Các máy móc, thiết bị, mặc dù chúng vô tri, vô giác, nhưng chúng được phối hợp chặt chẽ với nhau trong một cơ cấu thống nhất, sự hoạt động bất thường của một chi tiết cũng có thể làm ngừ
Trang 2MỤC LỤC
Trang Lời nói đầu 1
Phần thứ nhất : QUẢN LÝ BẢO DƢỠNG CÔNG NGHIỆP
Chương I : GIỚI THIỆU VỀ QUẢN LÝ BẢO DƢỠNG CÔNG NGHIỆP (BDCN ) 6
1.1 Bảo dưỡng công nghiệp là gì ?
1.2 Quá trình phát triển của phát triển BDCN
1.2.1 Những kỳ vọng mới
1.2.2 Những nghiên cứu mới
1.2.3 Những kỹ thuật mới
1.3 Phân loại BDCN
1.3.1 Bảo dưỡng không kế hoạch
1.3.2 Bảo dưỡng có kế hoạch
1.4 Các giải pháp bảo trì
1.5 Lựa chọn giải pháp bảo trì
1.6 Bảo trì phòng ngừa
1.6.1 Khái niệm
1.6.2 Những lợi ích của bảo trì phòng ngừa
1.6.3 Kiểm tra trong bảo trì phòng ngừa
1.6.4 Thực hiện bảo trì phòng ngừa
1.6.5 Kỹ thuật giám sát tình trạng
1.7 So sánh giữa bảo trì và y tế
Chương II : ĐỘ TIN CẬY VÀ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG
2.1 Định nghĩa
2.1.1 Tầm quan trọng của độ tin cậy
2.1.2 Độ tin cậy là đặc tính của chất lượng
2.1.3 Chỉ số khả năng sẵn sàng
2.1.4 Chỉ số hỗ trợ bảo trì
2.1.5 Chỉ số khả năng bảo trì
2.1.6 Thời gian ngừng máy trung bình
2.2 Năng suất và chỉ số khả năng sẵn sàng
2.2.1 Tính toán chỉ số khả năng sẵn sàng
2.2.2 Chỉ số khả năng sẵn sàng trong những hệ thống khác nhau
2.3 Chỉ số hiệu quả thiết bị toàn bộ
Chương III : CHI PHÍ CHU KỲ SỐNG
3.1 Các giai đoạn hoạt động của thiết bị
3.2.5 Những yếu tố liên quan đến bảo trì
3.2.6 Tính toán chi phí chu kỳ sống
3.3 Các chi phí bảo trì
3.3.1 Quản lý chi phí bảo trì
3.3.2 Phân loại chi phí bảo trì
3.3.3 Những thiệt hại do công tác bảo trì không tốt gây ra
3.3.4 Hệ số PM
Trang 35.2.2 Một số cơ cấu bảo trì điển hình
Chương VI : CÁC HỆ THỐNG QUẢN LÝ BẢO TRÌ
6.1 Mở đầu
6.2 Cấu trúc và lưu đồ của hệ thống quản lý bảo trì
6.2.1 Hệ thống bảo trì phòng ngừa
6.2.2 Hệ thống lập kế hoạch
6.2.3 Quy trình thực hiện công việc bảo trì
6.2.4 Hệ thống lưu trữ dữ liệu về thiết bị và nhà máy
6.2.5 Hệ thống lưu trữ dữ liệu về thiết bị và nhà máy
6.2.6 Hệ thống kiểm soát phụ tùng và tồn kho
6.2.7 Hệ thống mua sắm
6.3 Hệ thống quản lý bảo trì bằng máy tính (CMMS)
6.4 Thực hiện hệ thống quản lý bảo trì
6.4.6 Thông báo cho mọi người có liên quan
6.4.7 Lập thời gian biểu và kế hoạch hoạt động
6.4.14 Theo dõi liên tục
6.4.15 Ghi nhận và đánh giá kết quả bảo trì phòng ngừa
Chương VII : PHỤ TÙNG VÀ QUẢN LÝ TỒN KHO
Trang 47.1 Mở đầu
7.2 Những vấn đề về phụ tùng ở các nước đang phát triển
7.3 Phụ tùng thay thế và tiêu chuẩn hóa
7.4 Dự án chi phí tồn kho và phụ tùng hàng năm
7.6.4 Các ưu điểm của kho tập trung và phân tán
7.6.5 Các điểm cần lưu ý khi bố trí mặt bằng nhà kho
7.7 Các tài liệu kỹ thuật
7.7.1 Các tài liệu kỹ thuật
7.7.2 Các chi tiết cần thống kê và đặt tên
Phần thứ hai : KỸ THUẬT BẢO TRÌ CÔNG NGHIỆP
Chương VIII : MỞ ĐẦU VỀ KỸ THUẬT BẢO TRÌ CÔNG NGHIỆP
8.1 Giới thiệu
8.2 Kỹ thuật giám sát tình trạng
8.3 Các tiêu chí chọn máy để giám sát tình trạng
8.4 Các nhu cầu đối với kỹ thuật giám sát tình trạng
Chương IX : KỸ THUẬT GIÁM SÁT RUNG ĐỘNG
9.1 Mở đầu
9.2 Đặc tính và đánh giá rung động
9.3 Các phương pháp đánh giá rung động
9.4 Một số thiết bị giám sát rung động
9.5 Hệ thống giám sát rung động
9.6 Các biện pháp hạn chế rung động
Chương X : KỸ THUẬT GIÁM SÁT HẠT VÀ LƯU CHẤT
10.1 Mở đầu
10.2 Các phương pháp giám sát hạt và tình trạng lưu chất
10.3 Một số thiết bị giám sát hạt và lưu chất
10.4 Làm sạch dầu
10.5 Một số vấn đề liên quan
Chương XI : KỸ THUẬT GIÁM SÁT ÂM
11.1 Mở đầu
11.2 Một số khái niệm cơ bản
11.3 Một số phương pháp và thiết bị giám sát âm
Chương XII : KỸ THUẬT GIÁM SÁT KHUYẾT TẬT VÀ KIỂM TRA KHÔNG
Trang 54
12.4 Kiểm tra bằng dòng Eddy
12.5 Kiểm tra bằng siêu âm
12.6 Kiểm tra bằng quang học và tia phóng xạ
12.7 Kiểm tra rò rỉ
Chương XIII : KỸ THUẬT GIÁM SÁT NHIỆT ĐỘ
13.1 Mở đầu
13.2 Các phương pháp giám sát nhiệt độ
13.3 Một số thiết bị giám sát nhiệt độ
Chương XIV : CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KỸ THUẬT BDCN
14.1 Mở đầu
14.2 Cảm biến thông minh
14.3 Nhu cầu tri thức
14.3 Quản lý hệ thống
14.5 Hệ thống thông minh
14.5 Các xu hướng phát triển của giám sát tình trạng trong thế kỷ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, trong sản xuất công nghiệp hiện đại, máy móc, thiết bị đóng vai trò quan trọng quyết định năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Cùng với mức độ cơ khí hóa, tự động hóa ngày càng cao trong các dây chuyền sản xuất, con người dần nhận thức sâu sắc những tổn thất, chi phí to lớn do ngưng sản xuất vÌ máy móc
bị hư hỏng Hơn nữa những tai nạn khủng khiếp đã xảy ra làm mất nhiều sinh mạng do
độ tin cậy và khả năng bảo dưỡng thiết bị công trình không được đảm bảo
So với các nước, nhận thức cũng như thực hành về quản lý và kỹ thuật bảo trì trong công
nghiệp của nước ta hãy còn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Triết lý “phòng hư
hơn sửa hỏng” hay bảo trì phòng ngừa chưa được phổ biến trong công nghiệp đang là
một tổn thất lớn trong sản xuất
Môn học Quản lý và kỹ thuật bảo dưỡng kỹ thuật được đưa vào chương trình đào tạo nhóm ngành cơ khí bậc đại học từ năm 1997 và bậc cao đẳng từ năm 2000 nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản liên quan đến bảo trì hiện đại Hy vọng bài giảng này cũng có thể là tài liệu giúp cho người học có những quan tâm tìm hiểu về những khái niệm và nội dung cơ bản của quản lý và kỹ thuật bảo trì công nghiệp đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp
Vì là lần đầu biên soạn bài giảng, không thể tránh được những thiếu sót, chúng tôi mong được thông cảm và được tiếp thu những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, người học dể bải giảng được hoàn thiện hơn
Tác giả
Trang 76
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I GIỚI THIỆU VỀ QUẢN LÝ BẢO DƯỠNG CÔNG NGHIỆP 1.1 Bảo dưỡng công nghiệp là gì ?
Các máy móc, thiết bị, mặc dù chúng vô tri, vô giác, nhưng chúng được phối hợp chặt chẽ với nhau trong một cơ cấu thống nhất, sự hoạt động bất thường của một chi tiết cũng có thể làm ngừng máy dẫn tới tổn hại lớn về kinh tế và kỹ thuật cho toàn bộ quá trình sản xuất
Nền sản xuất hiện nay, được đặc trưng bằng các yếu tố :
Toàn cầu hóa, thị trường thế giới, là một khối thống nhất trong khuôn khổ WTO
Chuyên môn hóa cao độ
Sự phân công lao động và cạnh tranh trên phạm vi toàn thế giới
Để đảm bảo tồn tại và có thể chiếm lĩnh thị trường, mỗi quốc gia nói chung và từng công ty, đơn
vi sản xuất nói riêng cần phải xây dựng nền sản xuất của mình theo phương châm :
Thuật ngữ Bảo dưỡng tiếng Anh là MAINTENANCE bắt nguồn từ tiếng La-tinh MANUS (bằng tay) và TENERE (duy trì) Đầu tiên thuật ngữ này được dùng trong quân sự nghĩa là hoạt động nhằm mục đích duy trì bổ sung người và phương tiện cho các đơn vị chiến đấu
Thuật ngữ MAINTENANCE xuất hiện đầu tiên trong các xí nghiệp Hoa Kỳ vào những năm
1950 và được người Nhật bổ sung khái niệm TPM ( Total Productive Maintenance- Bảo dưỡng sản xuất toàn diện) với sự tham gia của toàn bộ cán bộ, nhân viên vào công việc bảo dưỡng Người ta thường nhầm lẫn khái niệm bảo dưỡng với bảo trì Thật vậy, bảo trì được đặc trưng bằng các hoạt động phát hiện hư hỏng, kiểm tra và sửa chữa, trong khi đó bảo dưỡng có nghĩa rộng hơn, nó tích hợp thêm các khái niệm về giám sát, kiểm tra, xem xét, đổi mới, hiệu chỉnh, ngăn ngừa và cải tiến
Bảo dưỡng = Bảo trì + Giám sát, theo dõi, nâng cấp, cải tiến
Theo định nghĩa của AFNOR ( Association Francaise de Normanisation- Hội Tiêu chuẩn Pháp), tiêu chuẩn NFX 60.010 :
“Bảo dưỡng là tập hợp các hoạt động cho phép duy trì hoặc xác định lại một tài sản trong trạng thái quy định hoặc đảm bảo một dịch vụ xác định” theo định nghĩa này, nên bổ sung với “tổng chi phí nhỏ nhất trong suốt vòng đời của thiết bị” [1]
1.2 QÖA TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BẢO DƯỠNG CÔNG NGHIỆP (BDCN)
Trong mấy chục năm qua, quản lý BDCN có nhiều thay đổi so với bất kỳ nguyên tắc quản lý nào Có sự thay đổi như vậy là do tốc độ tăng rất nhanh về số lượng, chủng loại cùng sự phức tạp của máy móc, thiết bị cũng như các quan điểm về tổ chức BDCN
Từ những năm 1930, sự phát triển của quản lý BDKT có thể chia làm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : tính cho đến chiến tranh thế giới thứ hai Trong những năm này, ngành công
nghiệp chưa được cơ khí hóa cao, sự phòng ngừa những hư hỏng còn ở mức độ thấp và chưa được các nhà quản lý chú ý đến Tại thời điểm này, hầu hết các thiết bị, máy móc còn đơn giản
Trang 8và luôn được cải tiến, chúng có tính tin cậy và dễ dàng sửa chữa do đó chưa cần thiết bảo dưỡng
kỹ thuật một cách có hệ thống Chính vì thế, ở giai đoạn này người ta tiến hành sửa chữa chỉ khi
có sự cố hư hỏng xảy ra
Giai đoạn 2 : cho đến giữa những năm 1970 Ở giai đoạn này, cơ khí hóa được tăng nhanh, số
lượng máy móc của tất cả các loại đã rất lớn và phức tạp, dẫn đến các hư hỏng của máy móc,
thiết bị cần được xem xét, phòng ngừa và khái niệm bảo dưỡng phòng ngừa theo định kỳ đã ra
đời Chi phí cho sửa chữa cũng bắt đầu gia tăng rất nhanh cùng với chi phí khai thác, dẫn đến sự phát triển hệ thống quản lý và bảo dưỡng theo kế hoạch nhằm tìm kiếm các giải pháp cực đại hóa tuổi thọ của thiết bị máy móc
Giai đoạn 3 : từ những năm 1970 cho đến ngày nay Trong giai đoạn này, sư thay đổi nhiều mặt
trong công nghiệp đã tập trung với một động lượng lớn hơn Những thay đổi này có thể phân loại
với các tiêu đề của những kỳ vọng mới, những nghiên cứu mới và những kỹ thuật mới
1.2.1 Những kỳ vọng mới
Các hư hỏng của thiết bị máy móc ngày nay có những ảnh hưởng đến an toàn tính mạng của
con người cũng như ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nên các tiêu chuẩn về những lĩnh vực này đã giatăng nhanh chóng Chi phí cho bảo dưỡng tăng cùng với chi phí tổng thể, trong một số trường hợp, chi phí này có thể là chi phí lớn nhất, nhì trong tổng những chi phí khai thác
1.2.2.Những nghiên cứu mới
Những nghiên cứu mới đã làm thay đổi rất nhiệu quan điểm cơ bản về sự liên quan giữa hư hỏng với thời gian sử dụng Ngày nay, thiết bị máy móc nói chung đã phứ tạp hơn rất nhiều so với mấy chục năm trước vì thế không chỉ có một hay hai mà có tới 6 dạng hư hỏng của máy móc, thiết bị thực sự có thể xảy ra dược trình bày trên hình 1.1 Hình 1.1 cho thấy trước kia người ta nghĩ rằng hư hỏng là do thiết bị “già” đi Sau đó, ở thế hệ thứ hai có thêm quan điểm cho rằng giai đoạn “ làm nóng máy” ban đầu cũng ảnh hưởng đến hư hỏng,từ đó xuất hiện quan niệm mới được thể hiện qua “đường cong dạng bồn tắm”
Hình 1.1 Sáu dạng hư hỏng của máy móc, thiết bị
Trang 98
Hình 1.2 Các dạng hư hỏng của máy móc, thiết bị
Trang 10Những nghiên cứu trong ngành hàng không dân dụng đã chỉ ra rằng 4% các hạng mục hư hỏng liên quan đến dạng A, 2% các hạng mục hư hỏng liên quan đến dạng B, 5% hạng mục hư hỏng liên quan đến dạng C, 7% các hạng mục hư hỏng liên quan đến dạng D, 14% liên quan đến dạng
E và không ít hơn 68% liên quan đến dạng F ( những số liệu này, tất nhiên không phải là chung cho các ngành công nghiệp) Nhưng cũng có thể thấy rằng thiết bị càng phức tạp thì càng hay gặp
hư hỏng dạng E và F
1.2.3 Những kỹ thuật mới
Có hàng trăm khái niệm và kỹ thuật bảo dưỡng ra đời trong vòng hơn hai chục năm qua
và ngày càng nhiều hơn
Sự thay đổi kỹ thuật bảo dưỡng theo thời gian có thể tóm tắt trong hình 1.3 sau :
Hình 1.3 Sự thay đổi kỹ thuật bảo trì theo thời gian
Sự phát triển mới bao gồm :
- Những công cụ trợ giúp quá trình ra quyết định như nghiên cứu rủi ro, phân tích các
dạng hư hỏng và phân tích ảnh hưởng , hệ thống chuyên gia
- Những kỹ thuật bảo dưỡng mới như kiểm tra chuẩn đoán trạng thái kỹ thuật
- Những thiết bị tinh xảo có chú trọng nhiều hơn tới độ tin cậy và tính bảo dưỡng
- Những thay đổi lớn trong tổ chức theo xu hướng làm việc theo nhóm và tính linh hoạt
Ở giai đoạn hai ,người ta luôn cho rằng có sự kết nối giữa tính tin cậy và tuổi đời khai
thác của thiết bị, máy móc nên thường có ý tưởng rằng càng thường xuyên bảo dưỡng
định kỳ các thiết bị máy móc thì chúng càng ít xảy ra hư hỏng Ngày nay, điều nay điếu
này không hoàn toàn đúng nữa Ngoại trừ những dạng hư hỏng liên quan với thời gian
liên quan một cách nổi trội thì giới hạn của thời gian ảnh hưởng ít, thậm chí chẳng có ảnh
hưởng gì để cải tiến tính tin cậy của một máy phức tạp Trong thực tế, đại tu định kỳ còn
làm tăng cường độ hỏng chung bởi vì có một thời gian chạy rà sau khi đại tu, thời gian
này hư hỏng xảy ra nhiều Tuy nhiên, khi hậu quả xảy ra hư hỏng rất lớn, đặc biệt với
những hư hỏng có thểgây nguy hiểm đến tính mạng con người hay gây ảnh hưởng đến
Trang 1110
môi trường thì cần phải có những giải pháp để phòng ngừa, để chuẩn đoán hư hỏng hoặc
ít ra để giảm thiểu những hậu quả đó
1.3 PHÂN LOẠI BẢO DƢỠNG
Các loại chiến lược,giải pháp, kỹ thuật, phương pháp, thiết bị bảo trì đang phổ biến hiện
nay được trình bày ở hình 1.4
1.3.1 Bảo trì không kế hoạch
Chiến lược bảo trì này được xem như là “vận hành cho đến khi hư hỏng” nghĩa là
không có kế hoạch hay thông tin trong lúc thiết bị đang hoạt động cho đến khi hư hỏng
Nếu có một hư hỏng nào đó xảy ra, thiết bị đó sẽ được sửa chữa hoặc thay thế
Hai giải pháp phổ biến trong chiến lược bảo trì này là :
1 Bảo trì phục hồi
Bảo trì phục hồi không kế hoạch là tất cả các hoạt động bảo trì cần thực hiện sau khi xảy
ra đột xuất một hư hỏng nào đó để phục hồi thiết bị về tình trạng hoạt động bình thường
nhằm thực hiện chức năng theo yêu cầu
Nhân lực, phụ tùng và các tài liệu cần thiết đối với công việc bảo trì này là không thể lập
kế hoạch và chuẩn bị trước khi công việc bắt đầu mà phải thực hiện đồng thời với công
việc
2 Bảo trì khẩn cấp
Bảo trì khẩn cấp là bảo trì cần được thực hiện ngay sau khi có hư hỏng xảy ra để tránh
những hậu quả nghiêm trọng tiếp theo
Trong thực tế, do thiếu tính linh hoạt và không thể kiểm soát chi phí được nên bảo trì
khẩn cấp là phương án bất đắc dĩ và ít được chấp nhận Thay vào đó, có thể sử dụng các
giải pháp hiệu quả và linh hoạt hơn
1.3.2 Bảo trì có kế hoạch
Bảo trì có kế hoạch là bảo trì được tổ chức và thực hiện theo một chương trình đã được
hoạch định và kiểm soát
Chiến lược bảo trì có kế hoạch bao gồm các loại :
1.3.2.1 Bảo trì phòng ngừa
- Là hoạt động bảo trì được lập kế hoạch trước và thực hiện theo một trình tự nhất định
để ngăn cản các hư hỏng xảy ra hoặc phát hiện hư hỏng trước khi chúng phát triển đến
mức ngừng máy và gián đoạn sản xuất
- Có hai giải pháp thực hiện chiến lược bảo trì phòng ngừa :
a) Bảo trì phòng ngừa trực tiếp
- Được thực hiện định kỳ nhằm ngăn ngừa hư hỏng xảy ra bằng cách tác động và cải thiện một cách trực tiếp trạng thái vật lý của máy móc, thiết bị
- Những công việc của bảo trì phòng ngừa trực tiếp thường là thay thế các chi tiết, phụ tùng, kiểm tra các bộ phận, bôi trơn, thay thế dầu mỡ lau chùi, làm sạch máy móc theo kế hoạch hoặc chương trình định sẵn
- Các hoạt động của bảo trì thường mang tính đinh kỳ theo thời gian hoạt động, theo số kilômet
di chuyển nên còn được gọi là bảo trì định kỳ ( Fixed- Time Maintenance- FTM)
b) Bảo trì phòng ngừa gian tiếp
- Được thực hiện để tìm ra hư hỏng ngay trong giai đoạn trước khi hư hỏng xảy ra Trong giải pháp này, các công việc bảo trì không tác động đến trạng thái vật lý của thiết bị mà thay vào đó
là những kỹ thuật giám sát tình trạng khách quan và giám sát tình trạng chủ quan được áp dụng
để tìm ra hoặc dự đoán các hư hỏng của máy mó, thiết bị nên còn được gọi là bảo trì trên cơ sở
tình trạng ( Condition Based Maintenance-CBM) hay bảo trì dự đoán ( Predictive Maintenance) hoặc bảo trì tích cực ( Proactive Maintenance)
- Bảo trì trên cơ sở tình trạng máy đã khắc phục các nhược điểm của bảo trì phòng ngừa và bảo trì định kỳ bằng cách giám sát liên tục tình trạng máy
Để xác định chính xác tình trạng và điều kiện hoạt động của thiết bị ở mọi thời điểm người ta sử dụng những kỹ thuật giám sát tình trạng
Trang 12Kỹ thuật giám sát tình trạng
Nếu trong quá trình hoạt động máy móc, thiết bị có vấn đề thì thiết bị giám sát giám sát tình trạng sẽ cung cấp thông tin để xác định xem đó là vấn đề gì và quan trọng hơn là nguyên nhân gây ra vấn đề đó Nhờ vậy, có thể lập trình sửa chữa có hiệu quả từng vấn đề cụ thể trước khi máy móc bị hư hỏng
Giám sát tình trạng có thể chia thành :
Giám sát tình trạng chủ quan : được thực hiện bằng các giác quan của con người để đánh giá
tình trạng của thiết bị
Giám sát tình trạng khách quan : được thực hiện khi tình trạng thiết bị trong một số trường hợp
không thể nhận biết được bằng các giác quan của con người mà được thực hiện thông qua việc
đo đạc và giám sát bằng nhiều thiết bị khác nhau, từ những thiết bị đơn giản đến thiết bị chẩn đoán hiện đại nhất
Giám sát tình trạng khách quan có thể được thực hiện bằng hai cách :
+ Giám sát tình trạng không liên tục
+ Giám sát tình trạng liên tục
Trong hệ thống bảo trì phòng ngừa dựa trên giám sát tình trạng thường 70% các hoạt động là chủ quan và 30% là khách quan vì có những hư hỏng xảy ra không thể phát hiện được bằng dụng
cụ
1.3.2 2 Bảo trì cải tiến
- Mục tiêu của bảo trì cải tiến là thiết kế lại một số chi tiết, bộ phận để khắc phục hư hỏng hoặc
để kéo dài thời gian sử dụng của các chi tiết, bộ phận máy và toàn bộ thiết bị
- Được tiến hành khi cần thay đổi thiết bị cũng như cải tiến tình trạng bảo trì Chiến lược bảo trì cải tiến được thực hiện bởi 2 giải pháp sau :
Bảo trì thiết kế lại( Design- Out Maintenance-DOM) : thường đưa ra là những thiết kế cải tiến
nhằm khắc phục hoàn toàn những hư hỏng, khuyết tật hiện có của máy móc, thiết bị
Bảo trì kéo dài tuổi thọ (Life- Time Extention- LTE) : nhằm kéo dài tuổi thọ của máy móc, thiết
bị bằng cách đổi mới vật liệu hoặc kết cấu
1.3.2.3 Bảo trì chính xác
Thực hiện bằng cách thu thập các dữ liệu của bảo trì dự đoán để hiệu chỉnh môi trường và các thông số vận hành của máy, để cực đại hóa năng suất, hiệu suất và tuổi thọ của máy
1.3.2.4 Bảo trì dự phòng ( Redundancy- RED)
Thực hiện bằng cách bố trí máy hoặc chi tiết, phụ tùng thay thế song song với cái hiện có, có nghĩa là máy hoặc chi tiết,phụ tùng thay thế có thể được khởi động và liên kết với dây chuyền sản xuất nếu cái đang được sử dụng bị ngừng bất ngờ
1.3.2.5 Bảo trì năng suất toàn bộ (Total Productive Maintenance- TPM)
- TPM tạo ra những hệ thống ngăn ngừa tổn thất xảy ra trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu “không tai nạn, không khuyết tật, không hư hỏng”
-Được thực hiện trong toàn bộ phòng, ban và các thành viên từ người lãnh đạo cao nhất đến những nhân viên trực tiếp sản xuất nhằm đạt tối đa hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị
1.3.2.6 Bảo trì tập trung độ tin cậy (Reliability- Centred Maintenance- RCM)
Là một quá trình mang tính hệ thống được áp dụng để đạt được các yêu cầu về bảo trì và khả năng sẵn sàng của máy móc, thiết bị nhằm đánh giá một cách định lượng nhu cầu thực hiện hoặc xem xét lại các công việc và kế hoạch bảo trì phòng ngừa
1.3.2 7 Bảo trì phục hồi
Bảo trì phục hồi có kế hoạch là hoạt động bảo trì phục hồi phù hợp với kế hoạch sản xuất các
phụ tùng,tài liệu kỹ thuật và nhân viên bảo trì đã được chuẩn bị trước khi tiến hành công việc Trong các giải pháp bảo trì này, chi phí bảo trì gián tiếp sẽ thấp hơn và chi phí bảo trì trực tiếp cũng giảm so với bảo trì không kế hoạch
1.3.2 8 Bảo trì khẩn cấp
Trang 1312
Dù các chiến lươc bảo trì được áp dụng có hoàn hảo đến đâu những lần ngừng máy cũng không
thể tránh khỏi và do đó giải pháp bảo trì khẩn cấp trong chiến lược bảo trì có kế hoạch này vẫn là một lựa chọn cần thiết
Hình 1.4 Phân loại bảo trì
1.4 CÁC GIẢI PHÁP BẢO TRÌ
1 Vận hành đến khi hư hỏng ( Operation to Break Down- OTBD), còn gọi là Bảo trì phục
hồi không kế hoạch
- Nếu như tất cả công việc bảo trì dược thực hiện là OTBD thì sẽ làm cho chỉ số khả năng sẵn sàng thấp và chi phí bảo trì cao Chi phí do ngừng máy sẽ rất cao, tính hiệu quả của bảo trì thấp, công việc bảo trì bị thúc ép và đôi khi nguy hiểm do các giải pháp về an toàn thường không được coi trọng
Trang 14- Có khi giải pháp bảo trì này phải thực hiện vì lý do kinh tế hoặc kỹ thuật, nhưng chỉ áp dụng đối với một số thiết bị được lựa chọn Nếu tất cà công việc bảo trì chỉ là sửa chữa khi máy móc
bị hư hỏng thì chiến lược bảo trì hoàn toàn sai
2 Bảo trì định kỳ (Fixed- Time Maintenance- FTM)
- Làm cho chi phí bảo trì rẻ hơn và giảm thời gian ngừng máy so với phương pháp trên Bảo trì định kỳ có nghĩa là số lần ngừng máy để bảo trì được hoạch định trước đối với những máy móc quan trọng
- Bảo trì phòng ngừa chỉ dựa trên giải pháp bảo trì định kỳ sẽ không cho kết quả như mong đợi vì mỗi chi tiết có tuổi thọ riêng, một vài chi tiết được thay thế quá thường xuyên làm phát sinh những chi phí không cần thiết
3 Bảo trì trên cơ sở tình trạng (Condition- Based Maintenance- CBM)
- Tạo điều kiện đạt được khả năng sẵn sàng chi phí bảo trì tối ưu và khả năng sinh lợi cao nhất Giải páp bảo trì có thể coi như bảo trì đúng lúc
- Giám sát tình trạng thiết bị trong lúc vận hành sẽ tạo điều kiện thực hiện bảo trì phục hồi có kế hoạch và lập kế hoạch bảo trì phối hợp linh hoạt với lập kế hoạch sản xuất Thời gian ngừng sản xuất do thay đổi dụng cụ, sản phẩm sẽ được sử dụng để thực hiện công việc bảo trì
4 Bảo trì thiết kế lại (Design- Out Maintenance- DOM)
- Làm giảm nhu cầu bảo trì và làm tăng chỉ số khả năng sẵn sàng
- Khi thiết kế hoặc mua máy cần quan tâm hơn những nhu cầu bảo trì sau này : mua thiết bị rẻ thường phát sinh chi phí bảo trì cao, chỉ số khả năng sẵn sàng thấp và tuổi thọ ngắn
5 Bảo trì kéo dài tuổi thọ (Life- Time Extention- LTE)
Kéo dài tuổi thọ luôn trong tâm trí người bảo trì : nếu tuổi thọ của một chi tiết nào có thể được kéo dài bằng cách sửa đổi, đổi mới vật liệu thì nhu cầu của bảo trì phòng ngừa và bảo trì phục hồi sẽ giảm
6 Bảo trì dự phòng (Redundancy- RED)
Giải pháp này rất đắt tiền chỉ áp dụng khi có đòi hỏi thời gian ngừng máy ở mức tối thiểu Nếu một lần ngừng máy không kế hoạch gây ra tổn thất lớn hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác
và không thể tránh được thì giải pháp này được thực hiện
Hình 1.5 thể hiện thời gian ngừng máy và ngừng sản xuất tương ứng với các giải pháp bảo trì khác nhau
1.5.LỰA CHỌN GIẢI PHÁP BẢO TRÌ
Có thể lựa chọn giải pháp bảo trì bằng cách nêu một loạt câu hỏi và trả lời theo trình tự sau :
- Có thể thiết kế lại để tránh hư hỏng hay không ?
Nếu không, bước kế tiếp trong giải pháp bảo trì là phải cố gắng kéo dài tuổi thọ của chi tiết hay thiết bị
- Có thể kéo dài tuổi thọ của chi tiết không ?
Nếu không, bước kế tiếp là phải cố gắng áp dụng giám sát tình trạng thiết bị trong suốt thời gian vận hành để sớm tìm ra những sai sót trong thời kỳ phát triển hư hỏng và có thể lập kế hoạch phục hồi để giảm hậu quả hư hỏng
- Có thể áp dụng giám sát tình trạng thiết bị trong quá trình vận hành không ?
Đôi khi giám sát tình trạng không thể thực hiện được trong quá trình vận hành,khi đó giám sát tình trạng phải được thực hiện trong thời gian ngừng máy có kế hoạch
- Có thể giám sát tình trạng trong khi ngừng máy có kế hoạch không ?
Nếu không thể áp dụng giám sát tình trạng do không phát hiện được hư hỏng nào đang phát triển thì phải nghĩ ngay đến thay thế định kỳ
- Có thể áp dụng thay thế định kỳ được không ?
Nếu khó xác định được khoảng thời gian giữa những lần hư hỏng xảy ra thì hư hỏng là ngẫu nhiên và phải nghĩ tiếp đến giải pháp dự phòng
- Có thể áp dụng dự phòng được không ?
Trang 1514
Nếu không có giải pháp bảo trì nào nêu trên được áp dụng thì giải pháp dự phòng phải được xem xét trước khi quyết định đi đến giải pháp bảo trì khi đã ngừng máy Giải pháp này phải được xem xét cẩn thận về mặt kinh tế
- Vận hành đến khi hư hỏng
Chỉ cho phép sử dụng giải pháp bảo trì này khi những giải pháp bảo trì khác không thể áp dụng được như hư hỏng mang tính ngẫu nhiên và không có thời gan phát triển hư hỏng, tuy nhiên phải xem xét hậu quả kinh tế phát sinh Đôi khi giải pháp này là kinh tế nhấ do giá thiết bị thấp và không tác động đến tổn thất sản xuất
Hình 1.5 Thời gian ngừng máy và ngừng sản xuất tương ứng
với những giải pháp bảo trì khác nhau
1.6 BẢO TRÌ PHÕNG NGỪA
1.6.1 Khái niệm
- Bảo trì phòng ngừa được thực hiện để kéo dài tuổi thọ của thiết bị và tránh những hư hỏng trước thời hạn dự kiến Bảo trì phòng ngừa bao gồm các hoạt động như kiểm tra thiết bị, bôi trơn, điều chỉnh, làm vệ sinh máy, kiểm tra không phá hủy (bảo trì dự đoán ) và bảo trì định kỳ,
thường là thay thế chi tiết
- Phục hồi và đại tu thường không được coi là bảo trì phòng ngừa Những hành động này cần thiết khi thiết bị đã bị hư hỏng ngoài khả năng phòng ngừa Phục hồi và đại tu nhằm đưa thiết bị
về tình trạng hoạt động có hiệu quả, chỉ khi đó bảo trì phòng ngừa mới có hiệu quả
- Công việc kiểm tra trong bảo trì là giải pháp chủ yếu để nâng cao các hoạt động bảo trì có kế hoạch, làm tăng hiệu quả bảo trì và giảm đáng kể các trường hợp phải sửa chữa khẩn cấp, giảm đáng kể chi ohí bảo trì
1.6.2 Những lợi ích của một chương trình bảo trì phòng ngừa
- Số lần hư hỏng ít hơn : phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trước khi chúng trở thành
nghiêm trọng đủ để gây ra những hư hỏng cho thiết bị, do đó chỉ ần một số thao tác điều chỉnh thường xuyên và sửa chữa nhỏ để tránh hư hỏng xảy ra, thời gian ngừng máy có thể giảm xuống 50%
- Số lần bảo trì khẩn cấp ít hơn
- Thời gian bảo trì không kế hoạch ít hơn
- Tuổi thọ của thiết bị được kéo dài hơn
- Nhân lực bảo trì được sử dụng có hiệu quả hơn : một công việc bảo trì khẩn cấp thường tốn
hơn 15% chi phí so với một công việc tương tự có kế hoạch Phòng bảo trì có chương trình phòng ngừa tốt thường đảm bảo nhân viên tham gia chủ yếu là các công việc có kế hoạch
Trang 16- Việc vận hành thiết bị được cải thiện
- Thời gian ngừng máy ít hơn
- Chi phí bảo trì giảm: có thể giảm khoảng 15%
1.6.3 Kiểm tra trong bảo trì phòng ngừa
-Hoạt động quan trọng nhất của chương trình phòng ngừa là khiểm tra thiết bị Qua đó, ta có
những thông tin cần thiết về tình trạng máy móc, thiết bị và lập kế hoạch cho các công việc phục hồi, sửa chữa cần thiết
- Nên định hướng vào việc phát hiện nhằm ngăn ngừa ngay từ đầu những vấn đề của máy móc, thiết bị trước khi bị hỏng hóc hoặc ngừng hoạt động Càng phát hiện sớm những vấn đề nảy sinh càng có cơ hội để lập kế hoạch tập hợp vật tư, phụ tùng, phối hợp với bộ phận sản xuất để ngừng máy có kế hoạch, dự toán và bố trí nhân sự
1.6.4 Thực hiện bảo trì phòng ngừa
Có 2 nhóm công việc chính để khởi động một chương trình phòng ngừa : Tổ chức và Vận hành
* Tổ chức :
- Liệt kê tất cả tên thiết bị cần kiểm tra
- Hoạch định đường đi kiểm tra các thiết bị cố định
- Chuẩn bị một chương trình cho ác thiết bị di động nằm trong bảng kế hoạch chung
- Xây dựng định mức thời gian cho việc kiểm tra
- Xây dựng các khoảng thời gian định kỳ : thời gian giữa hai lần kiểm tra
- Xác định nhu cầu nhân lực : nhu cầu nhân lực hàng năm được tính theo số giờ công cho mỗi
công việc, số lần lặp lại cần làm việc này cho mỗi năm
* Vận hành :
- Chuẩn bị và ban hành điều độ công việc bảo trì phòng ngừa : Xây dựng bảng điều độ tổng thể
bảo trì phòng ngừa Khi một công việc được điều độ, nhân viên bảo trì dùng một danh sách kiểm tra được chuẩn bị trước để thực hiện công việc này
- Thực hiện công việctheo kế hoạch
- Báo cáo kết quả : được so sánh với phiếu yêu cầu để xác định có việc gì chưa thực hiện hay
không
- Giám sát các lần sửa chữa trong chương trình bảo trì phòng ngừa : số lần sửa chữa phát sinh
trong chương trình thể hiện tính hiệu quả, số công việc có kế hoạch nên tăng lên và số lần bảo trì khẩn cấp nên giảm xuống
- Giám sát thời gian thực tế so với thời gian kế hoạch : để có những điều hcỉnh thích hợp
- Điều chỉnh các khoảng thời gian định kỳ
- Kiểm soát các phương pháp kiểm tra
- Thêm hoặc bớt một số mục kiểm tra để ngày àng chính xác và hoàn thiện hơn
- Cân đối nhu cầu nhân lực
1.6.5 Kỹ thuật giám sát tình trạng
- Giám sát tình trạng là một quá trình xác định tình tạng của máy móc đang lúc hoạt động hay
ngừng hoạt động Nếu có vấn đề nào đó được phát hiện thì thiết bị giám sát tình trạng sẽ cung cấp thông tin để xác định và quan trọng hơn là tìm ra nguyên nhân gây ra vấn đề đó Nhờ đó, mà
ta có thể lập lịch trình sửa chữa có hiệu quả từng vấn đề cụ thể trước khi máy bị hư hỏng
- Cho phép đặt hàng trước các bộ phận thay thế, điều động nhân lực, giảm chi phí tồn kho, lập kế hoạch sửa chữa trong suốt thời gian ngừng máy theo lịch trình đồng thời cải thiện hoạt động của máy đạt mức tối ưu vượt trội so với các đặc điểm kỹ thuật của thiết bị ban đầu
- Một trong những cách tốt nhất là áp dụng chiến lược trên cơ sở tình trạng máy Chức năng chủ yếu của chiến lược này là cung cấp những thông tin về tình trạng máy và tốc độ thay đổi tình trạng này để thực hiện công việc phục hồi có kế hoạch nhằm tránh tổn thất, phế phẩm, vận hành máy không đúng kỹ thuật, không an toàn và dễ gây tai nạn
- Khi hư hỏng xảy ra sẽ làm thay đổi các đặc tính vật lý của thiết bị Vì vậy cần phải thu thập và phân tích các thông số kỹ thuật của máy móc, thiết bị để có thể dự đoán các hư hỏng của các bộ phận trước khi chúng xảy ra Những thông số này được gọi là thông số dự đoán và hình thành
Trang 1716
trên cơ sở bảo trì dự đoán ( predictive maintenance), hay bảo trì tích cực (proactive
maintenance) còn được gọi là bảo trì trên cơ sở tình trạng Tuy nhiên, để đạt được kết quả tốt
nhất, ta phải lựa chọn thích hợp máy móc, thiết bị để áp dụng bảo trì giám sát tình trạng và áp dụng các phương pháp giám sát tốt nhất đã chọn là những vấn đề quan tâm hàng đầu
Hiện nay.ta có thể chọn máy để giám sát tình trạng theo một số tiêu chí sau :
a Chọn máy theo tổn thất năng suất
Theo quy mô của quá trình sản xuất, nên lập một lưu đồ về quy trình sản xuất cho biết cách thức
liên kết của các máy trong quá trình chuyển đổi sản phẩm Các máy gây tổn thất năng suất cao thường là các loại máy :
- Đang hoạt động liên tục
- Liên quan với một quá trình sản xuất
- Có thiết bị lắp đặt song song hay dự phòng nhỏ nhất
- Có năng lực dự trữ sản phẩm trung gian tói thiểu
- Có chức năng vận chuyển sản phẩm mang tính quyết định đến năng suất
b Chọn máy trên cơ sở thiệt hại gây ra do hư hỏng
Cần phải áp dụng kỹ thuật giám sát tình trạng đối với những máy khi hư hỏng gây ra tổn thất sản lượng hay rất đắt tiền hoặc khó thay thế, những máy có mức độ hư hỏng trực tiếp cao thường :
- Hoạt động ở áp suất, nhiệt độ hoặc hiệu điện thế cao
- Điều khiển các lưu chất truyền lực nguy hiểm
- Có những bộ phận có quán tính và tốc độ cao
c Chọn máy trên cơ sở an toàn
Ngoài những yếu tố kinh tế, những máy nào có liên quan đến an toàn cũng cần được giám sát Mất an toàn có thể phát sinh do :
- Máy phát nổ
- Các vật liệu nguy hiểm văng ra do hư hỏng
- Máy dùng cho vận chuyển sản phẩm bị sự cố
- Máy có rủi ro đặc biệt về an toàn thường cùng loại với các máy có chi phí trực tiếp cao do tổn thất về hư hỏng
Ngoài ra, nếu không có kinh nghiệm về các dạng hư hỏng của một máy và các máy này ảnh hưởng quan trọng đến quá trình sản xuất thì cần phải giám sát tình trang của tất cả các bộ phận chủ yếu đang chuyển động và thậm chí một vài bộ phận đang đứng yên, trong một vài trường hợp, các bộ phận cần giám sát sẽ có hiệu quả nhất là :
- Có tính quan trọng về độ tin cậy của máy
- Có chế độ làm việc cao
- Có thời gian bảo trì dài
- Những máy móc có tuổi thọ thấp hơn cả các máy còn lại
1.6.6 Tổng quan về các phương pháp giám sát
Mục tiêu của giám sát tình trạng là nhận biết tình trạng của máy sao cho bảo trì đúng lúc và hợp
+ Nhìn dùng để giám sát lỗ thủng, khe hở, khói, thay đổi mầu sắc
+ Ngửi : nhận biết các hiện tượng rò rỉ hay quá nhiệt
+ Nghe : giám sát tiếng ồn không bình thường
+ Sờ giám sát rung động, nhiệt độ không bình thường
+ Tổng hợp các giác quan : được dùng để dự đoán hiệu suất máy móc
* Sử dụng những dụng cụ chỉ thị số để xác định sự tồn tại của một vấn đề nào đó trong máy Những dụng cụ này đã loại trừ ác sai lầm thuộc ý kiến cá nhân và có thể so sánh với cácdữ liệu khi máy hoạt động ở trạng thái bình thường do nhà sản xuất đưa ra và cũng có thể so sánh với
Trang 18các chỉ số trước đây của cùng một dụng cụ đo như áp kế, nhiệt kế, ampekế, tốc kế hay các đén chuông báo động đặt ở một chế độ nhất định
Trong nhiều trường hợp, khi sử dụng dụng cụ này cùng với các kỹ thuật giám sát tiên tiến cũng
có thể nhận biết chính xác những vấn đề hư hỏng bên trong máy như :
+ Các máy đo vị trí đường ống
+ Các dụng cụ đo rung động gắn vào vỏ máy
+ Máy dò các hạt tróc ra từ bề mặt chi tiết do mòn
+ Máy phổ để giám sát các thiết bị không tiếp xúc được
+ Máy ghi nhiệt độ cho một bản đồ nhiệt
Mặc dù có rất nhiều kỹ thuật và dụng cụ được sử dụng nhưng thực sự chỉ có bốn phương pháp
cơ bản của giám sát tình trạng, đó là :
1.6.7 Lựa chọn các phương pháp giám sát
Lựa chọn phương pháp thích hợp để giám sát tình trạng của máy cần phải xét đến những bộ phận nào dễ hư hỏng hơn và hư hỏng đó là gì Phương pháp khả thi về giám sát hư hỏng được chọn là phương pháp duy nhất mà có thể tìm ra mọi hư hỏng tương tự trong máy với hiệu suất có thể chấp nhận được
Khi máy có sự cố do một hay nhiều bộ phận hư hỏng nghiêm trọng gây nên và việc tìm ra các
bộ phận sắp hư hỏng có thể gây nên ngừng máy là rất cần thiết Vấn đề là cần phải có phương pháp và thiết bị đáng tin cậy của giám sát tình trạng tìm ra nguyên nhân hư hỏng để :
+ Có thời gian nhận biết các thiết bị hư hỏng
+ Hiệu chỉnh có hiệu quả sự biến thiên giữa các số đọc liên tục
+ Giảm tối thiểu các yếu tố bên ngoài có thể gây nhiễu các hoạt động của giám sát
1.6.8 Các xu hướng giám sát tình trạng
Trong tương lai, xu hướng phát triển của giám sát tình trạng sẽ phát triển với các phương pháp
có thể được biết đến như sau :
Phương pháp quang phổ rung động : để chẩn đoán các hư hỏng có thật trên máy ngay trước
khi dừng máy
Phân tích mảnh vụn do mòn : một trong những phương pháp đó là đo tỷ lệ mảnh vụn trong bình
chứa dầu bôi trơn của động cơ
Giám sát hiệu năng : ngày nay phương pháp này là một lĩnh vực giám sát tình trạng có triển
vọng nhất Trong thực tế phương pháp này liên hệ đến việc khảo sát các chức năng mà một bộ phận của hệ thống yêu cầu
Phát triển trí tuệ nhân tạo : đã cung cấp các dụng cụ và tìm ra các kỹ thuật giám sát có tính
chuyên môn cao, luôn trong tình trạng sẵn sàng để phát hiện những nguyên nhân hư hỏng trước khi chúng gây nên ngừng máy
1.6.9 Những vấn đề cần quan tâm ở các nước đang phát triển
Giám sát trên cơ sở tình trạng đã được phổ biến ở các nước đang phát triển và nó đã đem lại
nhiều lợi ích nhưng kỹ thuật vẫn còn có những khó khăn như :
- Sử dụng chưa đúng các dụng cụ dùng trong kỹ thuật giám sát tình trạng, công việc đào tạo người sử dụng chưa tốt, những dụng cụ này bảo quản không đúng cách
- Hầu hết nhà sản xuất dụng cụ nước ngoài chỉ có những nhà đại lý bán dụng cụ ở các nước này nên khả năng sử dụng các dịch vụ kỹ thuật và các tiện ích dịch vụ còn rất kém , gây khó khăn cho các nước đang phát triển trong việc bắt kịp công nghệ giám sát tình trạng
1.6.10 Những lợi ích của giám sát tình trạng
Trang 1918
- Một nghiên cứu gần đây của chính phủ Anh cho thấy nền công nghiệp tiết kiệm khoảng 1,3 tỉ đôla mỗi năm nhờ áp dụng chiến lược bảo trì giám sát tình trạng máy Người ta xác định rằng cứ tăng 5% khả năng sẵn sàng của máy thì có thể tăng 30% năng suất Hải quân Canađa đã báo cáo rằng toàn bộ chi phí của một đội 20 chiếc tàu khu trục đã giảm được 45% ( trung bình mỗi tàu đã tiết kiệm được 100.000 đôla mỗi năm) nhờ áp dụng bảo trì giám sát tình trạng
- Trong sản xuất, thời gian ngửng máy có thể gây thiệt hại hàng triệu đồng mỗi giờ Kinh nghiệm cho thấy những nhà máy áp dụng một chương trình giám sát tình trạng có thể :
+Kéo dài tuổi thọ ổ trục
+ Cực đại hóa năng suất của máy
+ Cực tiểu hóa thời gian ngừng máy không theo lịch trình
+ Kéo dài thời gian một cách an toàn khoảng thời gian đại tu
+ Cải thiện thời gian sửa chữa
+ Tăng tuổi thọ của máy
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm
+ Tiết kiệm một lượng đáng kể chi phí bảo trì
+ Giảm giá thành sản phẩm
+ Tăng mức độ an toàn của nhà máy
1.7 SO SÁNH GIỮA BẢO TRÌ VÀ Y TẾ
Mặc dù bảo dưỡng công nghiệp và y tế thuộc hai ngành khác nhau, một bên là phục vụ con
người còn một bên là phục vụ cho máy móc, thiết bị nhưng lại có một số tương quan thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 So sánh giữa bảo dưỡng công nghiệp và y tế
Y TẾ BẢO DƢỠNG CÔNG NGHIỆP
- Máy đo điện tâm đồ
- Kiểm tra siêu âm
- Đo thân nhiệt
Trang 20Có thể coi độ tin cậy là thước đo hiệu quả hoạt động của một hay một hệ thống thiết bị
2.1.1 Tầm quan trọng của độ tin cậy
- Năm 1985, tai nạn công nghiệp tồi tệ nhất trong lịch sử xảy ra ở nhà máy Union Carbide ở Bhopai, Ấn Độ gây ra hàng ngàn người thiệt mạng và di chứng cho hàng trăm ngàn người
- Phi thuyền con thoi Challenger nổ tung giữa không trung vào tháng 1 năm 1986
- Tháng 4/1986, tai nạn lò phản ứng hạt nhân khủng khiếp nhất trong lịch sử đã xảy ra tại
Chernobyl, Liên Xô Hậu quả là sự rò rỉ phóng xạ vào bầu khí quyển của Liên Xô và nhiều nước
ở Châu Âu Cuối năm 2001, chính phủ Ucraina quyết định đóng cửa vĩnh viễn ba lò phản ứng hạt nhân còn lại
- Năm 2000 tai nạn tàu ngầm nguyên tử Kursk do một quả ngư lôi bị nổ bên trong tàu ngay khi bắn
- Năm 2000 tai nạn máy bay Concorde do bánh máy bay bị vỡ sau khi cán một mảnh kim loại trên đường băng, làm nổ tung bình xăng và toàn bộ máy bay
Đối với những hệ thống lớn như máy bay, phi thuyền, dây chuyền sản xuất công nghiệp, độ tin cậy đóng vai trò tối quan trọng Những hệ thống này được hình thành từ nhiều hệ thống phụ và thành phần Tất cả những thành phần phải được thiết kế đảm bảo độ tin cậy của toàn hệ
thống.Thế giới đã có những kinh nghiệm tương tự như một điện trở nhỏ trị giá 10 cent (tiền Mỹ)
có thể làm hỏng chuyến bay của một tên lửa trị giá 300.000 USD !
2.1.2 Độ tin cậy là một đặc tính của chất lƣợng
Tuổi thọ của mỗi sản phẩm có thể được xác định bằng cách chạy và vận hành trong thời gian
mong muốn hoặc đến khi hư hỏng Nhưng không thể thí nghiệm mài mòn cho tất cả sản phẩm để chứng minh chúng đã đạt tiêu chuẩn và đảm bảo chất lượng mà thường phải dựa vào dữ liệu có được bằng cách kiểm tra những mẫu sản phẩm Độ tin cậy của sản phẩm phải thể hiện khả năng sản phẩm hoạt động hoàn hảo trong một thời gian xác định cụ thể
Độ tin cậy thường được thể hiện bằng :
MTTF (Mean Time To Failure) : thời gian hoạt động trung bình đến khi hư hỏng, nếu sản
phẩm chỉ được sử dụng một lần rồi bỏ
MTBF (Mean Time Between Failure) : thời gian hoạt động trung bình giữa những lần hư hỏng,
nếu sản phẩm có thể được sử dụng nhiều lần sau khi phục hồi
Như vậy, chỉ số độ tin cậy là thời gian hoạt động trung bình của một thiết bị giữa các lần ngừng máy do bảo trì
Độ tin cậy của hệ thống : R S = R 1 R 2 R 3 … R n
trong đó : RS – độ tin cậy của hệ thống
Ri - độ tin cậy của thành phần thứ i
2.1.3 Chỉ số khả năng sẵn sàng
Chỉ số khả năng sẵn sang là số đo hiệu quả bảo trì và có thể được xem là số đo khả năng hoạt
động của thiết bị mà không xảy ra vấn đề gì Chỉ số này phụ thuộc vào các đặc tính của hệ thống
kỹ thuật và một phần vào hiệu quả của công tác bảo trì
Chỉ số khả năng sẵn sàng thể hiện khả năng của thiết bị hoạt động đúng cách bất chấp các hư hỏng và hạn chế xảy ra trong các nguồn lực bảo trì
Chỉ số khả năng sẵn sang bao gồm 3 thành phần :
- Chỉ số độ tin cậy
- Chỉ số hỗ trợ bảo trì
- Chỉ số khả năng bảo trì
2.1.4 Chỉ số hỗ trợ bảo trì
Trang 2120
Chỉ số hỗ trợ bảo trì được đo bằng thời gian chờ đợi trung bình (Mean Waiting Time- MWT), là
thời gian chờ đợi trung bình đối với các nguồn lực bảo trì khi máy ngừng
Chỉ số hỗ trợ bảo trì thể hiện khả năng của một tổ chức bảo trì- trong những điều kiện nhất định- cung cấp các nguồn lực theo yêu cầu để bảo trì một thiết bị
2.1.5 Chỉ số khả năng bảo trì
Chỉ số khả năng bảo trì được đo bằng thời gian sửa chữa trung bình (Mean Time To Repair-
MTTR), chịu ảnh hưởng lớn các bản thiết kế thiết bị, nghĩa là nó được xác định tùy thuộc vào
giai đoạn thiết kế
Chỉ số khả năng bảo trì thể hiện khả năng một thiết bị- trong những điều kiện sử dụng xác định- được duy trì hoặc phục hồi lại tình trạng mà nó có thể thực hiện trong những điều kiện nhất định
và sử dụng các trình tự và nguồn lực nhất định
Như vậy,để gia tăng chỉ số khả năng sẵn sang phải có khả năng gia tăng chỉ số độ tin cậy, giảm chỉ số hỗ trợ bảo trì và chỉ số khả năng bảo trì
2.1.6 Thời gian ngừng máy trung bình
Thời gian ngừng máy trung bình (Mean Down Time- MDT) là tổng của chỉ số hỗ trợ bảo trì
(MWT) và chỉ số khả năng bảo trì (MTTR) Trong thực tế khó xác định thời gian chờ đợi và thời gian sửa chữa Trong trường hợp này ta sử dụng thời gian ngừng máy trung bình-MDT
UP T T
MTBF
MTBF MDT
TUP – tổng thời gian máy hoạt động
Tdm - tổng thời gian ngừng máy để bảo trì
2.2 NĂNG SUẤT VÀ CHỈ SỐ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG
- Nếu bảo trì đúng phương pháp, năng suất trong quá trình sản xuất gia tăng nhanh chóng Để sử dụng 100% năng lực, thiết bị phải hoạt động liên tục, không được ngừng tại bất kỳ thời điểm nào khi nó được lên kế hoạch hoạt động, nghĩa là chỉ số khả năng sẵn sàng phải là 100%
Trang 22- Công tác bảo trì sẽ ảnh hưởng đến chỉ số khả năng sẵn sàng ở mức độ cao nên năng suất cũng
bị ảnh hưởng trực tiếp Khi đầu tư vào bảo trì, thời gian hoàn vốn để tăng năng suất phải được tính đến Năng suất làm tăng sản lượng, tăng chất lượng, giảm vốn đầu tư
- Khi lập kế hoạch đầu tư vào công tác bảo dưỡng thì yếu tố đầu tiên phải tính toán là tìm ra chỉ
số khả năng sẵn sàng sau khi dự án đã thông qua Yếu tố thứ hai là phải tính toán để tìm ra có bao nhiêu chỉ số khả năng sẵn sàng mới sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng
Các hoạt động công tác bảo trì sẽ làm gia tăng số % của chỉ số khả năng sẵn sàng, nhờ vậy năng suất sẽ gia tăng và làm lợi nhuận cao hơn
Ví dụ : chỉ số khả năng sẵn sàng tăng 1% sẽ cho :
750.000 USD đối với một nhà máy thép ( A = 85 – 90% )
90.000 USD đối với một nhà máy giấy ( A = 90 – 95% )
30.000 USD đối với một xưởng gia công kim loại ( A = 80% )
50.000 USD đối với một nhà máy hóa chất ( A = 85 – 90% )
50.000 USD đối với một nhà nhà máy điện ( A = 95 – 99%)
- Một câu hỏi thường dặt ra là “Trong nhà máy chúng ta,chỉ số khả năng sẵn sàng là bao nhiêu ?” Câu hỏi này không dễ trả lời do yêu cầu về khả năng sẵn sàng của mỗi doanh nghiệp khác nhau Các số liệu trong bảng 2.1 thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ số khả năng sẵn sàng, thời gian không sẵn sàng và khả năng không sẵn sàng mỗi năm, tháng, ngày Các con số được tính tgoán cho công việc sản xuất trong 24 giờ mỗi ngày Nếu sử dụng thời gian sản xuất khác, phải nhân các con số trong bảng với chỉ số sử dụng
MTBF – (thời gian trung bình giữa các lần hư hỏng) = Độ tin cậy
MWT – (thời gian chờ đợi trung bình ) = Chỉ số hỗ trợ bảo trì
MTTR – (thời gian sửa chữa trung bình) = Chỉ số khả năng bảo trì
100%
MTTR MWT
MTBF
MTBF A
MTBF A
(MDT = MWT + MTTR )
hoặc 100%
dm UP
UP T T
T A
trong đó : TUP – tổng thời gian máy hoạt động (time of production)
Trang 23trong đó : a là số lần ngừng máy để bảo trì
Trong thực tế khó thấy sự khác nhau giữa thời gian chờ và thời gian sửa chữa, thì dùng thời gian
ngừng máy (thời gian ngừng máy = thời gian chờ + thời gian sửa chữa)
a
T MDT dm (giờ/lần hư hỏng)
4
4 3 2
Phải có : - Tổng thời gian máy hoạt động (TUP)
- Tổng thời gian ngừng máy để bảo trì (Tdm)
4,13
Bảng 2.2 Đánh giá các hoạt động bảo trì
Hiện tại Hoạt động phát triển Kết quả đánh giá
Số lần hư hỏng
a = 70
Giám sát tình trạng có hệ thống, công tác bảo trì và bôi trơn định kỳ
Tốt
a = 30
Chưa tốt
a = 50 MTTR = 0,7 h
Trang 24
Năng lực sản xuất tăng 6% và các chi phí bảo trì thấp hơn
2.3 CHỈ SỐ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG TRONG NHỮNG HỆ THỐNG KHÁC NHAU Chỉ số khả năng sãn sàng toàn bộ sẽ khhác nhau, phụ thuộc vào các dạng liên kết khác nhau của
Trong hệ thống song song, độ nhạy
rất kém,các thiết bị được lắp song song ,
hoạt động cùng một thời điểm Nếu một
trong các thiết bị ngừng hoạt động thì
thất về sản xuất không nhiều, bởi các
thiết bị còn lại vẫn tiếp tục hoạt động được
Trong một số trường hợp cần liên kết các thiết bị đứng cạnh nhau Khi đó, độ nhạy sẽ thấp hơn
so với các trường hợp khác nhưng chi phí đầu tư cho hệ thống này lại cao hơn nhiều lần Loại hệ thống này gọi là hệ thống dự phòng Trong hệ thống này không cần thiết phải cho các thiết bị cùng hoạt động tại một thời điểm, có khi chỉ cần một thiết bị hoạt động là đủ, các thiết bị còn lại vẫn nằm chờ, khởi động trong trường hợp thiết bị đang hoạt động bị ngừng
Có thể dùng công thức sau để tính toán :
Atoàn bộ = 1- [ (1- A1)(1- A2)( 1- A3)( 1- A4) (1- An)]
2.4 CHỈ SỐ HIỆU QUẢ THIẾT BỊ TOÀN BỘ
Chỉ số hiệu quả thiết bị toàn bộ (OEE- Overall Equipment Effectiveness ) được dùng để đánh giá
một cách toàn diện hiệu quả sử dụng dây chuyền thiết bị trong sản xuất công nghiệp OEE được tính như sau
A 1 A 2 A 3 A n
Trang 2524
OEE = A.H.C (2.7)
trongđó : A- chỉ số khả năng sẵn sàng
H- hiệu suất sử dụng thiết bị, bằng sản lượng thực tế chia cho sản lượng mà
dây chuyền thiết bị có thể làm ra được
C- hệ số chất lượng, bằng số lượng sản phẩm đạt yêu cầu chia cho tổng số
Trang 26Chương III
3.1 CÁC GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CỦA THIẾT BỊ
Chu kỳ sống của thiết bị thường gồm 6 giai đoạn :
a Ý tưởng : đây là giai đoạn mà ý tưởng dự án được đưa ra Trong thưc tế chưa có điều gì
được thực hiện trong dự án này
b Yêu cầu kỹ thuật giai đoạn này mọi thứ có từ giai đoạn ý tưởng được ghi lạiđể mô tả các
đặc tính kỹ thuật
c Thiết kế thiết bị được thiết kế phù hợp với các đặc tính kỹ thuật Tất cả các bản vẽ thiết kế
được hình thành trong giai đoạn này
d Chế tạo phù hợp với các đặc tính kỹ thuật và bản thiết kế Tiếp theo là giai đoạn chọn mua
Điều quan trọng là xem xét chất lượng từ quan điểm bảo trì Thiết bị cần có giá rẻ nhưng đòi hỏi quan trọng hơn là về khả năng bảo trì Có thể mua thiết bị với giá đắt hơn nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu về bảo trì Từ đó hình thành khái niệm chi phí chu kỳ sống, bao gồm giá mua cộng với các chi phí phát sinh gắn liền suốt thời gian tồn tại của thiết bị
e Vận hành : Đây là giai đoạn của người sử dụng Thiết bị được sử dụng và bảo trì cho đến
hết tuổi thọ của nó Tuổi thọ có thể là tuổi thọ kỹ thuật hay tuổi thọ kinh tế Khi hết thời hạn sử dụng về mặt kỹ thuật thì thiết bị sẽ hư hỏng và không thể tiếp tục sử dụng được nữa Khi hết thời hạn sử dụng về mặt inh tế thì thiết bị vẫn có thể hoạt động được nhưng cần được thay thế vì không mang lại hiệu quả kinh tế
f Ngừng hoạt động : đây là giai đoạn mà thiết bị không còn hoạt động được nữa Có hai
Hình 3.1 Sơ đồ các giai đoạn trong chu kỳ sống của thiết bị
- Người lập dự án không hiểu biết và không có kinh nghiệm về bảo trì, nếu phân phối chi phí cho bảo trì thấp sẽ gây khó khăn cho các nhân viên bảo trì trong quá trình mua thiết bị Kinh nghiệm
và các nhu cầu bảo trì nên được kết hợp với việc mua thiết bị Nhiều công ty đạt lợi nhuận cao từ việc áp dụng kiến thức và kinh nghiệm bảo trì đã tích lũy của họ và sử dụng ngay từ giai đoạn đầu tiên của dự án
Trang 2726
- Nếu các yếu tố bảo trì không được xem xét tính toán cho tới khi thiết bị được đưa vàohoạt động thì lúc này chi phí cho việc sửa đổi hoặc thiết kế lại sẽ tăng gấp nhiều lần để thực hiện nó Chi phí để thực hiện một thay đổi nào đó sẽ được phân bố như sau :
3.2 CHI PHÍ CHU KỲ SỐNG
3.2.1 Định nghĩa : Chi phí chu kỳ sống là toàn bộ các loại chi phí mà khách hàng ( người
mua, người sử dụng ) phải trả trong thời gian sử dụng sản phẩm
Chí phí chu kỳ sống bao gồm chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vận hành, chi phí bảo trì, chi phí thanh lý và một số chi phí khác
3.2.2 Đường cong dạng bồn tắm : mô tả chi phí của thiết bị trong suốt chu kỳ sống của nó (từ
lúc bắt đầu vận hành đến khi thanh lý) Ở đầu giuai đoạn vận hành, chi phí tương đối cao hơn bởi các hoạt động chạy rà Sau đó, chi phí giảm xuống và ổn định Trước khi thiết bị đến thời điểm loại bỏ thì chi phí lại gia tăng do các chi phí phát sinh khi sắp hết thời hạn sử dụng Mức của đường nằm ngang trong biểu đồ dạng bồn tắm phụ thuộc vào sự thành công của quá trình mua sắm thiết bị : thiết bị chất lượng thấp thì mức chi phí cao và ngược lại
Hình 3.2 Đường cong bồn tắm
3.2.3 Lợi nhuận chu kỳ sống : khi mua thiết bị mới, diều quan tâm cơ bản không phải chỉ là
tổng chi phí chu kỳ sống và tổng thu nhập chu kỳ sống mà là khoảng giữa chúng tức là lợi nhuận chu kỳ sống
Hình 2.3 minh họa các khái niệm về thu nhập chu kỳ sống Muốn thiết bị được bảo trì dễ dàng
và đạt chỉ số khả năng sẵn sàng cao thì có thể phải mua với giá đắt Trong thời gian hao mòn của thiết bị, nếu chưa tìm được thiết bị cùng loại có chất lượng tốt hơn thì chưa cần phải thay mới thiết bị sớm vì khi thay thế thiết bị có chất lượng kém hơn sẽ phát sinh them chi phí vận hành và chi phí bảo trì cho thời gian sống của thiết bị sẽ cao hơn
Trang 28
Hình 3.3 Lợi nhuận chu kỳ sống
3.2.4 Ứng dụng chi phí chu kỳ sống
- So sánh và chọn mua các sản phẩm (dụng cụ, máy móc, thiết bị, công nghệ, dây chuyền sản
suất ) Có thể tính toán cho mỗi phương án sản phẩm, phương án nào có lợi nhuận chu kỳ lớn nhất sẽ được chọn lựa
- Cải tiến sản phẩm để nâng cao khả năng bảo trì và độ tin cậy, kéo dài tuổi thọ của thiết bị, giảm chi phí bảo trì
- Tính hiệu quả của công việc bảo trì :
+ Tái cấu trúc các tổ chức bảo trì cho phù hợp
+ So sánh các dự án đang cạnh tranh
+ Chuẩn bị kế hoạch và ngân sách bảo trì dài hạn
+ Kiểm tra các dự án đang thực hiện
+ Quyết định thay thế thiết bị
-Ví dụ :Cơ quan đường sắt Thụy Điển mua các thiết bị biến thế cho các đầu xe điện :
Phương án thứ nhất : Có các dữ liệu về kinh tế cho một năm hoạt động là :
Giá mua : 0,057 triệu USD
Chi phí bảo trì 0,606 triệu USD
Tổn thất điện năng 0,1 triệu USD
Tổng chi phí 0,763 triệu USD
Phương án thứ hai : Mua thiết bị của một hãng khác với các dữ liệu kinh tế sau :
Giá mua 0,606 triệu USD
Chi phí bảo trì 0,155 triệu USD
Tổn thất điện năng 0,1 triệu USD
Tổng chi phí 0,321 triệu USD
Phương án thứ hai tuy giá mua đắt hơn 16% nhưng tổng chi phí thấp hơn 0,442 triệu USD Do vậy loại máy biến thế theo phương án thứ hai sẽ được chọn mua
Bảng 3.1 Chi phí chu kỳ sống của một số sản phẩm tiêu dùng
Sản phẩm
Giá mua
ban đầu (USD)
Chi phí vận
hành và bảo trì (USD)
Chi phí chu kỳ
sống LCC ( USD)
Tổng chi phí/giá mua ban đầu (lần)
Máy điều hòa
Trang 2928
3.2.5 Những yếu tố liên quan đến bảo trì
Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ nếu các yếu tố bảo trì được đề cập sớm thì sẽ tiết kiệm được nhiều trong giai đoạn vận hành Đôi khi vốn đầu tư sẽ cao hơn trong giai đoạn lập kế hoạch nhưng sẽ cải thiện tình trạng bảo trì và được hoàn lại dần trong quá trình vận hành Để đạt được hiệu quả kinh tế và tình trạng vận hành tốt trong tương lai, các yếu tố bảo trì phải được xác định cẩn thận khi mua thiết bị Nếu bảo trì và các yếu tố về độ tin cậy kỹ thuật không được xem xét trong dự án và trong quá trình mua thì chi phí trong giai đoạn vận hành thiết bị sẽ cao
LCC khi mua thiết bị
- Khi mua thiết bị cần quan tâm các yếu tố liên quan đến hiệu năng kỹ thuật và chỉ số khả năng sẵn sàng : nếu thiết bị được mua trên cơ sở hiệu năng kỹ thuật và chỉ số khả năng sẵn sàng đều được đánh giá tốt thì giai đoạn vận hành sau này sẽ trơn tru, tốt đẹp Khi đó, người ta nói rằng có
sự cân bằng trong hệ thống kỹ thuật
- Thông thường có mâu thuẫn giữa nhân viên mua thiết bị và nhân viên bảo trì : người tài vụ thường so sánh các thiết bị thông qua bảng giá của nhiều hãng khác nhau và quyết định mua thiết
bị có giá trị rẻ nhất Nhân viên bảo trì biết rằng quyết định đó sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề trong quá trình vận hành thiết bị Tình trạng này có thể tránh được bằng cách xem xét hiệu quả kinh tế toàn bộ trong một thời gian dài Có một vài mối quan hệ giữa giá cả, chi phí chu kỳ sống
và khả năng sẵn sàng cần được xem xét
Đồ thị trên hình 2.6 cho thấy các chi phí tỷ lệ nghịch với khả năng sẵn sàng : khả năng sẵn sàng cao thì giá mua cao nhưng LCC lại thấp Tối ưu là mua thiết bị có khả năng sẵn sàng trong khoảng giữa giá trị cao nhất và thấp nhất
Lập tài liệu kỹ thuật cho bảo trì
Trong quá trình mua thiết bị cần phải xác định tất cả tài liệu kỹ thuật cần thiết cho vận hành và bảo trì sau này Tình huống xấu nhất là khi thiết bị hư hỏng bất ngờ lại không tìm đoc75 các tài liệu kỹ thuật cần thiết làm công việc sửa chữa bị chậm trễ Khi mua thiết bị mới, các yêu cầu vềtiêu chuẩn hóa và tài liệu kỹ thuật dùng cho việc bảo trì cần được chỉ rõ Tài liệu kỹ thuật phải được thông báo cho người mua khi yêu cầu, khi mua xong thiết bị mới yêu cầu cung cấp tài liệu cần thiết thì quá muộn
Tùy thuộc vào loại thiết bị mà tài liệu kỹ thuật sẽ khác nhau, nhưng có thể tóm tắt như sau :
- Các bản vẽ kỹ thuật trình bày đầy vật tư và dung sai
- Một hệ thống mã hóa các dữ liệu kỹ thuật và phụ tùng kèm theo
- Đối với chi tiết, cần có dữ liệu về phụ tùng tương ứng, bao gồm là chi tiết tiêu chuẩn hay chuyên dùng, thời gian chờ giao hàng, giá cả
- Đối với mỗi thiết bị phải có tài liệu về các biện pháp bảo trì phòng ngừa càng cụ thể càng tốt
- Đối với mỗi thiết bị, cũng c ần có tài liệu chỉ dẫn về bảo trì phục hồi Những chỉ dẫn này nên thể hiện thiết bị đó được tháo lắp và kiểm tra như thế nào Đôi khi cũng cần có các tài liệu đặc biệt như sơ đồ trình tự chẩn đoán và phát hiện hư hỏng
3.2.6 Tính toán chi phí chu kỳ sống
Chi phí chu kỳ sống có thể tính bằng công thức sau :
LCC = CI + NY ( CO + CM + CS ) (3.1.)
trong đó LCC – chi phí chu kỳ sống
CI - chi phí đầu tư
NY - số năm tính toán
CO - chi phí vận hành mỗi năm
CM - chi phí bảo hành mỗi năm
CS - chi phí do ngừng máy mỗi năm
Tính toán LCC được thực hiện để so sánh và lựa chọn các giải pháp khác nhau về mặt hiệu quả kinh tế toàn bộ trong giai đoạn lập dự án hay mua sắm
Khó khăn nhất trong quá trình tính toán là tìm đúng dữ liệu đưa vào công thức Có thể dùng kinh nghiệm đã có trong công tác bảo trì và sản xuất ở nhà máy để mua phụ tùng, thiết bị và tính toán LCC, cũng có thể sử dụng thông tin và dữ liệu thu thập được từ thiết bị đang có trong các
Trang 30công ty khác Điều quan trọng nhất là cần có mối quan hệ tốt với người bán để được cung cấp những dữ liệu cần thiết trong quá trình tính toán, cấn phải có những quy định trong hợp đồng mua bán là người bán phải có trách nhiệm cung cấp dữ liệu cần thiết để người mua tính toán LCC
*.Các yếu tố chi phí trong LCC
Tùy theo máy móc tính toán, tacó các yếu tố khác nhau :
a Chi phí đầu tư, CI
CI = CIM + CIB + CIE + CIR + CIV + CID + CIT (3.2.)
trong đó CIM – đầu tư cho thiết bị sản xuất, máy móc, thiết bị điện và điều khiển
CIB - đầu tư cho xây dựng và hệ thống giao thông
CIE - đầu tư cho lắp đặt hệ thống điện
CIR – đầu tư cho phụ tùng thay thế
CIV – đầu tư cho dụng cụ và thiết bị bảo trì
CID – đầu tư cho tài liệu kỹ thuật
CIT – đầu tư cho đào tạo huấn luyện
b Chi phí vận hành hàng năm, CO
CO = COP + COE + COM + COF + COT (3.3)
trong đó COP – chi phí công lao động cho người vận hành
COE – chi phí năng lượng
COM – chi phí nguyên vật liệu
COF - chi phí vận chuyển
COT - chi phí đào tạo thường xuyên ( liên tục) người vận hành
c Chi phí bảo trì nhàng năm, CM
CM = CMP + CMM + CPP + CPM + CRP + CRM + CMT (3.4)
trong đó CMP – chi phí công lao động cho bảo trì phục hồi
CMM – chi phí vật tư, phụ tùng cho bảo trì phục hồi
CPP - chi phí công lao động cho bảo trì phòng ngừa
CPM - chi phí vật tư, thiết bị cho bảo trì phòng ngừa
CRP - chi phí công lao động cho tân trang
CRM – chi phí vật tư cho tân trang
CMT - chi phí cho đào tạo thường xuyên nhân viên bảo trì
d Chi phí do ngừng máy hàng năm, CS
CM = NT MDT CLP
trong đó NT – số lần ngừng máy để bảo trì hàng năm
MDT – thời gian ngừng máy trung bình (giờ )
CLP - chi phí tổn thất sản xuất hoặc các tổn thất do việc bảo trì ( đồng / giờ )
3.3 CÁC CHI PHÍ BẢO TRÌ
3.3.1 Quản lý chi phí bảo trì
- Các công ty đều mong muốn làm sao để chi phí bảo trì thấp nhất Người ta thường nghĩ rằng
sản xuất mang lại doanh thu, bảo trì chủ yếu là đòi hỏi chi phí, nhưng nếu không có bảo trì thì sẽ còn phải chi phí nhiều hơn Có hai cách quản lý chi phí bảo trì :
+ Quản lý bảo trì định hướng vào kiểm soát kết quả
+ Quản lý bảo trì định hướng vào kiểm soát chi phí
- Quản lý bảo trì định hướng vào kiểm soát chi phí là kiểm soát công tác bảo trì chỉ dựa trên ngân sách mà không quan tâm mối quan hệ giữa tình trạng sản xuất và bảo trì và không phải là quản lý bảo trì hiện đại, thường bảo trì định hướng vào kiểmsoát chi phí làm tăng chi phí bảo trì
về lâu dài
- Mọi người phải hiểu rằng ưu tiên hàng đầu trong mục tiêu bảo trì là “ giữ vững mức chỉ số khả năng sẵn sàng có kế hoạch ở chi phí thấp nhất có thể được” Điều này có nghĩa là chi phí bảo trì phải được đặt trong mối quan hệ với toàn bộ kết quả đạt được nhờ bảo trì trong một đơn vị sản
Trang 3130
xuất Người quản lý bảo trì và người chịu trách nhiệm về kinh tế phải thấy được toàn bộ kết quả của chiến lược bảo trì
3.3.2 Phân loại chi phí bảo trì
Các chi phí bảo trì có thể chia làm hai loại : trực tiếp và gián tiếp
- Chi phí bảo trì trực tiếp là chi phí được chi trả trực tiếp cho các hoạt động liên quan đến bảo trì, bao gồm :
+ Chi phí cho đào tạo và huấn luyện về bảo trì
+ Tiền lương và tiền thưởng cho người bảo trì
+ Chi phí cho phụ tùng thay thế
+ Chi phí vật tư
+ Chi phí cho hợp đồng bảo trì thuê ngoài
+ Chi phí cho quản lý bảo trì
+ Chi phí cho sửa đổi, cải tiến
- Chi phí bảo trì gián tiếp là các tổn thất thu nhập hoặc các tổn thất khác làm gián đoạn sản xuất
do bảo trì gây ra
Hình 3.4 Tương quan giữa hai loại chi phí bảo trì
3.3.3 Những thiệt hại do công tác bảo trì không tốt gây ra
1 Thiệt hại do tuổi thọ giảm: khi máy không được kiểm tra thường xuyên và không được bảo trì
hợp lý
2 Thiệt hại về năng lượng khi máy không được bảo trì một cách đúng đắn
3 Thiệt hại về chất lượng sản phẩm
4 Thiệt hại về năng suất và hao phí nguyên vật liệu
5 Thiệt hại do an toàn và môi trường kém, gây hậu quả không tốt đến thái độ làm việc và năng suất lao động của công nhân
6 Thiệt hại về vốn và khả năng xoay vòng vốn: do số lần ngừng máy nhiều, gắn liền với các thiệt
hại quan trọng và đòi hỏi phụ tùng phải lưu trữ tồn kho nhiều ( chi phí lưu kho tính toán xấp xỉ 35% giá trị vật tư được lưu trữ )
7 Thiệt hại do mất khách hàng,uy tín và thị trường
8 Thiệt hại do vi phạm hợp đồng : khi sản xuất bị ngừng trệ, sản phẩm không cung cấp đúng
thời hạn
9 Thiệt hại về doanh thu và lợi nhuận
Trang 32Ví dụ chi phí mỗi lần ngừng sản xuất
Đơn vị Chi phí ( USD / giờ )
Như vậy mục tiêu số một của bảo trì là xác định để đầu tư tối ưu vào chi phí bảo trì trực tiếp nhằ đạt được tổng chi phí bảo trì trực tiếp và gián tiếp là nhỏ nhất Mọi cố gắng cải tiến, hoàn thiện những chiến lược, giải pháp, phương pháp kỹ thuật, thiết bị bảo trì đều nhằm mục đích đảm bảo chi phí bảo trì trực tiếp ( các tổn thất do ngừng sản xuất ) là nhỏ nhất
3.3.4 Hệ số PM
Công tác bảo trì không thể được đo bằng chi phí phát sinh mà phải gắn liền với sản lượng theo
một cách nào đó và cần xác định tác động của chi phí bảo trì trực tiếp đến các chi phí gián tiếp người ta sử dụng hệ số PM ( “P” là sản lượng, “M” là chi phí bảo trì :
Hệ số PM = [ Sản lượng/ Chi phí bảo trì ]
Sản lượng – tính bằng chiếc, tấn, lit, km đi được
Chi phí bảo trì – tính bằng đơn vị tiền tệ của mỗi nước
Cách tính toán này có thể được thực hiện để xác định các kết quả và những cải tiến về đậu tư trong công tác bảo trì
Ví dụ : Trong một nhà máy giấy, người ta theo dõi sản lượng và các chi phí bảo trì như sau : Sản lượng năm 2001 : 135.227 tấn
Các chi phí bảo trì trong năm 2001 bao gốm :
- Nhân công 750 triệu đồng
- Phụ tùng 3.080 triệu đồng
- Vật tư bảo trì 2.055 triệu đồng
- Hợp đồng phụ 5.550 triệu đồng
Tổng cộng 11.435 triệu đồng
Hệ số PM được tính toán như sau :
PM = Sản lượng / Chi phí bảo trì = 135.227/ 11.435 = 11, 83 tấn/ triệu đồng
3.3.4.1 Kế hoạch hóa công việc bảo trì
- Một trong những mục tiêu của công việc bảo trì là kế hoạch hóa nhằm gia tăng chỉ số khả năng
sẵn sàng, giảm chi phí bảo trì trực tiếp và đạt được một số ưu điểm khác Nếu làm tốt việc kế hoạch hóa thì áp lực công việc đối với bộ phận bảo trì sẽ giảm và chất lượng công việc sẽ nâng cao
- Để lập kế hoạch tốt cần xác định tình trạng của thiết bị bằng cách phát hiện những hư hỏng đang phát triển nhưng chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình vận hành Giám sát tình trạng của thiết bị sẽ giúp tìm thấy hư hỏng ngay từ đầu và có thể hoạch định những công việc bảo trì
dự kiến thực hiện trước khi ngừng máy Nhờ giám sát tình trạng các công việc không kế hoạch được chuyển thành các công việc có kế hoạch với những ưu điểm trên
- Bảo trì phòng ngừa trực tiếp làm giảm nhẹ công việc bảo trì do giảm được số lần hư hỏng , nhờ vậy làm giảm thời gian ngừng máy và gia tăng sản lượng
Bảo trì phòng ngừa gián tiếp (giám sát tình trạng ) là cơ sở của bảo trì có kế hoạch Kết quả của bảo trì có kế hoạch là hạ thấp chi phí bảo trì và giảm thời gian ngừng máy
Trang 3332
Hình 3.5 Tác dụng của kế hoạch hóa công tác bảo trì
3.3.4.2 Ảnh hưởng của bảo trì phòng ngừa đến hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế tùy thuộc vào mức độ bảo trì phòng ngừa được thực hiện đến đâu
Đồ thị hình 3.4 cho thấy ảnh hưởng của công việc bảo trì đến hiệu quả kinh tế :
- Bảo trì phòng ngừa (a1) tăng làm giảm chi phí sửa chữa (b1) nhờ giảm sự cố trong vận hành máy
- Bất kỳ sự gia tăng nào về bảo trì cũng làm tăng chi phí về nhân lực, cung ứng và dịch vụ Tuy nhiên những khoản tăng này đóng vai trò quan trọng làm giảm đáng kể chi phí sửa chữa và giảm tổn thất trong sản xuất
- Tổng chi phí (d1) sẽ tăng nếu công việc bảo trì phòng ngừa quá nhiều Vì vậy nên xem xét số lượng công việc bảo trì được cân đối và hợp lý về mặt kinh tế, tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như sản xuất máy bay, bảo trì phòng ngừa phải được thực hiện triệt để vì lý do an toàn
Đồ thị hình 3.6 thể hiện sự gia tăng công việc bảo trì phòng ngừa ảnh hưởng đến chi phí toàn bộ
- Nếu bảo trì phòng ngừa dựa trên giám sát tình trạng ( thể hiện bằng nét liền trên đồ thị) thì tổng chi phí sẽ thấp hơn so với khi bảo trì phòng ngừa không dựa trên giám sát tình trạng ( thể hiện bằng những đường nét đứt)
- Bảo trì phòng ngừa dựa trên giám sát tình trạng sẽ làm giảm số lần ngừng máy và tiêu hao nguyên vật liệu, số lượng công việc phòng ngừa tối ưu sẽ dịch chuyển về phía phải của đồ thị Điều này có nghĩa là khi giám sát tình trạng được sử dụng, về mặt kinh tế nên tăng số giờ công bảo trì phòng ngừa vì tổng chi phí có thể được cải thiện
Trang 34dễ dàng phối hợp hơn các công việc bảo trì với việc lập kế hoạch sản xuất
- Hầu như sản lượng phụ thuộc vào thị trường, vì thế bộ phận sản xuất phải lập kế hoạch sản xuất
để hoàn thánh các đơn đặt hàng Các kế hoạch sản xuất luôn bao gồm cả những khoảng thời gian ngừng máy vì các lý do kỹ thuật Các lần ngừng máy này gọi là các cửa sổ bảo trì Tùy theo từng ngành công nghiệp, những lần ngừng máy này là để thay đổi dụng cụ, đổi ca, làm vệ sinh
Hình 3.7 Những công việc trong quá trình sản xuất
Trang 35Hình 3.9 Sự phù hợp giữa thời gian ngừng sản xuất và thời gian bảo trì theo kế hoạch
Vì những lần ngừng sản xuất được quyết định từ bộ phận sản xuất nên cần phảisử dụng chúng cho công việc bảo trì Trong trường hợp mà sản xuất không bị ngừng máy để bảo trì thì chi phí bảo trì gián tiếp sẽ bằng không
Những cửa sổ bảo trì chỉ có thể được sử dụng nếu những hư hỏng được phát hiện trước khi chúng phát triển đến mức gây ra hỏng máy
3.3.6 Hệ số UW
Một phương pháp xác định hiệu quả của công việc bảo trì là sử dụng hệ số UW Hệ số UW là
một biện pháp để xácđịnh khả năng cải tiến công tác bảo trì, người ta xem xét cả thời gian lãng phí và số lần hoạt động bảo trì không kế hoạch trong phạm vi chức năng bảo trì :
Hệ số UW = U.W (3.5)
trong đó: U – công việc bảo trì không kế hoạch
W - thời gian lãng phí liên quan đến công việc không kế hoạch, bao gồm : 1) tìm ra công việc phải làm
2) tìm đúng người, đúng phụ tùng, đúng tài liệu kỹ thuật và dụng cụ
Ví dụ : Tình trạng hiện tại :
- Bảo trì phục hồi có kế hoạch là 30%
- Bảo trì phục hồi không kế hoạch là 70%
- Thời gian chờ trung bình MWT là 50%
Hệ số UW = 70 50 = 3500 = 35%
Khi áp dụng những biện pháp cải tiến công tác bảo trì :
- Bảo trì phục hồi có kế hoạch là 70%
- Bảo trì phục hồi không kế hoạch là 30%
- Thời gian chờ trung bình MWT là 50%
Hệ số UW = 30.50 = 1500 = 15%
Như vậy hiệu quả cải tiến bảo trì : 35% - 15% = 20%
Trang 36
Hình 3.10 Đồ thị thể hiện tiềm năng cải tiến công tác bảo trì
Trang 37thuật cón lại là TPS (Toyota Production System- hệ thống sản xuất Tyota), còn gọi là JIT (Just In
Time-đúng lúc) và TPM (Total Productive- bảo trì năng suất toàn bộ)
- Mục đích của TQM là huy động con người phát huy sáng kiến cải tiến thường xuyên chất lượng sản phẩm và của TPS/JIS là giảm thời gian sản xuất, giảm dự trữ tồn kho đến mức tối thiểu, còn TPM là nhằm tối đa hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị với một hệ thống bảo trì được thực hiện trong suốt quá trình tồn tại của nó TPM liên quan đến mọi người, tất cả các phòng ban
và các cấp Có thể hình dung TQM và TPS hướng về phần mềm, TPM hướng về phần cứng của
hệ thống sản xuất
- TPM bắt đầu được triển khai ở Nhật từ năm 1971 và đã tạo ra những kết quả mang tính cách mạng về mặt năng suất và chất lượng Ngày nay, TPM đã được áp dụng phổ biến tại nhiều nước phương Tây cũng như châu Á, đặc biệt ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
Ba kỹ thuật bắt đầu bằng chữ T này được xem là ba công cụ chủ yếu của sản xuất trình độ thế
giới (world class manufacturing)
- TPM là một chương trình do Viện bảo trì nhà máy Nhật Bản (JIPM) đề xuất và triển khai từ năm 1971 Từ đó đến nay, TPM đã có những tiến bộ vượt bậc, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự gia tăng năng suất và sự thành công của công nghiệp Nhật bản JIPM coi TPM là biện pháp có hiệu quả nhất, chắc chắn nhất để sản xuất đạt trình độ thế giới Các hội nghị “Sản xuất đạt trình
độ thế giới và JIPM- TPM” đã được tổ chức tại Paris lần đầu tiên vào tháng 7/ 1997, tại Atlanta vào tháng 9/1997 và tại Singapore vào tháng 3/1998
- Hiện nay TPM được áp dụng với quy mô ngày càng rộng rãi trong các lĩnh vực như TPM văn phòng và TPM kỹ thuật, đồng thời giá trị của nó cũng vươn dài từ bảo trì đến quản lý
Rõ ràng ngày nay TPM là một kỹ thuật lý tưởng để thúc đẩy và đảm bảo sản xuất trình độ thế giới ( Tokutaro Suzuki, phó chủ tịch Viện bảo trì nhà máy Nhật bản)
4.1.3 Định nghĩa bảo trì năng suất toàn bộ(TPM)
- Bảo trì năng suất được thực hiện bởi tất cả nhân viên thông qua các nhóm hoạt động nhỏ, vầ
phương diện này, TPM nhìn nhận rằng các tình huống bảo trì khác nhau trong một công ty có thể cần nhiều phương pháp khác biệt để thực hiện có hiệu quả một giải pháp và những giải pháp này
có thể thay đổi từ máy này sang máy kia, từ nhà máy này đến nhà máy kia Nhiều kỹ thuật dùng trong TPM không mới mẻ gì, cái mới là văn hóa Nhật đã xâm nhập vào
- Những đóng góp quan trọng của TPM vào lý thuyết bảo trì là nó phá bỏ rào cản hoặc ranh giới giữa bộ phận bảo trì và và bộ phận sản xuất trong một công ty
Trang 38- Về phương diện cải tiến liên tục, TPM đã loại bỏ sự tự mãn trong một tổ chức, thay vào đó là những cố gắng để đạt đến tình trạng hư hỏng của thiết bị bằng không Vì vậy, năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng sẵn sàng của thiết bị đạt tối đa
Định nghĩa đầy đủ hơn của bảo trì năng suất toàn bộ bao gồm :
- Thiết lập một hệ thống bảo trì sản xuất xuyên suốt bao gồm công tác bảo rì phòng ngừa, cải thiện khả năng bảo trì và bảo trì phòng ngừa cho toàn bộ chu kỳ sống của một thiết bị
- Thực hiện bảo trì năng suất trong công ty bởi tất cả các phòng ban tương ứng và sự tham gia của tất cả thành viên trong công ty từ lãnh đạo đến công nhân
- Xúc tiến bảo trì năng suất thông qua các hoạt động của nhóm tự quản
- Bảo trì năng suất toàn bộ là một chiến lược bảo trì làm nền tảng cho sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí
4.1.4 Triết lý của TPM
- TPM nhằm mục tiêu tạo ra một hệ thống phối hợp làm cực đại hiệu suất của hệ thống sản xuất
(nâng cao hiệu suất toàn bộ0
- TPM hình thành các hệ thống phòng ngừa những tổn thất xảy ra trong sản xuất và tập trung vào sản phẩm cuối cùng Các hệ thồng này nhằm đạt được “không tai nạn, không khuyết tật, không hư hỏng” trong toàn bộ chu kỳ hoạt động của hệ thống sản xuất
- TPM được áp dụng trong toàn bộ phòng, ban, bộ phận thiết kế, sản xuất, phát triển và hành chính
- TPM dựa trên sự tham gia của toàn bộ các thành viên, từ cấp lãnh đạo cao nhất đến các nhân viên trực tiếp sản xuất
- TPM đạt được tổn thất bằng không thông qua hoạt động các nhóm nhỏ 5S : Seiri (sàng lọc), Seiton (sắp xếp), Seiso (sạch sẽ), Seiketsu ( săn sóc), Shitsuke (sẵn sàng)
Ý nghĩa của chữ T trong TPM
- Hiệu suất hoạt động toàn bộ
- Giảm thời gian hư hỏng máy đến không, thời gian ngừng sản xuất ngắn hơn
- Phát triển đội ngũ công nhân viên thông qua đào tạo, huấn luyện
- Cải thiện tinh thần và thái độ làm việc của mọi người
- Giảm chi phí
- Tăng năng suất
- Cải thiện chất lượng sản phẩm
- Cải thiện môi trường làm việc và an toàn lao động (số tai nạn bằng không)
- Tăng lợi nhuận
Trang 3938
- Thỏa mãn khách hàng
Vì vậy TPM có mục tiêu chính là tối đa hóa hiệu quả sử dụng thiết bị trong một công ty và để làm điều đó, trách nhiệm trục tiếp thuộc về người sử dụng thiết bị Trong thực tế,TPM được xem
là một trong số những chiến lược bảo trì toàn diện và tốt nhất
4.1.6 Mười hai bước thực hiện TPM
Để thực hiện TPM, cần 12 bước, chia thành 4 giai đoạn :
a Giai đoạn chuẩn bị : từ 3 đến 6 tháng, gồm các bước :
Bước 1: Lãnhđạo cao nhất giới thiệu TPM
Bước 2: Đào tạo và giới thiệu TPM
Bước 3: Hoạch định các tổ cức tiến hành thực hiện TPM
Bước 4: Thiết lập các chính sách cơ bản và các mục tiêu của TPM
Bước 5: Trình bày kế hoạch phát triển TPM
b Giai đoạn giới thiệu TPM
Bước 6: Bắt đầu TPM (hoạch định và thực hiện )
c Giai đoạn thực hiện
Bước 7: Cải tiến hiệu suất của mỗi thiết bị trong dây chuyền ản xuất
- Xem xét các công việc
- Xem xét mối quan hệ giữa máy móc, thiết bị, vật tư và các phương pháp sản xuất
- Xem xét trình tự đánh giá chung
- Xác định cụ thể các vấn đề
- Đề xuất các cải tiến phù hợp
Bước 8: Tổ chức công việc bảo trì
- Chuẩn bị
- Đo lường, kiểm tra dựa vào các nguyên nhân
- Thiết lập tiêu chuẩn làm sạch và bôi trơn
- Kiểm tra tổng thể
- Kiểm tra việc tự quản
- Đảm bảo tính ngăn nắp và gọn gàng
- Tự quản lý hoàn toàn
Bước 9: Thực hiện công việc bảo trì có kế hoạch trong bộ phận bảo trì
Bước 10 Đào tạo để nâng cao các kỹ năng bảo trì và vận hành
Bước 11: Tổ chức công việc quản lý thiết bị
Năng suất lao động tăng 32%
Số trường hợp hỏng máy giảm 81%
Thời gian thay dụng cụ giảm 50% - 70%
Tỷ lệ sử dụng thiết bị tăng 11%
Chi phí do phế phẩm giảm 55%
Tỷ lệ doanh thu tăng 50%
Bảng 4.1 Kết quả ứng dụng TPM tại công ty Tokai Rubber Industries
Chỉ tiêu Giá trị (năm) Giá trị (năm)
Năng suất toàn công ty (%)
100 (1981)
100 (1980) 2,2,(1980)
125 (1985)
40 (1984) 85,6 (1985) 42,7 (1985)
52 (1982) 3,4 (1983)
Trang 40Giá trị phế phẩm (1000 yen- Nhật)
Số đề nghị cải tiến trên mỗi công nhân
Số lần thảo luận về TPM (mỗi tháng)
Năng suất lao động
Khả năng sẵn sàng hoạt động thiết bị
Số lần khiếu nại về chất lượng (mỗi tháng)
5S là công cụ chủ lực trong quản lý chất lượng và bảo trì, là giai đoạn đầu trong quá trình phát
triển TPM Những chữ S là chữ đầu của các từ tiếng Nhật sau :
a Seiri- sàng lọc
Quan sát tại nơi làm việc bạn hay tai máy moc, thiết bị, bạn đứng điều khiển, bạn sẽ thấy có những đồ vật, tài liệu không sử dụng đến Seiri khuyên bạn nên loại bỏ những thứ không cần thiết, chỉ giữ lại những gì cần thiết cho công việc thôi Đối với những thiết bị cũ nên thanh lý, trong lúc chờ đợi nên tìm nơi cất giữ ngoài diện tích sản xuất Cái lợi của Seiri là giải phóng mặt bằng mà không tốn tiền xây dựng mở rộng nhà máy, lám tăng sự thoáng mát, sự thoải mái cho công nhân, nâng cao tính an toàn trong sản xuất và tạo thêm không gian để bố trí lại thiết bị nơi làm việc hợp lý
b Seiton-sắp xếp
Sau khi các vật không cần thiết đã loại bỏ khỏi nơi làm việc Cần bố trí lại các dụng cụ, gá lắp, khuôn mẫu đúng nơi quy định, thuận tiện cho quá trình làm việc và đảm bảo thẩm mỹ, an toàn Khi tái bố trí các hồ sơ, vật dụng nên theo nguyên tắc : cài gì cần dùng thường xuyên thì để gần nơi sử dụng, cái gì dùng ít hơn thì để xa hơn, còn cái gi thỉnh thoảng mới dùng đến thì để xa hơn nữa, thậm chí đem cất vào chỗ riêng hay cất vào kho
Mỗi đồ vật đều có chỗ dành riêng cho nó, ai lấy sử dụng xong phải trả về đúng chỗ cũ Để mọi người sử dụng mà không mất thời gian tìm kiếm, nên có danh mục các vật dụng và nơi lưu giữ
Có nhãn hiệu gắn trên hồ sơ ứng với chỗ để, trên đó có gắn cùng một mã số Nhờ vậy, các đồng nghiệp đều biết cái gì để ở đâu khi cần họ tự tìm lấy mà không phải mất thời gian tìm kiếm
c Seiso-sạch sẽ
Đời sống con người ngày càng được cải thiện thì sự sạch sẽ ngày càng được coi trọng Sạch sẽ thường đi đôi với ngăn nắp Trong sản xuất và dịch vụ, sạch sẽ có nghĩa là chất lượng nữa Giữ nơi làm việc sạch sẽ là tự tạo ra môi trường làm việc dễ chịu cho chính mình
Mỗi ngày dành ra thời gian để quét dọn vệ sinh nơi làm việc, kể cả bàn ghế, máy móc, dụng cụ Chính trong khi làm vệ sinh nơi làm việc, ta có thể phát hiện hư hỏng như bu lông bắt máy đã hỏng, dây đi sắp đứt, dầu bôi trơn đã cạn để có biện pháp đề phòng không đểxảy ra sự cố không đáng có
d Seiketsu- săn sóc
Sau khi thực hiện 3S đầu tiên, nên tiến thêm một bước nữa là Seiketsu nhằm duy trì những thành tựu đã qua và động viên mọi người tham gia cải tiến không ngừng Những gì đã làm và thấy đúng thì nên tiêu chuẩn hóa nó và có những hình thức biểu thị rõ ràng để ai cũng thấy và noi theo Như có bảng phân công người chịu trách nhiệm và khu vực làm vệ sinh hàng ngày, có bảng chỉ dẫn cách bố trí dụng cụ phòng cháy, chữa cháy, có dấu chỉ dẫn hướng lối đi trong phân xưởng và trog nhà máy
Cần kiểm tra và đánh giá thường xuyên thành tích thực hiện 5S của nhóm, tổ sản xuất và dịch
vụ Mở rộng 5S ra toàn công ty và duy trì nó
e Shisutke- sẵn sàng
Shisutke là làm các công việc trên một cách tự giác mà không cần ai giúp đỡ hoặc ra lệnh Muốn thế, vai trò người lãnh đạo đơn vị rất quan trọng Đầu tiên lãnh đạo phải cam kết giáo dục nhân viên và duy trì sự quyết tâm luôn cải tiến đi lên