1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế

82 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 791,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận văn tiến sĩ Kinh tế gồm 82 trang (chưa bao gồm bìa), bản đẹp, được chuyển từ word, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo. KHÔNG KHUYẾN KHÍCH COPY TOÀN BỘ. 1. Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, thuế là một tất yếu đối với mọi quốc gia. Đóng vai trò là mạch máu duy trì hoạt động của Nhà nước, không có thuế thì Nhà nước không thể tồn tại. Tuy nhiên không phải ai cũng nhận thức được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng sống còn của thuế. Với cách suy nghĩ và nhìn nhận chưa thấu đáo, nhiều người thiếu ý thức trong việc nộp thuế, chỉ coi thuế là gánh nặng, là một sự cưỡng bức khi thuế bắt buộc họ phải đóng góp một phần tài sản vào ngân sách. Chính vì vậy mà thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào Ngân sách Nhà nước luôn là mục tiêu hàng đầu của tất cả các quốc gia. Quản lý thuế ra đời để đảm bảo thực hiện được mục tiêu đó. Trong quản lý thuế, bên cạnh việc phổ biến cho người dân về giá trị và vai trò của thuế, hướng dẫn họ nộp thuế sao cho đúng luật và tiến hành thu thuế một cách công khai, minh bạch, hiệu quả thì việc kiểm tra thuế là một phần hành vô cùng cần thiết và không thể thiếu của một hệ thống quản lý thuế hoàn chỉnh. Đóng vai trò là chiếc gương phản chiếu những gì đã xảy ra, kiểm tra thuế cho thấy một cách khách quan, chính xác tình hình thực tế của việc thu thuế, có đủ căn cứ, cơ sở để đánh giá một cách đúng đắn về hoạt động của các phần hành trong tổng thể quản lý thuế. Từ đó đề xuất hướng khắc phục cụ thể, có những chủ trương, giải pháp hợp lý nhằm kịp thời cải tiến và sửa chữa những sai phạm, thiếu sót, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, hướng tới mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời.

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Đối với Đảng và Nhà nước ta, thuế vừa là một nguồn thu chủ yếu vào ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ tài chính quan trọng giúp Nhà nước điều hành, quản lý, điều tiết nền kinh tế vĩ mô nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển và ngày càng hội nhập gần hơn với nền kinh

tế thế giới thì việc quản lý để đảm bảo được nguồn thu thuế phù hợp với quy mô của nền kinh tế là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách

Kiểm tra thuế là một khâu quan trọng trong việc quản lý nguồn thu thuế từ các đối tượng nộp thuế Mục đích của kiểm tra thuế là phát hiện các trường hợp sai phạm pháp luật về thuế, sai sót và gian lận thuế nhằm hạn chế mức thấp nhất tình trạng thất thu về thuế cho Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các đối tượng nộp thuế và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế Ngoài ra, việc kiểm tra còn nhằm phát hiện các nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thực tiễn nhằm kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống thuế Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện đang chiếm gần 90% trong cơ cấu kinh tế theo quy mô và có đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước Mặt khác, hiện nay các hành vi trốn thuế, lách thuế của các đối tượng sản xuất kinh doanh vẫn tiếp tục diễn ra Trong bối cảnh như vậy thì việc nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cần thiết

Chính vì vây, em lựa chọn đề tài “ Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế” để qua đó có được những hiểu biết về công tác kiểm tra thuế, cũng như góp phần nhỏ trong việc khẳng định vai trò quan trọng của quy trình quản lý thuế, đặc biệt là công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng công tác này tại Chi cục thuế Thành phố Huế

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế

Trang 2

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá lý thuyết về thuế và công tác kiểm tra thuế

- Tìm hiểu quy trình kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà Chi cục thuế thành phố Huế đang áp dụng

- Đánh giá được công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Huế

- Tìm hiểu, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế Thành phố Huế

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác kiểm tra thuế trong quy trình quản lý thuế tại Chi cục thuế Thành phố Huế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế

- Phạm vi thời gian: Trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2012

4 Nội dung nghiên cứu

Với phạm vi đó, trọng tâm của vấn đề nghiên cứu là công tác kiểm tra thuế đối với các DNNVV Trên cơ sở phân tích kết quả thu thuế, kết quả công tác kiểm tra từng năm để tìm ra ưu, nhược điểm của công tác này và tác động của các chính sách thuế đến số thu NSNN và phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội Đồng thời đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt công tác kiểm tra thuế và quản lý chặt chẽ đối tượng nộp thuế là các DNNVV trên địa bàn thành phố Huế trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để tổng

hợp lý luận và lý thuyết làm cơ sở để tìm hiểu thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng chủ yếu trong chương 1

- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:

+ Số liệu thứ cấp: là các số liệu thu thập từ các báo cáo của Chi cục thuế, niên giám thống kê, báo cáo tài liệu, các thông tin đã được công bố trên báo chí, tạp chí, website ngành thuế Các số liệu này được sử dụng chủ yếu trong chương 2 để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế

Trang 3

+ Số liệu sơ cấp: Tham khảo ý kiến chuyên gia bằng cách phỏng vấn một số cán

bộ thuế có kinh nghiệm tại Chi cục thuế Thành phố Huế

6 Kết cấu của để tài

Kết cấu của đề tài gồm có 3 phần:

- Phần 1: Đặt vấn đề

- Phần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu, gồm có 3 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế và công tác kiểm tra thuế

Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế Thành phố Huế Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế thành phố Huế

- Phần 3: Kết luận và kiến nghị

Trang 4

PHẦN 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA THUẾ

1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế

1.1.1 Khái niệm thuế

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là công cụ điều tiết và là cơ

sở đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy cạnh tranh phát triển Sự phát triển hay suy thoái của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thuế của quốc gia đó Nước

ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống thuế cũng ngày càng được hoàn thiện hơn

Thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính

để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy quản lý Nhà nước; chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về

sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài

Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước Hình thức đóng góp đó chính là Thuế [1]

Như vậy, Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Bản chất của Nhà nước quy định bản chất giai cấp của thuế

Ở nước ta hiện nay khi hình thành quỹ tiền tệ tập trung, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và xây dựng kinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở

hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội khác thì người nộp thuế thông qua đó đựơc hưởng một phần kết quả nộp thuế của mình Như vậy thuế ở nước ta luôn luôn là một khoản thu bắt buộc, không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế nhưng họ được gián tiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, phát triển của Nhà nước cho các công trình phúc lợi xã hội khác nhau

1.1.2 Đặc điểm của thuế

Thứ nhất, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao

Trang 5

Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia.Trong các quốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước Các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện nghĩa vụ thuế theo các Luật thuế cụ thể được cơ quan quyền lực tối cao ở quốc gia đó quy định phù hợp với các hoạt động và thu nhập của từng tổ chức kinh tế

và công dân Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, tức

là họ đã vi phạm Luật pháp của quốc gia đó.[2]

Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho NSNN và thuế đối với các khoản vay mượn của Chính phủ

Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng thuế là biện pháp tài chính mang tính chất bắt buộc của Nhà nước, nhưng sự bắt buộc đó được xác lập dựa trên nền tảng của các vấn

đề kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quan hệ kinh tế thế giới

Thứ hai, thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp

Khác với các khoản vay, Nhà nước thu thuế từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhưng không phải hoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế sau một khoảng thời gian với một khoản tiền mà họ đã nộp vào NSNN Số tiền thuế thu được, Nhà nước sẽ sử dụng cho các chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mỗicá nhân trong xã hội Mọi cá nhân, người nộp thuế cho Nhà nước cũng như người không nộp thuế, người nộp nhiều cũng như người nộp ít, đều bình đẳng trong việc nhận được các phúc lợi công cộng từ phía Nhà nước, được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí.[2]

1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

1.1.3.1 Thuế là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho Ngân sách Nhà Nước

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại các thu nhập theo đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ “mua bán sòng phẳng”,“có vay, có trả”, thuế phải là công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi Ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài Thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ

Trang 6

phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh Với nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập trong xã hội …[3]

1.1.3.2 Thuế tham gia vào việc điều tiết kinh tế vĩ mô

Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các sắc thuế, việc xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế dựa trên cơ sở hạch toán kế toán đầy đủ, chính xác, thuế

là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội thể hiện trên hai mặt: khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí Thuế còn khuyến khích việc bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật Thuế thúc đẩy mở rộng thị trường một cách lành mạnh, vừa khuyến khích giao lưu hàng hoá, vừa đấu tranh hạn chế mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian, đầu cơ tích trữ để hưởng chênh lệch giá.[2]

1.1.3.3 Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối

Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc đảm bảo công bằng và bình đẳng trong làm nghĩa vụ và quyền lợi Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau (thuế suất) giữa các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng

về quyền lợi và nghĩa vụ với mọi công dân, không có những đặc quyền, đặc lợi cho bất

cứ đối tượng nào Thuế kích thích mọi công dân, doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi và có thu nhập cao một cách chính đáng

1.1.3.4 Thuế còn là công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh

Vai trò này được xuất hiện chính do quá trình tổ chức thực hiện thuế trong thực

tế Để thu được thuế và thực hiện đúng các Luật thuế đã được ban hành, cơ quan thuế

và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ

sở sản xuất kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện những việc làm sai trái,

Trang 7

vi phạm Luật của các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoặc phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp tháo gỡ Như vậy, do công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hàng, hoạt động của các cơ sở kinh tế đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.[2]

1.1.5 Chức năng của thuế

Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính

Căn cứ vào nội dung cùng với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây:

- Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế

Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.Thông qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo

cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước

- Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế

Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây

Trang 8

dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh [3]

1.1.6 Phân loại thuế

Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế

Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tuỳ thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế

có khác nhau Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:

+ Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu

Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu

nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các

pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp động viên,

Trang 9

điều tiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển quyền

sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp

Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế

+ Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Theo cách phân loại này thuế được chia

thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng,

thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác

hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí

1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc thực hiện nghĩa vụ NSNN

1.2.1 Khái niệm

Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, được thành lập theo luật doanh nghiệp Nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư trực tiếp của nước ngoài hoặc theo hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau đây:

Doanh nghiệp Nhà nước;

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Theo quy định tại điều 4, luật Doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 60/ 2005/ QH11 ngày 29/11/2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Như

Trang 10

vậy, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thực thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời

Doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa: Theo Nghị định 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở kinh doanh độc lập có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người

Theo tiêu chí này thì 100% doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế do Chi cục thuế thành phố Huế quản lý thu thuế đều là các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định kể từ ngày luật có hiệu lực thì việc thành lập doanh nghiệp có các loại hình doanh nghiệp sau: DNTN, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH 2 thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh

Sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường mang tính tự phát và có nhiều biến động phụ thuộc vào cung cầu của thị trường hàng hoá, vào chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích hay hạn chế phát triển Với quy mô tuy nhỏ nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại chiếm một số lượng lớn trong nền kinh tế, thường tập trung ở các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ Các doanh nghiệp này có tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế

Ý thức chấp hành pháp luật đối với khu vực này thường không cao, thể hiện qua việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá chưa đầy đủ, không theo đúng quy định của Nhà nước, nếu có chỉ mang tính chất đối phó

1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách

Doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xã hội, môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế Nhờ doanh nghiệp mà của cải, vật chất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân sẽ tăng nhanh về cả số lượng lẫn chất lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ phong phú thoả mãn nhu cầu của xã hội

Doanh nghiệp giữ vị trí quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho NSNN, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có vai trò chủ chốt giải quyết việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp Khi các doanh nghiệp phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội tăng việc làm, thu hút lao động, nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội Sự phát triển của các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện phát huy lợi thế kinh tế của mỗi vùng, tạo điều kiện cho cơ quan thuế nuôi dưỡng, khai thác nguồn thu

Trang 11

1.2.3 Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với NSNN

- Thực hiện đăng ký kê khai thuế: Cung cấp đầy đủ các thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế, khai thuế, nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Thông tin cung cấp phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác, trung thực, đúng thời hạn quy định, chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã cung cấp

- Nộp thuế đúng thời hạn

- Chấp hành sự kiểm tra của cơ quan thuế khi có quyết định kiểm tra của CQT

1.3 Công tác kiểm tra thuế

1.3.1 Khái niệm chung về kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế là xác định tính đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế Kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế và tại trụ sở của người nộp thuế.[4]

Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế- xã hội

Kiểm tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của CQT nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho NNT luôn ý thức được rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế

1.3.2 Nguyên tắc kiểm tra thuế

Theo điều 75 Luật Quản lý thuế số 78, công tác kiểm tra thuế phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ

để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế

- Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thuế

- Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

1.3.3 Vai trò của kiểm tra

Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế Cụ thể là:

Trang 12

- Kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chể, chính sách pháp luật về thuế

Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay hiện bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một đối tượng xã hội nhất đinh và có những phương pháp quản

lý khác nhau Về cơ bản, với mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu

kỹ và chuẩn bị chu đáo, nhưng do đặc điểm kinh tế của nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy, kiểm tra thuế là công tác đi sâu nhất có thể cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách phù hợp với thực tiễn nền kinh tế

- Kiểm tra là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật thuế

và tội phạm phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ

và vừa

Hoạt động kiểm tra chủ yếu được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích thông tin liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuếTheo đó, vừa phòng ngừa các vi phạm về thuế; vừa sử dụng các biện pháp xử lý để răn đe hành

vi vi phạm pháp luật của NNT

- Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế Triển khai thực hiện pháp luật thuế cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động kiểm tra, CQT có thể phát hiện những NNT thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện ra những khiếm khuyết, thủ tục không phù hợp với thực tế

để kiến nghị, bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế

1.3.4 Các hình thức kiểm tra

1.3.4.1 Căn cứ tính theo kế hoạch

- Căn cứ theo tính kế hoạch: Nếu xét theo tính kế hoạch, hoạt động kiểm tra có 2 hình thức là kiểm tra theo chương trình và kiểm tra đột xuất

+ Kiểm tra theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch

đã được phê duyệt Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, CQT xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế đã được phê duyệt

Trang 13

+ Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do

cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền giao

1.3.4.2 Căn cứ theo nội dung và phạm vi kiểm tra

Căn cứ theo nôi dung và phạm vi kiểm tra thuế: Theo tiêu thức này, kiểm tra thuế được chia thành 2 loại là kiểm tra toàn diện và kiểm tra hạn chế

+ Kiểm tra toàn diện là loại hình kiểm tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của DN mà DN có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế chịu trách nhiệm quản lý

+ Kiểm tra hạn chế: là kiểm tra trong phạm vi hẹp bao gồm:

- Kiểm tra một sắc thuế hoặc một kỳ tính thuế

- Kiểm tra một số bộ hồ sơ hoàn thuế

- Kiểm tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một hoặc một số kỳ tính thuế, kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, khấu hao, tiền lương, tài sản ròng,…

1.3.4.3 Căn cứ theo địa điểm tiến hành kiểm tra

Căn cứ theo địa điểm tiến hành kiểm tra: căn cứ vào tiêu thức này, kiểm tra thuế bao gồm: Kiểm tra tại trụ sở CQT và kiểm tra tại trụ sở NNT

1.3.5 Quy trình kiểm tra thuế

Quy trình kiểm tra thuế đang được áp dụng hiện nay là quy trình được ban hành theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình kiểm tra thuế

Nội dung của quy trình được quy định như sau:

1.3.5.1 Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế

Kiểm tra tại trụ sở CQT được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ khai thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật của NNT Phân tích các biến động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT thông qua việc so sánh thông tin về NNT qua các kỳ với nhau và với các biến động của ngành để xác định mức độ ổn định và tuân thủ của NNT nhằm phát hiện các điểm bất thường gây ảnh hưởng (rủi ro) đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý, xử lý phù hợp ( bổ sung vào kế hoạch kiểm ra ngay tại trụ sở NNT), hạn chế các trường hợp ẩn lậu thuế, đảm bảo nguồn thu kịp thời cho NSNN

Trang 14

Quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế:

1 Thu thập

thông tin

- Thông tin từ cơ quan thuế, bao gồm:

+ Tờ khai, các bảng kê, báo cáo tài chính

+ Tình hình vi phạm các thủ tục hành chính thuế, nợ đọng tiền thuế

- Thông tin từ bên ngoài, bao gồm:

+ Về tuân thủ pháp luật của DN từ các cơ quan liên quan

+ Từ ngân hàng, các đối tác, khách hàng, giao dịch quốc tế + Về tính chất, quy mô tăng trưởng kinh tế của ngành nghề có liên quan đến DN

+ Về các thay đổi chính sách của Nhà nước có tác động đến DN

2 Lựa chọn DN

để kiểm tra

hồ sơ

Hằng năm, phòng kiểm tra phải kiểm tra, rà soát tất cả các hồ

sơ thuế để phân loại, lựa chọn các DN có rủi ro cao về thuế đưa vào danh sách phải kiểm tra thuế:

- Lựa chọn DN có rủi ro về thuế:

+ DN có ý thức chấp hành pháp luật thấp

+ DN có dấu hiệu không bình thường về kê khai thuế so với kỳ trước + DN có doanh thu, số thuế phải nộp lớn

- Cân đối nguồn nhân lực hiện có để đảm bảo kiểm tra các loại

hồ sơ thuế của DN đã lựa chọn theo danh sách

- Thủ trưởng cơ quan thuế duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ

sơ thuế cho các bộ phận kiểm tra

- Nhiệm vụ kiểm tra sẽ được giao cho từng cán bộ kiểm tra

Trang 15

hồ sơ khai thuế

+ Những hồ sơ đảm bảo yêu cầu thì bản nhận xét được lưu cùng với hồ sơ khai thuế

+ Những hồ sơ có nghi vấn thì yêu cầu NNT giải trình, bổ sung hoàn chỉnh

+ Sau khi NNT giải trình bổ sung nếu thấy hợp lý thì lưu vào hồ

sơ thuế, nếu không hợp lý thì ấn định thuế hoặc đề nghị thủ trưởng cơ quan thuế ra quyết định kiểm tra tại trụ sở NNT

1.3.5.2 Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

Song song với việc kiểm tra thuế tại cơ quan thuế là kiểm tra tại trụ sở NNT Nếu như kiểm tra thuế tại trụ sở CQT là công việc thường xuyên và được thực hiện đối với tất cả các hồ sơ khai thuế thì kiểm tra thuế tại trụ sở NNT chỉ được thực hiện trong một

số trường hợp nhất định, do kết quả của quá trình kiểm tra tại trụ sở của CQT yêu cầu phải tiến hành kiểm tra hoặc theo kế hoạch hoặc khi phát hiện có dấu hiệu gian lận, trốn thuế, hoặc theo yêu cầu của lãnh đạo CQT các cấp…

Quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế

- Nếu trước thời điểm kiểm tra mà DN chứng minh được số thuế

kê khai là đúng thì trong thời hạn 5 ngày làm việc phải có quyết định bãi bỏ quyết định kiểm tra thuế

- Việc kiểm tra thuế phải tiến hành chậm nhất là 10 ngày làm việc

kể từ ngày ban hành quyết định kiểm tra

- Thời hạn kiểm tra tại trụ sở NNT là không quá 5 ngày làm việc

Trang 16

- Qua kiểm tra thuế, nếu phát hiện thấy NNT có dấu hiệu trốn thuế, gian lận về thuế thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện, Trưởng đoàn kiểm tra thuế có trách nhiệm báo cáo Thủ trưởng CQT để bổ sung vào kế hoạch thanh tra của Cục thuế

1.4 Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế và cách hình thức xử phạt pháp luật

về thuế

1.4.1 Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế

- Vi phạm các thủ tục thuế

Các hành vi vi phạm thủ tục thuế bao gồm:

Nộp hồ sơ đăng ký thuế sau ngày hết hạn nộp hồ sơ đăng ký thuế;

Nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian không đúng quy định

Khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế, trừ trường hợp người nộp thuế khai bổ sung trong thời hạn quy định;

Vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế;

Vi phạm các quy định về chấp hành quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

- Chậm nộp tiền thuế

- Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn

- Trốn thuế, gian lận thuế

Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy

Trang 17

Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán;

Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan trong thời gian sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;

Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích trốn thuế;

Sử dụng hàng hoá được miễn thuế không đúng với mục đích quy định mà không khai thuế.[5]

- Phạt tiền: Hình thức phạt tiền được quy định cụ thể đối với từng hành vi vi phạm pháp luật về thuế như sau:

Phạt theo số tiền tuyệt đối đối với các hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạt tối

đa không quá 100 triệu đồng Khi phạt tiền, mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm thủ tục thuế là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu đối với hành vi đó, nếu đó tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt

có thể tăng lên nhưng không vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt;

Trang 18

Phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế nộp chậm đối với hành vi nộp chậm tiền thuế, tiền phạt;

Phạt 10% số tiền thuế thiếu đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn

Phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế còn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.[6]

1.5 Phương pháp phân tích rủi ro phục vụ công tác kiểm tra

Phân tích rủi ro là một trong những phương pháp rất quan trong được sử dụng thường xuyên trong công tác kiểm tra thuế Bộ phận kiểm tra sử dụng phân tích rủi ro

để lập kế hoạch, phân tích thông tin về NNT trước khi tiến hành kiểm tra và thu thập bằng chứng để đi đến các kết luận về kiểm tra Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu về phương pháp này là một việc làm hết sức cần thiết để có được một cái nhìn sâu sắc và đầy đủ hơn đối với công tác kiểm tra thuế Trong giới hạn của đề tài, tôi xin chỉ trình bày phần phân tích báo cáo tài chính phục vụ công tác kiểm tra thuế

Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại thời điểm hoặc thời kỳ nhất định Các báo cáo tài chính phản ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động và tình hình sử dụng vốn trong thời kỳ nhất định

Phân tích báo cáo tài chính là hướng tiếp cận có tổ chức để lấy thông tin từ báo cáo tài chính để phù hợp với các quyết định cụ thể Đối với CQT là nhằm mục đích xác định rủi ro Nội dung phân tích báo cáo tài chính phục vụ cho công tác kiểm tra thuế như sau:

1.5.1 Phân tích chiều dọc, chiều ngang trong báo cáo tài chính

a) Kỹ năng thực hiện phân tích theo chiều dọc đối với các báo cáo tài chính

- Thể hiện tỷ lệ % của từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính trên 1 chỉ tiêu khác, cho biết mối quan hệ giữa các chỉ tiêu với nhau trong một báo cáo;

- Phân tích theo chiều dọc tập trung vào mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hơn là tập trung vào giá trị tuyệt đối trong các báo cáo tài chính

Trang 19

- Mẫu số ở bảng cân đối tài sản thường là tổng tài sản, và mỗi giá trị tài sản đơn

lẻ là tử số được coi là tỷ lệ phần trăm trên tổng tài sản Đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mẫu số thường là tổng doanh thu

b) Kỹ năng thực hiện phân tích theo chiều ngang đối với các báo cáo tài chính Phân tích theo chiều ngang thường sử dụng tỷ lệ % hoặc tỷ suất để xác định mức

độ thay đổi của từng chỉ tiêu trong 1 năm so với 1 hay nhiều năm sau Mức độ thay đổi được tính bằng cách chia cho các số liệu báo cáo ở kỳ trước đó Phương pháp này chỉ hiệu quả khi tính và so sánh các tỷ lệ phần trăm của một giai đoạn nhiều năm và sự thay đổi tỷ lệ phần trăm của mỗi chỉ tiêu là quan trọng chứ không phải là bản thân tỷ lệ phần trăm thực tế

1.5.2 Phân tích tỉ suất trong báo cáo tài chính

Có thể nói kỹ thuật phân tích tài chính được sử dụng rộng rãi nhất là phân tích các tỷ suất, phân tích mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều mục trong báo cáo tài chính Tỷ suất tài chính thường được phản ánh bằng tỷ lệ phần trăm hoặc số lần Tỷ suất thường được sử dụng rất hiệu quả khi so sánh chính NNT này trong các thời kỳ khác nhau hoặc so sánh cùng thời kỳ với các đối tượng NNT khác hoặc theo số liệu chuẩn của ngành Tỷ suất tài chính được chia thành 4 nhóm chính sau:

Các hệ số thanh khoản đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của công ty

Các tỷ suất sinh lời đo lường khả năng quản lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận đối với các nguồn lực dành cho kinh doanh

Các tỷ suất đòn bẩy đo lường mức độ bảo hộ việc cung cấp nguồn tài chính dài hạn và cũng là công cụ hỗ trợ cho việc đánh giá khả năng của công ty trong việc huy động các khoản vay nợ bổ sung và năng lực trả nợ kịp thời

Các tỷ suất hiệu quả, hoạt động hay quay vòng cung cấp thông tin về khả năng quản

lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận từ các nguồn lực dành cho kinh doanh

Trang 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DNNVV TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HUẾ

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Huế

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Huế nằm ở trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắc giáp huyện Hương Trà, phía Nam giáp huyện Hương Thuỷ, phía Đông giáp huyện Phú Vang, phía Tây giáp huyện A Lưới, với diện tích tự nhiên là 68 km2

Toạ độ địa lý: 107o31‘45‘‘-107o38' kinh Ðông và 16o30'‘45‘‘-16o24' vĩ Bắc Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường xuyên Á Cách Hà Nội 675 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km về phía Nam, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh như khu khuyến khích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, Thành phố Đà Nẵng, khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quất , có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước

Điều kiện tự nhiên của thành phố đã tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hình thành và phát triển

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế của Thành phố

Trong những năm qua, kinh tế thành phố không ngừng tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế phát triển đúng hướng, các thành phần kinh tế phát triển năng động, thu hút đầu

tư, phát huy thế mạnh thành phố văn hoá-du lịch dịch vụ-thương mại - công nghiệp tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN)

Trang 21

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố giai đoạn 2010-2012

Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

So sánh (2012/2010) (+/-) (%)

Giá trị SX CN-TTCN 3,286,000 3,752,000 4,250,000 964,000 129,34 Trong đó:Giá trị xuất khẩu 920,000 1,160,000 1,200,000 280,000 130,43 Giá trị SX NN 160,494 174,000 196,000 74,000 122,12 Tổng mức bán lẻ hàng hóa 10,383,000 13,109,000 16,400,000 6,017,000 157,95 Doanh thu du lịch 831,000 1,000,300 1,215,000 384,000 146,21 Giao thông vận tải 331,036 466,761 542,285 211,249 163,81

(Nguồn: Tính toán theo số liệu tại website www.thuathienhue.gov.vn)

Trong những năm gần đây, việc đầu tư phát triển CN-TTCN đã được thành phố chú trọng đầu tư hơn, góp phần tạo được các loại hàng hóa có sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và góp phần xuất khẩu Giá trị xuất khẩu ngày càng có xu hướng tăng, với giá trị là gần 60 triệu USD trong năm 2012, đạt 100% kế hoạch được giao Mặc dù các ngành SX CN-TTCN còn gặp khó khăn trong do giá cả một số vật tư nguyên, nhiên liệu sản xuất tăng ảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố vẫn tốc độ tăng trưởng vẫn tiếp tục giữ được ổn định, tốc độ tăng trưởng giá trị các hàng hóa CN-TTCN năm sau đều cao hơn năm trước Năm 2012 đạt 4,250,000 triệu đồng, tăng gần 130% so với năm 2010

Giá trị SX NN trong năm 2012 đạt 196.000 triệu đồng, tăng so với những năm trước Điều này có được là do trong năm 2012, điều kiện thời tiết có phần thuận lợi cho quá trình sản xuất, lúa và các loại cây trồng khác cũng tăng trưởng tốt và cho năng xuất cao Công tác chăn nuôi tổ chức công tác phòng bệnh tốt nên trong những năm

2011, 2012 đã không có những thiệt hại do dịch bệnh gia súc, gia cầm gây nên, góp phần tăng giá trị sản xuất nông nghiệp

Thương mại – dịch vụ tiếp tục giữ được mức phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng cao Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2012 ước đạt: 16.400.000 triệu

Trang 22

đồng tăng 157.95% so với năm 2010 Hiện nay, công tác xúc tiến thương mại và đầu

tư trên địa bàn tiếp tục được quan tâm, quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại được tăng cường

Hoạt động du lịch ngày càng đa dạng và phong phú hơn.Trong ba năm 2010,

2011, 2012 thành phố đã tổ chức thành công nhiều lễ hội lớn, thu hút một lượng khách

du lịch trong nước và quốc tế khá lớn các loại hình dịch vụ du lịch tiếp tục được đầu

tư nâng cấp để phục vụ du khách; các tour, tuyến du lịch tiếp tục được củng cố, tăng cường khai thác có hiệu quả Doanh thu ngành du lịch trong năm 2012 đạt 1.215.000 triệu đồng, tăng 146.21% so với năm 2010

Hoạt động giao thông vận tải phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng cao, góp phần đáp ứng nhu cầu giao thương cũng như đi lại của người dân Tổng doanh thu ngành ước đạt 542,285 tỷ đồng, tăng 163.81% so với năm 2010 Điều này cho thấy hoạt động giao thông vận tải đang có xu hướng phát triển và ngày càng trở nên cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như nhu cầu đi lại của người dân

2.1.2.2 Tình hình phát triển doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế

Huế là thành phố trọng điểm của khu vực miền trung có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp, dịch vụ Trong những năm qua nhờ cơ chế thông thoáng nên thành phố đã thu hút nhiều nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh Nên số lượng các DN tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, đặc biệt là năm 2012, số lượng các DNNVV chỉ tăng một số lượng nhỏ Số DNNVV đăng ký kinh doanh vào năm 2012 cũng tương đối nhiều, nhưng số DNNVV giải thể cũng khá nhiều Tính đến thời điểm 31/12/2012, số DNNVV mà Chi cục thuế thành phố Huế quản lý là

1765 doanh nghiệp ( theo số liệu thống kê mà đội KK-KKT quản lý, số DNNVV năm 2010 là 1484 DN, năm 2011 là 1678 DN) Số DNNVV chỉ tăng nhẹ vào năm

2012 là do tình hình kinh tế hiện tại, năm 2012 thực sự là một năm đầy khó khăn và thử thách đối với các DNNVV khi mà chi phí sản xuất đầu vào như giá điện,giá xăng, giá nguyên vật liệu, giá mặt bằng liên tục gia tăng dẫn đến nhu cầu về vốn cũng tăng nhanh Nhưng việc tiếp cận được vốn vay của các DNNVV từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng là một điều cực kỳ khó khăn Chính vì vậy, trong năm 2012, rất nhiều DNNVV đã lâm vào tình trạng phá sản, giải thể, tạm ngưng hoạt động

Trang 23

2.2 Một vài nét về tình hình cơ bản của Chi cục thuế Thành phố Huế

2.2.1 Quá trình hình thành

Thực hiện Nghị định 281/HĐBT ngày 07/08/1990 của Chính phủ, Quyết định 314TC/QĐ ngày 21/08/1990 của Bộ trưởng Bộ tài chính ngày 01 tháng 10 năm 1990, Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba tổ chức: Chi cục Thuế Công Thương Nghiệp, Phòng thuế Nông Nghiệp và phòng thu Ngoài quốc doanh

Tổ chức bộ máy lúc đầu của ngành gồm 9 Chi cục thuế huyện, thành phố và 8 phòng Tháng 01/2004, thực hiện Quyết định 218/2003/QĐ – TTG ngày 28/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 189/2003/QĐ-BTC ngày 14/11/2003 của Bộ Tài Chính, bộ máy tổ chức Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 9 Chi cục thuế huyện, thành phố và 10 phòng

Cùng với việc ra đời của Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi cục thuế thành phố Huế nắm một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động nghiệp vụ, là đơn vị chủ yếu thực hiện nhiệm vụ thu nộp ngân sách Bên cạnh việc sắp xếp các phòng ở văn phòng Cục, hệ thống tổ đội thuế phường xã ở các Chi cục cũng được kiện toàn, bảo đảm tinh gọn đầu mối, đáp ứng yêu cầu quản ý và nhiệm vụ của ngành trong tình hình mới

2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục Thuế thành phố Huế

Căn cứ Quyết định số 729/QĐ –BTC ngày 18/06/2007 của Tổng Cục thuế, bộ máy cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế thành phố Huế tính đến năm 2012 gồm 19 Đội thuế, trong đó: 8 Đội chức năng, 11 Đội thuế trực tiếp quản lý thu, có nhiệm vụ quản

lý thu các loại thuế được phân cấp trên địa bàn Thành phố được sắp xếp như sau:

Trang 24

Dự

toán

Đội

KK KTT

và tin

học

Đội

QL

nợ và cưỡng chế

nợ

thuế

Đội

kiểm tra

số 1,

2 và

3

Đội H.chính- nhân sự- tài vụ-

ấn chỉ

Đội

Q.lý

lệ phí T.bạ thu

khác

11 đội thuế liên phường,

xã 27 Đội quản lý thuế TNCN

(Nguồn: Chi Cục Thuế Thành phố Huế)

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục thuế thành phố Huế

2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuế

- Lãnh đạo Chi cục: Chi cục trưởng, có nhiệm vụ quản lý chung chịu trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động quản lý của Chi cục Các phó Chi cục trưởng giúp việc Chi cục trưởng theo sự phân công

- Đội Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Chi cục Thuế quản lý

- Đội Kê khai - kế toán thuế và tin học

Thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế

TỔNG CỤC THUẾ

CỤC THUẾ

CHI CỤC THUẾ

Trang 25

- Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

Thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế

- Đội Kiểm tra thuế số 1, 3

Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến người nộp thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu Ngân sách hằng năm các

DN thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế

Đội kiểm tra số 1 chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát các DN hoạt động trong các ngành sản xuất, ăn uống dịch vụ

Đội kiểm tra thuế số 3 chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát các DN hoạt động trong các ngành xây dựng, vận tải, thương nghiệp

- Đội Nghiệp vụ - Dự toán

Giúp Chi Cục trưởng Cục thuế hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cục Thuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu Ngân sách nhà nước được giao của Chi cục Thuế

- Đội Kiểm tra số 2

Đội kiểm tra thuế số 2 đảm nhiệm chức năng kiểm tra nội bộ Thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính

của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Thuế

- Đội Hành chính - nhân sự - tài vụ- ấn chỉ

Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản

lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục Thuế quản lý

- Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, phí, lệ phí và các khoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý

- Đội quản lý thuế thu nhập cá nhân: Quản lý thuế TNCN đối với các cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế TNCN thuộc phạm vi Chi cục thuế quản lý

- Các đội thuế liên phường, xã: Chịu trách nhiệm quản lý và thu thuế 27 phường,

xã trên địa bàn thành phố Huế theo vị trí địa lý của từng khu vực được phân công

Trang 26

2.2.4 Tình hình tổ chức cán bộ công chức tại Chi cục thuế thành phố Huế

Trong công tác đơn vị sự nghiệp hành chính, yếu tố nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tác Là một đơn vị hành chính chịu trách nhiệm quản lý số thu Ngân sách trên địa bàn Thành phố, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục thuế Tỉnh Thừa Thiên Huế Chi cục thuế thành phố Huế đặt cho mình mục tiêu xây dựng, củng cố lực lượng cán bộ công chức của đơn vị có chất lượng, có trình độ chuyên môn, sáng kiến và luôn hướng tới hiệu quả công việc Đơn vị xem đó là yếu tố

cơ bản để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ cán bộ công chức tại Chi cục thuế

Thành phố Huế giai đoạn 2010-2012

(Nguồn: Đội Hành chính- Tài vụ- Nhân sự- Ấn chỉ Chi cục thuế thành phố Huế)

Tổng số lao động của đơn vị thường xuyên biến động giảm qua các năm Năm

2010, tổng số cán bộ công chức của Chi cục thuế là 213 cán bộ, đến năm 2012 tinh giảm biên chế do nghỉ hưu

Trong những năm gần đây, ngành thuế nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng rất ít tuyển công chức, do vậy số lượng cán bộ công chức thuế giảm dần theo thời gian Qua bảng trên có thể thấy, trình độ cán bộ công chức thuế tại Chi cục ngày càng được nâng cao Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng lên

về số lượng Điều này cho thấy, Chi cục thuế đã có những quan tâm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công chức ngành thuế

2.2.5 Tình hình và kết quả thu NSNN tại Chi cục thuế Thành phố Huế qua 3 năm 2010-2012

Giai đoạn 2010-2012 là khoảng thời gian nền kinh tế đang dần phục hồi sau những biến động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Trong thời gian này, rất nhiều

Trang 27

doanh nghiệp vẫn còn gặp phải những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn, nhất

là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên, theo xu hướng phục hồi dần của nền kinh tế, các DNNVV cũng đang có những biến chuyển khởi sắc trong sản xuất kinh doanh Tình hình kinh tế của thành phố trong những năm qua cũng có những dấu hiệu khả quan trong việc thu ngân sách nói chung và nguồn thu từ thuế nói riêng

Bảng 2.3 Kết quả thu NSNN tại Chi cục thuế thành phố Huế

Thuế GTGT 76,733 93,382 105,099 28,366 137,00

Thu tiền phạt 1,843 4,900 4,140 2,297 224,60 Thuế TNCN 25,169 33,297 32,297 7,128 128,30 Thu tiền SDĐ 348,722 344 263,898 -84,824 75,68 Các loại thuế, phí và lệ phí khác 21,171 782,683 134,627 113,456 635,90

(Nguồn: Đội KK-KTT và Tin học Chi cục thuế thành phố Huế)

Từ bảng trên, ta có thể thấy, số thu NSNN năm 2012 có sự giảm đột biến so với kết quả thu NSNN năm 2010 Tổng thu năm 2012 chỉ bằng 97.3%, tổng thu NSNN tăng mạnh vào năm 2011 nhưng lại giảm mạnh vào năm 2012, tổng thu NSNN năm

2012 chỉ bằng 60,32% tổng thu NSNN năm 2011 Thu NSNN năm 2012 giảm ở các loại thuế như thuế TNDN, thuế Tài nguyên và thu tiền sử dụng đất Năm 2012 là năm

có nhiều khó khăn cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt đối với DNNVV thì càng gặp nhiều khó khăn hơn vì các loại chi phí sản xuất đầu vào như giá điện, giá xăng, giá nguyên vật liệu, giá thuê mặt bằng… gia tăng dẫn đến nhu cầu về vốn cũng gia tăng Trong khi đó, DNNVV lại là những DN gặp nhiều khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính Theo thống kê

Trang 28

của Viện chiến lược và chính sách tài chính, trong năm 2012, chỉ có khoảng 20% DNNVV là tiếp cận được nguồn vốn, có khoảng 48% DN bị từ chối mà không rõ nguyên nhân, tỷ lệ DNNVV được bảo lãnh tín dụng quá nhỏ Ngoài ra, do lãi suất vay ngân hàng quá cao nên rất ít DN có được mức lợi nhuận đủ cao để trả lãi ngân hàng Các DNNVV trên địa bàn thành phố Huế cũng không nằm ngoài trường hợp đó, chính

vì vậy mà đến rất nhiều DN đã giải thể trong năm 2012, với tình hình kinh tế như vậy thì nguồn thu NSNN của thành phố Huế từ các DNNVV cũng đã giảm mạnh Có thể nói, năm 2012 là một năm đầy khó khăn cho các DN cũng như cho các cơ quan đảm nhiệm chức năng thu NSNN.Tuy nhiên, số thu NS từ một số lại có dấu hiệu khả quan

và vẫn đang tăng như thuế GTGT (tăng 37%), thuế TTĐB (tăng 76%) và thuế TNCN (tăng 28,3%) Điều này có được là nhờ vào công tác quản lý thuế được thắt chặt hơn,

mà trong đó, công tác kiểm tra thuế cũng góp phần đóng vai trò quan trọng Có thể thấy so với những năm đầu thực hiện thì việc quản lý thu thuế TNCN đã có nhiều hiệu quả tiến bộ có thể thấy rõ qua kết quả thu thuế TNCN

Để đạt được những kết quả trên, Chi cục thuế Thành phố Huế đã không ngừng nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế trong những năm gần đây Trong đó, vấn đề nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế là một trọng tâm quan trọng trong công tác quản lý thuế

mà Chi cục thuế hiện đang hướng đến, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trên địa bàn, đồng thời cũng đảm bảo nguồn thu ổn định vào NSNN

2.3 Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các DNNVV trên địa bàn Thành phố Huế

2.3.1 Quy trình kiểm tra thuế tại Chi cục thuế

Theo quy định của điều 77 và điều 78 Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 đã quy định doanh nghiệp tự tính, tự khai thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai và nghĩa vụ nộp thuế của mình đã tạo điều kiện cho cơ quan thuế tập trung nguồn lực để tăng cường công tác kiểm tra việc thu nộp thuế và áp dụng các hình thức xử phạt nghiêm minh theo quy định; giải quyết các khiếu nại kịp thời, đã góp phần giảm tiêu cực trong ngành thuế và tăng lòng tin, tính tuân thủ đối với doanh nghiệp Theo phân công nhiệm vụ của Tổng cục thuế và theo quy trình quản lý thuế quy định thì Chi cục thuế chỉ được phép kiểm tra thuế tại Chi cục thuế còn công tác thanh tra thì do Cục thuế đảm nhận Việc kiểm tra thuế tại Chi cục thuế Thành phố Huế được thực hiện theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29/05/2008

Trang 29

Căn cứ vào quy trình và nhiệm vụ của mình, Chi cục thuế Thành phố Huế đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lý kịp thời các hành vi gian lận về thuế, chống thất thu ngân sách, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và tạo môi trường lành mạnh giữa các doanh nghiệp Hoạt động kiểm tra thuế giúp cho người nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý ngân sách nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN

Trên thực tế, công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế Thành phố Huế được tổ chức cụ thể tại phòng kiểm tra 1 và kiểm tra 3 Mỗi phòng kiểm tra bao gồm 15 người, trong đó gồm 1 đội trưởng, 1 đội phó, 13 nhân viên Phòng kiểm tra có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra các đối tượng nộp thuế trên cơ sở khai thác thông tin, phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng, khai thác dữ liệu hồ sơ khai thuế hằng tháng của người nộp thuế, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, so sánh với các dữ liệu thông tin của cơ quan thuế; kiểm tra tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế; phát hiện những nghi vấn, bất thường trong kê khai thuế, yêu cầu NNT giải trình hoặc điều chỉnh kịp thời

Quy trình kiểm tra tại Chi cục thuế Thành phố Huế được phân chia theo căn cứ địa điểm tiến hành kiểm tra là kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

2.3.1.1 Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế

- Kiểm tra hồ sơ khai thuế

Kiểm tra tại trụ sở CQT được tiến hành thường xuyên đối với các hồ sơ khai thuế nhằm đánh giá tính trung thực, chính xác, hợp lý của hồ sơ khai thuế trên cơ sở so sánh, phân tích, đối chiếu với các nguồn thông tin thu thập Việc kiểm tra được tiến hành tại trụ sở CQT, cán bộ kiểm tra không được tiếp xúc trực tiếp với NNT Nội dung công việc kiểm tra tại trụ sở CQT do phòng kiểm tra thực hiện từ việc thu thập thông tin, lựa chọn DN kiểm tra, duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ đến việc tiến hành kiểm tra hồ sơ thuế và xử lý kết quả sau kiểm tra thuế

Theo qui định hàng tháng toàn bộ hồ sơ khai thuế phải được kiểm tra Hồ sơ khai thuế bao gồm: Hồ sơ khai thuế theo từng lần phát sinh; các loại hồ sơ khai thuế theo tháng; các loại hồ sơ khai thuế theo quý; các loại hồ sơ thuế theo năm của NNT được giao Đội kiểm tra thuế phân công cán bộ chuyên trách kiểm tra hồ sơ khai thuế của DN

Trang 30

Căn cứ hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp, cán bộ kiểm tra tiến hành phân tích, trường hợp phát hiệu dấu hiệu nghi vấn yêu cầu doanh nghiệp giải trình bổ sung thông tin, trường hợp không chấp nhận giải trình bổ sung thì phải đưa vào danh sách để lập

kế hoạch kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp

Tại bộ phận kiểm tra thuế của CQT, khi tiến hành kiểm tra thì nguồn thông tin chủ yếu dựa vào sự cung cấp của NNT và các dữ liệu kê khai thuế của NNT được lưu vào hệ thống dữ liệu của ngành thuế Những dữ liệu này bao gồm thông tin về NNT, tình hình nộp hố sơ khai thuế, tình hình nợ thuế Còn thông tin từ những nguồn bên ngoài như Ngân hàng, Kho bạc, Kiểm toán, Quản lý thị trường… cũng ít khi được cán

bộ kiểm tra quan tâm đến Kỹ thuật phân tích rủi ro để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế phụ thuộc rất lớn vào kinh nghiệm của cán bộ kiểm tra thuế, hầu hết, việc phân tích các chỉ tiêu để lựa chọn ra các hồ sơ rủi ro còn được tiến hành một cách thủ công, chưa có phần mềm được áp dụng để hỗ trợ cho cán bộ kiểm tra thuế trong khâu phân tích này Sau khi chọn ra được các doanh nghiệp có những rủi ro qua phân tích sơ

bộ, Đội trưởng đội kiểm tra sẽ phân bổ số lượng hồ sơ kiểm tra cân đối theo số nhân viên trong đội kiểm tra Số lượng hồ sơ kiểm tra tại Chi cục thuế là khá nhiều, mỗi nhân viên phòng kiểm tra kiểm tra trung bình khoảng 60 hồ sơ mỗi tháng

Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình này Cán bộ kiểm tra đối chiếu với các quy định của văn bản pháp luật về thuế, các chỉ tiêu trong tài liệu với các tài liệu kèm theo, đối chiếu các chỉ tiêu phản ánh trong tờ khai thuế, các tài liệu kèm theo tờ khai thuế với tờ khai thuế, các tài liệu kèm theo tờ khai thuế tháng trước, quý trước, năm trước, đối chiếu với các dữ liệu của NNT

có quy mô kinh doanh tương đương, có cùng ngành nghề, mặt hàng kinh doanh, đối chiếu với các thông tin, tài liệu thu thập được từ các nguồn khác Ngoài ra, cán bộ kiểm tra tại Chi cục thuế còn dùng phương pháp quan sát (tình hình kinh doanh, tài sản của NNT) để có được những đánh giá sơ bộ về tình hình kinh doanh của NNT

Sau khi tiến hành kiểm tra phát hiện thấy số liệu trên hồ sơ khai thuế có những chỉ tiêu cần làm rõ thì CQT sẽ có yêu cầu NNT phải giải trình hoặc bổ sung thông tin cho phù hợp

Khi NNT không có những giải trình phù hợp hoặc không bổ sung thì CQT sẽ gửi thông báo lần 2, nếu NNT vẫn không thực hiện thì NNT sẽ bị xử lý như sau:

Trang 31

- Các loại thuế, phí khai theo tháng gồm:

Thuế giá trị gia tăng

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tài nguyên

Thuế thu nhập doanh nghiệp khấu trừ tại nguồn đối với tiền hoa hồng đại lý Phí xăng dầu

Phí bảo vệ môi trường đối với trường hợp khai thác khoáng sản

-Trong các loại thuế thì chỉ có thuế TNDN là khai và tạm nộp theo quý

- Các loại thuế khai theo năm gồm:

Thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng (chênh lệch giữa bán và giá mua)

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế tài nguyên

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Thuế sử dụng đất nông nghiệp

Tiền thuê mặt đất, mặt nước

Thuế môn bài

Hồ sơ khai thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân nộp thuế khoán

- Các loại thuế khai thuế theo từng lần phát sinh gồm:

Khai thuế GTGT và thuế TNDN đối với nhà thầu nước ngoài không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam

Nội dung kiểm tra hồ sơ khai thuế: Nội dung kiểm tra hồ sơ thuế được thực hiện

theo đúng quyết định 528/QĐ-TCT ngày 29/05/2008 về quy trình kiểm tra thuế Bao gồm các công việc chủ yếu là:

Kiểm tra tính đầy đủ của các hồ sơ khai thuế: Hồ sơ khai thuế của từng loại thuế

phải có đầy đủ các tờ khai, biểu mẫu theo đúng quy định của pháp luật về thuế

Trang 32

Kiểm tra thời hạn nộp thuế:

Đối với hồ sơ khai thuế tháng, chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo phát sinh nghĩa vụ thuế

Đối với hồ sơ khai thuế tháng, chậm nhất là ngày 30 của tháng tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế

Đối với hồ sơ khai thuế năm, chậm nhất là ngày thứ 30 của tháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính

Thời hạn nộp hồ sơ thuế được xác định căn cứ vào dấu tiếp nhận hồ sơ của CQT

Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ khai thuế: Hồ sơ khai thuế phải đảm bảo theo

đúng mẫu quy định, được ghi đầy đủ các chỉ tiêu; có chữ ký của người có thẩm quyển;

có đóng dấu của cơ sở kinh doanh Trường hợp phát hiện hồ sơ thuế không đáp ứng được các yêu cầu nêu trên thì CQT yêu cầu NNT khắc phục sai sót và nộp bản thay thế Thời điểm CQT nhận bản thay thế được coi là thời điểm nộp hồ sơ thuế

Kiểm tra căn cứ tính thuế trong hồ sơ khai thuế:

Mỗi loại thuế có căn cứ tính thuế khác nhau, cán bộ kiểm tra phải căn cứ vào những văn bản pháp luật về các loại thuế để có thể xác định và kiểm tra các căn cứ tính thuế Phương pháp kiểm tra chủ yếu trong quá trình kiểm tra căn cứ tính thuế cụ thể như sau:

Thuế GTGT:

Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: Đối chiếu số liệu giữa tờ khai thuế GTGT với bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra; bảng phân bổ số thuế GTGT được khấu trừ trong kỳ để phát hiện được sự mâu thuẫn giữa các số liệu

Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: Đối chiếu các chỉ tiêu trong tờ khai quyết toán thuế với các chỉ tiêu được cộng dồn của các tờ khai tháng trong năm

Thuế TTĐB:

Đối chiếu số liệu giữa tờ khai thuế TTĐB với bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ bán ra chịu thuế TTĐB; bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào chịu thuế TTĐB để xác định các chỉ tiêu: sản lượng tiêu thụ, doanh thu bán ra chưa có thuế TTĐB (không có thuế GTGT), thuế TTĐB được khấu trừ Kiểm tra thuế suất thuế TTĐB của các mặt hàng và đối chiếu với tờ khai thuế các tháng trước

Trang 33

Thuế tài nguyên:

Kiểm tra giá tính thuế đơn vị tài nguyên để xác định có phù hợp với quy định về giá tính thuế trong các văn bản hướng dẫn về giá tính thuế tài nguyên hay không Đối chiếu với giá tính thuế trong các tờ khai trước đây để phát hiện ra mức chênh lệch Kiểm tra mức thuế suất hoặc mức thuế tài nguyên ấn định trên một đơn vị tài nguyên

so với chế độ quy định, kiểm tra căn cứ phản ánh số thuế tài nguyên dự kiến được

miễn, giảm trong kỳ

Thuế TNDN:

Kiểm tra tờ khai thuế TNDN tạm tính dành cho người nộp thuế cần kiểm tra doanh thu phát sinh trong kỳ và chi phí phát sinh trong kỳ (trường hợp khai thuế theo thực tế phát sinh) hoặc tỷ lệ thu nhập chịu thuế tính trên doanh thu (trường hợp khai thuế theo tỷ lệ thu nhập tính trên doanh thu) Cần đối chiếu với doanh thu trong tờ khai thuế GTGT hoặc doanh thu trong tờ khai thuế TTĐB trong cùng kỳ Đối với chi phí thì cần so sánh tỷ lệ chi phí phát sinh với các tờ khai của quý trước (trường hợp khai thuế

theo thực tế phát sinh)

Kiểm tra tờ khai quyết toán thuế TNDN cần đối chiếu các chỉ tiêu tổng lợi nhuận

kế toán trước thuế TNDN với phụ lục “Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh”, đối chiếu chỉ tiêu “ Lỗ từ các năm trước chuyển sang” với chỉ tiêu này trong mục “chuyển lỗ” và một số chỉ tiêu khác

Thuế môn bài:

Đối với tờ khai thuế môn bài chủ yếu là kiểm tra vốn đăng ký, khi kiểm tra cần

so với vốn đăng ký được ghi trong giấy đăng ký kinh doanh Trên cơ sở vốn đăng ký, xác định bậc môn bài và số thuế phải nộp

Ví dụ: Kiểm tra hồ sơ khai thuế TNDN- Phụ lục 1

- Kiểm tra hồ sơ hoàn thuế thuộc diện hoàn thuế trước-kiểm tra sau

Kiểm tra hồ sơ hoàn thuế cũng là một trong những nội dung kiểm tra thuế đáng chú

ý Đối với hồ sơ hoàn thuế, có thể phân thành 2 hình thức kiểm tra là kiểm tra trước, hoàn thuế sau và hình thức hoàn thuế trước, kiểm tra sau Đối với những trường hợp được hoàn thuế lần đầu và thuộc các trường hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì quá trình kiểm tra

sẽ được tiến hành tại Đội kiểm tra thuế Trường hợp hoàn thuế trước- kiểm tra sau sẽ được Đội KK-KKT và Tin học thực hiện Nội dung công việc chủ yếu như sau:

Trang 34

Phân tích chi tiết hồ sơ hoàn thuế; đối chiếu với các tài liệu, dữ liệu phần mềm ứng dụng QLT tại Chi cục thuế để tìm ra những điểm bất thường hay có dấu hiệu nghi vấn

Đối chiếu thuế GTGT đề nghị hoàn và các số liệu liên quan đến số thuế hoàn trên

hồ sơ hoàn thuế với phiếu theo dõi thu nộp thuế, tờ khai thuế GTGT, bảng kê chi tiết hóa đơn, hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra đã kê khai

Đối chiếu báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn với bảng kê chi tiết Xem xét số thuế trên các tờ khai với số thuế GTGT của các tháng trong kỳ hoàn thuế Kiểm tra

DN đã dừng khấu trừ trên tờ khai thuế GTGT hay chưa; số đề nghị hoàn có lớn hơn số dừng khấu trừ không và có hướng xử lý thích hợp

Đối chiếu phân bổ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ; đối chiếu thuế GTGT

đã nộp ở khâu nhập khẩu; phân tích bảng kê hồ sơ xuất khẩu

Đối với các loại thuế khác khi có yêu cầu hoàn, cán bộ thuế cũng phải thực hiện, kiểm tra hồ sơ có thuộc diện hoàn thuế hay không, sau đó mới lập phiếu đề nghị hoàn thuế

Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh có các dấu hiệu bất thường, nghi vấn như: kê khai thu nhập chịu thuế lỗ liên tục nhiều tháng hoặc nhiều năm, số thuế được hoàn tăng, giảm đột biến… thì bộ phận KK-KTT có tờ trình xin ý kiến của lãnh đạo Chi cục Trường hợp, lãnh đạo Chi cục thuế cho tiếp tục giải quyết hồ sơ theo diện hoàn trước- kiểm tra sau và lưu ý các thông tin cảnh báo thì tờ trình có ý kiến của lãnh đạo phải được chuyển đến các bộ phận liên quan để ký nhận

Trường hợp có chỉ đạo chuyển sang diện kiểm tra trước- hoàn thuế sau thì bộ phận KK-KTT chuyển thông báo hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước khi hoàn, kèm theo bộ hồ sơ hoàn thuế, phiếu phân loại hồ sơ, phiếu nhận xét cho bộ phận kiểm tra thực hiện Đồng thời phải sao gửi thông báo này cho NNT và bộ phận Tuyên truyền và hỗ trợ

2.3.1.2 Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

Như đã trình bày ở trên, trong trường hợp NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu, không khai bổ sung thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc CQT không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp thì CQT sẽ tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT

Trang 35

Đối với các trường hợp kiểm tra hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước-hoàn thuế sau thì bộ phận kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT các trường hợp sau:

- Hoàn thuế theo quy định của điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên

- NNT đề nghị hoàn thuế lần đầu

- NNT có hành vi trốn thuế, gian lận thuế trong thời hạn 02 năm tính từ thời điểm

đề nghị hoàn trở về trước

- NNT không thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định

- Các DN sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi hình thức sở hữu, chấm dứt hoạt động; giao, bán khoán, cho thuê DN Nhà nước

Ngoài ra, để đánh giá mức độ chính xác của công tác kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế, Chi cục cũng thực hiện kiểm tra ngẫu nhiên một vài DN để kiểm tra thuế tại trụ

sở của người nộp thuế

Cán bộ kiểm tra thuế chỉ được tiến hành kiểm tra thuế tại trụ sở NNT khi có quyết định kiểm tra thuế của Chi cục trưởng Sau đó, phòng kiểm tra sẽ tổ chức, cử một nhóm cán bộ kiểm tra thuế từ 3-4 người đến tại trụ sở của NNT để tiến hành xác minh, làm rõ các nội dung nghi vấn về tính chính xác, trung thực hợp lý của hồ sơ khai thuế Thời gian làm việc tại trụ sở NNT theo quy định là tối đa không quá 05 ngày làm việc và trên thực tế thì đoàn kiểm tra thường làm việc từ 03-05 ngày tại trụ sở NNT Trưởng đoàn sẽ là người chịu trách nhiệm kiểm soát chung cuộc kiểm tra, các thành viên trong đoàn sẽ phân công nhiệm vụ trước khi thực hiện công việc tại DN Ngoài các chỉ tiêu trong hồ sơ khai thuế, trong quá trình tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT, Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra tài sản, vật tư, hàng hóa, xem xét chứng từ kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu có liên quan trong phạm vi nội dung của quyết định kiểm tra thuế Riêng đối với kiểm tra hoàn thuế thì đoàn kiểm tra quan tâm đến những tài liệu quan trọng khác như là: sổ sách kiểm tra, bộ hồ sơ xuất khẩu; tờ khai hải quan phải có dấu của cơ quan hải quan; phương thức thanh toán, chứng từ thanh toán…

Tùy vào quy mô của DN, đối với những DN có số lượng chứng từ ít thì có thể tiến hành kiểm tra toàn bộ Còn đối với những DN có số lượng chứng từ kiểm tra nhiều thì cán bộ đoàn kiểm tra sẽ tập trung kiểm tra những điểm nghi vấn, có ảnh hưởng lớn đến số thuế phải nộp của DN Việc khoanh vùng kiểm tra như thế này có

Trang 36

thể giúp cán bộ kiểm tra tập trung tìm kiếm bằng chứng cho những điểm nghi vấn Thông thường, cán bộ kiểm tra sẽ tập trung vào các khoản mục doanh thu, chi phí có những rủi ro (có dấu hiệu không bình thường so với tháng trước, năm trước, hoặc có những đột biến tăng hoặc giảm), hoặc khoanh vùng kiểm tra chứng từ theo tháng mà

DN có những phát sinh bất thường hoặc đột biến nhất Trường hợp đối với hồ sơ hoàn thuế do hàng tồn kho nhiều, DN đang trong giai đoạn đầu tư TSCĐ, chưa có thuế GTGT đầu ra thì cán bộ thuế phải nghiên cứu kỹ các điều kiện tiến hành kiểm tra thực

tế (hàng hóa, vật tư,, máy móc,…)

Với cách thức như vậy thì cán bộ kiểm tra sẽ kiểm tra được những nội dung trọng yếu, có thể cân đối được thời gian làm việc tại DN

2.3.1.3 Các phương pháp kỹ thuật áp dụng để phát hiện sai phạm

Một số kỹ thuật thường được sử dụng để thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm tra tại trụ sở NNT:

Quan sát: Cán bộ kiểm tra thường tiến hành quan sát để có thể tìm được mối liên

hệ giữa thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của NNT với các thông tin kế toán được trình bày trong hồ sơ khai thuế Thông qua việc quan sát đối tượng như vậy, cán

bộ kiểm tra sẽ có những ghi nhận ban đầu về đối tượng nộp thuế Việc quan sát được thực hiện trên giác độ phân tích tác động của những hiện tượng quan sát được đối với hoạt động kế toán của DN và mức độ ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế

Cán bộ thuế thường quan sát lượng hàng tồn kho (về số lượng và chất lượng), nhà xưởng, thiết bị và việc thực hiện các chức năng hoạt động trên thực tế của DN

Yêu cầu cung cấp thông tin: Cán bộ kiểm tra phải đặt rất nhiều câu hỏi trong quá

trình kiểm tra Quá trình hỏi- đáp được thực hiện dưới 2 hình thức là dạng văn bản và dạng trao đổi trực tiếp với DN Thông thường, nhân viên trong DN sẽ giải thích các chênh lệch trong số liệu kế toán Tuy nhiên, cán bộ kiểm tra sẽ không tin vào những câu trả lời mà không kèm theo dẫn chứng xác thực Cán bộ kiểm tra phải thu thập được những dẫn chứng xác thực nhằm đảm bảo câu trả lời mà DN đưa ra là hợp lý

Xác nhận: là một loại hình yêu cầu cung cấp thông tin mà cán bộ kiểm tra thực

hiện bằng cách lấy xác nhận bằng văn bản của các công ty hoặc cá nhân bên ngoài Ví

dụ như CQT có thể xác định về mức chiết khấu thanh toán hoặc chiết khấu thương mại của các đơn vị cung cấp hàng hóa cho DN

Trang 37

Truy lần lại việc xử lý dữ liệu: Để phát hiện những sai sót khi xử lý số liệu kế

toán, cán bộ kiểm tra thực hiện lại một bước xử lý cụ thể nào đó trong quá trình xử lý

dữ liệu để đánh giá xem việc xử lý dữ liệu đó có chính xác hay không Kỹ thuật này có thể được thực hiện bằng cách từ một kết luận có trước, cán bộ kiểm tra sẽ tiến hành thu thập tài liệu làm cơ sở cho kết luận mà cần khẳng định hoặc kiểm tra một nghiệp vụ liên quan đến số thuế phải nộp thì cán bộ kiểm tra phải truy lần lại các bút toán từ các chứng từ gốc đến sổ cái tài khoản hoặc từ sổ sách kế toán đến chứng từ gốc

Tính toán lại: Tính chính xác về số học của các phép tính trong quá trình xử lý số

liệu có thể được chứng minh bằng cách tính toán lại các kết quả Trong một số trường hợp, cán bộ kiểm tra phải tính toán lại số liệu giữa các chỉ tiêu trên tờ khai thuế

Xác minh: Các giao dịch trao đổi thường có liên quan đến sự luân chuyển của các

chứng từ giữa các bên tham gia giao dịch

Cán bộ kiểm tra tiến hành xác minh nghiệp vụ xuất, nhập kho hang hóa trong việc luân chuyển chứng từ như: nhân viên khi mang hàng hóa và hóa đơn về thì thủ kho hoặc bộ phận tiếp nhận phải lập phiếu nhập kho và ghi theo số lượng, chủng loại hàng hóa; còn kế toán thì hạch toán theo chủng loại và giá trị; kế toán thanh toán đối chiếu các chứng từ để thanh toán với người bán, do vậy giữa các bộ phận đều có sự kiểm soát lẫn nhau để chứng minh các giao dịch kinh tế đó có xảy ra

Phân tích tỷ suất và xu hướng: là việc tính toán các tỷ suất cơ bản từ báo cáo tài

chính và so sánh các tỷ suất này với các tỷ suất của các năm trước đó và tỷ suất bình quân ngành

Phân tích xu hướng(phân tích ngang): là những phân tích những thay đổi theo

thời gian của số dư tài khoản, các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Phân tích xu hướng thường được dùng để kiểm tra sự tăng, giảm so với kỳ trước hoặc so sánh các chỉ tiêu giữa các tháng trong kỳ, hoặc so sánh số dư(số phát sinh) của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ… nhằm phát hiện ra những biến động bất thường để tiến hành kiểm tra tập trung

Chênh lệch đột biến của các tỷ suất này cho thấy những lĩnh vực cần kiểm tra và phải có được giải thích hợp lý về những chênh lệch đột biến này

Phân tích tỷ suất(phân tích dọc): là các thức so sánh các chỉ tiêu hoặc các loại

hình nghiệp vụ Phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về số thuế phải nộp của

Trang 38

một DN với một DN khác cùng ngành Thông thường, khi phân tích tỷ suất cũng phải xem xét xu hướng của tỷ suất đó

Bằng chứng kiểm tra và kỹ thuật chọn mẫu khi tiến hành kiểm tra:

Việc thực hiện các bước kiểm tra thực chất chính là để cán bộ kiểm tra thu thập được các bằng chứng nhằm xác định NNT đã kê khai thuế đúng hay không, đồng thời

là căn cứ để chứng minh số thuế điều chỉnh sau kiểm tra là có cơ sở chứng minh: Bằng chứng kiểm tra được thu thập dưới một số dạng sau:

- Dạng văn bản

- Dạng nói miệng

- Dạng trực quan

Ví dụ: Đối tượng nộp thuế cung cấp dưới dạng như: chứng từ gốc, sổ sách và báo

cáo kế toán và sự trình bày giải trình bằng miệng hay bằng văn bản

Bằng chứng do bên thứ ba cung cấp như hợp đồng hoặc thanh lý hợp đồng của khách hàng; hóa đơn bán hàng của nhà cung cấp, bảng kê xác nhận nợ

Mức độ tin cậy của bằng chứng phụ thuộc vào dạng bằng chứng và nguồn bằng chứng Bằng chứng văn bản có độ tin cậy hơn nói miệng, bằng chứng do cán bộ kiểm tra thu thập được có độ tin cậy cao hơn do đối tượng nộp thuế cung cấp; bằng chứng bên ngoài có độ tin cậy cao hơn bằng chứng nội bộ

Sự phù hợp và đầy đủ của bằng chứng kiểm tra phụ thuộc vào mục tiêu kiểm tra đối tượng nộp thuế được chỉ ra cần quan tâm đến cơ sở dẫn liệu nào của các khoản mục cần được kiểm tra và số lượng các bằng chứng cần có liên quan đến độ tin cậy của bằng chứng

Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm tra:

Trong kiểm tra tại trụ sở NNT có rất nhiều chứng từ gốc nên việc chọn mẫu là một kỹ thuật để hỗ trợ cán bộ kiểm tra có thể giảm bớt khối lượng công việc trong thời gian kiểm tra Việc chọn mẫu có thể được thực hiện theo:

Chọn mẫu theo nhóm( thứ tự thời gian, số học)

Chọn mẫu ngẫu nhiên

Chọn mẫu phân tầng

Sau khi hoàn thành việc chọn mẫu, cán bộ kiểm tra sẽ phân tích, nếu thấy có sự sai s

ót thì cần phải phân tích các sai sót đó là vô tình hay cố ý, có lặp đi lặp lại hay không, và đánh giá mức độ sai sót có nghiêm trọng hay không, có phải là gian lận hay không

Trang 39

Tùy theo mức độ, nội dung kiểm tra mà cán bộ kiểm tra có thể mở rộng phạm vi chọn mẫu hoặc tiến hành kiểm tra số liệu chi tiết hơn

2.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Huế

2.3.2.1 Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế

Việc kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của các hồ sơ khai thuế bộ phận tiếp nhận hồ sơ- thuộc đội Tuyên truyền và hỗ trợ NNT của Chi cục thực hiện các bước kiểm tra ban đầu Bộ phận “một cửa” là nơi trực tiếp tiếp nhận và xử lý hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, các tài liệu, chứng từ có liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định, nhập dữ liệu, hạch toán ghi chép toàn bộ các thông tin trên tờ khai, chứng từ nộp thuế và các tài liệu có liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Nếu hồ sơ đã đầy đủ và hợp lệ thì hồ sơ đó sẽ được chuyển từ bộ phận “một cửa” đến đội Kiểm tra thuế Toàn bộ hồ sơ khai thuế sau khi kiểm tra tính hợp lệ sẽ được chuyển sang đội kiểm tra để tiến hành xem xét, phân tích sơ bộ các loại hồ sơ

Trong những năm gần đây, số hồ sơ thuế cần kiểm tra tại Chi cục thuế Thành phố Huế ngày càng tăng lên, tuy nhiên, tốc độ tăng số lượng hồ sơ kiểm tra năm 2012 so với năm 2010 không cao, chỉ tăng khoảng 5.6% Số lượng hồ sơ tăng không cao là do năm

2012 là một năm khó khăn đối với các DNNVV, số lượng các DNNVV giải thể rất lớn, xấp xỉ bằng với số DN đăng ký kinh doanh trong năm 2012, vậy nên, số lượng hồ sơ cần kiểm tra trong năm 2012 có mức tăng không nhiều so với năm 2011 Tình hình thực tế công tác kiểm tra thuế tại trụ sở CQT được phản ánh thực tế trong bảng sau:

Bảng 2.4 Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Chi cục thuế

thành phố Huế giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Lượt

Năm

Tổng số lượt DN

đã nộp hồ sơ khai thuế

Trong đó

Tỷ lệ % hồ sơ chưa kiểm tra

Hồ sơ được chấp nhận

Không được chấp nhận

Chưa kiểm tra

Trang 40

Số liệu ở bảng 2.4, cho thấy trong tổng số 76.645 lượt hồ sơ khai thuế mà DNNVV đã nộp qua 3 năm: Có 57.713 hồ sơ được chấp nhận sau kiểm tra, 5.531 lượt

hồ sơ không được chấp nhận sau kiểm tra và 13.400 lượt hồ sơ chưa được kiểm tra chiếm tỷ lệ 17.56% trên tổng số hồ sơ khai thuế

Nguyên nhân của việc không chấp nhận hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp sau kiểm tra là do nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu hết các chính sách thuế cũng như chế độ kế toán Mặt khác các DNNVV này không mấy quan tâm đến người làm công tác kế toán, thuê kế toán với mức lương thấp làm việc bán thời gian Một kế toán viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán nhưng cũng có thể nhận một lúc

4 đến 5 doanh nghiệp để làm kế toán, dẫn đến nhầm lẫn số liệu giữa công ty này và công

ty kia Ngoài ra việc kê khai thuế theo phần mềm KKHT người nộp thuế cũng có nhiều bất cập dẫn đến sai số học trong việc lập tờ khai thuế Điều này có thể do công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa thực sự cao Nhưng có thể thấy rằng, số hồ sơ khai thuế không được chấp nhận đang có dấu hiệu giảm dần trong những năm gần đây, điều này cho thấy các DNNVV cũng đang dần hoàn thiện bộ máy

kế toán tại DN của mình và công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT đang ngày càng trở nên hiệu quả hơn Mặt khác, cũng có thể là do trình độ cán bộ kiểm tra còn có những thiếu sót, dẫn đến tình trạng không phát hiện được những sai phạm trong hồ sơ khai thuế Tuy nhiên, theo đánh giá về trình độ của cán bộ phòng kiểm tra thì các cán bộ kiểm tra là những người có kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ khá tốt nên tỷ lệ số hồ sơ sai phạm giảm theo thời gian có thể do việc thực hiện kê khai của NNT đang dần tốt hơn

Nguyên nhân của việc chưa kiểm tra 13.400 hồ sơ khai thuế là do nguồn lực của cán bộ kiểm tra có hạn, không đáp ứng với tốc độ tăng của Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố quản lý Với việc quản lý gần 1.700 DNNVV cùng với một số lượng lớn các

cá nhân, hộ kinh doanh cá thể, thì số lượng nhân viên kiểm tra thuế hiện có tại Chi cục

là quá nhỏ Tuy nhiên, có thể thấy, tỷ lệ số hồ sơ chưa kiểm tra hiện đang có xu hướng giảm dần, từ 22.68% giảm xuống chỉ còn 14.48% cho thấy một dấu hiệu tốt, có thể nhận định rằng là công tác kiểm tra đang càng ngày càng nâng cao được năng suất công việc

Số lượng hồ sơ thuế tăng theo từng năm, công việc của cán bộ thuế cũng nhiều hơn, đòi hỏi sức bền và độ nhạy bén trong công việc, kinh nghiệm trong công việc của cán bộ kiểm tra càng nhiều hơn

Ngày đăng: 03/04/2017, 07:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố giai đoạn 2010-2012 - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố giai đoạn 2010-2012 (Trang 21)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục thuế thành phố Huế - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục thuế thành phố Huế (Trang 24)
Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ cán bộ công chức tại Chi cục thuế - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ cán bộ công chức tại Chi cục thuế (Trang 26)
Bảng 2.3 Kết quả thu NSNN tại Chi cục thuế thành phố Huế - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.3 Kết quả thu NSNN tại Chi cục thuế thành phố Huế (Trang 27)
Bảng 2.4 Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Chi cục thuế - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.4 Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Chi cục thuế (Trang 39)
Bảng 2.5 Tình hình kiểm tra thuế tại trụ sở CQT giai đoạn 2010-2012 - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.5 Tình hình kiểm tra thuế tại trụ sở CQT giai đoạn 2010-2012 (Trang 41)
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế tại trụ sở NNT - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế tại trụ sở NNT (Trang 44)
Bảng 2.8 Kết quả kiểm tra thuế giai đoạn 2010-2012 tại Chi cục thuế - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.8 Kết quả kiểm tra thuế giai đoạn 2010-2012 tại Chi cục thuế (Trang 45)
Bảng 2.9 Kết quả kiểm tra thuế theo từng sắc thuế giai đoạn - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.9 Kết quả kiểm tra thuế theo từng sắc thuế giai đoạn (Trang 46)
Bảng 2.10 Kết quả thanh, kiểm tra của Cục thuế đối với các DNNVV - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.10 Kết quả thanh, kiểm tra của Cục thuế đối với các DNNVV (Trang 48)
Bảng 2.11 Kết quả công tác kiểm tra nội bộ giai đoạn 2010-2012 - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.11 Kết quả công tác kiểm tra nội bộ giai đoạn 2010-2012 (Trang 51)
Bảng 2.12 Tình hình nộp các loại thuế truy thu và số tiền phạt - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.12 Tình hình nộp các loại thuế truy thu và số tiền phạt (Trang 52)
Hình 3.1 Chuyển từ hình thức kiểm tra toàn diện sang kiểm tra hạn chế. - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Hình 3.1 Chuyển từ hình thức kiểm tra toàn diện sang kiểm tra hạn chế (Trang 70)
Hình 3.2 Chuyển từ kiểm tra chủ yếu tại trụ sở NNT sang kiểm tra chủ yếu tại CQT. - Luận văn báo cáo: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế
Hình 3.2 Chuyển từ kiểm tra chủ yếu tại trụ sở NNT sang kiểm tra chủ yếu tại CQT (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w