Tổ chức Y tế Thế giới WHO khuyến cáo về thực trạng kê đơn đáng lo ngại trên toàn cầu khi có tới 30-60% bệnh nhân tại các cơ sở y tế được kê kháng sinh điều trị ngoại trú, tỷ lệ này cao g
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HÙNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KÊ ĐƠN THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN LỘC HÀ,
TỈNH HÀ TĨNH, NĂM 2015 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2016
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HÙNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KÊ ĐƠN THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH, NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12 Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Thu Hương
Thời gian thực hiện: 18/7/2016-18/11/2016
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các giáo viên hướng dẫn: TS Vũ Thị Thu Hương và giáo viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược ThS Nguyễn Thị Phương Thúy là những người
đã trực tiếp dìu dắt và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo, các khoa phòng, các dược sĩ và nhân viên khoa Dược Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Để hoàn thành được chương trình này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình dạy dỗ và truyền tải rất nhiều kinh nghiệm quý báu cho tôi trong quá trình học tập tại Trường
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè, những người luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tôi trong cuộc sống, công việc cũng như trong học tập./
Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2016
Sinh viên Nguyễn Thanh Hùng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Quy định kê đơn thuốc ngoại trú 3
1.1.1 Yêu cầu 3
1.1.2 Một số nguyên tắc khi kê đơn 6
1.1.3 Một số chỉ số sử dụng thuốc 7
1.2 Thực trạng kê đơn và thực hiện quy chế kê đơn 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Tại Việt Nam 11
1.3 Vài nét về bệnh viện đa khoa Lộc Hà 21
1.3.1 Lịch sử phát triển, cơ cấu tổ chức của bệnh viện và khoa dược 21
1.3.2 Cơ cấu tổ chức và tình hình hoạt động khoa Dược - Bệnh viện đa khoa Lộc Hà 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 25
2.3.2 Mẫu nghiên cứu 25
2.4 Các biến số trong nghiên cứu 27
2.4.1 Mục tiêu 1 27
2.4.2 Mục tiêu 2 29
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
2.5.1 Phương pháp phân tích 30
2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 35
3.2 Thực hiện quy chế kê đơn thuốc ngoại trú 35
Trang 53.2.1 Ghi thông tin bệnh nhân 35
3.2.2 Ghi thủ tục hành chính 37
3.2.3 Quy định ghi thông tin liên quan đến thuốc 39
3.2.4 Ghi hướng dẫn sử dụng 41
3.3 Chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà 42
3.3.1 Số thuốc kê trong đơn 42
3.3.2 Về kê thuốc kháng sinh, thuốc tiêm và vitamin 43
3.3.3 Chi phí của một đơn thuốc 46
3.3.4 Tương tác thuốc trong đơn 47
Chương 4 BÀN LUẬN 48
4.1 Về thực hiện Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh 48
4.1.1 Ghi thông tin bệnh nhân 48
4.1.2 Ghi thông tin liên quan đến thuốc 49
4.1.3 Ghi thông tin hướng dẫn sử dụng 51
4.1.4 Ghi thông tin chẩn đoán 52
4.2 Về các chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà 53
4.2.1 Số thuốc trong đơn 53
4.2.2 Đơn thuốc kê kháng sinh, thuốc tiêm và vitamin 54
4.2.3 Chi phí cho 1 đơn thuốc 55
4.2.4 Tương tác thuốc trong đơn 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
KẾT LUẬN 57
1 Thực hiện quy chế kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà 57
2 Các chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh 58
KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số nội dung khác nhau giữa Thông tư 05/2016/TT-BYT và
Quyết định 04/2008/QĐ-BYT ….……….5
Bảng 1.2 Một số kết quả nghiên cứu về việc chấp hành quy chế kê đơn và các chỉ số kê đơn 16
Bảng 2.3 Số lượng đơn thuốc cần lấy theo từng tháng trong năm 2015 26
Bảng 2.4 Biến số trong phân tích thực hiện quy chế kê đơn………….…….27
Bảng 2.5 Biến số trong phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú 29
Bảng 2.6 Các chỉ số thực hiện quy chế kê đơn 30
Bảng 2.7 Chỉ tiêu về chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú 32
Bảng 3.8 Đặc điểm chung của bệnh nhân điều trị ngoại trú 35
Bảng 3.9 Ghi thông tin bệnh nhân 36
Bảng 3.10 Ghi ngày kê đơn, ký tên bác sĩ, đánh số khoản, sửa chữa đơn và gạch phần đơn trắng 37
Bảng 3.11 Thông tin về ghi chẩn đoán trên đơn thuốc 38
Bảng 3.12 Quy định đối với đơn thuốc sửa chữa 39
Bảng 3.13 Ghi tên thuốc, hàm lượng (nồng độ), số lượng trong đơn thuốc ngoại trú 40
Bảng 3.14 Ghi hướng dẫn sử dụng 41
Bảng 3.15 Số thuốc kê trong đơn thuốc ngoại trú 42
Bảng 3.16 Sự phân bố số thuốc trong một đơn thuốc theo các chuyên khoa 43 Bảng 3.17 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh, thuốc tiêm và vitamin 43
Bảng 3.18 Cơ cấu số lượng kháng sinh được kê phân loại theo chuyên khoa 44
Bảng 3.19 Cơ cấu nhóm kháng sinh được kê theo chuyên khoa 45
Bảng 3.20 Cơ cấu vitamin được kê theo các chuyên khoa 45
Bảng 3.21 Chi phí của một đơn thuốc 46
Bảng 3.22 Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác và tỷ lệ đơn thuốc có tương tác phân theo mức độ tương tác 47
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 - Sơ đồ tổ chức bệnh viện 22 Hình 1.2 - Sơ đồ tổ chức khoa Dược – Bệnh viện Lộc Hà 23
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, kinh tế đang trở thành vấn đề được toàn thế giới quan tâm, nhất là trong khi mô hình bệnh tật liên tục biến đổi, nhiều dịch bệnh nguy hiểm mới xuất hiện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo về thực trạng kê đơn đáng lo ngại trên toàn cầu khi
có tới 30-60% bệnh nhân tại các cơ sở y tế được kê kháng sinh điều trị ngoại trú, tỷ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng 60-90% bệnh nhân đã sử dụng kháng sinh không phù hợp, 50% bệnh nhân được kê đơn dùng thuốc tiêm tại các cơ sở y tế, trong đó có tới 90% số ca là không cần thiết Điều đó dẫn đến 20-80% thuốc sử dụng không hợp lý [36] Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy tình trạng kê đơn bất hợp lý, lạm dụng thuốc còn rất phổ biến như kê quá nhiều thuốc cho một bệnh nhân, lạm dụng thuốc tiêm trong khi dạng uống thông thường đã đạt được hiệu quả điều trị, lạm dụng kháng sinh, bệnh nhân tự điều trị hoặc không tuân thủ điều trị Từ đó dẫn đến thực trạng điều trị không hiệu quả, không an toàn, bệnh không khỏi hoặc kéo dài làm cho bệnh nhân lo lắng, chưa kể đến chi phí điều trị cao [26]
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây các hãng dược phẩm trên thế giới đã tập trung nghiên cứu và sản xuất ra nhiều thuốc mới nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người bệnh Đồng thời sự quá tải trong công tác khám và kê đơn thuốc tại các bệnh viện tuyến huyện, đặc biệt là bệnh viện hạng 3 nơi mà bác sĩ còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng dẫn đến việc nghiên cứu, cập nhật thông tin thuốc còn hạn chế, thời gian đầu
tư cho việc khám và kê đơn cho mỗi đơn thuốc là chưa nhiều Một đơn thuốc được ghi theo đúng quy định, các thuốc được kê hợp lý, ghi rõ ràng danh pháp, hàm lượng, liều dùng… sẽ làm hạn chế sự nhầm lẫn trong cấp phát, sử dụng, rút ngắn thời gian và chi phí điều trị cho bệnh nhân
Nhằm tăng cường giám sát hoạt động kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, Bộ Y tế đã ban hành rất nhiều văn bản, trong đó có Quyết định
Trang 1004/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 quy định về kê đơn thuốc điều trị ngoại trú [9] Tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà đã thực hiện áp dụng theo quy định này từ năm 2010 đến năm 2015, ngoài ra bệnh viện cũng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kê đơn thuốc ngoại trú từ tháng 9/2015 Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ nghiên cứu nào đề cập đến hoạt động
kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Với mong muốn xem xét thực trạng tuân thủ về kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện
Lộc Hà, nghiên cứu: “Phân tích thực trạng hoạt động kê đơn thuốc ngoại
trú bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2015” được tiến hành với 2 mục tiêu sau:
1 Phân tích thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2015;
2 Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2015
Dựa vào kết quả nghiên cứu để làm cơ sở đề xuất một số kiến nghị nâng cao tỷ lệ tuân thủ thực hiện quy chế kê đơn, giảm sai sót để hướng tới sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Quy định kê đơn thuốc ngoại trú
1.1.1 Yêu cầu
Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh, là
cơ sở pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc, bán thuốc và cấp thuốc theo đơn Bác sĩ có thể chỉ định điều trị cho người bệnh vào đơn thuốc (theo mẫu quy định của BYT) hoặc vào sổ y bạ, sổ điều trị bệnh mạn tính [4], [9]
a) Nội dung của một đơn thuốc ngoại trú
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thuống nhất nào về kê đơn thuốc
và mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng đó là đơn thuốc phải thật rõ ràng Đơn thuốc phải hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng Theo khuyến cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau: [21]
- Tên, địa chỉ của người kê đơn, số điện thoại (nếu có);
- Ngày, tháng kê đơn;
- Tên gốc của thuốc, hàm lượng;
- Dạng thuốc, tổng lượng thuốc;
- Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo
Tại Việt Nam, Bộ Y tế quy định nội dung của đơn thuốc bao gồm: [9]
- Kê đơn thuốc vào mẫu đơn, mẫu sổ quy định kèm theo Quy chế này;
- Ghi đủ các mục in trong đơn; chữ viết rõ ràng, dễ đọc, chính xác;
- Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn, xã;
- Với trẻ dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ;
- Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất);
Trang 12- Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi thuốc;
- Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa;
- Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết thêm
số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số;
- Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh;
- Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn
b) Điều kiện của người kê đơn
Tại Việt Nam, Bộ Y tế quy định điều kiện của người kê đơn như sau: Đang hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp có bằng tốt nghiệp Đại học Y và được người đứng đầu cơ sở phân công khám, chữa bệnh
Đối với các tỉnh có vùng núi, vùng sâu, vùng cao, hải đảo xa xôi, vùng khó khăn và những nơi chưa có bác sĩ, Sở Y tế có văn bản ủy quyền cho Trưởng Phòng Y tế huyện chỉ định y sĩ của Trạm Y tế thay thế cho phù hợp với tình hình địa phương [9]
Tuy nhiên, theo Thông tư mới nhất của Bộ y tế ban hành năm 2016, điều kiện của người kê đơn được điều chỉnh như sau:
- Bác sĩ, Y sĩ có chứng chỉ hành nghề
- Phải có văn bản phân công của người đứng đầu cơ sở
- Bác sĩ, Y sĩ tại trạm Y tế được phép kê đơn đối với các bệnh ở các chuyên khoa tương ứng với phạm vi khám bệnh, chữa bệnh qui định
c) Quy định về ghi đơn thuốc
Ngày 01/02/2008 Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định số 04/2008/QĐ - BYT ban hành Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú Đến nay, với sự phát triển Quy chế kê đơn ngày càng hoàn thiện đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và phù hợp hơn, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2016/TT-BYT ngày 29/02/2016 quy định về việc kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Thông tư
Trang 13này có hiệu lực từ ngày 01/5/2016 và bãi bỏ Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008
Về cơ bản nội dung kê đơn thuốc trong thông tư mới vẫn dựa trên các nội dung trong Quyết định 04/2008/QĐ-BYT Một số nội dung khác biệt bao gồm:
Bảng 1.1 Một số nội dung khác nhau giữa Thông tư
05/2016/TT-BYT và Quyết định 04/2008/QĐ-05/2016/TT-BYT
- Số lượng thuốc: Viết thêm số
0 trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10)
- Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất);
- Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ
- Kê đơn thuốc vào mẫu Đơn thuốc “N” để cơ sở cấp, bán thuốc lưu đơn, đồng thời kê đơn vào sổ điều trị bệnh mạn tính hoặc sổ khám bệnh để theo dõi điều trị và hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc
Không quy định mẫu đơn riêng
1 bản để lưu
Không quy định
Trang 14Tuy nhiên, phạm vi của nghiên cứu là đơn thuốc của năm 2015, do vậy việc nghiên cứu tuân thủ quy chế của đề tài này tạm thời áp dụng theo quy chế tại Quyết định 04/2008/QĐ-BYT
1.1.2 Một số nguyên tắc khi kê đơn
Theo hướng dẫn thực hành kê đơn thuốc tốt của Tổ chức Y tế Thế giới,
để thực hiện được quá trình kê đơn thuốc tốt, người thầy thuốc cần phải tuân thủ theo quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước: [38]
- Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân Quá trình này cần được thực hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lưỡng của bác sĩ,
mô tả bệnh của bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X-quang, kết quả xét nghiệm và các thăm khám khác
- Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị Việc xác định mục tiêu điều trị giúp người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào bệnh của bệnh nhân
- Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả,
an toàn kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị khác nhau, kể cả phương án không dùng thuốc Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã lưa chọn cho bệnh nhân Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh: (1) Sự phù hợp giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân, (2) Sự phù hợp của liều dùng hằng ngày, (3) Sự phù hợp của quá trình điều trị Đối với mỗi khía cạnh cần phải kiểm tra mục đích điều trị, hiệu quả (chỉ định và
sự liên quan đến liều dùng) và an toàn (chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao) có được đảm bảo
- Bước 4: Bắt đầu điều trị Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân Ví
dụ như viết một đơn thuốc rõ ràng, cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân
- Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho bệnh nhân Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất các thông tin sau: Các tác dụng của thuốc; hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian dùng, bảo quản );
Trang 15cảnh báo (không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian điều trị đầy đủ); hẹn tái khám lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân
- Bước 6: Giám sát điều trị Nếu như bệnh nhân được chữa khỏi thì ngừng quá trình điều trị hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hoặc chọn thuốc khác, nếu không thì tiếp tục điều trị Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên
Ngoài ra, để đảm bảo một đơn thuốc hợp lý cũng cần phải lưu ý đến tương tác thuốc, vì khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc có tương tác với nhau, tác dụng của thuốc này có thể bị thay đổi bởi thuốc khác, một số trường hợp có thể làm tăng độc tính của thuốc dẫn tới hậu quả bất lợi cho người bệnh Trong một số trường hợp kết hợp hai thuốc tương tác để làm tăng hiệu quả của thuốc cũng nên được áp dụng để giảm liều của từng thuốc đơn lẻ [7]
1.1.3 Một số chỉ số sử dụng thuốc
Để đánh giá việc sử dụng thuốc, WHO/INRUD đã đưa các chỉ số sử dụng thuốc cho cơ sở y tế ban đầu [11]
- Các chỉ số kê đơn:
Số thuốc kê trung bình trong một đơn
Tỷ lệ phần trăm thuốc đươc kê tên generic hoặc tên chung quốc
tế (INN)
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin
Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành
- Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện:
Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc
Trang 16 Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn
Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh
Tỷ lệ phần trăm chí phí thuốc dành cho vitamin
Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị
Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan
1.2 Thực trạng kê đơn và thực hiện quy chế kê đơn
1.2.1 Trên thế giới
Trong những năm gần đây, nhu cầu thuốc trên thị trường thế giới có sự gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ Nhu cầu dùng thuốc tăng và dùng các loại thuốc biệt dược được phát minh trong điều trị bệnh mới nên có chi phí lớn [19]
Trong việc sử dụng thuốc tồn tại hai vấn đề lớn, đó là:
- Sự tiêu thụ thuốc chưa đồng đều giữa các nước phát triển và đang phát triển [29]
- Thực trạng kê đơn không hợp lý, không an toàn, còn bệnh nhân thì không tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ, tình trạng bác sĩ kê đơn nhầm lẫn vẫn còn, còn lạm dụng thuốc, phối hợp thuốc không đúng, không ghi đầy đủ liều lượng, dạng thuốc vẫn còn diễn ra Tình trạng kê quá nhiều thuốc cho một bệnh nhân, lạm dụng kháng sinh tiêm, kê đơn kháng sinh cho bệnh không nhiễm trùng vẫn còn diễn ra [40]
Khoảng 75% lượng thuốc ở thị trường dược phẩm thế giới là thuộc về các nước dẫn đầu về kinh tế như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bỉ… [6]
Thị trường dược phẩm khối các nước ASEAN có đặc điểm chung là thuốc Generic chiếm trung bình khoảng 40% thị phần, trong đó Singapore thấp nhất (9%), cao nhất là Việt Nam (70%) (theo đánh giá của IMS) Thuốc
Trang 17generic là một thị trường tiềm năng, đồng thời là một giải pháp lựa chọn để người dân các nước đang phát triển có khả năng tiếp cận với thuốc thiết yếu theo chính sách của WHO [30], [40]
Nghiên cứu về việc kê đơn tại một bệnh viện thực hành ở Thái Lan Udimthavomsuk thấy có tới 52,3% dùng kháng sinh không đúng và không cần thiết Việc sử dụng kháng sinh dự phòng ngoại khoa cũng có tỷ lệ không hợp lý cao (79,7%) [32]
Không tuân thủ quy chế kê đơn: Một nghiên cứu khảo sát thực trạng
hoạt động kê đơn tại Goa (Ấn Độ), khi tiến hành nghiên cứu cho thấy Trong
990 đơn thuốc khảo sát thì có tới hơn một phần ba trong tổng số đơn thuốc ghi thông tin xác định bác sĩ là không rõ ràng; hơn một nửa các đơn thuốc không ghi đầy đủ các thông tin về bệnh nhân (tình trạng bệnh, địa chỉ, tên, tuổi …) [39]
Nghiên cứu của Sanchez (2013) được tiến hành nhằm đánh giá tại cộng đồng ở Tây Ban Nha cho kết quả như sau: Trong 13 tháng nghiên cứu với tổng số 42.000 đơn thuốc có tới 1.127 lỗi kê đơn Nguyên nhân phổ biến nhất gây ra lỗi là đơn không đọc được chiếm 26,2% [31]
Lạm dụng thuốc và không tuân thủ quy trình trong điều trị: Tình trạng
kê đơn quá nhiều thuốc, lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu Để khắc phục tình trạng này, nhiều nước đã thực thi một danh mục thuốc hạn chế và xây dựng phác đồ chuẩn để hướng dẫn việc sử dụng thuốc hợp lý Những cố gắng này đã góp phần làm giảm được việc tiêu thụ thuốc tuy nhiên không được cải thiện đáng kể [34] Vì vậy,
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo “các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, cần dùng thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả
và cung cấp được nhiều thuốc hơn cho nhân dân” [5]
Một cuộc khảo sát bệnh nhân ở 11 quốc gia trên toàn thế giới cho thấy 22,3% số bệnh nhân được dùng thuốc kháng sinh điều trị nhiễm trùng cấp tính tại cộng đồng thừa nhận không tuân thủ đầy đủ liệu trình Nhiều bệnh
Trang 18nhân dùng liều thấp hơn hoặc chỉ dùng trong thời gian ngắn 3 ngày thay vì 5 ngày Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ rất khác nhau giữa các nước, Trung Quốc và Nhật Bản có tỷ lệ không tuân thủ cao nhất còn Italy và Hà Lan ở mức thấp nhất [41]
Theo một nghiên cứu đánh giá việc kê đơn thuốc tại bệnh viện Dessie Referral ở Dessie, Ethiopia, kết quả cho thấy trong tổng số 362 đơn thuốc khảo sát Số thuốc trung bình trên một đơn thuốc là 1,8 phù hợp với tiêu chuẩn của WHO (1,6-1,8) Tỷ lệ thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết yếu của quốc gia là 91,7 thấp hơn so với giá trị lý tưởng của WHO là 100% Tỷ lệ thuốc được kê đơn theo generic là 93,9%, thấp hơn so với giá trị tiêu chuẩn của WHO là 100% Tỷ lệ đơn có kê kháng sinh là 52,8%, cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO (20,0%-26,8%) Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin là 31%, cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO (13,4%-24,1%) Các kháng sinh được kê đơn nhiều nhất là Amoxicillin (22,2%) và Ampicillin (21,3%) Qua các chỉ số nghiên cứu cho thấy có độ chênh lệch lớn giữa thực tế điều trị với khuyến cáo của WHO [33]
Nghiên cứu về việc điều trị các chứng bệnh thông thường như ho, cảm lạnh, ỉa chảy cho trẻ em ở Philippine cho thấy tới 80% các trường hợp được cha mẹ tự điều trị và hầu hết các trường hợp là không đúng và không cần Nhóm thuốc hạ sốt, giảm đau được dùng nhiều nhất và đặc biệt là các thuốc cầm ỉa chảy, các kháng sinh được dùng rộng rãi, lãng phí và nguy hiểm Một nghiên cứu khác cho thấy ngay tại thủ đô Manila (Philippine), việc mua kháng sinh không có đơn của thầy thuốc chiếm tới 66%, trong đó có cả những trường hợp mua kháng sinh để “dự phòng” [32]
Thực trạng lạm dụng kháng sinh: Tình trạng lạm dụng kháng sinh xẩy
ra đối với nhiều loại bệnh, trên nhiều đối tượng bệnh nhân Nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với bệnh nhân viêm họng khi đến thăm khám bác sĩ, tỷ lệ kê đơn kháng sinh vẫn duy trì ở mức 60% số lần thăm khám Trong khi đó, tác giả
Trang 19cũng nhận định, đối với các trường hợp bệnh nhân viêm họng này có thể tự
khỏi bằng cách nghỉ ngơi và uống nhiều nước [37]
1.2.2 Tại Việt Nam
Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc cho một đơn… Những bất cập này đã
và đang tồn tại trong hệ thống y tế và cần có các biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời nhằm hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và kinh tế
Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý: Đây là những lý do làm cho
hiệu quả sử dụng thuốc không cao, lãng phí và là một trong các nguyên nhân tạo nên nhiều chủng vi khuẩn kháng kháng sinh, một vấn đề nan giải hiện nay Sử dụng kháng sinh hợp lý nhằm đảm bảo hiệu lực điều trị và ngăn ngừa
sự gia tăng vi khuẩn kháng thuốc là mục tiêu của tất cả các quốc gia trong đó
có Việt Nam Tuy mô hình bệnh tật của Việt Nam đang có xu hướng chuyển dịch sang bệnh không lây nhiễm, nhưng những bệnh nhiễm khuẩn vẫn là những bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, do đó chi phí cho thuốc kháng sinh vẫn chiếm một lượng không nhỏ trên tổng chi phí dùng trong điều trị Mặc khác hiện tượng sử dụng kháng sinh chưa hợp lý vẫn còn khá phổ biến, điều này làm gia tăng sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở Việt Nam [8]
Mức độ sử dụng kháng sinh tại Việt Nam tương đối cao so với các nước khác trên thế giới, tình trạng kháng kháng sinh cũng cho thấy mức độ đáng báo động tại tất cả các bệnh viện Mức độ kháng kháng sinh phổ biến trong nhóm vi khuẩn Gram âm bao gồm: Acinetobacter sp, Pseudomonas, Ecoli và Klebsiella sp Nhìn chung, khoảng 30-70% vi khuẩn Gram âm kháng các kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 và 4, xấp xỉ 40-60% kháng với các kháng sinh nhóm aminoglycosides và fluoroquinolones Thực trạng này là hậu quả tất yếu của mức độ sử dụng kháng sinh cao cả trên người và trong nông nghiệp, mà đa phần là tình trạng sử dụng không hợp lý [13]
Trang 20Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng của Việt Nam chiếm 37,7% [10] Thống kê các báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện của Bộ Y tế cho thấy kháng sinh chiếm khoảng 36% tổng chi phí mua thuốc, hóa chất [20]
Việc lạm dụng vitamin: Có thể nói kê thuốc vitamin đã trở thành thói
quen của bác sĩ, hoặc đôi khi bệnh nhân đòi hỏi các bác sĩ kê đơn trong khi thực chất bệnh nhân không cần dùng tới thuốc Khảo sát ở bệnh viện Tim Hà Nội năm 2010, kết quả cho thấy có 35% đơn thuốc có kê vitamin chủ yếu là vitamin nhóm B phối hợp với các khoáng chất như Mg, Fe , không có tình trạng bác sĩ kê nhiều loại vitamin trong cùng một đơn [23] Nhóm thuốc vitamin đang bị lạm dụng, lượng thuốc trung bình được kê trong một đơn thuốc tại một số cơ sở được tổng quan đều cao hơn khuyến cáo của WHO khoảng 2 thuốc [35]
Việc thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Tình trạng
kê đơn theo tên biệt dược vẫn diễn ra phổ biến, tỷ lệ thuốc kê theo tên gốc thấp (chỉ chiếm 25,8% trên tổng số thuốc được kê tại Bệnh viện Quân đội 108 năm 2015 và 14,7% trên tổng số thuốc được kê tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2015) Hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân cũng còn sai sót
và chưa đầy đủ về hàm lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng
Khi tỷ lệ thuốc ngoại được kê trong đơn cao, đồng nghĩa với việc chi phí trong đơn thuốc đó tăng lên Điều này có thể lý giải mặc dù tốc độ tăng trưởng ngành Dược khá cao, trung bình 18,8%/năm trong giai đoạn 5 năm 2009-2013 nhưng một sự thật mà ngành Dược Việt Nam không thể phủ nhận
là tỷ lệ nhập khẩu dược phẩm đang còn quá cao, chiếm đến 60% tổng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa Trong khi đó, dù cung cấp được 50% nhu cầu nhưng thị trường nội địa chỉ đáp lại 38%, các doanh nghiệp trong nước chuyển sang hướng xuất khẩu Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu còn quá thấp,
do sản phẩm của doanh nghiệp nội địa mới chỉ là những công thức thuốc thông thường mà nguồn cung trên thị trường quốc tế vẫn đang rất dồi dào,
Trang 21cộng với việc 90% nguyên liệu phải nhập khẩu, khiến mặt hàng của Việt Nam thiếu tính cạnh tranh [12] Và một nguyên nhân nữa là do tâm lý của người Việt Nam, bao gồm cả bác sĩ, dược sĩ và bệnh nhân vẫn ưa chuộng hàng ngoại Thống kê chính thức cho thấy, các bác sĩ Việt Nam chỉ kê 20-30% thuốc nội trên tổng số các thuốc cần kê cho bệnh nhân Trong tiềm thức của người Việt, thuốc đắt là thuốc tốt mà hiển nhiên rằng, thuốc nhập khẩu vẫn đắt hơn thuốc nội Vì vậy, thuốc nội vẫn đang bị lép vế ở thị trường nội địa do những quan niệm sai lầm này
Việc áp dụng quy trình kê đơn điện tử: Công tác ứng dụng công nghệ
thông tin vào kê đơn chưa được áp dụng rộng rãi gây ra việc quản lý về thông tin chỉ định và thông tin sử dụng thuốc hoàn thiện bị ảnh hưởng nhiều [30]
Kết quả khảo sát tại bệnh viện Phổi Trung ương năm 2009, do chưa ứng dụng phần mềm trong kê đơn trên máy tính có 62% số đơn ghi tên thuốc theo tên hoạt chất, 83% số đơn ghi đầy đủ hàm lượng, nồng độ, số lượng thuốc, 99% số đơn ghi đầy đủ hướng dẫn sử dụng trong đơn, 100% số đơn ghi đầy đủ liều dùng, 95% số đơn ghi thời điểm dùng thuốc [16] Một nghiên cứu can thiệp tại Bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy, việc áp dụng kê đơn điện tử
đã cải thiện rõ rệt chất lượng kê đơn thuốc tại khoa khám bệnh Số đơn ghi thiếu thông tin về bệnh nhân giảm từ 98% xuống 33,6%, các thông tin về họ, tên, tuổi, giới tính giảm tử 96,25% đến không còn (0%) Các sai sót về ghi địa chỉ, tên hoạt chất và tên thuốc đã được hạn chế tối đa (0%) khi áp dụng kê đơn điện tử, tỷ lệ ghi thiếu thông tin về thời điểm dùng thuốc giảm từ 54% xuống còn 33,5% [27]
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 về việc thực hiện kê đơn điện tử cũng làm giảm được nhiều sai sót, 100% đơn thuốc khảo sát đã ghi đúng, đầy đủ hàm lượng, nồng độ, số lượng, liều dùng mỗi thuốc…[17]
Có thể nói hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú trên thế giới cũng như tại Việt Nam còn nhiều thực trạng đáng báo động đang diễn ra, trong bối cảnh
Trang 22đó, cần thiết có một nghiên cứu về vấn đề này để đánh giá và đưa ra các khuyến nghị nâng cao tỷ lệ tuân thủ thực hiện quy chế kê đơn, giảm sai sót nhằm cải thiện chất lượng kê đơn, chất lượng điều trị cho bệnh nhân ngoại trú.
Trang 23Bảng 1.2 Một số kết quả nghiên cứu về việc chấp hành quy chế kê đơn và các chỉ số kê đơn
Nội dung
Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đầy đủ
thông tin họ, tên bệnh nhân
(%)
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đầy đủ
tuổi, giới tính bệnh nhân
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đúng
tên chung quốc tế (INN,
generic name) với thuốc 1
thành phần (%)
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đúng
tên Biệt dược có tên chung
quốc tế trong ngoặc đơn
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đầy đủ
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đầy đủ
Trang 24Nội dung
Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Tỷ lệ đơn thuốc có xuất
Trang 25* Ghi chú:
(1) Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2015 [15];
(2) Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2016 [2];
(3) Bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình năm 2015 [18];
(4) Trung tâm chẩn đoán y khoa thành phố Cần Thơ năm 2015 [22]; (5) Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2015 [25];
(6) Bệnh viện đa khoa Phước Long tỉnh Bình Phước năm 2014 [28]; (7) Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai năm 2014 [20]; (8) Trung tâm Y tế Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương năm 2014 [24]; (9) Trung tâm Y tế Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu năm 2015 [3];
(10) Bệnh viện đa khoa Kim Bảng, Hà Nam năm 2014 [14]
Trang 261.3 Vài nét về bệnh viện đa khoa Lộc Hà
1.3.1 Lịch sử phát triển, cơ cấu tổ chức của bệnh viện
1.3.1.1 Lịch sử phát triển của bệnh viện
Huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh được sát nhập 7 xã vùng hạ của huyện Can Lộc và 6 xã vùng biển cửa của huyện Thạch Hà, có diện tích tự nhiên 11.830 ha, dân số hơn 8,3 vạn người
Bệnh viện Đa khoa huyện Lộc Hà được thành lập theo Quyết định số 1703/QĐ-UBND ngày 25/6/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Bệnh viện hiện có 95 biên chế và 28 hợp đồng nội bộ, trong đó có 20 bác sĩ Hàng ngày, tiếp nhận khám, chữa bệnh ngoại trú cho 180-200 bệnh nhân và điều trị nội cho 130-150 bênh nhân Công suất sử dụng giường bệnh hàng năm đạt từ 130-150% so với chỉ tiêu kế hoạch Số giường bệnh thực kê tại thời điểm hiện tại là 165 giường Bệnh viện đã triển khai thực hiện được trên 70% kỹ thuật theo phân tuyến bệnh viện hạng III và có trên 200 kỹ thuật vượt tuyến, điển hình như: Phẫu thuật thay thuỷ tinh thể bằng phương pháp Phaco; mổ đẻ lần 2,3; thở máy xâm nhập và không xâm nhập; kéo giãn cột sống; đo chức năng
hô hấp; đo lưu huyết não; nội soi dạ dày - tá tràng; nội soi cổ tử cung; điều trị viêm lộ tuyến cổ tử cung bằng sóng cao tần; chọc dịch não tuỷ xét nghiệm tế bào Về tiêu chí chất lượng bệnh viện, năm 2015 Bệnh viện đã đạt mức trung bình khá (2,88 điểm), phấn đấu đến năm 2017 đạt loại khá và năm 2020 đạt loại tốt
1.3.1.2 Cơ cấu tổ chức của bệnh viện
Trang 27Hình 1.1 –Cơ cấu tổ chức bệnh viện
Khoa khám bệnh: Là khoa lâm sàng thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận
người bệnh đến cấp cứu hoặc khám bệnh, chọn lọc người bệnh vào điều trị nội trú; thực hiện công tác điều trị ngoại trú và hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ ban đầu
Khoa khám bệnh được bố trí một bác sỹ làm trưởng khoa chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của khoa, các bác sĩ thuộc các khoa, bộ phận chuyên môn trong toàn viện được điều động xuống các phòng khám chuyên khoa theo lịch phân công của bệnh viện Hiện tại khoa khám bệnh được bố trí
7 phòng khám tương ứng với 07 chuyên khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Răng - hàm - mặt, Tai - mũi - họng; nhóm các chuyên khoa khác (gồm: da liễu, truyền nhiễm, xương khớp)
Trang 28Hằng ngày, khoa khám bệnh tiếp nhận trung bình từ 150-200 bệnh nhân đến khám Chi phí sử dụng thuốc cho điều trị ngoại trú trong 1 năm là 2,5-3 tỷ đồng chiếm 38,5-46,2 % tổng tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện
Danh mục thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện: Là các thuốc thuộc
danh mục các thuốc trúng thầu theo kết quả thầu tập trung tại Sở Y tế hằng năm; các thuốc cấp cho bệnh nhân ngoại trú đa phần là các dạng thuốc uống, đặt, bôi Thuốc tiêm chỉ có duy nhất 1 loại là Insulin cho bệnh nhân điều trị đái tháo đường
1.3.2 Cơ cấu tổ chức và tình hình hoạt động khoa Dược
1.3.2.1 Cơ cấu tổ chức
- Khoa dược có 07 cán bộ biên chế, trong đó Dược sĩ Đại học: 02, Trung học dược: 05
- Tổ chức của khoa dược:
Hình 1.2-Cơ cấu tổ chức khoa Dược - Bệnh viện Lộc Hà
Trưởng khoa Dược
Tổ
kho
Tổ cấp phát
Tổ thống
kê
Tổ dược chính
Đơn
vị TTT, DLS
Nhà thuốc bệnh viện
Trang 291.3.2.2 Tình hình hoạt động của khoa Dược
Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà được xây mới và đi vào hoạt động từ năm 2011, cơ sở hạ tầng các khoa phòng được bố trí hợp lý, phù hợp với dây chuyền công năng đảm bảo công tác khám và điều trị cho bệnh nhân Các kho
cơ bản được trang bị các thiết bị bảo quản thuốc như giá, kệ, điều hòa nhiệt
độ, quạt thông gió, máy hút ẩm, nhiệt ẩm kế để theo dõi …
Hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện được triển khai bắt đầu từ tháng
9 năm 2015 Việc áp dụng phần mềm trong quản lý bệnh viện đã hỗ trợ rất tốt cho công tác thống kê dược nói chung cũng như công tác cấp phát thuốc tại kho nói riêng Bên cạnh đó để đảm bảo công tác cấp phát thuốc, khoa dược đã tham mưu, trình Hội đồng thuốc điều trị ban hành các quy trình cấp phát thuốc đảm bảo các quy định về cấp phát và phù hợp với thực tế tại đơn vị Nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác kê đơn thuốc ngoại trú, hiện nay khoa Dược đang phối hợp với Hội đồng thuốc và điều trị để xây dựng quy trình kê đơn thuốc tại bệnh viện
Công tác Dược lâm sàng, thông tin thuốc đã được triển khai tuy nhiên
do thiếu cán bộ được đào tạo chuyên môn về lĩnh vực này nên thời gian qua, hoạt động này chưa thực sự hiệu quả
Với những nội dung tổng quan về thực trạng kê đơn đang diễn ra trên thế giới và tại Việt Nam, việc nghiên cứu sự tuân thủ cũng như các chỉ số nhằm đánh giá những tồn tại, hạn chế của việc kê đơn điều trị ngoại trú từ đó
đề xuất các giải pháp khắc phục kịp thời là hết sức cần thiết
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đơn thuốc của bệnh nhân điều trị BHYT ngoại trú từ tháng 01/2015 – 12/2015 tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: tháng 18/7/2016-18/11/2016
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
- Nguồn dữ liệu: đơn thuốc điều trị ngoại trú của bệnh nhân BHYT tại Bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 1/2015-12/2015
- Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng kỹ thuật thu thập số liệu hồi cứu thông tin sẵn có, thông tin thứ cấp từ đơn thuốc ngoại trú của bệnh nhân BHYT trong khoảng thời gian tháng 01 đến tháng 12/2015 để đánh giá việc thực hiện quy chế kê đơn và các chỉ số kê đơn
- Công cụ thu thập số liệu: phiếu thu thập thông tin từ đơn thuốc ngoại
Trang 31
Z: Độ sai lệch của hệ số giới hạn tin cậy (1- α/2) Với α = 0,05 tương ứng với Z = 1,96
d: Độ sai lệch giữa tham số mẫu và tham số quần thể Chọn d=0,05 p: Tỷ lệ nghiên cứu ước tính Chọn p=0,5 để lấy cỡ mẫu là lớn nhất Thay vào công thức, tính ra được cỡ mẫu tối thiểu là n = 385 Nghiên cứu thực hiện lấy 400 đơn thuốc
2.3.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu
Cách lấy mẫu: Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm 2015 đến
tháng 12 năm 2015, có 27.816 đơn thuốc ngoại trú BHYT được xếp theo các tháng Trong mỗi tháng các đơn được đánh số thứ tự bắt đầu từ 1 Vì số lượng đơn thuốc trong từng tháng là khác nhau nên số đơn thuốc cần lấy của mỗi tháng được xác định theo phương pháp tỷ lệ, cụ thể như sau:
Bảng 2.3 Số lượng đơn thuốc cần lấy theo từng tháng trong năm 2015
Trang 32- Tiêu chuẩn lựa chọn: các đơn thuốc ngoại trú được kê tại bệnh viện đa khoa huyện Lộc Hà trong khoảng thời gian nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ: các đơn thuốc ngoại trú không kê thuốc
Do trong năm 2015, bệnh viện bắt đầu thực hiện ứng dụng phần mềm quản lý trong kê đơn thuốc từ tháng 9 nên đơn thuốc trong năm được kê theo
02 hình thức kê tay và kê máy Tổng số đơn khảo sát là 400 đơn, trong đó đơn
kê tay là 233 đơn, đơn kê máy là 167 đơn
2.4 Các biến số trong nghiên cứu
2.4.1 Mục tiêu 1
Bảng 2.4 Biến số trong phân tích thực hiện quy chế kê đơn
Phương pháp thu thập
Nghiên cứu tài liệu sẵn
có (Phiếu thu thập
số liệu)
đủ tuổi bệnh nhân
Biến nhị phân
tính bệnh nhân;
Biến nhị phân
5 Đường
phố (xã,
phường)
Đơn thuốc có ghi đường phố (xã,
6 Quận
(huyện)
Đơn thuốc có hoặc không ghi địa
8 Chẩn
đoán
Đơn thuốc có hoặc không ghi đầy
đủ chẩn đoán bệnh, không viết tắt, không dùng ký hiệu
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Trang 33Tên biến Định nghĩa/ Mô tả biến Phân loại
Phương pháp thu thập
Biến nhị phân
Biến nhị phân
12 Số lượng
Đối với từng lượt thuốc được kê đơn, thuốc có ghi đầy đủ số lượng theo quy định hay không
Biến nhị phân
13 Liều
dùng 1 lần
Đối với từng lượt thuốc được kê đơn, thuốc có được ghi đầy đủ liều dùng 1 lần hay không
Biến nhị phân
14 Liều
dùng 24h
Đối với từng lượt thuốc được kê đơn, thuốc có được ghi đầy đủ liều dùng 24h hay không
Biến nhị phân
15 Đường
dùng
Đối với từng lượt thuốc được kê đơn, thuốc có được ghi đầy đủ đường dùng hay không
Biến nhị phân
16 Lưu ý
khi sử dụng
Đối với các thuốc được kê đơn, thuốc có được ghi các chú ý khi sử dụng hay không
Biến nhị phân
17 Thời
điểm dùng
Đối với từng lượt thuốc được kê đơn, thuốc có ghi đầy đủ thời điểm dùng hay không
Biến nhị phân
Trang 34Tên biến Định nghĩa/ Mô tả biến Phân loại
Phương pháp thu thập
2.4.2 Mục tiêu 2
Bảng 2.5 Biến số trong phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú
Phương pháp thập
1 Số thuốc
Số khoản mục thuốc được kê trong một đơn thuốc điều trị ngoại trú;
Biến liên tục
Nghiên cứu tài liệu sẵn
có (Phiếu thu thập
số liệu)
2 Chi phí tiền
thuốc trong
đơn
dụng kháng sinh trong điều trị;
Biến nhị phân
sinh được kê
Nhóm kháng sinh được kê trong đơn
(Nhóm Betalactam, Aminosid, Macrolid, Sulfamid, Quinolon, Khác)
Biến định danh
6 Chi phí
thuốc kháng
sinh
Tổng tiền thuốc kháng sinh
thuốc tiêm
Biến nhị phân
Trang 35Tên biến Định nghĩa/ Mô tả biến Phân loại
Phương pháp thập
8 Chi phí
thuốc tiêm
Tổng tiền thuốc tiêm trong mỗi
vitamin
Biến nhị phân
10 Chi phí
Vitamin
Tổng tiền Vitamin trong mỗi
TPCN
Biến nhị phân
không
Biến nhị phân
16 Mức độ
tương tác
Mức độ xảy ra tương tác đối với các đơn thuốc có tương tác Phân loại gồm: Nặng, trung bình, nhẹ
Biến thứ hạng
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Trang 36chính xác đường phố (xã, phường)
[Số lượng đơn thuốc ghi đầy đủ địa chỉ đường phố (xã, phường) của bệnh nhân/400]*100%
chính xác quận (huyện)
[Số lượng đơn thuốc ghi đầy đủ địa chỉ quận (huyện) của bệnh nhân/400]*100%
chính xác tỉnh (thành phố)
[Số lượng đơn thuốc ghi đầy đủ địa chỉ tỉnh (thành phố)của bệnh nhân/400]*100%
bệnh
(Số lượng đơn thuốc ghi rõ ràng chẩn đoán bệnh/400)*100%
(Số lượng đơn thuốc có ghi hoặc đóng dấu họ tên bác sĩ sau chữ ký/400)*100%
15
Tỷ lệ % đơn chấp hành đúng các
quy định đối với đơn thuốc sửa
chữa (có ký tên bác sĩ bên cạnh,
ghi rõ họ tên bác sĩ sửa đơn, ghi
ngày tháng sửa đơn)
[Số lượng đơn thuốc chấp hành đúng các quy định đối với đơn thuốc sửa chữa (có ký tên bác sĩ bên cạnh, ghi rõ họ tên bác sĩ sửa đơn, ghi ngày tháng sửa đơn)/400]*100%
thuốc một thành phần
(Số lượng đơn thuốc ghi theo tên INN với thuốc một thành phần/400)*100%
17
Tỷ lệ % đơn ghi theo tên biệt dược
có tên INN trong ngoặc đơn với
thuốc một thành phần
(Số lượng đơn thuốc ghi theo tên biệt dược có tên INN trong ngoặc đơn với thuốc một thành