1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS

24 453 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và sáchgiáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học,thực hiện

Trang 1

Về thiết bị dạy học: các trường đều được trang bị, nhưng nhìn chung chấtlượng chưa cao, hầu hết đã hư hỏng, hiệu quả sử dụng thấp Cá biệt có trườngđược trang bị, nhưng không sử dụng vì cũ, chất lượng kém, không có cán bộphụ trách thí nghiệm thiết bị chuẩn bị cho giờ thực hành.

Khả năng tự làm thiết bị dạy học rất hạn chế do: một phần đội ngũ giáoviên chưa năng động, sáng tạo; một phần hạn chế về thời gian, về kinh phí vàthực tế chưa được coi trọng đúng mức vấn đề tự làm và sử dụng đồ dùng dạyhọc tự làm để áp dụng vào quá trình giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, góp phần đổi mớiphương pháp còn nhiều hạn chế, nguyên nhân: do thiếu điều kiện về cơ sở vậtchất, nhiều giáo viên còn e ngại, chưa thành thạo trong việc thiết kế, sử dụng

Trang 2

các phần mềm hỗ trợ giảng dạy trình chiếu, chỉ dụng sử nhiều khi tổ chức thaogiảng, hội giảng hay tham gia thi giáo viên dạy giỏi các cấp.

* Thực trạng cơ sở vật chất, việc đổi mới phương pháp dạy học tại trườngTHCS thị trấn Ba Tơ:

Trường THCS TT Ba Tơ được xây dựng từ năm 2006 và đưa vào sử dụng

từ năm học 2007 Hiện trường có 01 nhà Hiệu bộ và 02 dãy phòng học gồm 14phòng, trong đó có 01 phòng dạy học bộ môn tin, 01 phòng thực hành thínghiệm bộ môn lí, hóa, 01 phòng trưng dụng làm phòng thiết bị (chưa có cán bộchuyên môn phụ trách), 01 phòng trưng dụng làm phòng thư viện, 01 phòngdùng để hội họp, 01 phòng sinh hoạt Đội, điểm truy cập Internet, còn lại 8phòng học / 12 lớp, nhà trường tổ chức học 2 buổi (buổi sáng khối 6 và 8, buổichiều khối 7 và 9) Chính vì vậy nên việc sinh hoạt hội họp, hội giảng chỉ tổchức thực hiện vào ngày thứ 7 hàng tuần

Về phương tiện, thiết bị dạy học: trang thiết bị dạy học cơ bản đảm bảo,song nhiều thiết bị cung ứng đã lâu, đã hỏng; nhà trường có 02 màn hình LG 42

in dùng để dạy giáo án điện tử, dùng làm phương tiện trình chiếu trong một sốtiết dạy ứng dụng công nghệ thông tin, trường có điểm truy cập internet, cómạng phát wifi tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên truy cập thông tin từ mạnginternet phục vụ cho nhu cầu dạy học

Việc tổ chức hội thảo, hội giảng, dạy học có ứng dụng công nghệ thôngtin, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướngphát triển năng lực của học sinh được chuyên môn nhà trường quan tâm, giáoviên tích cực hưởng ứng thực hiện

II Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm:

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và sáchgiáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học,thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinhvới sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm phát triển tư duy độclập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học,

Trang 3

bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niền tin và niềm vui trong học tập Tiếp tục vậndụng những ưu thế của phương pháp truyền thống và dần dần làm quen vớiphương pháp dạy học mới.

Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn đặt trong mối quan hệ với đổimới mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổimới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và cácnhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học trong phòng học và ngoài hiện trường; đổimới môi trường giáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng; đổi mớiđánh giá kết quả học tập của học sinh qua đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra,xây dựng các bộ công cụ đánh giá, phối hợp kiểu đánh giá truyền thống vớicách trắc nghiệm khách quan, đảm bảo đánh giá khách quan, trung thực mức độđạt được mục tiêu giáo dục của từng học sinh

Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại được đưa vào là

phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng, một phương pháp dạy học thể hiện sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, thể hiện được khả năng tư duy hệ thống giữa người dạy và cả người học thông qua việc sơ đồ hóa kiến thức, sử dụng được phương pháp này một cách hiệu quả cũng thể hiện

được sự sáng tạo của giáo viên thông qua dụng cụ dạy học trực quan Qua việctìm hiểu (từ việc tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng, qua việc dự giờ giáoviên) và đã từng vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy trong bộmôn Ngữ văn, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trongcông tác giảng dạy và học tập của học sinh Bước đầu đã giảm bớt được tâm lýngại học văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đemđến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn học Ngữ văn Vậy thế nào làphương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng bản đồ tư duy như thếnào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó là những vấn đề tôi

muốn cùng được chia sẻ với quý đồng nghiệp qua sáng kiến kinh nghiệm: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích ở bộ môn Ngữ văn Trung học cơ sở.

Trang 4

III Thời gian, địa điểm nghiên cứu

IV Phương pháp nghiên cứu:

BĐTD được bản thân áp dụng thực hiện có hiệu quả trong công tácgiảng dạy tại đơn vị Trường trung học cơ sở thị trấn Ba Tơ và cũng đã cùngđồng nghiệp trao đổi (góp ý giờ dạy thông qua dự giờ, qua hội thảo ứng dụngcông nghệ thông tin trong Ngày hội công nghệ thông tin ngành giáo dục và đàotạo huyện lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 12 năm 2012), và đồng nghiệp đãđưa vào áp dụng có hiệu quả ở một số đơn vị trường trung học cơ sở trong địabàn huyện

Để nghiên cứu, áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng bản đồ tư duy

trong dạy và học tích ở bộ môn Ngữ văn Trung học cơ sở”, bản thân đã sử

dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp quan sát: Hình thức chủ yếu của phương pháp này là dựgiờ đồng nghiệp từ đó tôi có thể phát hiện ra những ưu nhược điểm trong bàidạy của các đồng nghiệp

- Phương pháp so sánh: với phương pháp này tôi có thể phân loại, đốichiếu kết quả nghiên cứu

- Ngoài ra tôi còn sử dụng những phương pháp hỗ trợ khác như: đọc tàiliệu, thống kê, kiểm chứng, thăm dò ý kiến của học sinh, trao đổi kinh nghiệmcùng đồng nghiệp

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I Cơ sở lý luận

Nghị quyết số 40/2008/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hộikhóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của

việc đổi mới chương trình phổ thông: “Xây dựng nội dung chương trình,

phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.” và “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật Giáo dục; khắc phục những mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn;

bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh, đảm bảo sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục; tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo nguồn cân đối về cơ cấu nguồn lực; đảm bảo sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kĩ năng, có phương án vận dụng chương trình, sách giáo khoa phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các địa bàn khác nhau Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản

lí giáo dục.”

Trang 6

Môn học Ngữ văn, là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây làmôn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duycủa con người Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dụcquan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mặt khác nó cũng là môn họcthuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều cácmôn học khác trong nhà trường phổ thông Học tốt môn văn sẽ tác động tíchcực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốtmôn văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắnhọc với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộcsống.

II Cơ sở thực tiễn

Lâu nay, trong quá trình dạy học, người giáo viên vẫn thường dùng các

mô hình, sơ đồ, biểu đồ,… để khái quát, cô đọng kiến thức cho học sinh, nhất

là các bài tổng kết, bài ôn tập Cách làm này có thể nói đã đem lại những hiệuquả thiết thực nhất định trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho họcsinh, bởi cách trình bày ngắn gọn, lo-gic Song, bên cạnh những ưu điểm ấy,

nó vẫn còn có những hạn chế nhất định, bởi trước hết cả lớp cùng chung cáchtrình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải dohọc sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình, chưa phát huy được tính tư duy,sáng tạo, tính tích cực, chủ động, tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức củabài học

Trong thời gian gần đây, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ngãi có tổchức nhiều lớp tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học, về ứng dụng côngnghệ thông tin trong giảng dạy (trên cở các lớp tập huấn từ Bộ Giáo dục),trong đó có sử dụng BĐTD BĐTD (Mind Map) hay còn gọi là sơ đồ tư duy,lược đồ tư duy là phương pháp dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cáchhọc, cách tự học, là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng

và đào sâu các ý tưởng, một dạng sơ đồ mở BĐTD, một công cụ tổ chức tưduy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ

Trang 7

ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chứcnăng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Tuycùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể có những cách sáng tạo, thể hiện khácnhau, rất riêng, mang tính cá nhân tư duy của bản thân.

BĐTD giúp học sinh (HS) có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc

rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng caohiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số họcsinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bàiđấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức vớinhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau.Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tựghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sửdụng thành thạo BĐTD trong dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháphọc, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy

BĐTD sẽ giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quảnghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái

mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậyviệc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đatiềm năng của bộ não

III Thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn hiện nay

Thực tế hiện nay, môn Ngữ văn đang dần dần mất vị trí là một môn học

chính, quan trọng mà bị xếp sau một số môn học được coi là thực tế hơn để thi

tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng như Toán, Hóa, Lý, Anh, Tin…Môn Ngữ văn là một môn học khó với học sinh bởi dung lượng kiến thức rấtnhiều Học sinh phải học văn học Việt Nam (Văn học dân gian, văn học ViệtNam trung đại, cận đại, hiện đại), và văn học Thế giới (Văn học Trung Quốc,

Ấn Độ, Phương Tây) Các kiến thức về tiếng Việt, Tập làm văn cũng không hềđơn giản Có rất nhiều văn bản mới được đưa thêm vào trong sách giáo khoa.Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chương trình giảm tải, lược bỏ đi

Trang 8

một số bài học hoặc đưa một số bài học chính vào phần đọc thêm Song không

vì thế mà chương trình đã thật sự nhẹ nhàng

Qua thực tế giảng dạy ở trường, bản thân nhận thấy rằng có rất nhiềubiểu hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụ thể là:

- Học sinh thờ ơ với Văn: Đa phần các em xem thường và không muốn

học Văn Các em thường chỉ quan tâm đến các môn tự nhiên và phần lớn dànhthời gian cho các môn này Và nếu có học thì đó cũng chỉ là đối phó, qua loa.Mặt khác, chính vì môn văn có khối lượng kiến thức nhiều và khó, tâm lí thựcdụng nặng nề nên nhiều em học sinh thấy học văn là một công việc nặng nhọc,mệt mỏi, khó khăn! Đôi khi giờ học văn đối với các em thật vất vả…

- Khả năng trình bày: Khi học sinh tạo lập một văn bản giáo viên có thể

dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai,viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic Đặc biệt cónhững bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng Đây là một tình trạng

đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong bậc học THCS

Điều đó, một phần thể hiện rõ qua kết quả khảo sát đầu năm học 2014:

*Nguyên nhân:

- Đối với người dạy: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận

tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên, vẫn cònnhững mặt hạn chế sau:

+ Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận khôngnhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao

Trang 9

+ Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phươngpháp trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài củahọc sinh.

+ Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi đượcmạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học

- Đối với học sinh:

+ Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nênkhông chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn

+ Địa phương xã Ba Cung và một phần học sinh thị trấn Ba Tơ, kinh tếcòn khó khăn, hầu hết phụ huynh đều đi làm ăn xa, ít có thời gian quan tâm kèmcặp con em mình Bản thân các em còn phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lênlớp, ít dành thời gian cho việc tự học ở nhà

+ Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trínhư xem ti vi, chơi game, sử dụng các trò chơi từ điện thoại di động, ngàycàng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn dẫn đến saonhãng việc học tập

IV Giải pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học tích cực ở bộ môn Ngữ văn Trung học cơ sở

IV.1 Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD:

BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người họcchuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách dễdàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu

và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng

Sử dụng bản đồ tư duy giúp người học có được:

1 Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để hình dung về kiến thức

cần nhớ

Trang 10

2 Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý

tưởng một cách rất rõ ràng

3 Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, khi thể

được thể hiện trên màn hình máy chiếu, hay được vẽ ra giấy, BĐTD cho phépgiáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụngnhững màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc BĐTD dùng rất nhiềumàu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầyphong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡthông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết chặtchẽ về những gì được học

IV.2 Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh

1 Đối với giáo viên

Để vận dụng phương pháp dạy học thông qua BĐTD, người dạy cần:

- Biết cách sử dụng phần mềm Imindmap (phần mềm vẽ BĐTD trên máytính):

+ Tải và cài đặt phần mềm Imindmap vào máy tính (bằng cách vào trangweb www.download.com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap có thể tải vềbản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional hoặc từ địa chỉ web:www.mind-map.com - trang web chính thức của Tony Buzan)

+ Tham khảo tài liệu, video clip về cách sử dụng Imindmap

+ Liên kết, thực hiện trình chiếu qua PowerPoint

- Khái quát hóa kiến thức bài học thông qua sơ đồ (phát thảo trên giấy).Lưu ý: việc sử dụng BĐTD không phải bài học, đơn vị kiến thức nào cũng tùytiện sử dụng, dễ gây ra hiện tượng nhàm chán BĐTD không được sử dụng khilượng kiến thức cần hệ thống quá đơn giản (chẳng hạn vấn đề chỉ có 2 ý - 2nhánh kiến thức) hoặc quá dài dòng, rờm rà

- Hướng dẫn HS khái quát hóa kiến thức bằng BĐTD (bài mới, hệ thốngkiến thức đã học) khi được gọi lên bảng, hay thực hiện trên giấy, hoặc thực hiệntrước ở nhà

Trang 11

2 Đối với học sinh

Biết cách vẽ, thiết kế BĐTD, thể hiện ý tưởng, trang trí thêm sinh động

IV.3 Vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học tích cực ở bộ môn Ngữ văn

1 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp

- Hoạt động 1: Cho HS lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi

ý của giáo viên (qua một chủ đề, từ khóa cho trước)

- Hoạt động 2: HS hoặc đại diện các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết

trình về BĐTD mà nhóm đã thiết lập

- Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện, chia sẻ

kinh nghiệm Giáo viên đóng vai trò cố vấn, định hướng, dẫn dắt HS thực hiện

- Hoạt động 4: Củng cố, tiểu kết (hay tổng kết) lại nội dung vấn đề bằng

một BĐTD đã chuẩn bị sẵn (trình chiếu hoặc qua đồ dùng trực quan khác)

2 Sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:

Trong quá trình dạy học, tùy vào đơn vị kiến thức bài học, tùy vào điềukiện không gian, thời gian hay phương tiện, người giáo viên có thể sử dụngBĐTD để: dạy kiến thức bài mới; củng cố, hệ thống hóa kiến thức cuối mỗi bàihọc hay cuối chương, cuối kỳ, hoặc có thể dùng để ra đề kiểm tra (kiểm tramiệng, kiểm tra viết từ 15 phút trở lên), hay dùng trong tiết ngoại khóa,….Nhưng cơ bản đều có cách tiến hành giống nhau, đó là: giáo viên đưa ra mộtvấn đề (từ khóa) và yêu cầu học sinh vẽ hệ thống kiến thức liên quan, chẳng hạnnhư:

- Khi dạy bài Từ và cấu tạo của từ tiếng Việt (Tiết 3, Ngữ văn lớp 6), giáo

viên cho từ khóa “Từ (xét về mặt cấu tạo)” gồm có những loại nào? Em hãy vẽBĐTD giới thiệu chi tiết về chúng

- Khi dạy bài Đức tính giản dị của Bác Hồ (Tiết 93, Ngữ văn lớp 7), giáo

viên cho từ khóa “Đức tính giản dị của Bác Hồ” và yêu cầu học sinh vẽ BĐTDchi tiết về đức tính giản dị của Bác Hồ thể hiện qua những phương diện nàotrong văn bản

Trang 12

- Khi dạy bài Ôn tập truyện kí Việt Nam (Tiết 38, Ngữ văn lớp 8), giáo

viên cho từ khóa “Truyện kí Việt Nam” và yêu cầu học sinh vẽ BĐTD: kể têncác truyện kí đã học, khái quát về nội dung, nghệ thuật chủ yếu của mỗi tácphẩm

- Để dạy tốt bài Luyện tập sự phát triển của từ vựng (Tiết 25, Ngữ văn

lớp 9), giáo viên có thể cho từ khóa “Các cách phát triển của từ vựng tiếngViệt”, yêu cầu học sinh vẽ BĐTD cụ thể về các cách ấy

Như vậy, rõ ràng có rất nhiều đơn vị bài học, giáo viên có thể sử dụngphương pháp BĐTD để cung cấp kiến thức mới, hoặc củng cố lại kiến thức chohọc sinh, và điều quan trọng là giáo viên biết cách đặt vấn đề, dẫn dắt, hướngdẫn để học sinh phát huy khả năng sáng tạo, tư duy lo-gic của mình trong quátrình chủ động chiếm lĩnh tri thức

Sau đây là một số cách sử dụng BĐTD đã thực hiện hiệu quả:

a Sử dụng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu

kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi

ý cho các em để các em tìm ra kiến thức liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiệnBĐTD Qua BĐTD đó học sinh sẽ ghi nhớ kiến thức bài học một cách dễ dàng

*Ví dụ: Với văn bản: Thầy bói xem voi (Tiết 40, Ngữ văn lớp 6), sau

phần đọc và tìm hiểu chung, giáo viên ghi từ khóa “Thầy bói xem voi” (có một

số từ khóa có thể là tên văn bản) lên trung tâm bảng đen (có thể minh họa bằnghình ảnh vui nhộn, nếu giáo viên có khiếu vẽ), sau đó giáo viên đặt câu hỏi dẫndắt học sinh cùng tìm hiểu, khám phá kiến thức mới:

- Câu hỏi tạo nhánh cấp 1 thứ nhất: Năm ông thầy bói xem voi trong hoàncảnh như thế nào? (lúc này, giáo viên vẽ lên bảng nhánh cấp 1 thứ nhất từ

“Hoàn cảnh”), sau khi học sinh trả lời, cùng thống nhất vấn đề, giáo viên vẽ cácnhánh cấp 2 sinh ra từ nhánh cấp 1 thứ nhất để minh họa cho “hoàn cảnh xemvoi của những ông thầy bói”, cụ thể có 3 nhánh cấp 2 (phát sinh từ nhánh cấp 1thứ nhất) như sau: ế hàng, chưa biết hình thù voi, các thầy mù mắt

Ngày đăng: 03/04/2017, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ minh hoạ, thông qua Imind Map (Nếu giáo viên sử dụng phương tiện trình chiếu – mỗi lần kích chuột sẽ làm xuất hiện một nhánh mang nội dung kiến thức đã soạn sẵn): - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Sơ đồ minh hoạ, thông qua Imind Map (Nếu giáo viên sử dụng phương tiện trình chiếu – mỗi lần kích chuột sẽ làm xuất hiện một nhánh mang nội dung kiến thức đã soạn sẵn): (Trang 13)
Hình 2-Bản đồ tư duy: Tổng kết từ vựng - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Hình 2 Bản đồ tư duy: Tổng kết từ vựng (Trang 14)
Hình vẽ minh họa như sau: - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Hình v ẽ minh họa như sau: (Trang 15)
Hình 4- Bản đồ tư duy: Truyện Kiều - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Hình 4 Bản đồ tư duy: Truyện Kiều (Trang 17)
Hình 5- Bản đồ tư duy: Văn bản Viếng lăng Bác - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Hình 5 Bản đồ tư duy: Văn bản Viếng lăng Bác (Trang 17)
Hình 6- Bản đồ tư duy: Sự phát triển của từ vựng - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Hình 6 Bản đồ tư duy: Sự phát triển của từ vựng (Trang 18)
Hình 7- Bản đồ tư duy: Nhà thơ Nguyễn Du - Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học tích cực ở bộ môn ngữ văn THCS
Hình 7 Bản đồ tư duy: Nhà thơ Nguyễn Du (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w