1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp dạy từ vựng cho học sinh tiểu học bằng việc học từ mới qua các bài khóa

26 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 171 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi điều này ảnh hưởngrất nhiều đến động cơ học tập của học sinh, một yếu tố tác động cơ bản đến quátrình học một ngôn ngữ: Không có động cơ trẻ sẽ không học - và việc củng cốkiến thức c

Trang 2

cho quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của nước nhà Vì vậy nâng cao chấtlượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ môn Tiếng Anh nói riêng là mộttrong những mối quan tâm hàng đầu của sự nghiệp giáo dục hiện nay Và điều

đó được đặt biệt chú trọng hơn cho các đối tượng là học sinh ở bậc tiểu học Người mới bắt đầu tiếp cận với ngoại ngữ

-Để thực hiện mục tiêu này cần có hỗ trợ của Đảng, nhà nước, ngành giáo dục,nhất là đội ngũ các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh học sinh góp sức

Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng

Có thể thấy một ngôn ngữ là tập hợp của các từ vựng Không thể hiểu ngôn ngữ

mà không hiểu biết từ vựng,hoặc qua các đơn vị bài học Nhưng điều đó khôngphải chỉ hiểu những từ đơn lẻ, độc lập với nhau mà chỉ có thể năm vững đượcngôn ngữ thông qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng Như vậyviệc học từ vựng và rèn luyện kỹ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trongviệc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và và tiếng Anh nói riêng

Vì từ vựng là một ngôn ngữ nên nó được thể hiện giữa hai hình thức: Lời nói

và chữ viết Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó tức là phải nắm vững hình thứcbiểu đạt của từ bằng lời nói hay chữ viết Song do có mối liên quan của từ vựngvới các yếu tố khác trong ngôn ngữ ( ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu ) hoặc trongtình huống giao tiếp cụ thể ta thấy từ vựng là các “ viên gạch” còn ngữ pháp vàcác yếu tố ngôn ngữ khác được coi như những “mạch vữa” để xây lên thành môtngôi nhà “ ngôn ngữ”

Hiện nay tình trạng xao lãng việc học, học sinh học đối phó học vẹt mà khôngbiết tự học, học sinh yếu kém khá nhiều Làm thế nào để khắc phục tình trạngnày ? Làm thế nào để thu hút học sinh chú tâm vào việc học là vấn đề đòi hỏingười làm giáo dục, các thầy cô tâm huyết với nghề, hội đồng sư phạm nhàtrường quan tâm hàng đầu, luôn nỗ lực đề ra kế hoạch, chương trình, hình thức,cải tiến phương pháp để dạy và học tốt hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục

2 Mục đích nghiên cứu.

Trang 3

Phần lớn các em học sinh chưa chú tâm và đầu tư cho môn ngoại ngữ, chuẩn

bị bài một cách sơ sài, đối phó trong khi các em học rất yếu môn này Từ đó,một số em có tâm lý chán học bộ môn Tiếng Anh Trong các giờ học, đa sốcác em thường thụ động, thiếu sự linh hoạt, ngại việc đọc - nói Tiếng anh và íttham gia phát biểu để tìm hiểu bài học

Học sinh tiểu học là những trẻ em, mức độ nhận thức của các em còn thấp,chất lượng học tập bộ môn không đồng bộ Thêm nữa, học sinh thường chỉ quencách học cũ, ít đọc thêm sách báo phù hợp lứa tuổi để mở rộng bổ sung, nângcao kiến thức Đồng thời đây là những năm đầu làm quen với một ngoại ngữ,trong khi vẫn có một số lượng không nhỏ học sinh còn chưa học tốt tiếng mẹ đẻcủa mình

Hơn nữa Tiếng Anh ở bậc tiểu học chỉ là môn học phụ tự chọn, thế nên bảnthân học sinh và ngay cả phụ huynh cũng không quan tâm đến bộ môn này, họchỉ đầu tư cho con mình học nâng cao môn Toán, Tiếng Việt…

Tuy Tiếng Anh ở bậc tiểu học mới được coi là môn học chính khóa, năm họcnày mới là năm học thứ hai Song, nó có tính chất khởi đầu quan trọng trong cácnăm học tiếp theo ở cấp II Vì thế nó giữ một vai trò không nhỏ trong quá trìnhhọc tập của các em Nó trang bị cho các em vốn từ vựng, ngữ pháp và nhữngmẫu câu tối thiểu, cơ bản, đơn giản nhất xoay quanh những chủ điểm rất gầngũi, được các em yêu thích và quen thuộc, là những chủ điểm giới thiệu bảnthân, chủ điểm trường lớp bạn bè, chủ điểm gia đình, và chủ điểm khác (thế giớixung quanh các em) Chính vì thế việc gây hứng thú và củng cố kiến thức chohọc sinh là một việc vô cùng quan trọng thường xuyên Bởi điều này ảnh hưởngrất nhiều đến động cơ học tập của học sinh, một yếu tố tác động cơ bản đến quátrình học một ngôn ngữ: Không có động cơ trẻ sẽ không học - và việc củng cốkiến thức còn làm khắc sâu hơn những ngữ liệu đã học trong các tiết học mộtcách có hệ thống, làm nền tảng vững chắc giúp các em học tốt hơn, tự tin hơntrong quá trình học tập sau này

Để chất lượng môn học của các em đạt kết quả tốt nhất thì không phải là mộtchuyện dễ dàng Vậy làm thế nào để các em hình thành và phát triển kỹ năng

Trang 4

học tập toàn diện nhất ? Làm thế nào để các em yêu mến, khắc sâu vốn kiếnthức văn hóa nước ngoài ? Bằng hình thức nào giúp học sinh nắm bài vững màkhông nhàm chán, phải thật sự lôi cuốn, tạo không khí vui tươi thoải mái tronggiờ học, gây hứng thú cho học sinh khi tiếp thu văn hoá nước ngoài mà bản thâncác em chưa biết được chút gì.

Ngày nay trên những phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện rất nhiều tròchơi truyền hình thu hút đông đảo khán giả, nhất là khán giả trẻ tuổi như họcsinh, sinh viên

Tất cả những trò chơi, chương trình ca nhạc truyền hình, nếu được hỏi: “Hãy

kể tên các trò chơi, chương trình ca nhạc truyền hình mà em biết?” Các em sẽ trảlời vanh vách như “Rồng Vàng”, “Tam sao thất bản”, “Ki-ốt âm nhạc”, “Nào tacùng hát” vì đây là lượng khán giả trung thành nhất

Chúng ta đều biết bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp đượcvới nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ bởi vì từ vựng là một thành phầnkhông thể thiếu được trong ngôn ngữ Trong tiếng Anh chúng ta không thể rènluyện và phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựavào nền tảng của từ vựng

Thật vậy, nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không nghe được và hệquả của nó là không nói được, đọc không được và viết cũng không xong, cho dùcác em có nắm vững các mẫu câu

Do vậy, giúp học sinh nắm vững các từ đã học để vận dụng vào việc rènluyện các kỹ năng là việc làm rất quan trọng khiến tôi trăn trở và quyết định

thực hiện đề tài : “ Một số biện pháp dạy từ vựng cho học sinh tiểu học bằng việc học từ mới qua các bài khóa.” Xin ghi ra đây những kinh nghiệm nhỏ bé

của mình, có thể nó không mới nhưng tôi đã thực hiện và có một số kết quảtương đối Mong rằng những kinh nghiệm này góp phần bổ sung và làm phongphú hơn phương pháp dạy học của các bạn đồng nghiệp

3.Thời gian địa điểm.

Trang 5

Trong năm học 2013-2014 tôi được phân công giảng dạy môn tiếng Anh khối

lớp 5 Giáo trình tiếng Anh mới của bộ.Do vậy tôi đã áp dụng đề tài này với học

sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Quyết Thắng Năm học 2013 - 2014

4.Đóng góp mới về về mặt thực tiễn.

Hiện nay tình trạng xao lãng việc học, học sinh học đối phó học vẹt mà khôngbiết tự học, học sinh yếu kém khá nhiều Làm thế nào để khắc phục tình trạngnày ? Làm thế nào để thu hút học sinh chú tâm vào việc học là vấn đề đòi hỏingười làm giáo dục, các thầy cô tâm huyết với nghề, hội đồng sư phạm nhàtrường quan tâm hàng đầu, luôn nỗ lực đề ra kế hoạch, chương trình, hình thức,cải tiến phương pháp để dạy và học tốt hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, cũng giống như các bộ môn khác ,việcdạy và học Tiếng Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương pháp giáo dục,cải cách sách giáo khoa, giảm nội dung chương trình học nhằm làm phù hợp vớinhận thức của học sinh, làm cho học sinh tiếp cận với các nội dung, kiến thứchiện đại Vốn từ vựng tiếng Anh trong trương trình học cũng được sử dụng phùhợp với sự phát triển chung của xã hội

Trước hết, xuất phát từ đối tượng giảng dạy là học sinh ở lứa tuổi từ 6-12 vềhiểu biết về xã hội chưa có do vậy vốn từ vựng dạy cho các em ở cấp học nàythường phải được kết hợp với các kỹ năng dạy học phù hợp để gây hứng thú chohọc sinh Bên cạnh đó việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường còn diễn ratrong môi trường giao tiếp giữa thầy và trò còn nhiều hạn chế Số lượng học sinh

ở mỗi lớp rất đông, nhiều lớp tới 35 học sinh.Trình độ nhận thức có nhiều cấp

độ khác nhau phương tiện giảng dạy còn thiếu thốn…Điều này làm ảnh hưởngkhông nhỏ tới việc rèn kĩ năng cho học sinh và sự phân bố thời gian cho từngphần nội dung bài sao cho phù hợp từng loại bài giảng( thực hành, kĩ năng) cũng

là một tác động tới việc lựa chọn, nghiên cứu và áp dụng kĩ năng dạy từ vựngsao cho phù hợp

Qua thực tế dạy học những năm qua, tôi nhận thấy phương pháp cũ dạy học từvựng thường theo kiểu cũ Giáo viên đọc bài rồi liệt kê ra từng từ, cho học sinh

Trang 6

đọc và giải thích nghĩa của từ, từ loại, cách sử dụng từ đó…Nó còn có nhữnghạn chế cơ bản như sau: Học sinh học từ một cách thụ động, sử dụng từ trongtừng ngữ cảnh giao tiếp bị hạn chế, không linh hoạt và còn lệ thuộc nhiều vàocấu trúc ngữ pháp Do đó vấn đề được đặt ra là nghiên cứu áp dụng kĩ năng dạy

từ vựng, cụ thể là các kĩ năng dạy từ vựng, khả năng giới thiệu và kiểm tra từvựng sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao

II PHẦN NỘI DUNG

1 CHƯƠNG TRÌNH 1: TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở lý luận.

Như chúng ta đã biết, năm học 2013 - 2014 là năm học tiếp theo toànngành giáo dục ta thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung nhằmnâng cao chất lượng giáo dục Ở trường trung học cơ sở giáo viên dạy học sinhcác môn học khác nhau trên cơ sở trang bị cho học sinh hệ thống những kỹnăng, kỹ xảo cần thiết, nhằm đào tạo đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề,

có kỹ năng thực hành, năng động và sáng tạo …

Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ Giúp học sinh phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực

cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam

Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho họcsinh tiếp tục học lên những lớp cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham

gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạocũng đã nêu:“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của họcsinh , phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiệntừng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

1.2 Cơ sở thực tiễn:

Trang 7

a Thuận lợi :

- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sởvật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn : bộ tranhgiáo trình Let’s go, máy cassette, máy chiếu Overhead …

- Chính quyền địa phương và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường luôn hỗtrợ giáo viên trong quá trình công tác

- Bản thân giáo viên bộ môn luôn nhận được sự hỗ trợ từ các giáo viên cùng

tổ chuyên môn và các đồng nghiệp

- Đa số các em học sinh trong lớp đều yêu thích học Tiếng Anh và chuẩn bịtốt sách vở, đồ dùng cho việc học tập

- Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm và tạo điều kiện để con emmình học tập

b Khó khăn:

- Đa số các em chưa có phương pháp học từ vựng thật sự hiệu quả Về phíaphụ huynh, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học

ở nhà bởi môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết

- Một số học sinh nhất là các học sinh nam thường xao lãng và ít quan tâmđến việc học tập cũng như học từ vựng

- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài giờ học các em cònphải phụ giúp cha mẹ làm việc nhà, nhiều gia đình cũng rất vất vả về kinh tế nênmuốn mua cho con môt quyển sách để học còn khó thì nói gì đến sách thamkhảo để nâng cao vốn từ ngoài những từ vựng mà sách giáo khoa cung cấp

- Các em ít có điều kiện để giao tiếp bằng tiếng Anh và các em cũng ngạigiao tiếp, trao đổi nhau bằng tiếng Anh ngoài giờ học

2 CHƯƠNG 2:

NỘI DUNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 2.1 Thực trạng

Trang 8

* Khảo sát.

Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập,thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt độngcủa người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiếnthức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các emphải tự học bằng chính các hoạt động của mình

Phương pháp chủ đạo trong dạy học ngoại ngữ của chúng ta là lồng ghép,nghĩa là từ mới cần được dạy trong ngữ cảnh, ngữ cảnh có thể là một bài đọc,một đoạn hội thoại hay một bài khoá Tuy nhiên, nói đến cùng thì việc dạy vàhọc ngoại ngữ vẫn là việc dạy từ mới như thế nào ? Dạy cấu trúc câu mới nhưthế nào để học sinh biết cách sử dụng từ mới và cấu trúc mới trong giao tiếpbằng tiếng nước ngoài.Theo khảo sát cho thấy nếu chúng ta áp dụng phươngpháp cũ để giảng dạy từ mới học sinh tiếp thu bài chậm khả năng nhớ từ khóhơn và chóng quên.Học sinh học một cách thụ động ép buộc không có hứngthú.Điều này dẫn tới chất lượng tiết học không đảm bảo

*Đánh giá.

Ngay từ đầu, giáo viên cần xem xét các thủ thuật khác nhau cho từng bước

xử lý từ vựng trong các ngữ cảnh mới : gợi mở, dạy từ, kiểm tra và củng cố từvựng

-Có nên dạy tất cả những từ mới không ? Dạy bao nhiêu từ trong một tiết thìvừa

- Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới

- Dùng tranh ảnh, dụng cụ trực quan để giới thiệu từ mới

- Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc , vận dụng từ vựng vào cấu trúc

để hoàn thiện chức năng giao tiếp, thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới vàvốn từ đã có

- Khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và quanhững bài tập thực hành.Qua việc nghiên cứu tình trạng dạy và học từ vựng tôiđưa ra một số giải pháp sau

2.2.Các giải pháp.

Trang 9

a.Những vấn đề cần quan tâm trong quá trình dạy từ.

-Trước mỗi bài học giáo viên cần chuẩn bị tranh ảnh liên quan đến từng bài họclên tường hai bên phòng học để học sinh dễ nhìn và dễ nhận biết chúng đang họcbài nào? Mục đích cũng làm tăng thêm sự chú ý cũng như không khí trong lớphọc thỏa mái dễ chịu

- Sắp xếp những học sinh nhút nhát ngồi phía bàn trên gần giáo viên để tiện lắngnghe và tạo cơ hội động viên khích lệ trẻ

- Giáo viên phải nghiên cứu bài giảng trước khi lên lớp,viết tóm tắt định hướngtiết dạy,nhằm tìm ra mối liên quan giữa bài trước với bài sau, phần nào nên dạytrước phần nào sẽ dạy sau trong tiết dạy để học sinh dễ hiểu bài

- Nếu dạy bằng máy giáo viên nên bấm máy chậm vừa đủ để hs nghe- hiểu -đọcchính xác theo máy Giáo viên không cần đọc mẫu, học sinh chỉ đọc khi máy đãđọc xong Giáo viên luôn chú ý luyện cho học sinh cách phát âm,đọc đúng ngữđiệu theo máy và không được dạy mở rộng.GV không nên dịch tiếng việt khidạy từ

- Trong tiết dạy giáo viên phải bám sát khung phân phân bổ chương trình.Thựchiện đúng giáo học pháp qui định trong tài liệu hướng dẫn

- Sử dụng hiệu quả kỹ thuật giảng dạy và ghi điểm thi đua trong tiết học để họcsinh luôn phải chú ý hoà vào không khí học tập của lớp.Thực hiện mỗi học sinhphải đọc cá nhân ít nhất 1 lần/ tiết và đọc nhiều lần theo nhóm trong một tiếtdạy, giúp học sinh nhớ ngay bài trên lớp Đối tượng học là HS tiểu học nên giáoviên cần phải dạy tỉ mỉ hơn

- Khi tổ chức chơi trò chơi trên lớp.GV phải chú ý hướng dẫn thật cụ thể và rõràng luật chơi cho học sinh hiểu.Khen thưởng động viên kịp thời và công bằngvới mỗi học sinh

b Nhiệm vụ cụ thể của thày giáo trên lớp.

Dựa vào các hoạt động cụ thể trên lớp và quan điểm mới về vai trò người thầygiáo, có thể tóm tắt những nhiệm vụ cụ thể của thầy giáo trên lớp như sau:

- Soạn thảo chuẩn bị các hoạt động dạy học

- Chuẩn bị về tâm lý và kiến thức cho học sinh vào bài mới

Trang 10

- Giới thiệu bài mới.

- Hỏi các câu hỏi phù hợp cho các mục đích dạy học khác nhau

- Điều khiển các bài tập luyện

- Kiểm tra mức độ nắm bắt, hiểu bài của học sinh

- Tạo cơ hội thực hành sử dụng ngữ liệu mới

- Điều hành các hoạt động học tập của học sinh

- Củng cố dạy lại bài khi cần thiết

Hiểu biết thêm về vai trò của người thày giáo giúp giáo viên có cơ sở để xemxét, phối hợp với kinh nghiệm bản thân để chủ động xác định cho mình một vaitrò phù hợp với từng giai đoạn học tập sao cho có thể phát huy được tối đa nănglực của học sinh và đem lại hiệu quả dạy và học cao nhất

c Mục tiêu và đặc điểm cần đạt trong phần giới thiệu từ mới.

- Từ chủ động (active vocabulary)

- Từ bị động (passive vocabulary)

Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau Từ chủ động có liênquan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) Đối với loại từ này giáo viêncần đầu tư thời gian để giới thiệu và hướng dẫn học sinh luyện tập nhiều hơn

Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tưthời gian vào các hoạt động ứng dụng Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết địnhxem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động

Trang 11

- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:

- Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ củahọc sinh Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian thựchiện các hoạt động khác Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là 6 từ

- Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau: + Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không ?

+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ?

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của họcsinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ củahọc sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi chohọc sinh hiểu nghĩa từ đó ngay

- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó lắmthì bạn nên yêu cầu học sinh đoán nghĩa của từ

2 Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới:

Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới, giúp các

em học sinh tiếp thu từ một cách chủ động như:

Trang 12

Unit 6: How ‘s the weather ?

-sunny, windy, rainy, snowy, hot, cold, hungy, thirsty

* Synonym \ antonym:( từ đồng nghĩa \ trái nghĩa):

Giáo viên dùng những từ đã học rồi có nghĩa tương đương để giúphọc sinh nhận biết nghĩa cuả từ sắp được học

“giáo viên có thể yêu cầu học sinh tự đoán nghĩa thông qua từ đã họctrước đó

Ex: tall / short, thin / fat, young/ old, pretty/ urly…

T asks “What’s another word for nice?”

Trang 13

lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, giáo viên gợi ý học sinh tự dịch

từ đó

* True or False statements:

Giáo viên cung cấp một số câu và yêu cầu học sinh chọn lựa câu trảlời đúng nhất có liên quan đến từ sắp được học

3 Các thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới:

Sau khi từ vựng đã được dạygiáo viên cần tổ chức cho học sinh thực hành, ônluyện thường xuyên các từ đã được học, đồng thời luôn có những hình thứckiểm tra xem học sinh đã hiểu đúng chưa đểkịp thời só những bài dạy bổ sung.Quá trình này là quá trình thường xuyên và lâu dài, không nhất thiết phải xảy ratrong một tiết dạy Tuy nhiên cũng có những bài tập quá trú trọng riêng chophần học từ có thể hình dung quá trình quá trình dạy và học từ qua 4 giai đoạnsau:

* Có rất nhiều thủ thuật để kiểm tra từ

* CHECKING TECHNIQUES FOR VOCABULARY

Ngày đăng: 02/04/2017, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w