
1977 [40]; Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [11])
- Làm tiêu bản tạm thời (làm tiêu bản trong): Sử dụng hỗn hợp dung dịch
gồm: glyxerin + axit lactic + nước cất theo tỷ lệ 1:1:1 Phương pháp này có thể quan sát cấu tạo sơ bộ của đầu, giúp cho việc định loài sán dây được nhanh chóng
- Làm tiêu bản cố định: Quy trình nhuộm như sau:
+ Tách mẫu: tách những sán mà cơ thể có đầy đủ các bộ phận (đầu, cổ, thân) + Chọn những mẫu sán đẹp nhất (có cấu tạo đầy đủ đầu, cổ, thân, đốt già) + Rửa mẫu trong nước cất với thời gian 10 - 15 phút
+ Ép mẫu: đặt mẫu vào giữa hai lam kính để ép cho mẫu thẳng, các mẫu khác làm tương tự, sau đó đặt các mẫu chồng lên nhau, ngâm trong nước với thời gian 15 phút, sau đó mở ra từ từ
(Trường hợp mẫu tươi: thu mẫu, rửa nhẹ nhàng cho sạch, gắp từng con đặt cẩn thận lên lam kính cho thẳng rồi đặt lam kính khác lên; tiếp tục với những mẫu khác như vậy Sau đó đặt chồng lên nhau trong một chậu nhựa có nắp đậy, cho cồn 70o vào ngập mẫu, để trong 10 ngày nhấc ra cho vào chậu nước 5 - 10 phút để sán tự bong ra, gắp cho vào cồn 70o, sau 1 tuần đem nhuộm)
+ Mẫu sán lấy ra từ cồn 700 được cho vào thuốc nhuộm Carmin từ 10 -
15 phút, rồi chuyển sang cồn 700, 800, 960, 1000 với thời gian 15 - 30 phút (tùy kích thước từng mẫu); rồi làm trong bằng xylen
+ Chuẩn bị lamen và lam kính, nhỏ 1 - 2 giọt Baume-Canada lên lam kính, sau đó lấy que gắp gắp sán đặt lên giọt Baume-Canada, đậy lamen lên Sau một ngày đem ra soi kính hiển vi
+ Sau khi làm xong mẫu, điền đầy đủ thông tin về mẫu lên lam kính