1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)

193 654 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước phát triển kinh tế xã hội; nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân càng đa dạng, phong phú và càng cao hơn. Sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của khu vực y tế tư nhân đã huy động được những nguồn lực cộng đồng, cung cấp các loại dịch vụ khám bệnh chữa bệnh và phòng bệnh, làm giảm gánh nặng cho khu vực y tế công và đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống y tế; phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đáp ứng mục tiêu “Bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có chất lượng” [100]. Hiện nay, các nước đang phát triển phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép, về bệnh truyền nhiễm và không lây nhiễm đang ngày càng gia tăng. Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới, năm 2014 cho thấy có 387 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [133]; Tương tự, tăng huyết áp cũng gia tăng từ 972 triệu người mắc bệnh năm 2000 (26%) lên đến 1,56 tỷ người vào năm 2025 (29%) [136]. Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện từ năm 1976 đến năm 2012 ở Việt Nam, hàng năm, tỷ lệ người bệnh nhập viện, nhóm các bệnh lây nhiễm giảm từ 55,5% xuống còn 22,9%, các bệnh không lây nhiễm ngày càng tăng từ 42,6% lên 66,3% [21]. Ở Việt Nam, năm 2003 khi có Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân [118] là cơ sở pháp lý, điều kiện hoạt động thuận lợi và phát triển, thích ứng với thực tiễn cơ chế kinh tế thị trường. Đến nay, khu vực y tế tư nhân đã phát triển nhanh, cả về lượng và chất, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Bên cạnh đó, trên thế giới, theo kinh nghiệm ở một số nước phát triển, bác sĩ gia đình đã tỏ ra ưu thế trong việc chăm sóc, theo dõi sức khỏe của người dân toàn diện liên tục, theo vòng đời và các cá thể trong một gia đình bao gồm cả người bệnh và người khỏe [17]; Bộ Y tế nước ta, năm 2013 đã có chủ trương, chiến lược dự án nghiên cứu phát triển hệ thống bác sĩ gia đình trong toàn bộ hệ thống y tế cả nước về y tế công và cả tư nhân [17]. Tuy nhiên, quy mô của các cơ sở y tế tư nhân vẫn còn nhỏ, cũng giống như các nước đang phát triển, chủ yếu là khám, chữa bệnh ngoại trú các bệnh nhẹ và các cơ sở xét nghiệm; còn thiếu chủ động quản lý người bệnh một cách có hệ thống [63]. Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, dân số 1.873.600 người (năm 2014), nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tỉnh có tốc độ đô thị hoá nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện [96], [104]. Nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng, đặc biệt là tỷ lệ các bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp,… tăng lên nhanh chóng, trong khi đầu tư cho y tế để đáp ứng với xu thế này còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong những năm qua, theo báo cáo Sở Y tế Bình Dương, các cơ sở hành nghề y dược tư nhân phát triển mạnh, có trên 400 phòng khám y tư nhân, khám chữa bệnh ban đầu các bệnh nội khoa, bước đầu đã góp phần đáng kể trong công tác chăm sóc hàng trăm người bệnh đến khám hàng ngày [90]. Tuy nhiên, theo Nguyễn Tấn Hùng, điều tra năm 2013, hoạt động của các cơ sở hành nghề tồn tại nhiều hạn chế cần được khắc phục; đa số thụ động khám chữa bệnh, 91,09% kê đơn thuốc ngoại trú đạt quy định; chưa có đủ bác sĩ thực hiện đúng chức năng bác sĩ gia đình là đáp ứng nhu cầu chăm sóc toàn diện cho người bệnh; như thiếu tư vấn đầy đủ, chưa có quản lý người bệnh; chưa khám định kỳ,…[47]. Xuất phát từ những thực trạng trên, nhằm tìm biện pháp hợp lý để các phòng khám tư nhân khám chữa bệnh nội khoa; làm thế nào thực hiện được chức năng bác sĩ gia đình, theo định hướng phát triển y tế của Bộ Y tế về phòng chống bệnh không lây nhiễm, góp phần tích cực cùng với y tế công vào công tác quản lý người bệnh, nâng cao kiến thức và kết quả chữa bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp đạt mục tiêu một cách khoa học, phù hợp thực tế, đáp ứng nhu cầu và hài lòng người bệnh nói riêng; nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng hoạt động các cơ sở hành nghề y tư nhân, tình hình kiến thức và sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh khám chữa bệnh liên quan về đái tháo đường, tăng huyết áp, tỉnh Bình Dương năm 2013. 2. Đánh giá hiệu quả biện pháp phòng khám đa khoa tư nhân quản lý phòng chống đái tháo đường, tăng huyết áp.

Trang 1

-

VÕ THỊ KIM ANH

THỰC TRẠNG HÀNH NGHỀ Y TƯ NHÂN VÀ HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, TĂNG HUYẾT ÁP

Trang 2

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ Danh mục các sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm về hoạt động hành nghề của y tế tư nhân 3

1.2 Một số nghiên cứu về hoạt động của y tế tư nhân trên thế giới và Việt Nam 19

1.3 Thực trạng bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp và công tác phòng chống 28

Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 43

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 44

2.2.2 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu 45

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu can thiệp 52

2.2.4 Phân tích và xử lý số liệu 63

2.2.5 Biện pháp hạn chế sai số 63

2.2.6 Hạn chế của đề tài 64

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 64

2.2.8 Lực lượng tham gia và tổ chức thực hiện 64

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67

3.1 Tình hình hoạt động các cơ sở hành nghề y tế tư nhân, tỉnh Bình Dương 67

3.1.1 Tình hình hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở hành nghề y tư nhân tỉnh Bình Dương (n=484) 67

3.1.2 Tình hình hoạt động khám chữa bệnh của các phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa hệ nội tư nhân, có người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tỉnh Bình Dương (n=201) 74

3.1.3 Đặc điểm của người bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân 81

Trang 3

3.2 Đánh giá hiệu quả biện pháp phòng khám bác sĩ gia đình quản lý phòng chống

bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại phòng khám đa khoa tư nhân Nam Anh 94

3.2.1 Đánh giá hiệu quả tổ chức quản lý 94

3.2.2 Đánh giá hiệu quả can thiệp về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp ở người bệnh được quản lý 99

3.2.3 Đánh giá hiệu quả can thiệp quản lý điều trị về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp (điều tra ngẫu nhiên) 102

3.2.4 Đánh giá sự hài của người bệnh trước và sau can thiệp 107

3.2.5 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh về phòng khám bác sĩ gia đình 113

Chương 4 - BÀN LUẬN 114

4.1 Thực trạng hoạt động của các cơ sở hành nghề y tư nhân 114

4.1.1 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, tỉnh Bình Dương 114

4.1.2 Đặc điểm của người bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân 118

4.1.3 Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh 120

4.1.4 Kiến thức về bệnh đái tháo đường của người bệnh 123

4.1.5 Kiến thức về bệnh tăng huyết áp của người bệnh 125

4.2 Đánh giá hiệu quả biện pháp phòng khám bác sĩ gia đình 128

4.2.1 Đánh giá hiệu quả tổ chức quản lý 128

4.2.2 Đánh giá hiệu quả can thiệp quản lý người bệnh 129

4.2.3 Đánh giá hiệu quả tư vấn, truyền thông giáo dục sức khỏe 134

4.2.4 Đánh giá hiệu quả về sự hài lòng của người bệnh 136

4.2.5 Một số đặc điểm của đề tài nghiên cứu 140

KẾT LUẬN 143 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

BHYT Bảo hiểm y tế

Trang 5

YTTB Y tế thôn bản

TIẾNG ANH

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

1.1 Kết quả hoạt động của bệnh viện tư nhân năm 2008 – 2009 24

1.2 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nhẹ 25

1.3 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nặng 25

1.4 Loại hình hành nghề y tư nhân trên toàn quốc (2010) 27

1.5 So sánh tỷ lệ mắc đái tháo đường ở một số địa phương 33

1.6 So sánh tỷ lệ đái tháo đường theo giới của một số tác giả 34

1.7 Tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở một số địa phương 35

2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tăng huyết áp theo JNC VII 48

3.1 Loại phòng khám y tế tư nhân 67

3.2 Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân phân bố theo địa dư hành chánh 68

3.3 Trình độ chuyên môn 68

3.4 Số năm hành nghề của các cơ sở y tế tư nhân 69

3.5 Mô tả tình trạng nhà của cơ sở hành nghề của phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa 69

3.6 Các cơ sở khám chữa bệnh tham gia tập huấn công tác chuyên môn 70

3.7 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về hành nghề y tế tư nhân 71

3.8 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về công tác khử trùng, tiệt trùng, xử lý rác thải y tế 72

3.9 Tình hình bệnh tật của các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân (n=484) 72

3.10 Tình hình thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các bác sĩ khám chữa bệnh của các cơ sở hành nghề y tư nhân, có người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp (n=484) 73

3.11 Loại phòng khám y tế tư nhân 74

3.12 Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân phân bố theo địa dư hành chánh 74

3.13 Trình độ chuyên môn 75

Trang 7

3.16 Các cơ sở khám chữa bệnh tham gia tập huấn công tác chuyên môn 77

3.17 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về hành nghề y tế tư nhân 78

3.18 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về công tác khử trùng, tiệt trùng, xử lý rác thải y tế 79

3.19 Tình hình bệnh tật của các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân (n=201) 79

3.20 Tình hình thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các bác sĩ khám chữa bệnh của các phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa hệ nội tư nhân, có người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp (n=201) 80

3.21 Đặc điểm dân số, xã hội của người bệnh 81

3.22 Một số chỉ số nhân trắc và cận lâm sàng của người bệnh 82

3.23 Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh 83

3.24 Sự hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh và tư vấn 84

3.25 Một số yếu tố liên quan đến việc khám và điều trị bảo hiểm y tế 85

3.26 Sự phân bố việc loại bảo hiểm được mua theo đặc tính nền 86

3.27 Kiến thức về bệnh đái tháo đường của người bệnh 87

3.28 Các nguồn thông tin về bệnh đái tháo đường của người bệnh 87

3.29 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung đúng về đái tháo đường của người bệnh 88

3.30 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung đúng về đái tháo đường ở người bệnh bằng mô hình hồi quy đa biến (n=402) 89

3.31 Kiến thức về bệnh tăng huyết áp của người bệnh 90

3.32 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung đúng về tăng huyết áp của người bệnh (n=402) 91

3.33 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung đúng về tăng huyết áp ở người bệnh bằng mô hình hồi quy đa biến (n=402) 92

Trang 8

tăng huyết áp năm 2014 - 2015 97

3.36 Đặc điểm dân số của người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp 99

3.37 Đánh giá hiệu quả can thiệp quản lý người bệnh đái tháo đường 100

3.38 Đánh giá hiệu quả can thiệp quản lý người bệnh tăng huyết áp 101

3.39 Đặc điểm dân số của người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp 102

3.40 Đánh giá hiệu quả can thiệp người bệnh đái tháo đường 103

3.41 Đánh giá hiệu quả can thiệp quản lý người bệnh tăng huyết áp 104

3.42 Đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức người bệnh về phòng chống bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp 105

3.43 Đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức người bệnh về phòng chống tăng huyết áp trước và sau can thiệp (điều tra ngẫu nhiên) 106

3.44 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh trước và sau can thiệp tại phòng khám bác sĩ gia đình can thiệp và phòng khám đa khoa chứng 107

3.45 So sánh tỷ lệ hài lòng của người bệnh trước và sau can thiệp tại phòng khám bác sĩ gia đình can thiệp và phòng khám đa khoa chứng 110

3.46 Điểm trung bình hài lòng chung về các yếu tố tại phòng khám bác sĩ gia đình can thiệp và phòng khám đa khoa chứng 112

3.47 Một số yếu tố liên quan đến hài lòng chung của người bệnh sau khi triển khai phòng khám bác sĩ gia đình 113

Trang 9

1.1 Vai trò của y tế tư nhân trong chăm sóc sức khỏe 5

1.2 Thống kê số lượng bệnh viện ở Singapore từ năm 2005 – 2010 20

1.3 Mười quốc gia có số người mắc bệnh đái tháo đường cao 29

1.4 Tỷ lệ tăng huyết áp ở các nước đang phát triển 30

1.5 Tình hình kiểm soát tăng huyết áp ở các nước đang phát triển 31

1.6 Cơ cấu gánh nặng bệnh tật theo các nhóm tuổi, năm 2012 32

3.1 So sánh sự hài lòng của người bệnh về các yếu tố sau can thiệp tại phòng khám bác sĩ gia đình can thiệp và phòng khám đa khoa chứng 111

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ Nội dung Trang 2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp mô hình các cơ sở hành nghề y tư nhân và phòng khám đa khoa quản lý phòng chống bệnh 44

2.2 Thiết kế nghiên cứu can thiệp thực hiện phòng khám bác sĩ gia đình tại phòng khám đa khoa tư nhân 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

Đất nước phát triển kinh tế xã hội; nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân càng

đa dạng, phong phú và càng cao hơn Sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của khu vực y tế tư nhân đã huy động được những nguồn lực cộng đồng, cung cấp các loại dịch vụ khám bệnh chữa bệnh và phòng bệnh, làm giảm gánh nặng cho khu vực y tế công và đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống y tế; phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đáp ứng mục tiêu “Bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có chất lượng” [100]

Hiện nay, các nước đang phát triển phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép,

về bệnh truyền nhiễm và không lây nhiễm đang ngày càng gia tăng Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới, năm 2014 cho thấy có 387 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [133]; Tương

tự, tăng huyết áp cũng gia tăng từ 972 triệu người mắc bệnh năm 2000 (26%) lên đến 1,56 tỷ người vào năm 2025 (29%) [136] Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện từ năm 1976 đến năm 2012 ở Việt Nam, hàng năm, tỷ lệ người bệnh nhập viện, nhóm các bệnh lây nhiễm giảm từ 55,5% xuống còn 22,9%, các bệnh không lây nhiễm ngày càng tăng từ 42,6% lên 66,3% [21]

Ở Việt Nam, năm 2003 khi có Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân [118] là

cơ sở pháp lý, điều kiện hoạt động thuận lợi và phát triển, thích ứng với thực tiễn cơ chế kinh tế thị trường Đến nay, khu vực y tế tư nhân đã phát triển nhanh, cả về lượng và chất, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Bên cạnh đó, trên thế giới, theo kinh nghiệm ở một số nước phát triển, bác sĩ gia đình đã tỏ ra ưu thế trong việc chăm sóc, theo dõi sức khỏe của người dân toàn diện liên tục, theo vòng đời và các cá thể trong một gia đình bao gồm cả người bệnh và người khỏe [17]; Bộ Y tế nước ta, năm 2013 đã có chủ trương, chiến lược dự án nghiên cứu phát triển hệ thống bác sĩ gia đình trong toàn bộ hệ thống y tế cả nước

về y tế công và cả tư nhân [17] Tuy nhiên, quy mô của các cơ sở y tế tư nhân vẫn còn nhỏ, cũng giống như các nước đang phát triển, chủ yếu là khám, chữa bệnh

Trang 11

ngoại trú các bệnh nhẹ và các cơ sở xét nghiệm; còn thiếu chủ động quản lý người bệnh một cách có hệ thống [63]

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, dân số 1.873.600 người (năm 2014), nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tỉnh có tốc độ đô thị hoá nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện [96], [104] Nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng, đặc biệt là tỷ lệ các bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp,… tăng lên nhanh chóng, trong khi đầu tư cho y tế để đáp ứng với xu thế này còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn, thách thức Trong những năm qua, theo báo cáo Sở Y tế Bình Dương, các cơ sở hành nghề y dược tư nhân phát triển mạnh,

có trên 400 phòng khám y tư nhân, khám chữa bệnh ban đầu các bệnh nội khoa, bước đầu đã góp phần đáng kể trong công tác chăm sóc hàng trăm người bệnh đến khám hàng ngày [90] Tuy nhiên, theo Nguyễn Tấn Hùng, điều tra năm 2013, hoạt động của các cơ sở hành nghề tồn tại nhiều hạn chế cần được khắc phục; đa số thụ động khám chữa bệnh, 91,09% kê đơn thuốc ngoại trú đạt quy định; chưa có đủ bác

sĩ thực hiện đúng chức năng bác sĩ gia đình là đáp ứng nhu cầu chăm sóc toàn diện cho người bệnh; như thiếu tư vấn đầy đủ, chưa có quản lý người bệnh; chưa khám định kỳ,…[47]

Xuất phát từ những thực trạng trên, nhằm tìm biện pháp hợp lý để các phòng khám tư nhân khám chữa bệnh nội khoa; làm thế nào thực hiện được chức năng bác

sĩ gia đình, theo định hướng phát triển y tế của Bộ Y tế về phòng chống bệnh không lây nhiễm, góp phần tích cực cùng với y tế công vào công tác quản lý người bệnh, nâng cao kiến thức và kết quả chữa bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp đạt mục tiêu một cách khoa học, phù hợp thực tế, đáp ứng nhu cầu và hài lòng người bệnh nói riêng; nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng hoạt động các cơ sở hành nghề y tư nhân, tình hình kiến thức và sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh khám chữa bệnh liên quan về đái tháo đường, tăng huyết áp, tỉnh Bình Dương năm 2013

2 Đánh giá hiệu quả biện pháp phòng khám đa khoa tư nhân quản lý phòng chống đái tháo đường, tăng huyết áp

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ CỦA Y TẾ TƯ NHÂN VÀ BÁC SĨ GIA ĐÌNH

1.1.1 Khái niệm về y tế tư nhân

Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, y tư nhân (YTN) là tổ chức không

sử dụng ngân sách hoạt động thường xuyên và chủ yếu của Nhà nước Nguồn tài chính là do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư Các cơ sở YTN tại Việt Nam còn được tham gia các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ hoạt động theo quy định của pháp luật Cơ sở YTN có đủ điều kiện khám, chữa bệnh theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về y tế, được phép tổ chức khám chữa bệnh (KCB) cho các đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) [86]

Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân năm 2003 [118], [63] và Thông tư số 07/2007/TT BYT ngày 25/7/2007 của BYT hướng dẫn hành nghề y, y học cổ truyền (YHCT) và trang thiết bị y tế tư nhân (YTTN), quy định các tổ chức hành nghề y tư nhân (HNYTN) tại Việt Nam bao gồm [13]

 Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa

 Phòng khám đa khoa (PKĐK)

 Phòng khám chuyên khoa (PKCK)

 Cơ sở dịch vụ y tế (DVYT), răng giả, tiêm chích thay băng, kính thuốc, dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài

Hành nghề y tư nhân bao gồm hoạt động của các chủ thể cung cấp các dịch vụ

về sức khoẻ ngoài quyền sở hữu của Nhà nước Họ có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, cung cấp các loại dịch vụ cả khám, chữa bệnh và phòng bệnh

Trang 13

1.1.2 Vị trí, vai trò, quá trình hình thành và phát triển của y tế tư nhân trên

thế giới

Y tế tư nhân được xác định bao gồm tất cả các nhà cung cấp dịch vụ y tế nằm ngoài hệ thống y tế nhà nước, bất kể mục tiêu của họ là từ thiện hay thương mại, điều trị bệnh hay phòng bệnh Những năm gần đây, khu vực tư nhân trở nên đóng vai quan trọng trong hệ thống y tế ở nhiều nước đang phát triển [61]

Để chống suy thoái kinh tế và giảm gánh nặng cho ngân sách Quốc gia, nền kinh tế thị trường đã hình thành và phát triển bằng cách sử dụng các chính sách công cộng để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển Chính sách tư nhân hoá bắt đầu với các mục tiêu dễ dàng, từng bước được mở rộng đến các lĩnh vực độc quyền của Nhà nước và các khu vực dịch vụ xã hội trong đó có lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (CSSK) [10]

Tây Âu

Các nước Tây Âu tham gia vào chuyển dịch cơ cấu hệ thống y tế Quốc gia của

họ, để tạo sự cạnh tranh lớn hơn, cung cấp các DVYT tốt hơn, đa dạng hơn, đáp ứng yêu cầu CSSK ngày càng cao của người dân Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) kêu gọi các nước đang phát triển giảm bớt tác động của Y tế Nhà nước, thay vào đó là tập trung tăng cường vai trò của YTN, tạo ra thị trường CSSK cạnh tranh Đây là một trong những điều kiện quan trọng để các nước này nhận được những khoản viện trợ và đầu tư tài chính vào lĩnh vực y tế từ bên ngoài Tất cả những yếu tố này kích thích khu vực tư nhân tham gia cung cấp DVYT để bớt đi gánh nặng cho hệ thống y tế công và giảm bớt áp lực tài chính dành cho y tế của Nhà nước [149]

Đông Nam Á

Ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam Á, tiến hành công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập tăng dẫn đến nhu cầu của người dân đối với chất lượng dịch vụ CSSK cũng tăng theo [12], [124], [142] Điều này nằm ngoài khả năng đáp ứng của Chính phủ, do đó các dịch vụ y tư nhân

đã có cơ hội phát triển [23], [118]

Trang 14

Indonesia, nhóm nghèo nhất

Indonesia, nhóm giàu nhất

Philippines, nhóm nghèo nhất

Philippines, nhóm giàu nhất

Campuchia năm 2005, Indonesia năm 2007, Philippines năm 2003

Điều trị ở khu vực y tế tư nhân Điều trị ở khu vực y tế công

Biểu đồ 1.1 Vai trò của y tế tư nhân trong chăm sóc sức khỏe theo nhóm thu

nhập ở các nước [127]

Sự hình thành và phát triển của hệ thống y tế tư nhân đã đóng góp một phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân

Châu Phi

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, ngân sách Nhà nước dành cho y tế ở nhiều nước tại Châu Phi, cận sa mạc Sahara và Mỹ la tinh giảm tới 50% [12] Vì vậy, ngành Y tế thậm chí không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân

về khám, chữa bệnh Các quốc gia đó đã tìm đến khu vực tư nhân như là một cứu cánh để bổ sung các dịch vụ y tế thiếu hụt của chính họ Các nghiên cứu cho thấy rằng khu vực YTTN ở Châu Phi tham gia vào hoạt động CSSK cho người dân có thu nhập khác nhau, bao gồm cả người nghèo và người dân sống ở vùng nông thôn Tại Ethiopia, Kenya, Nigeria và Uganda, khu vực YTTN đã tham gia CSSK cho

hơn 40% những người trong nhóm có thu nhập thấp nhất [134]

Trang 15

1.1.3 Vị trí, vai trò, quá trình hình thành và phát triển của y tế tư nhân tại

Việt Nam

1.1.3.1 Một số khái niệm và thuật ngữ về hành nghề y tư nhân

Tại Việt Nam, Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ được sửa đổi bằng Nghị quyết số 05/2005/NQCP ngày 18/4/2005 và Nghị định số 73/1999/NĐCP ngày 19/8/1999 của Chính phủ được sửa đổi bằng Nghị định số 53/2006/NĐCP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao đã quy định cơ sở ngoài công lập là cơ sở do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp luật

Như vậy, theo quy định của Chính phủ Việt Nam, YTN là tổ chức không sử dụng ngân sách hoạt động thường xuyên và chủ yếu của Nhà nước Nguồn tài chính

là do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư Các cơ sở YTN tại Việt Nam còn được tham gia các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp

đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ

hoạt động theo quy định của pháp luật Cơ sở YTN có đủ điều kiện khám, chữa bệnh theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về y tế, được phép tổ chức KCB cho các đối tượng có thẻ BHYT

Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân năm 2003 (nội dung hành nghề dược tư nhân đã bị bãi bỏ do Luật Dược năm 2005 đã nhất thể hóa điều kiện hành nghề dược của Nhà nước với hành nghề dược tư nhân nên Pháp lệnh này chỉ còn nội dung HNYTN) và Thông tư số 07/2007/TT BYT ngày 25/7/2007 của BYT hướng dẫn hành nghề y, YHCT và trang thiết bị YTTN, quy định các tổ chức HNYTN tại Việt Nam bao gồm [13]:

- Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa

- PKĐK

Trang 16

- PKCK

- Cơ sở DVYT răng giả, tiêm chích thay băng, kính thuốc, dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài

Định nghĩa, thuật ngữ

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp

giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

- Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm

- Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là chứng chỉ hành nghề)

- Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động)

- Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ

hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là người hành nghề)

- Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ

tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực

Trang 17

hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành

- Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó

Các điều kiện, phạm vi hoạt động chuyên môn HNYTN quy định tại khoản 2, Điều 7 của Nghị định số 103/2003/NĐ-CP và Thông tư số 21/2000/TT-BYT được hướng dẫn cụ thể sau [24], [11]

1.1.4 Vị trí, vai trò, quá trình hình thành và phát triển của bác sĩ gia đình

1.1.4.1 Khái niệm về bác sĩ gia đình

Bác sĩ gia đình là một chuyên ngành y khoa CSSK liên tục và toàn diện cho cá nhân và gia đình, là chuyên khoa tổng hợp sinh học, lâm sàng và khoa học hành vi Phạm vi hoạt động bao gồm mọi lứa tuổi, mọi giới, tất cả các cơ quan, tất cả các hệ thống và bệnh tật [2], [94]

Bác sĩ gia đình là bác sĩ chuyên khoa BSGĐ được đào tạo để thực hành tại y tế tuyến khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và có nhiệm vụ là người chăm sóc đầu tiên và liên tục cho người bệnh cũng như người khỏe theo nguyên tắc đặc thù [2], [94]

1.1.4.2 Sự phát triển của bác sĩ gia đình

Bác sĩ gia đình là bác sĩ đa khoa thực hành, chăm sóc toàn diện và liên tục cho người bệnh, có mối quan hệ lâu dài và bền vững với người bệnh, là những thầy thuốc gắn với dân và gần dân nhất Bác sĩ gia đình là bác sĩ hướng về gia đình, biết

rõ từng người bệnh trong hoàn cảnh và gia đình của họ, xem xét vấn đề sức khỏe của người bệnh trong hoàn cảnh của cộng đồng và lối sống của người đó trong cộng đồng [17]

Mô hình bác sĩ gia đình đã phát triển và nhân rộng ở nhiều nước trên thế giới

từ thế kỷ XX Năm 1960, BSGĐ ra đời ở Mỹ, Anh và một số nước, đã đáp ứng kịp thời nhu cầu CSSK của cộng đồng với sự chuyển đổi mô hình bệnh tật trên toàn cầu Năm 1995, có 56 nước đã phát triển và áp dụng chương trình đào tạo BSGĐ

Trang 18

Hiệp hội BSGĐ toàn cầu (WONCA) đã được thành lập năm 1972 và đến nay đã có gần 100 quốc gia thành viên Hiện nay, mô hình BSGĐ đã được phát triển rộng rãi không chỉ ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Australia, Canada mà cả ở các nước đang phát triển như Philippines, Malaysia, đặc biệt Cu Ba là quốc gia được coi

là một hình mẫu về phát triển mô hình BSGĐ ở các nước đang phát triển [17] Tại Việt Nam, từ ngàn năm nay nhân dân ta có một mạng lưới y tế phục vụ CSSK một cách tự phát Các ông lang, bà mế, bà đỡ, các phòng chẩn trị YHCT, thầy thuốc tư…đã hình thành mạng lưới CSSK gần nhất với người dân tại cộng đồng [17]

Năm 1998, Dự án phát triển đào tạo BSGĐ tại Việt Nam với sự tài trợ bởi quĩ CMB (China Medical Board of New York) được BYT phê duyệt Dự án triển khai đào tạo chuyên ngành BSGĐ tại các trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược TP.HCM, Đại học Y Thái Nguyên [17]

Tháng 3 năm 2000, Bộ Y tế chính thức công nhận chuyên ngành BSGĐ và cho phép đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I BSGĐ Năm 2002, Trung tâm đào tạo BSGĐ được thành lập tại Trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược TP.HCM, Trường Đại học Y Thái Nguyên và bắt đầu triển khai đào tạo chuyên khoa cấp I BSGĐ Đến nay đã có thêm các Trường Đại học Y Hải phòng, Trường Đại học Y Dược Huế, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ triển khai đào tạo chuyên khoa cấp I BSGĐ [17]

Hiện nay các cấp đào tạo BSGĐ tại Việt Nam gồm có 2 đơn vị học trình BSGĐ cho bác sĩ đa khoa 6 năm tại trường đại học chuyên ngành y, chuyên khoa định hướng, chuyên khoa cấp I và cao học [17]

Tháng 6 năm 2002 bệnh án BSGĐ đã được xây dựng; năm 2005 hình thành bệnh án điện tử BSGĐ đầu tiên và áp dụng tại phòng khám BSGĐ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM [17]

Đến nay có hơn 500 bác sĩ chuyên khoa cấp I, 70 bác sĩ định hướng BSGĐ đã được đào tạo Phần lớn các bác sĩ chuyên khoa BSGĐ sau khi tốt nghiệp trở về làm việc ở tuyến y tế cơ sở [17]

Trang 19

Hoạt động BSGĐ bước đầu được tổ chức tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP.HCM, Cần Thơ với các mô hình khác nhau Trung tâm BSGĐ, phòng khám BSGĐ là cơ sở thực hành của các trường đại học chuyên ngành y, phòng khám BSGĐ tư nhân, trạm y tế có hoạt động BSGĐ…Các trung tâm, phòng khám BSGĐ đã tổ chức KCB

và thực hiện các DVYT tại đơn vị hoặc tại nhà theo yêu cầu của người bệnh, thực hiện quản lý theo dõi sức khoẻ cho cả hộ gia đình theo nguyên tắc BSGĐ Tại nhiều phòng khám BSGĐ, người bệnh được tiếp đón ân cần, tư vấn chu đáo, hướng dẫn chuyển tuyến phù hợp, được theo dõi toàn diện cập nhật liên tục diễn biến sức khỏe, bệnh tật, phần lớn người bệnh đến phòng khám BSGĐ được giải quyết mà không phải đến bệnh viện nên đã góp phần giảm quá tải bệnh viện Các trạm y tế tại Khánh Hòa có BSGĐ hoạt động, đã xây dựng và thực hiện quy chế chuyển tuyến có kết nối giữa tuyến huyện và tuyến xã, có phản hồi thông tin người bệnh, góp phần đảm bảo theo dõi và điều trị liên tục, điều trị toàn diện, phối hợp trong chẩn đoán và điều trị,…[17]

Xuất phát từ thực tiễn bước đầu tiếp cận mô hình BSGĐ ở nước ta và kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy nếu phát triển mô hình BSGĐ sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc ban đầu theo hướng toàn diện và liên tục, giúp sàng lọc bệnh tật, chuyển tuyến phù hợp, góp phần giảm quá tải bệnh viện tuyến trên, BYT xây dựng Đề án “Xây dựng và phát triển mô hình phòng khám BSGĐ giai đoạn 2013 - 2020” [17]

Trang 20

1.1.4.4 Vai trò bác sĩ gia đình

Cung ứng chăm sóc nhiều mặt và lồng ghép, liên tục và toàn diện cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, duy trì mối quan hệ tin cậy và lâu dài với người bệnh trên cơ sở cung ứng chăm sóc chất lượng, toàn diện và liên tục

Tham vấn, vận động lối sống lành mạnh, loại bỏ các hành vi nguy cơ đối với bệnh tật, từ đó nâng cao năng lực của cá nhân và nhóm trong việc tự bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của họ

Tạo lòng tin của nhân dân trong cộng đồng, đáp ứng được mong muốn của sức khoẻ cộng đồng, tư vấn cho các nhóm, thiết kế các hoạt động cho cộng đồng

- Mục tiêu chung

Xây dựng và phát triển mô hình phòng khám BSGĐ trong hệ thống y tế Việt Nam nhằm cung cấp dịch vụ CSSK toàn diện, liên tục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng

1.1.4.5 Điều kiện hoạt động của phòng khám bác sĩ gia đình

Phòng khám BSGĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây mới được cấp phép hoạt động

Trang 21

Riêng đối với kỹ thuật nội soi tiêu hóa phải có thêm giấy xác nhận đã có thời gian thực hành về nội soi tiêu hóa ít nhất từ 18 tháng trở lên tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến tỉnh trở lên

Cơ sở vật chất

Xây dựng và thiết kế

 Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;

 Đảm bảo có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng;

 Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải

sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;

 Có nơi đón tiếp người bệnh;

 Có buồng khám bệnh, chữa bệnh diện tích ít nhất là 10m2;

 Có buồng truyền thông, tư vấn sức khỏe;

 Có buồng xét nghiệm, thăm dò chức năng

Ngoài quy định trên, tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng khám phải đáp ứng thêm các điều kiện sau

 Có buồng thủ thuật với diện tích ít nhất là 10m2 nếu có thực hiện thủ thuật;

 Có buồng vận động trị liệu có diện tích ít nhất là 40m2 nếu thực hiện vận động trị liệu, phục hồi chức năng;

Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật; bảo đảm vô trùng đối với buồng thực hiện thủ thuật;

Bảo đảm có đủ điện, nước, khu vệ sinh và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh

Trang 22

1.1.4.6 Chức năng, nhiệm vụ, quyền lợi phòng khám bác sĩ gia đình

- Khám bệnh, chữa bệnh

Sơ cứu, khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh thường gặp;

Thực hiện việc CSSK, sàng lọc phát hiện sớm bệnh, tật và khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám và tại nhà người bệnh;

Tham gia hệ thống chuyển tuyến là cơ sở đầu tiên trong hệ thống chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh, có trách nhiệm giới thiệu và chuyển người bệnh đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác khi có yêu cầu về chuyên môn; tiếp nhận người bệnh từ các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác chuyển đến để tiếp tục chăm sóc và điều trị;

Tham gia các dịch vụ CSSK cuối đời

- Phòng bệnh, CSSK ban đầu

Tham gia giám sát, phát hiện sớm dịch bệnh trong cộng đồng dân cư;

Tham gia các chương trình tiêm chủng, các CTYT quốc gia;

Hướng dẫn VSMT, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống dịch bệnh lây nhiễm và BKLN;

Tham gia quản lý bệnh nghề nghiệp, CSSK bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi, khám sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm bệnh tật; có hồ sơ theo dõi sức khỏe toàn diện liên tục cho cá nhân và gia đình theo quy định của BYT

- Phục hồi chức năng và nâng cao sức khỏe

 Tổ chức phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho các đối tượng có nhu cầu;

 Thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng, vật lý trị liệu tại phòng khám;

 Hướng dẫn luyện tập sức khỏe, phục hồi chức năng và dưỡng sinh cho cộng đồng để nâng cao sức khỏe

- Tư vấn sức khỏe

 Tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp về khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh, CSSK cho người dân và cộng đồng;

Trang 23

 Tham gia truyền thông, giáo dục sức khỏe để góp phần nâng cao nhận thức của người dân về phòng bệnh tích cực và chủ động, phòng ngừa các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh, tật

- Nghiên cứu khoa học và đào tạo

- Nghiên cứu khoa học về BSGĐ và các vấn đề liên quan;

- Tham gia công tác đào tạo chuyên ngành BSGĐ;

- Tham gia các chương trình đào tạo liên tục của chuyên ngành BSGĐ để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn

1.1.4.7 Phạm vi hoạt động chuyên môn

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của phòng khám BSGĐ, giám đốc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt phạm vi hoạt động chuyên môn trên cơ

sở năng lực thực tế của người hành nghề, điều kiện thiết bị y tế và cơ sở vật chất của phòng khám theo quy định của BYT

Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động phòng khám BSGĐ

Xây dựng phần mềm tin học quản lý các thông tin về sức khỏe của cá nhân, gia đình và cộng đồng; kết nối mạng giữa phòng khám BSGĐ với người bệnh, với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở y tế khác

1.1.4.8 Sự tác động của bác sĩ gia đình lên y tế tư nhân

Ở nước ta, mô hình BSGĐ mới được triển khai trong những năm gần đây, bước đầu đã đem lại một số kết quả nhất định Vừa qua, BYT đã tổ chức hội nghị sơ kết đánh giá đề án thí điểm và xây dựng đề án nhân rộng mô hình BSGĐ giai đoạn

2016 - 2020 Triển khai mô hình này giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đáp ứng nhu cầu CSSK ngày càng cao của người dân, góp phần giảm tải

Trang 24

các phòng khám bệnh, giảm người bệnh nằm viện, tiết kiệm thời gian, công sức đi lại, phí tổn cho người bệnh và gia đình

Bác sĩ gia đình phải là người được cấp chứng chỉ hành nghề KCB chuyên ngành BSGĐ, có nhiệm vụ quản lý sức khoẻ toàn diện, liên tục, lồng ghép, dự phòng, phối hợp với cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng theo các nguyên lý Tâm Sinh Xã hội học (Psycho Bio Social)

Hiện nay quá tải bệnh viện đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc, đòi hỏi phải có giải pháp can thiệp hiệu quả Quá tải bệnh viện dẫn đến giảm chất lượng phục vụ và chăm sóc sức khoẻ người dân

1.1.5 Điều kiện và phạm vi hoạt động chuyên môn hành nghề y tư nhân

Các điều kiện, phạm vi hoạt động chuyên môn HNYTN quy định tại khoản 2, Điều 7 của Nghị định số 103/2003/NĐCP được hướng dẫn cụ thể [24]

1.1.5.1 Điều kiện và phạm vi chuyên môn hành nghề đối với phòng khám đa

khoa

- Điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất

PKĐK là cơ sở khám, chữa bệnh gồm nhiều PKCK (ít nhất có 2) do một giám đốc phụ trách chung

Người đứng đầu phải có chứng chỉ hành nghề KCB được đăng ký PKĐK; Trưởng phòng khám các chuyên khoa phải là bác sĩ đã thực hành 5 năm ở cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh trong đó có 3 năm thực hành chuyên khoa; người làm công việc chuyên môn phải bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định tại mục VIII của Thông tư này;

Các PKCK trong PKĐK phải bảo đảm đủ diện tích, dụng cụ, trang thiết bị y tế

và điều kiện như PKCK theo quy định của Thông tư này Ngoài quy định trên, PKĐK phải có nơi đón tiếp và có các phòng cấp cứu với diện tích ít nhất là 12m2, phòng lưu bệnh với diện tích ít nhất là 18m2 và có chiều cao không thấp hơn 3,1m (không lưu người bệnh quá 24 giờ), có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu theo chuyên khoa đăng ký;

Trang 25

Có giấy chứng nhận về phòng cháy chữa cháy; có hợp đồng xử lý rác y tế hoặc

có lò đốt rác y tế đạt tiêu chuẩn cho phép, rác sinh hoạt; có giấy phép sử dụng máy X.Quang y tế (nếu có máy X.Quang)

- Phạm vi hành nghề

Hành nghề theo danh mục của các chuyên khoa đã được Sở Y tế phê duyệt

1.1.5.2 Điều kiện và phạm vi chuyên môn hành nghề đối với phòng khám nội tổng hợp, phòng khám bác sĩ gia đình, các phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội, phòng tư vấn khám, chữa bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế

- Điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất

Người đứng đầu phải có chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh theo yêu cầu của từng loại hình thức tổ chức hành nghề;

Người làm công việc chuyên môn phải bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định tại mục VIII của Thông tư này;

Phòng khám nội tổng hợp, các PKCK thuộc hệ nội, phòng khám gia đình phải

có đủ dụng cụ, trang thiết bị y tế phù hợp phạm vi hành nghề, có hộp thuốc chống choáng và có đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa nội;

Phải có 1 phòng khám riêng biệt, có diện tích ít nhất là 10m2 và có chiều cao không thấp hơn 3,1m Phòng khám phải tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;

Bảo đảm các điều kiện xử lý chất thải và VSMT theo quy định của pháp luật.Muốn hạn chế các nguy cơ sức khoẻ do môi trường, các cơ sở y tế cần phải làm tất

cả các mặt công tác vệ sinh, giữ cho bệnh viện luôn luôn sạch đẹp quy củ, thực hiện nghiêm túc các quy chế quản lý rác thải của BYT, tiêu chuẩn Quốc gia về VSMT Đồng thời làm tốt công tác thông tin tuyên truyền vệ sinh cho nhiều đối tượng sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người từ bệnh nhân tới NVYT và dân cư sinh sống xung quanh [9], [112]

Phòng khám nội tổng hợp, các PKCK thuộc hệ nội, phòng khám gia đình nếu

có siêu âm, nội soi thì phải có phòng siêu âm, phòng nội soi tiêu hóa riêng, diện tích mỗi phòng ít nhất là 10m2 và có chiều cao không thấp hơn 3,1m;

Trang 26

Phòng tư vấn khám, chữa bệnh qua điện thoại không phải thực hiện quy định tại điểm b, c, d, đ, e điểm 3.1 khoản 3 của Mục này;

Phòng tư vấn CSSK qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế phải nằm trong PKĐK hoặc bệnh viện đa khoa, có đủ các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông, thiết bị y tế phù hợp, bảo đảm chính xác, đáp ứng yêu cầu tư vấn về CSSK

Phòng khám nội tổng hợp được phép sử dụng các kỹ thuật về điện tim, siêu

âm, điện não đồ, nội soi tiêu hóa để phục vụ hoạt động của Phòng khám trong phạm

vi chuyên môn cho phép;

Điện tim, siêu âm, nội soi tiêu hóa, điện não đồ (không cần phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề riêng, nhưng người đứng đầu hoặc bác sĩ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật này phải có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của cơ sở khám, chữa bệnh tương đương cấp tỉnh, thành phố trở lên và có giấy xác nhận đã qua thực hành về chuyên khoa từ 2 năm trở lên tại cơ sở khám, chữa bệnh

1.1.5.3 Điều kiện và phạm vi chuyên môn hành nghề đối với phòng khám bác sĩ

gia đình

Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của PKBSGĐ thuộc phòng khám

đa khoa tư nhân Tư vấn sức khỏe, CSSK tại phòng khám và tại nhà người bệnh;

Sơ cứu, khám và điều trị các bệnh thông thường hệ nội khoa, không làm các thủ thuật chuyên khoa; những trường hợp vượt khả năng, chuyển đến PKCK hay tuyến trên;

Trang 27

Điện tim, siêu âm, nội soi tiêu hóa, điện não đồ (không cần phải cấp giấy chứng nhận riêng, nhưng người đứng đầu hoặc bác sĩ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật này phải có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tương đương cấp tỉnh, thành phố trở lên và có giấy xác nhận

đã qua thực hành về chuyên khoa từ 2 năm trở lên tại cơ sở khám, chữa bệnh

Các PKCK thuộc hệ nội Khám bệnh, chẩn đoán, điều trị các bệnh thuộc chuyên khoa đã được phê duyệt;

Phòng tư vấn khám, chữa bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn CSSK qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế Bác sĩ chỉ tư vấn những chuyên khoa đã được đăng ký và được đào tạo

Theo Điều 3, gồm có [19]:

 Phòng khám BSGĐ tư nhân Phòng khám BSGĐ thuộc PKĐK tư nhân; Phòng khám BSGĐ độc lập do cá nhân BSGĐ thành lập và đăng ký hoạt động

 Phòng khám BSGĐ thuộc khoa khám bệnh của bệnh viện đa khoa

 Trạm y tế xã lồng ghép, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của phòng khám BSGĐ

Trang 28

Tóm lại

Hoạt động BSGĐ sẽ giảm bớt gánh nặng thời gian và công việc cho các bác

sĩ chuyên khoa liên quan và mang lại hiệu quả kinh tế cho người bệnh, gia đình và

xã hội; tăng sự hợp tác phối hợp điều trị giữa người bệnh và nhân viên y tế, giảm đi những vấn đề bức xúc của xã hội;

Trên cơ sở khoa học và thực tiễn này chúng tôi đang tiến hành can thiệp thành lâp phòng khám BSGĐ của PKĐK tư nhân Nam Anh góp phần quản lý, phòng chống BKLN như đái tháo đường và THA hiệu quả hơn cho người bệnh hiện nay

1.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA Y TẾ TƯ NHÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.2.1 Tình hình hoạt động của y tế tư nhân ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Hệ thống y tế tư nhân tại Thái Lan

Các trung tâm về điều trị các bệnh nhiệt đới và truyền nhiễm, phẫu thuật tim mạch, phẫu thuật thẩm mỹ, chấn thương, chỉnh hình, nha khoa và thủy tinh thể tại Thái Lan ngày càng phát triển Đặc biệt hiện nay người bệnh nước ngoài đang trở thành một nguồn thu nhập chủ yếu cho các bệnh viện tư nhân ở Thái Lan Chi phí sinh hoạt ở Thái Lan thấp hơn so với các nước khác như Nhật Bản, Châu Âu và Mỹ, làm cho giá dịch vụ điều trị y tế ở Thái Lan rẻ hơn nhưng chất lượng lại tốt hơn vì thế mà có nhiều người bệnh nước ngoài tìm đến [53]

Các bệnh viện tư nhân ở Thái Lan có một đội ngũ nhân viên y tế có trình độ và năng lực cao, các bác sĩ và các chuyên gia giỏi được đào tạo ở nước ngoài Nhiều bệnh viện tư nhân đã thiết lập quan hệ đối tác với các trường đại học quốc tế hàng đầu về y tế và CSSK, cả các tổ chức ở châu Âu và Hoa Kỳ Ngoài ra, rất nhiều bệnh viện tư nhân Thái Lan đã được công nhận và đạt được các tiêu chuẩn của Hiệp hội Bệnh viện (HACC) của Thái Lan như ISO 9002, ISO 900.2000, ISO 14001, ISO 18.000 và đạt được các tiêu chuẩn của WHO

1.2.1.2 Y tế tư nhân tại Singapore

Singapore có một hệ thống y tế trải rộng và hiệu quả Chính phủ Singapore đã

Trang 29

tạo ra một môi trường cạnh tranh khá bình đẳng giữa khu vực công và khu vực tư Chính phủ đã xây dựng được mạng lưới an sinh dựa trên BHYT và tiết kiệm y tế theo nguyên tắc đồng chi trả Người bệnh ở Singapore có nhiều cơ hội lựa chọn cơ

sở KCB cho mình Người bệnh được tự do lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh nhà nước hoặc tư nhân và nếu không phải là cấp cứu, người bệnh có thể đến khám tại bất kỳ phòng khám tư nhân hoặc nhà nước nào Đây là chính sách quan trọng để thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn tài chính từ bảo hiểm [95]

Bệnh viện công Bệnh viện tư Chung

Biều đồ 1.2 Thống kê số lượng bệnh viện ở Singapore từ năm 2005 – 2010 [154]

Nhờ các chính sách khuyến khích của Chính phủ, kèm theo nhu cầu CSSK của nhân dân ngày càng tăng, khu vực YTN ngày càng phát triển lớn mạnh Singapore hiện nay có số bệnh viện tư nhân là 50% số bệnh viện trên tổng số bệnh viện trong toàn quốc trong năm 2010 [154]

1.2.1.3 Y tế tư nhân tại Indonesia

Trong năm 1990, Chính phủ Indonesia đã thông qua một chính sách là hạn chế việc xây dựng các bệnh viện công Số lượng người bệnh nội trú của khu vực YTN

ưu thế hơn so với khu vực công, bệnh viện tư nhân 67,0% trong tổng số bệnh viện trong toàn quốc, các bệnh viện tư nhân phát triển nhanh chóng; chi tiêu tài chính trong khu vực YTN 2/3 tổng số kinh phí dành cho chăm sóc y tế trong toàn quốc

Trang 30

1.2.1.4 Y tế tư nhân tại Malaysia

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (1996 - 2000) của Malaysia đã ghi rõ, Chính phủ sẽ giảm dần vai trò, trách nhiệm trong việc cung cấp DVYT và chuyển dần sang cho khu vực y tư nhân đảm nhận

Tại Malaysia, khu vực y tế công 78,0% tổng số giường bệnh trong toàn quốc nhưng số lượng bác sĩ trong khu vực y tế công chỉ 58,0% Với tốc độ phát triển như hiện nay, Chính phủ Malaysia đang kỳ vọng đến năm 2020, số giường bệnh trong khu vực y tư nhân sẽ 50,0%

1.2.1.5 Y tế tư nhân tại Philippine

Hiện nay 3/5 số bệnh viện, khoảng 50% số giường bệnh và 3/5 số bác sĩ tập trung trong khu vực YTN; hàng năm có khoảng 52,4% khách hàng sử dụng DVYT công, 41,1% sử dụng dịch vụ YTN (phòng khám tư 22,8 % và bệnh viện tư 18,3%)

và số người bệnh còn lại (6,5%) sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

Ở Philippine y tư nhân chủ yếu tập trung ở các đô thị, thành phố lớn, 2/3 số người hành nghề YTN tập trung ở thủ đô Manila, hoạt động của YTN tập trung chủ yếu vào lĩnh vực KCB Chính phủ vẫn đóng vai trò quan trọng và chính yếu trong việc cung cấp các DVYT công cộng, trong phòng bệnh, các chương trình tiêm chủng, phòng chống các bệnh xã hội, truyền nhiễm và cung cấp các DVYT cho người nghèo, người già, các đối tượng xã hội khác, các vùng nông thôn, xa xôi, hẻo lánh, những lĩnh vực mà YTN không tham gia, hoặc tham gia với vai trò thứ yếu

1.2.1.6 Hệ thống y tế tư nhân ở Hàn Quốc

Sự phát triển của y tế tư nhân tại Hàn Quốc chủ yếu theo định hướng lợi nhuận Các bác sĩ tư là những nhà cung cấp DVYT chủ yếu, bác sĩ công thành phần rất nhỏ [53] Hàn Quốc bắt đầu định hướng chính sách tư nhân hoá y tế từ những năm đầu của thập kỷ 80 Lúc đầu là việc giảm tỷ lệ bệnh viện công từ 14,0% (1982) xuống 5,0% (1984) [53]

Bảo hiểm y tế ở Hàn Quốc có chủ trương bao phủ toàn dân từ năm 1977, đến năm 1989 BHYT phát triển rất mạnh trở thành động lực để phát triển hệ thống y tế Ngay từ đầu, BHYT đã đầu tư mạnh mẽ vào phát triển y tư nhân

Trang 31

1.2.1.7 Y tế tư nhân ở Trung Quốc

Sự phát triển của y tế tư nhân tại Trung Quốc có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội Chính phủ Trung Quốc đã và đang tạo

ra khuôn khổ pháp lý và công cụ điều tiết hiệu lực, tạo lập thúc đẩy cơ hội bình đẳng giữa khu vực công và tư, xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể công và tư cạnh tranh với nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực và cung ứng dịch vụ y tế cho người dân [95], [137]

Ngày nay, y tư nhân tại Trung Quốc tham gia cung cấp tất cả các DVYT, khu vực YTN đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ khám, chữa bệnh

và phòng bệnh Các bệnh viện tư nhân ở Trung Quốc có sự tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây Năm 2014 Trung Quốc có khoảng 11.737 bệnh viện tư nhân, tăng từ 27% năm 2008 lên 47% năm 2014 [155]

1.2.1.8 Y tế tư nhân tại Mỹ

Hệ thống y tế của Mỹ bao gồm y tế công lập và y tư nhân, trong đó y tư nhân đóng vai trò thống trị, vượt trội hơn hẳn so với y tế công lập Các nghiên cứu so sánh chi phí y tế tại Mỹ đều cho kết luận giống nhau là chi phí điều trị tại các cơ sở

y tế kinh doanh vì lợi nhuận đắt hơn so với các cơ sở y tế hoạt động phi lợi nhuận Một nghiên cứu tổng quan về chi phí điều trị của bệnh viện tại Mỹ cho thấy, chi phí điều trị tại các cơ sở YTN vì lợi nhuận cao hơn so với chi phí điều trị khu vực y tế không công Một nghiên cứu khác, đăng trên tạp chí British Medical Journal cho thấy, chi phí phẫu thuật mạch vành tại các bệnh viện tư ở Mỹ cao hơn các bệnh viện công tới 91,0 [123]

Trong bối cảnh nước Mỹ trở thành quốc gia có chi phí y tế đắt đỏ nhất thế giới với mức bình quân trên 7.000 USD/một người trong một năm và 45 triệu người Mỹ tương đương với 15% dân số khó tiếp cận DVYT do không có BHYT, việc ban hành đạo luật cải cách y tế của ông Obama được trông đợi như một trong những thay đổi mà nước Mỹ cần phải có Đạo luật Bảo vệ Người bệnh và Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền thường được gọi là Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền hoặc Obamacare, là một đạo luật liên bang Hoa Kỳ đã được Tổng thống Barack

Trang 32

Obama ký thành luật ngày 23 tháng 3 năm 2010, đặt dấu ấn quan trọng đối với chương trình cải cách y tế vốn bị đình trệ hàng chục năm qua tại Mỹ Đạo luật này nhằm mục đích nâng cao chất lượng và khả năng chi trả của BHYT, giảm tỷ lệ không có bảo hiểm bằng cách mở rộng phạm vi bảo hiểm công và tư nhân và giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho cá nhân và chính quyền [123]

Hiện nay hệ thống y tế Mỹ đã phát triển thêm về y học gia đình, các bệnh viện

có khoa y học gia đình và hệ thống mạng lưới y học gia đình tại nhiều cơ sở khám bệnh trên cả nước; thành lập trung tâm y học gia đình đào tạo và nhân rộng trên nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam; Việt Nam đã học tập và triển khai

áp dụng phát triển y học gia đình tại các trường đại học y khoa và đào tạo chuyên khoa I bác sĩ y học gia đình cho các bác sĩ ở các tuyến y tế cơ sở; các bác sĩ sau khi đào tạo, phải có chứng chỉ hành nghề bác sĩ gia đình do Sở Y tế cấp [17]

1.2.2 Tình hình hoạt động của y tế tư nhân ở Việt Nam

1.2.2.1 Sự phát triển của y tế tư nhân ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ khi được chính thức hợp pháp hoá hoạt động, YTN đã góp phần không nhỏ vào cung cấp các loại dịch vụ, cả khám, chữa bệnh và phòng bệnh Kết quả từ 2 cuộc điều tra trên quy mô lớn của Việt Nam về mức sống dân cư vào năm 1993 và vào năm 1997 cho thấy có đến 60,0% số người ốm đã đến các cơ sở YTN để khám, chữa bệnh Theo quy hoạch từ năm 2006 của Chính phủ, đến năm

2010, cả nước phải có trung bình 2 giường bệnh của bệnh viện tư nhân/10.000 dân (tức cả nước có 16.000 giường bệnh tư nhân) và đến 2020, phải có 5 giường bệnh của bệnh viện tư /10.000 dân (tức cả nước có 40.000 giường bệnh tư nhân) Tuy nhiên đến năm 2009, con số trên mới chỉ ở mức 0,7 giường bệnh/10.000 dân Bình quân về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho một giường bệnh của các bệnh viện tư là 596,3 triệu đồng, thấp nhất là 13,42 triệu đồng, cao nhất là 6.906 triệu đồng [15] Hầu hết các cơ sở YTN có đủ trang thiết bị, dụng cụ y tế tối thiểu phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép Một số cơ sở YTN đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị hiện đại trong chẩn đoán và điều trị như máy chụp cắt lớp điện toán (CT Scanner), máy chụp cộng hưởng từ (MRI), máy chẩn đoán phóng xạ, máy siêu

Trang 33

âm Doppler màu, máy siêu âm 4 chiều, nội soi chẩn đoán, nội soi phẫu thuật, máy tán sỏi ngoài cơ thể, máy chạy thận nhân tạo và các kỹ thuật cao như mổ Phaco, Laser excimer

Năm 2008, các bệnh viện tư nhân đã thực hiện được 4.957.286 lượt khám bệnh cho các người bệnh, số lượt khám bệnh này đến năm 2009 là 6.098.933 lượt

đã tăng 1.141.647 lượt Số lượt khám bệnh phán ánh mức độ sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng, gia tăng khoảng 23% số lượt khám bệnh Sự gia tăng về tổng số lượt khám bệnh đã thể hiện mức độ hài lòng của người bệnh [63]

Bảng 1.1 Kết quả hoạt động của bệnh viện tư nhân năm 2008 – 2009 [63] STT Các chỉ tiêu/năm Đơn vị Năm 2008 Năm 2009 Chênh lệch

5 Số lượt điều trị nội trú Lượt 320.226 415.111 94.885

Nghiên cứu của Lê Vũ Anh và cộng sự cho thấy giá cả dịch vụ của các cơ sở YTN hiện nay vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước [5] Cơ chế xây dựng giá của YTN rất linh hoạt nhưng thường không dựa trên sự tính toán cụ thể chi phí, mà thường dựa theo giá dịch vụ các cơ sở y tế công rồi lấy thấp hơn hoặc cao hơn tuỳ theo từng cơ sở và mức đầu tư mà họ cho là phù hợp Như vậy, việc đặt giá của các

cơ sở YTN không theo một quy chuẩn nào, thậm chí là vô lý, người bệnh không biết giá trị thực của dịch vụ mà họ phải chi trả khi sử dụng Do quy mô dịch vụ của các cơ sở YTN rất khác nhau nên giá cả cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các cơ

sở Tuy vậy, nếu xét một cách tương đối, YTN cũng coi giá của các cơ sở YTN lân cận làm mức điều chỉnh Nói chung, hiện nay người dân chấp nhận mức giá của các

Trang 34

cơ sở YTN, đặc biệt là cơ chế thanh toán khá mềm dẻo như có thể trả sau hoặc bằng hiện vật Do đó, tỷ lệ người dân nói chung, cũng như người nghèo tiếp cận được với YTN khá cao

Nghiên cứu về tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục được tiến hành trên địa bàn 3 tỉnh Đắc Lắc, Hà Tĩnh và Lai Châu cho thấy người dân sử dụng dịch vụ YTTN là 53,6%, sử dụng dịch vụ từ cơ sở y tế công lập ở các cấp địa phương như trạm y tế, trung tâm y

tế liên xã, trung tâm y tế huyện là 46,4% [1].Thu nhập của hộ gia đình và tình trạng bệnh của người bệnh có ảnh hưởng mạnh tới việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh

Sự khác biệt này được thể hiện qua hai bảng sau đây:

Bảng 1.2 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nhẹ [1]

Trang 35

phí khám chữa bệnh thấp, độ tin cậy của các cơ sở y tế công cao hơn khi chữa các loại bệnh nặng và cơ sở này chấp nhận BHYT Các hộ nghèo hầu như không lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh từ các cơ sở y tế xã hội hóa nếu họ bị các bệnh nặng Điều này cũng tương tự như là các hộ có thu nhập trung bình và thu nhập cao khi tỷ

lệ hộ lựa chọn cơ sở xã hội hóa để khám, chữa bệnh thấp Còn khi mắc bệnh nhẹ, các cơ sở y tế xã hội hóa cũng đáp ứng được nhu cầu của người bệnh, tuy nhiên tỷ

lệ còn hạn chế và hầu như cũng không phải là lựa chọn của người nghèo Kết quả cho thấy rằng đối tượng người nghèo không phải là khách hàng mục tiêu và cũng chẳng phải là đối tượng phục vụ của các cơ sở y tế xã hội hóa Chi phí khám chữa bệnh là rào cản lớn cản trở việc lựa chọn dịch vụ từ cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập

Mặc dù có những ưu điểm nổi bật của YTN trong khám, chữa bệnh như đã đề cập ở trên nhưng chất lượng chăm sóc vẫn là một vấn đề rất quan trọng Một trong các vấn đề lớn nhất của YTN ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam là việc kê đơn bất hợp lý và bán thuốc tràn lan, chính điều này đã góp phần gây ra tình trạng kháng thuốc cũng như tăng tỷ lệ mắc tác dụng phụ Thêm vào đó do thiếu các trang thiết bị cũng như kiến thức chung về y tế cộng đồng, việc chẩn đoán và điều trị của các thầy thuốc tư nhân cũng có nhiều bất cập

Như vậy, tổng kết các tài liệu nghiên cứu đã làm nổi bật lên một xu hướng điển hình ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam Đó là mặc dù Chính phủ có một mạng lưới y tế khá rộng, nhưng người giàu cũng như người nghèo vẫn tiếp tục tìm đến khu vực YTN, đặc biệt để chữa trị những căn bệnh nhạy cảm Tuy vậy, chất lượng dịch vụ của YTTN còn là một vấn đề đáng được quan tâm

Nghiên cứu của tác giả Thạch Ngọc Trình (2011) cho thấy để phát huy những mặt tích cực và khắc phục những tồn tại của hoạt động y, dược tư nhân, tạo điều kiện cho họ góp phần vào công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngoài việc tăng cường công tác quản lý, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra để nhắc nhở, uốn nắn các sai phạm, cần phải thường xuyên tổ chức cho các đối tượng học tập về quy chế chuyên môn, kiến thức pháp luật, nâng cao nhận thức quyền và nghĩa

Trang 36

vụ của người thầy thuốc, nâng cao y đức, y đạo đồng thời phải thực sự quan tâm đến công tác quản lý y tế, xem đó là nhiệm vụ thường xuyên của ngành y tế và thực

Trang 37

1.3 THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, TĂNG HUYẾT ÁP VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG

1.3.1 Một số khái niệm về bệnh không lây nhiễm, đái tháo đường, tăng huyết

áp

Khái niệm về bệnh không lây nhiễm (BKLN) “các bệnh không truyền nhiễm” cũng là một phạm trù rộng có tính quy ước tương đối, thuật ngữ này chỉ toàn bộ các bệnh tật hoặc trạng thái bất thường về sức khỏe của cộng đồng, nhưng không do các loài vi sinh có khả năng lây truyền gây ra

Bệnh không lây nhiễm được coi là những bệnh có nguyên nhân phức tạp, do nhiều yếu tố nguy cơ gây nên, diễn biến trong một thời gian dài, có thể gây ra tàn tật

và trong phần lớn các trường hợp là không thể khỏi hoàn toàn Mặc dù có nhiều loại BKLN khác nhau, tuy nhiên Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới tập trung vào một số các BKLN chủ yếu sau [10]: Các bệnh tim mạch (THA, đột quỵ), các bệnh ung thư, ĐTĐ (chủ yếu là type 2) Các BKLN thường có chung các yếu tố nguy cơ và được chia thành 3 nhóm như sau [10]

Các yếu tố nguy cơ về hành vi bao gồm hút thuốc lá, lạm dụng rượu, dinh dưỡng (chế độ ăn ít rau, nhiều thịt) và các thói quen sống ít vận động

Các yếu tố môi trường bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, và môi trường văn hoá - xã hội

Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được gồm: tuổi, giới tính, chủng tộc

- Yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm

Bệnh không lây nhiễm không chỉ có một nguyên nhân và cũng không thể xác định được đầy đủ nguyên nhân Có nhiều cách để phân loại yếu tố nguy cơ Ví dụ

có thể phân lọai theo yếu tố nguy cơ có khả năng can thiệp dự phòng và yếu tố nguy

cơ không thể dự phòng

Tuy nhiên, cách phân nhóm yếu tố nguy cơ theo đặc thù sinh học, lối sống, môi trường sống là phổ biến hơn Theo đó có ba nhóm yếu tố nguy cơ chính sau Nhóm hành vi lối sống

Nhóm các yếu tố môi trường

Trang 38

Nhóm các yếu tố sinh học

1.3.2 Tình hình một số bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp trên thế giới và

Việt Nam

1.3.2.1 Tình hình một số bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp trên thế giới

Tình hình bệnh đái tháo đường trên thế giới

Bệnh đái tháo đường có xu hướng gia tăng không ngừng trong suốt nhiều năm qua với tỷ lệ ĐTĐ cao ở độ tuổi 20-79 tuổi tại bất kỳ quốc gia giàu hay nghèo trên thế giới [132] Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới năm 2014 cho thấy

cứ 12 người thì có 1 người mắc bệnh ĐTĐ và cứ 7 giây thì có 1 người chết vì bệnh ĐTĐ [133] Trong năm 2014 có 387 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và 77% trong số này chủ yếu sinh sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [133] Tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tăng từ 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014 [152]

Biểu đồ 1.3 Mười quốc gia có số người mắc bệnh đái tháo đường cao trong độ

tuổi từ 20 – 79 tuổi, năm 2013 [132]

Nghiên cứu của Shaw JE và cộng sự (2010) ước tính số người ĐTĐ trên thế giới năm 2010 và 2030 Nghiên cứu thực hiện từ 91 quốc gia để xác định tỷ lệ ĐTĐ

7 cho tất cả 216 quốc gia năm 2010 và 2030 dựa theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới (WHO) và hội đái tháo đường Mỹ, nhóm tuổi từ 20-79 Kết quả cho thấy:

tỷ lệ ĐTĐ trên toàn thế giới ở người trưởng thành 20-79 là 6,4% (285 triệu người)

và tăng lên 7,7% (439 triệu người) năm 2030 Từ năm 2010 và 2030 có 69% người

98,4

65,1

24,4 11,9 10,9 8,7 8,5 7,6 7,5 7,20

Ấn Độ Hoa Kỳ Brazil Nga Mêxico Indonesia Đức Ai Cập Nhật

Triệu người

Trang 39

trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ ở nước đang phát triển và 20% ở nước phát triển [143]

Tình hình bệnh tăng huyết áp trên thế giới

Trong các bệnh liên quan đến tim mạch thì THA là bệnh gặp phổ biến nhất, THA không chỉ có ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà cũng có ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu THA đã và đang trở thành yếu tố nguy cơ hàng đầu của biến chứng tim mạch như: tai biến mạch máu não, nhồi máu

cơ tim, suy tim, suy thận…[106] Năm 2000, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), toàn thế giới có tới 972 triệu người bị THA và con số này được ước tính là vào khoảng 15,6 tỷ người vào năm 2025 [136]

T hổ Nhĩ

Kỳ (2009)

Mexico (1992 - 93)

Paraguay (1993 - 94)

Venezuela (1996) Thái Lan (2000) Algeria (2004)

Chile (2003)

Việt Nam (2008)

Biểu đồ 1.4 Tỷ lệ tăng huyết áp ở các nước đang phát triển [131]

Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%), cao hơn các nguyên nhân khác như sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu (5,8%) Tần suất THA nói chung trên thế giới là khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển [120]

Trang 40

40,6

29,2

9,8 30,5

Mặc dù tăng huyết áp là nguy hiểm nhưng nếu được phát hiện sớm, theo dõi

và kiểm soát hiệu quả thì tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng giảm đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc hiện nay trên thế giới chỉ đạt khoảng

25 – 40% Do đó, bên cạnh việc sử dụng thuốc kiểm soát huyết áp, cần phải thay đổi những thói quen có nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụng rượu, dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực [150]

Kết quả nghiên cứu của WHO ở 6 quốc gia (Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Nam Phi, Mexico và Ghana) trong khoảng thời gian 2007-2010 cho thấy THA là bệnh mạn tính phổ biến nhất ở lứa tuổi từ 50 trở lên [146]

1.3.2.2 Tình hình một số bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Việt Nam

Theo số liệu ước tính của WHO về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2012 cho thấy BKLN chiếm tỷ trọng chính trong gánh nặng bệnh tật chung ở Việt Nam không chỉ về DALY mà còn cả về tỷ trọng tử vong ở phần lớn các nhóm tuổi [151]

Ngày đăng: 03/04/2017, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ActionAid Vietnam (2010), Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam
Tác giả: ActionAid Vietnam
Năm: 2010
2. Phạm Lê An (2012), Y học gia đình - Tập 1, Nhà xuất bản Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học gia đình - Tập 1
Tác giả: Phạm Lê An
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
3. Đặng Hồng Anh (2013), Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Hoàn Mỹ thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại Học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Hoàn Mỹ thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Đặng Hồng Anh
Năm: 2013
4. Hoàng Đức Thuận Anh, Nguyễn Văn Tập và cộng sự (2013), "Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp của người cao tuổi tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế", Tạp chí Y học thực hành, Trường Đại học Y Dược Huế, Phòng khám Đa khoa Nam Anh, Bình Dương, Số 7 (876), tr.135-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp của người cao tuổi tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Hoàng Đức Thuận Anh, Nguyễn Văn Tập và cộng sự
Năm: 2013
5. Lê Vũ Anh và cộng sự (1999), Giá dịch vụ và tình hình sử dụng dịch vụ y tế tư nhân, Dự án Hỗ trợ y tế Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá dịch vụ và tình hình sử dụng dịch vụ y tế tư nhân, Dự án Hỗ trợ y tế Quốc gia
Tác giả: Lê Vũ Anh và cộng sự
Năm: 1999
6. Nguyễn Bá Anh (2012), Đánh giá và sự hài lòng của người bệnh về chất lượng chăm sóc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2012, Luận văn thạc sỹ, Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và sự hài lòng của người bệnh về chất lượng chăm sóc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2012
Tác giả: Nguyễn Bá Anh
Năm: 2012
7. Ban Chấp hành Trung ương (2002), Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2002 về cũng cố và hòa thiện mạn lưới y tế cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2002 về cũng cố và hòa thiện mạn lưới y tế cơ sở
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
8. Lê Văn Bào (2002), Nghiên cứu hoạt động hành nghề y tư nhân ở Hà Nội, đề xuất mô hình quản lý hành nghề y tư nhân ở tuyến xã, Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân Y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạt động hành nghề y tư nhân ở Hà Nội, đề xuất mô hình quản lý hành nghề y tư nhân ở tuyến xã
Tác giả: Lê Văn Bào
Năm: 2002
9. Lê Văn Bào và cộng sự (2001), "Công tác quản lý hoạt động hành nghề y dược tư nhân ở một số quận, huyện của Hà Nội", Tạp chí Y học thực hành, (Số 9), tr.40-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý hoạt động hành nghề y dược tư nhân ở một số quận, huyện của Hà Nội
Tác giả: Lê Văn Bào và cộng sự
Năm: 2001
10. Bộ Y tế Việt Nam, Nhóm đối tác y tế (2010), Báo cáo chung Tổng quan Ngành Y tế 2010, Hệ thống y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011- 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung Tổng quan Ngành Y tế 2010, Hệ thống y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011- 2015
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam, Nhóm đối tác y tế
Năm: 2010
11. Bộ Y tế (2000), Thông tư số 21/2000/TT-BYT ngày 29/12/2000 về việc hướng dẫn điều kiện và phạm vi hành nghề y tư nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/2000/TT-BYT ngày 29/12/2000 về việc hướng dẫn điều kiện và phạm vi hành nghề y tư nhân
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2000
12. Bộ Y tế (2003), Báo cáo chuyên đề thực trạng khu vực y tế tư nhân điều tra y tế quốc gia 2001 - 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề thực trạng khu vực y tế tư nhân điều tra y tế quốc gia 2001 - 2002
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2003
13. Bộ Y tế (2007), Thông tư số 07/2007/TT-BYT ngày 25/7/2007 về việc hướng dẫn hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y tế tư nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2007/TT-BYT ngày 25/7/2007 về việc hướng dẫn hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y tế tư nhân
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
14. Bộ Y tế (2010), Quyết định số 3192/QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2010 về việc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3192/QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2010 về việc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
16. Bộ Y tế (2011), Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09 tháng 09 năm 2011 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09 tháng 09 năm 2011 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
17. Bộ Y tế (2013), Đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình tại Việt Nam giai đoạn 2013-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình tại Việt Nam giai đoạn 2013-2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
18. Bộ Y tế (2014), Dự án phòng chống tăng huyết áp: Báo cáo tình hình thực hiện dự án giai đoạn 2011 - 2014 và định hướng thực hiện giai đoạn 2016 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phòng chống tăng huyết áp: Báo cáo tình hình thực hiện dự án giai đoạn 2011 - 2014 và định hướng thực hiện giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
19. Bộ Y tế (2014), Thông tư số 16/2014/TT-BYT ngày 22 tháng 5 năm 2014 về hướng dẫn thí điểm về bác sĩ gia đình và phòng khám bác sĩ gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 16/2014/TT-BYT ngày 22 tháng 5 năm 2014 về hướng dẫn thí điểm về bác sĩ gia đình và phòng khám bác sĩ gia đình
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
21. Bộ Y tế (2015), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 tăng cường y tế cơ sở hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 tăng cường y tế cơ sở hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn dân
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
22. Võ Thị Bổn, Trương Quang Đạt, Phạm Đức Phúc (2015), "Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường týp 2", Tạp chí nghiên cứu y học, 98 (6), tr.88-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường týp 2
Tác giả: Võ Thị Bổn, Trương Quang Đạt, Phạm Đức Phúc
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nặng [1] - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 1.3 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nặng [1] (Trang 34)
Bảng 1.5 So sánh tỷ lệ mắc đái tháo đường ở một số địa phương - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 1.5 So sánh tỷ lệ mắc đái tháo đường ở một số địa phương (Trang 42)
Bảng 1.6 So sánh tỷ lệ đái tháo đường theo giới của một số tác giả - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 1.6 So sánh tỷ lệ đái tháo đường theo giới của một số tác giả (Trang 43)
Bảng 1.7 Tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở một số địa phương - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 1.7 Tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở một số địa phương (Trang 44)
Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp biện pháp phòng - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp biện pháp phòng (Trang 53)
Bảng 3.2  Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân phân bố theo địa dư hành chánh - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.2 Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân phân bố theo địa dư hành chánh (Trang 77)
Bảng 3.8  Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về công tác - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.8 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về công tác (Trang 81)
Bảng 3.9  Tình hình bệnh tật của các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân (n=484) - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.9 Tình hình bệnh tật của các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân (n=484) (Trang 81)
Bảng 3.10 Tình  hình  thực  hiện  các  chức  năng  nhiệm  vụ  của  các  bác  sĩ  khám - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.10 Tình hình thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các bác sĩ khám (Trang 82)
Bảng 3.18 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về công tác - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.18 Tình hình các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện quy định về công tác (Trang 88)
Bảng 3.21  Đặc điểm dân số, xã hội của người bệnh (tiếp theo) - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.21 Đặc điểm dân số, xã hội của người bệnh (tiếp theo) (Trang 91)
Bảng 3.24  Sự  hài  lòng  về dịch vụ  khám  chữa  bệnh  và  tư vấn  của  người  bệnh - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.24 Sự hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh và tư vấn của người bệnh (Trang 93)
Bảng 3.43  Đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức người bệnh về phòng chống - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
Bảng 3.43 Đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức người bệnh về phòng chống (Trang 115)
Hình ảnh - Thực trạng hành nghề y tư nhân và hiệu quả biện pháp quản lý người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tại Bình Dương (FULL TEXT)
nh ảnh (Trang 174)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w