1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mot so bien phap giup HS lớp 3 viet dung chinh ta

29 734 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 242 KB
File đính kèm skknl3.rar (40 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tảChính tả hiểu theo nghĩa gốc là “ phép viết đúng hoặc lối viết hợp với chuẩn” cụ thể chính là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất theo các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên nước ngoài, nói cách khác chính tả chính là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ. Mục đích của nó là làm phương tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất nội dung văn bản. Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng một cách linh hoạt có tính chất sang tạo cá nhân. Do vậy phân môn chính tả có tầm quan trong rất lớn góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp. Hơn nữa việc dạy chính tả không chỉ liên quan đến các kĩ năng giao tiếp mà ở một khía cạnh nào đó là vấn đề văn hóa. “Luyện nét chữ rèn nết người” là vì vậy.

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “ phép viết đúng hoặc lối viết hợp với chuẩn”

cụ thể chính là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất theo các từ của mộtngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên nước ngoài, nói cách khácchính tả chính là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ Mục đích của nó làlàm phương tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết vàngười đọc đều hiểu thống nhất nội dung văn bản Chính tả trước hết là sự quy định

có tính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng một cách linh hoạt có tính chấtsang tạo cá nhân Do vậy phân môn chính tả có tầm quan trong rất lớn góp phầnnâng cao hiệu quả giao tiếp Hơn nữa việc dạy chính tả không chỉ liên quan đếncác kĩ năng giao tiếp mà ở một khía cạnh nào đó là vấn đề văn hóa “Luyện nétchữ - rèn nết người” là vì vậy

Phân môn chính tả ở chương trình tiểu học dạy cho học sinh tri thức và kĩnăng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức viết trong hoạtđộng giao tiếp Nếu như phân môn Tập viết dạy cho học sinh biết viết chữ thìchính tả dạy cho các em cách tổ hợp các chữ đúng quy ước của xã hội để làm chấtliệu hiên thực hóa ngôn ngữ

Nếu như trong chúng ta không biết chữ hoặc không viết đúng chuẩn, conngười sẽ tự hạn chế hoạt động giao tiếp, làm ảnh hưởng đến năng lực tư duy Vìthế dạy chính tả cho học sinh tiểu học còn giúp các em hình thành được năng lực

tư duy Qua đo có thể thấy rằng chính tả là môn học có tính công cụ, có vị trí vôcùng quan trọng trong học tập và giao tiếp của học sinh Chính tả cũng là môn họcđặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ và sự phát triển chung

Phân môn chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành thói quen viếtđúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hóa,Tiếng Việt chuẩn mực Vì vậy phân môn chính tả không thể thiếu trong chươngtrình môn tiếng việt nói riêng, các môn học trong nhà trường nói chung

Trang 2

Ở bậc học tiểu học phân môn chính tả càng có vị trí quan trọng bởi vì giai đoạntiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho họcsinh Không ngẫu nhiên mà ở tiểu học chính tả được bố trí thành một phân mônđộc lập thuộc môn tiếng việt và có tiết dạy riêng.Trong khi đó ở trung học cơ sở vàtrung học phổ thông, chính tả chỉ được dạy xen kẽ trong các tiết thực hành ở phânmôn tập làm văn chứ không tồn tại là một phân môn đọc lap như ở tiểu học.

Giống như các phân môn khác trong tiếng việt, tính chất nổi bật của phan mônchính tả là tính chất thực hành Bởi lẽ, chỉ có thể hình thành kĩ năng kĩ xảo chính

tả cho học sinh thông qua việc thực hành luyên tập Do đó trong phân môn này cácquy tắc chính tả, các đơn vị mang tính chất lí thuyết không được bố trí trong tiếtdạy riêng mà dạy lồng ghép vào hệ thông bài tập chính tả, nội dung cấu trúc củacác bài chính tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học (phần chính tả) thể hiệnrất rõ tính chất thực hành nói trên

Phân môn chính tả ngoài nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững cac qui tắc chính

tả và hình thành năng lực, thói quen chính tả còn rèn luyện cho học sinh một sốphẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi dưỡng cho học sinh long yêu quýtiếng việt và chữ viết của tiếng việt

Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ chính tả mà

có thể rèn luyện phân tích từ phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Ví dụ một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tả thì bàivăn đó không đạt điểm cao Nếu một em viết sai nhiều lỗi chính tả (từ 5 lỗi trở lên)thì không thể học tốt các môn học khác

Tuy nhiên, việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh hiện nay đạt hiệuquả chưa cao Một trong số các nguyên nhân đó là giáo viên chưa chú ý đúng mức

và đầy đủ tới vai trò cũng như đặc trưng của phân môn Chính tả đối với việc hìnhthành kĩ năng chính tả cho học sinh Giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức

Trang 3

sao cho hiệu quả, cách thức, biện pháp hướng dẫn học sinh nắm được quy tắcchính tả còn gặp nhiều khó khăn.

Chính vì những lí do nêu trên mà tôi đã chọn và viết một số giải pháp hữu ích:

“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tả”.

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:

Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đó việcviết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Tuy nhiên doyếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác Mặc dù những quy tắc, quyước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung Nhưng việc “viết đúngchính tả” trong học sinh tiểu học còn nhiều khó khăn, tồn tại và học sinh lớp 3 lầnđầu được làm quen với kiểu bài chính tả nghe – viết lại càng khó khăn hơn nữa,đòi hỏi mỗi giáo viên và học sinh cần phải nổ lực để khắc phục tồn tại trên

Người giáo viên muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải thôngqua năng lực viết đúng chính tả của các em Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cần phảinhiệt tình trong công tác giảng dạy: rèn cho học sinh viết đúng chính tả ngay từđầu, dần dần các em ham thích trong mỗi giờ học chính tả như các môn học khác

Theo thống kê kiểm tra chất lượng đàu năm về phân môn chính tả lớp tôi đạtkết quả như sau:

Trang 4

- Theo tìm hiểu ở lớp 3B, tôi thấy học sinh thường mắc các loại lỗi sau:

a) Về thanh điệu: Học sinh chưa phân biệt được hai thanh hỏi và thanh ngã.

* Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sữa lỗi (từđúng: sửa lỗi ), …

b) Về âm đầu:

- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:

+ g/ gh: đua ge, gi bài

+ ng/ ngh: ngỉ nghơi

+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc

+ s/ x : sẻ gỗ, chim xẻ, sáng xuốt

+ d/ gi: dữ gìn, da vị

Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy các em thương mắc các lỗi về s/x ; g/gh;

ng/ngh; d/gi là phổ biến hơn cả

c) Về âm chính:

Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:

+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay)

+ ao/au/âu: lâu bàn ghế (lau bàn ghế)

+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe)

+ iu/êu/ iêu: kì dịu (kì diệu)

Trang 5

+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).

+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ)

+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp)

+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng)

+ ưi/ ươi: trái bửi (trái bưởi); khung cưỡi (khung cửi)

+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu)

d) Về âm cuối:

Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:

+ at/ac: đất các (đất cát)

+ an/ang: cái bàng (cái bàn)

+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo)

+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng)

+ ân/âng: vân lời (vâng lời)

+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)

+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật)

+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha)

+ uôn/uông: mong muống (mong muốn)

+ ươn/ương: vường rau (vườn rau)

e) Lỗi viết hoa:

Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em

Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:

• Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:

*Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-T1, tr.20).

- Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá Học sinh viết:

“Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”

• Viết hoa tùy tiện:

* Ví dụ: Nghe – viết: Người mẹ (TV3 - Tập 1), tr.30

Trang 6

- Câu: Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả Học sinh lại

viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được tất cả”

Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác như: Trìnhbày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là “mền”;

“miền Nam” lại viết “miềm Nam”)

Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đều mắc(kể cả học sinh khá, giỏi) số lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa, lỗi phụ

âm đầu và lỗi âm chính So với yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (không quá 5 lỗitrong một bài) thì kĩ năng viết chính tả của học sinh còn quá yếu

Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã áp dụng một số biện pháp rèn kĩ năng

viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3 trong : “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp

Trang 7

Từ đó, rèn cho học sinh phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vìchữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Nếugiáo viên phát âm chưa chuẩn, các em sẽ có thói quen phát âm sai và dẫn đến hiệntượng viết sai chính tả

Trong các giờ tập đọc, tôi thường xuyên gọi các em đọc và sửa sai những từ

mà các em thường phát âm không đúng Những tháng đầu năm học, mỗi ngày tôi

và các em vào lớp sớm 15 phút rèn phát âm cho các em thật chuẩn, kèm cặp, uốnnắn những em phát âm sai Cô giáo, học sinh phối hợp, các em đọc, cô nghe Côđọc các em viết

Ví dụ:

- Học sinh đọc rung rinh - cô giáo đọc ngọn gió, các em viết bảng con ngọn gió Nếu học sinh đọc sai cô giáo gọi các em phát âm lại và tự sửa Ngoài ra, tôicòn chọn một số đoạn văn có những âm, vần các em hay sai nằm trong các bài tậpđọc đã học chừa chỗ trống, nhứng âm vần hay sai để các em điền trên bảng lớpduwois hình thức thi đua

Ví dụ: Trong bài “ Chú Ở bên Bác Hồ” TV3- T2 – trang 16

“ Chú ở đâu? ở đâu?

.ường ơn dài ằng ặc?

.ường a đảo ổi ìm?

Hay on um, …ăk ăk”

Tôi luôn theo dõi và động viên các em dù tiến bộ rất ít Nếu em nào ngheđúng, đọc đúng, điền đúng tôi đều tuyên dương và khen ngợi Từ đó, các em tỏ rathích môn học chính tả hơn và có những bước tiến bộ theo từng ngày về cách phát

Trang 8

âm Không những các em được rèn luyện ở lớp, tôi còn trao đổi, phối hợp với phụhuynh học sinh để cùng rèn phát âm cho các em.

Không những trong giờ Tập đọc học sinh được luyện phát âm mà các em cònđược rèn luyện trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làmvăn, hay các môn học khác như Toán hay Tự nhiên và xã hội…

Biện pháp 2: Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:

Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, tôi cũng chú trọng khâu phântích so sánh tiếng, từ cho học sinh trong giờ học chính tả: với những tiếng khó,giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh Với những tiếng dễlẫn lộn, giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác giữa các từ để học sinh ghinhớ Bên cạnh đó, tôi còn cho các em quan sát các hình ảnh trực quan bàng máychiếu, vật thật Từ đó, các em nắm và ghi nhớ từ

* Ví dụ 1: Nghe – viết: Ông ngoại - (TV3 - Tập 1, tr.34)

Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, …trongđời đi học của tôi sau này”

Khi viết tiếng “lặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặn”, giáo viên yêu cầu họcsinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- Lặng = L + ăng + thanh nặng

- Lặn = L + ăn + thanh nặng

So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “lặng” có âm cuối là “ng” còn tiếng “lặn” có

âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ cách phát âm và cách viết sẽ không viết sai

* Ví dụ 2 : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1, tr.4

Trước khi viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một số tiếng dễlẫn lộn như:

+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).

+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.

Trang 9

Qua phần bài tập: Điền vào chỗ trống vần an hay ang?

- sáng loáng ≠ sán (sán: giun, lãi) nghĩa khác là tiến đến gần

Sau đó, tôi cho các em viết vào bảng con, đổi chéo kiểm tra rồi mới viết vào vở

Biện pháp 3: Phân biệt bằng giải nghĩa từ:

Do phương ngữ của từng vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưathống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng Vìvậy, để cung cấp nghĩa của từ cho học sinh thì vốn hiểu biết của giáo viên về từngữ cần phải phong phú Tôi thường xuyên tìm hiểu thêm từ điển tiếng Việt đểtrang bị cho mình thêm những vốn hiểu biết về từ Qua các bài chính tả, tôi chọnnhững từ ngữ thích hợp cho từng đối tượng học sinh hay nhầm lẫn và viết sai trênlớp để hướng dẫn các em hiểu nghĩa của từ và viết đúng chính tả, bằng cách hìnhthức khác nhau

*Ví dụ 1: Dạy Chính tả (Tập chép): Chị em - (TV3 – Tập1, tr.27)

Học sinh viết: Để chị trải chiếu, buông màn cho em

Học sinh đọc “buôn màn” nhưng viết “buông màn”, do đó học sinh cần hiểu

“buông” có nghĩa là thả màn xuống, còn “buôn” là buôn bán vì vậy phải viết là

“buông màn”

* Ví dụ 2: Dạy Chính tả (Nghe – viết): Người mẹ (TV3 – Tập 1, tr.30)

Trang 10

Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khó khăn,

hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất.

Học sinh đọc “dành” nhưng viết “giành” Giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa:

giành là tranh giành, giành phần hơn về mình còn dành là để dành (dành dụm, dỗ

dành)

* Ví dụ 3: Dạy Chính tả (Nghe – viết) : Ông ngoại (đoạn 3) - TV3, Tập 1, tr 35

Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổcủa chiếc trống trường

Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra” Tôi phân

biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các nghĩa có liên quan tới “da thịt”, trong “da diết”; còn gia viết là gi trong các trường hợp còn lại,

với các nghĩa là “nhà” (ví dụ: gia đình), chỉ người có học vấn, chuyên môn (ví dụ:chuyên gia), nghĩa khác (gia vị, gia súc,…)

Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu,Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi mà họcsinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng Cónhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh Giáo viên chú giải từ mới ở phân mônTập đọc kết hợp đặt câu Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩatừ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng đồ dùng dạy họcnhư: vật thật, tranh ảnh, giáo cụ trực quan… để giải nghĩa từ cho học sinh

Biện pháp 4: Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:

Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như các

âm đầu : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă, â, o, ô,

ơ, u, ư Để giúp các em ghi nhớ mẹo luật chính tả, các em tự chuẩn bị cho mìnhmột cuốn sổ tay chính tả để ghi lại nhưng luật chính tả này và thường xuyên kiểmtra nhau trong các giờ sinh hoạt 15 phút và giờ hoạt động ngoại khóa.Giáo viêncòn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau:

Trang 11

a) Phân biệt âm đầu s/x :

Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s (sắn, sung, sầuriêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói, sư tử,…)

b) Phân biệt âm đầu tr/ch :

Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch (chổi,chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột, châu chấu, chuồn chuồn,chào mào, chiền chiện,…)

c) Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy) :

Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:

Chị Huyền mang Nặng Ngã đau

Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.

Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã

Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi

+ Huyền – Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…

+ Sắc – Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…

+ Hỏi – Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…

Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau:

Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ Viết

Là Dấu Ngã)

*Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…

N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…

Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…

Trang 12

V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…

L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …

D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…

Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),

Ngoài 7 âm đầu trên, các từ Hán Việt đều viết dấu hỏi:

* Ví dụ: ảm đạm, ẩm thực, ủy ban, quỷ quyệt, xả thân, kỉ niệm, tỉ mỉ,

Ngoại lệ: quỹ đạo, thủ quỹ, xã hội, kĩ thuật, mĩ thuật,…

Biện pháp 5: Giúp học sinh viết đúng chính tả bằng trò chơi học tập

Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và chủyếu là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng Nhưngqua trò chơi , người chơi có thể rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội giao lưu vớimọi người cùng hợp tác với mọi người, cùng hợp tác với đồng đội trong nhóm,tổ

Ở bậc tiểu học cũng như các bậc học khác, sử dụng trò chơi trong quá trìnhhọc tập làm cho việc tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, củng cố tri thức bớt đi

sự khô khan, có thêm sự sinh động, hấp dẫn Từ đó hiệu quả học tập của học sinhtăng lên

Trong giờ chính tả, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ để hoàn thành bàitập Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiết học thì hiệu quả giờhọc không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ Sử dụng trò chơi học tập làphương pháp dạy học tích cực Từ đó làm thay đổi không khí trong lớp học, tạo

ra sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ vũ nhiệt tình của cácbạn trong lớp Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú hơn với việc học từngữ trong các bài tập mở rộng vốn từ, làm giảm bớt đi sự khô khan của bài học,học sinh tiếp thu ghi nhớ từ nhanh, sử dụng từ một cách chính xác

Các dạng bài tập chính tả thường gặp ở lớp 3 trong HKI là các dạng bài: Bàitập điền vào chỗ trống (Bài tập điền khuyết); Bài tập tìm từ; Bài tập tìm tiếng; Bài

Trang 13

tập giải câu đố; Bài tập lựa chọn Sang HKII có thêm dạng Bài tập đặt câu (Bài tậpphân biệt hai từ trong từng cặp từ).

Trong quá trình giảng dạy, tôi thường sử dụng các trò chơi như sau:

Tên trò chơi: THI TIẾP SỨC

- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng sửnhanh

+ Chuẩn bị:

- Bảng phụ hoặc kẻ bảng chính của lớp, trong bảng đó ghi đề bài

Đối với những bài tập:

a) Bài tập điền vào chỗ trống: Với dạng bài tập này thường giúp học sinh điền

đúng âm đầu, vần vào chỗ chấm:

* Ví dụ 1: Bài tập 2 a) – TV3, Tập 1, tr 22

Điền vào chỗ trống tr hay ch ?

- Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ

* Bài tập 3a) –TV3, Tập 1, tr.48

Điền vào chỗ trống s hay x ?

Giàu đôi con mắt, đôi tay

Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm

Hai con mắt mở, ta nhìn

Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời

* Ví dụ 2: - TV3, Tập 1, tr 35

* Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?

- …a vào; …a dẻ;…a đình

- …a rả; …a thịt, tham …a

* Ví dụ 3: Điền vào chỗ trống en hay eng ? (BT 2b – TV 3, tập 1, tr 41)

- Tháp Mười đẹp nhất bông s…

Trang 14

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

- Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây ch…đá lá ch…hoa

* Điền vào chỗ trông iên hay iêng ? (Bài tập 2b – TV3, Tập 1, tr 56)

Trên trời có g… nước trong.…

Con k… chẳng lọt, con ong chẳng vào.……

* Điền vào chỗ trống en hay oen ? (Bài tập 2 – TV3, Tập 1, tr 60)

- nhanh nh , nh… miệng cười, sắt h….gỉ, h nhát.., nh… miệng cười, sắt h….gỉ, h  nhát   nhát

b) Bài tập tìm từ:

Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từcùng nghĩa, trái nghĩa:

* Bài tập 3a) - TV3, Tập 1, tr 52

Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x có nghĩa như sau:

- Cùng nghĩa với chăm chỉ : …

- Trái nghĩa với gần : …

- (Nước) chảy rất mạnh và nhanh : …

* Bài tập 3b) - TV3, Tập 1 tr 31

Tìm các từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng có nghĩa như sau:

- Cơ thể của người: …

- Cùng nghĩa với nghe lời: …

Ngày đăng: 03/04/2017, 00:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w