CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM1.1Lý luận chung về tín dụng ngân hàng Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Na
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN THỊ MINH NGHĨA
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẨN BẢO VIỆT
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Bạch Thị Minh Huyền
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, ở nước ta hoạt động của các ngân hàng thương mại đang rất thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như đại bộ phận dân chúng Đặc biệt trong năm vừa qua, trong tình hình của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, hoạt động của các ngân hàng càng được chú ý tới, đặc biệt là những rủi ro có thể xảy ra với các Ngân hàng
Hoạt động quản lý rủi ro đóng vai trò quan trọng giúp cho ngân hàng hạn chế được những tổn thất, thiệt hại do rủi ro gây ra, từ đó nâng cao được chất lượng hoạt động của mình Một hệ thống quản lý rủi ro tốt sẽ góp phần tạo niềm tin tới các khách hàng của ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng cũng như nâng cao vị thế Ngân hàng trong môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt hiện nay Giai đoạn 2010 -2013 giai đoạn kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng trì trệ Số lượng doanh nghiệp bị giải thể và phá sản trong năm 2010 và năm 2011 thống kê bằng tổng số doanh nghiệp bị phá sản tổng cộng của 20 năm trước đó Trong 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động thì tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao.Vấn đề này đã đẩy nợ xấu ngân hàng lên mức rất cao và yêu cầu về xử lý nợ xấu, cũng như quản lý tốt những khoản nợ hiện tại, những khoản nợ tương lai là hết sức cần thiết
Ngân hàng TMCP Bảo Việt là một ngân hàng ra đời muộn nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chính thức đi vào hoạt động năm 01/2009, sự ra đời của Bảo Việt Bank góp phần hình thành thế chân kiềng vững chắc giữa Bảo hiểm – Ngân hàng – Chứng khoán, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tập đoàn Bảo Việt Nhưng với một ngân hàng non trẻ như Bảo Việt lại
ra đời trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới gặp nhiều khó khăn, tuy đã
có những bước tiến trong hoạt động kinh doanh trong những năm vừa qua, nhưng cũng không thể tránh khỏi vấn nạn nợ xấu Bảo Việt là một trong những ngân hàng
Trang 4có tỷ lệ nợ xấu cao chiếm trên 6% trên tổng dư Nợ, tỷ lệ nợ xấu cũng tăng qua các năm Bên cạnh đó, thời gian gần đây xuất hiện loạt các bài báo có liên quan đến những bất cập trong hoạt động tín dụng tại một chi nhánh lớn là chi nhánh Hà Nội, bộc lộ những yếu điểm trong hệ thống quản lý rủi ro tín dụng của NHTM CP Bảo Việt Vì thế, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng mang một ý nghĩa hết sức đối với ngân hàng trong giai đoạn hiện nay cũng như giai đoạn phát triển tới đây.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng
cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt”
làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Tài Chính – Ngân hàng
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
- Nghiên cứu các lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng tại ngân hàng từ đó đưa ra lý luận về quản lý rủi ro tín dụng cũng như các chỉ tiêu ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại NHTMCP Bảo Việt
- Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro cho hoạt động tín dụng tại NHTMCP Bảo Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Bảo Việt, từ
đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng
Trang 5- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Bảo Việt, từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế rủi ro.
4 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm: Phương pháp khảo sát, phương pháp nghiên cứu thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp…, đề tài cũng được sử dụng và vận dụng các lý thuyết cơ bản, các lý luận khoa học về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng
5 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục Kết cấu của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Bảo Việt
Trang 6CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1Lý luận chung về tín dụng ngân hàng
Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam xác
định: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Trong các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại thì tín dụng là một nghiệp
vụ cơ bản nhất Tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng
vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một chi phí nhất định (Nguyễn Minh Kiều – 2007)
Tín dụng là phương thức huy động vốn quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường Vì vậy sử dụng có hiệu quả phương thức này sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho sản xuất và đầu tư phát triển
Trong nền kinh tế thị trường: Tín dụng tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tín dụng thực sự là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng thương mại dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn Do đó tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội , Cụ thể:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần giảm số vốn nhàn rỗi trong lưu thông và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Tín dụng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp và các cá nhân sản xuất kinh doanh qua đó điều tiết vốn từ nơi nhàn rỗi đến bộ phận thiếu vốn Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các hộ gia đình là những đối tượng khó huy động vốn trên thị trường cũng được đáp ứng đủ nhu cầu vốn để sản xuất kinh doanh Tín
Trang 7dụng góp phần vào việc phân phối vốn, điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển Thông qua hoạt động tín dụng giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lao động và nguyên liệu hợp lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội
Thứ hai, thông qua việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
Trong mọi lĩnh vực sản xuất - kinh doanh - dịch vụ, các doanh nghiệp, hộ gia đình hoặc cá nhân đều tìm mọi cách để gia tăng lợi nhuận, nâng cao năng suất
và hiệu quả sản xuất kinh doanh Muốn thực hiện điều đó, các chủ thể kinh doanh phải cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện quản lý, tìm kiếm thị trường mới do đó cần một lượng vốn lớn và kịp thời Tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó Tuy nhiên, các nhà kinh doanh cần phải tìm ra nhiều giải pháp sử dụng vốn hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn nhằm trả nợ vay tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi nếu không có thể dẫn tới nguy cơ phá sản Thực hiện được điều này trong nền kinh tế thị trường là một cuộc cạnh tranh gay gắt
và quyết liệt Qua đó thúc đẩy sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế hàng hoá
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là công cụ để Chính phủ điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
Thông qua kiểm soát khối lượng tín dụng, định hướng đầu tư cùng với lãi suất tín dụng giúp chính phủ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và hợp lý, kiềm chế lạm phát Tín dụng ngân hàng còn là công cụ để Nhà nước phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế chiến lược thông qua việc tập trung vốn đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, kết hợp với các chương trình chính sách xã hội
Thứ tư, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế đối ngoại
Ngày nay, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang đựơc thúc đẩy mạnh cả về
Trang 8chiều rộng và chiều sâu Trong đó, vốn đầu tư ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đựơc coi là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng nhất giữa các nước Nhưng thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào cũng có đủ vốn để hoạt động Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng là trợ thủ đắc lực, sẽ cung cấp vốn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, giúp các doanh nghiệp trong nước từng bước tiếp cận thị trường quốc tế, đổi mới công nghệ và mẫu mã sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng tại các thị trường quốc tế góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có một vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế cũng như đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.3 Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng
Phân loại theo thời hạn
Thời hạn tín dụng là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể ngày, tháng, năm Hay thời hạn tín dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về Phân loại Tín dụng theo thời hạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với Ngân hàng thương mại vì nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của một Ngân hàng thương mại
Theo thời hạn tín dụng được phân thành ba loại
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng có thời hạn dưới một năm
Tín dụng ngắn hạn thường gắn với những khoản vay của doanh nghiệp để bổ sung vào tài sản lưu động, bởi vì tài sản lưu động thường có vòng quay trên một vòng thấp hơn một năm Do vậy trong một năm doanh nghiệp có thể hoàn trả được
số tiền vay ở Ngân hàng
Trang 9- Tín dụng trung hạn: gồm những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5
năm
Các tài sản cố định như phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi các trang thiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn từ 1 năm đến 5 năm
- Tín dụng dài hạn: gồm những khoản tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên
Thông thường những công trình đầu tư lớn, thu hồi vốn lâu, thuộc tầm vĩ mô như: máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường có nhu cầu nguồn vốn từ
5 năm đến 10 năm có khi tới 20 năm
Phân loại theo hình thức cho vay
Căn cứ theo hình thức cho vay ta có các loại tín dụng sau:
- Chiết khấu: là việc Ngân hàng Thương mại ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn Về mặt pháp lý thì Ngân hàng không phải là nhà cho vay với chủ sở hữu thương phiếu và chỉ là hình thức trao đổi trái quyền Tuy nhiên đối với Ngân hàng, việc bỏ tiền ở thời điểm hiện tại để thu về một khoản tiền lớn hơn trong tương lai với lãi suất ấn định trước được coi như là hoạt động tín dụng, nhưng có lẽ coi đây là một hoạt động đầu tư của Ngân hàng hơn
là một hoạt động tín dụng
- Cho vay : được hiểu là việc Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với sự
cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định với mức lãi suất cam kết Cho vay được gọi là một trong các nghiệp truyền thống của Ngân hàng Thương mại, nó được hình thành ngay từ buổi sơ khai của các Ngân hàng, và được đánh giá là hoạt động sinh lời cao nhất cho các Ngân hàng Thương mại
Trang 10- Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay
khách hàng của mình khi khách hàng của mình không có khả năng trả nợ Mặc dù không phải xuất tiền ra, song Ngân hàng vẫn thu được lợi từ khách hàng nhờ uy tín của mình Nghiệp vụ này được đưa vào tài khoản ngoại bảng của Ngân hàng Tuy nhiên nếu có nghiệp vụ phát sinh tức là Ngân hàng đứng ra thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình thì nó lại được đưa vào tài khoản nội bảng
- Cho thuê: đó là việc Ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho khách
hàng thuê theo những điều kiện nhất định Sau thời gian đó khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng Đây là hoạt động khá mới mẻ với Ngân hàng Tuy nhiên hoạt động này sinh lời khá cao, nhưng nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro trong đó có yếu tố về công nghệ Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng không những phải có chuyên môn về nghề nghiệp mà còn có cả sự hiểu biết về kỹ thuật, về công nghệ
Phân loại tín dụng theo tài sản bảo đảm
Nếu căn cứ vào tài sản bảo đảm thì ta có các loại hình tín dụng sau :
- Tín dụng đảm bảo: đó là sự cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài
sản bảo đảm thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng trong trường hợp không trả được nợ Trong trường hợp này khi khách hàng không trả được nợ, hoặc vì sử dụng sai mục đích nguồn vốn vay dẫn đến không thanh toán được thì Ngân hàng sẽ bán tài sản đi để thu hồi nguồn vốn Tín dụng đảm bảo được áp dụng đối với các khách hàng có độ rủi ro cao như khách hàng mới hay những khách hàng có tình hình tài chính không tốt
- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: đó là loại hình tín dụng mà khách hàng
có nhu cầu vay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần tài sản bảo đảm Loại tín dụng này thường được cấp cho các khách hàng có uy tín cao, những khách hàng
có mối quan hệ tốt và lâu dàI đối với Ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành mạnh, có mối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính Cũng có thể là các khoản vay
Trang 11thực hiện theo chỉ thị của Chính phủ, hay Chính phủ yêu cầu không cần tài sản bảo đảm.
1.2Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Tín dụng là kênh cung ứng vốn quan trọng cho hoạt động của các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, nền kinh tế Trong hoạt động kinh doanh lại luôn có những khó khăn dự định ban đầu có thể không đạt được theo ý muốn, đó chính là
sự xuất hiện các rủi ro Do đó bất cứ rủi ro xảy ra đối với các chủ thể nào, lĩnh vực nào cũng ít nhiều gây ra rủi ro cho ngân hàng
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước, RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng: là
khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ có thể bị tổn thất Tuy nhiên cũng như những loại hình đầu tư khác, những khoản tín dụng đó luôn hàm chứa rủi ro Do đó rủi ro tín dụng còn được
hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng
vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi dẫn đến làm giảm khả năng thanh toán, giảm hiệu quả kinh doanh, gây thất thoát vốn và có thể làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
Trang 12 Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản bảo đảm.
Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
Rủi ro danh mục (Porfolio risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Theo nghiên cứu của ngân hàng Standard Chartered, nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ có vấn đề xuất phát từ khách hàng chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 56%, kế tiếp là nguyên nhân từ phía ngân hàng chiếm khoảng 27%, sốcòn lại là từ nguyên nhân hoàn cảnh khách quan Các yếu tố thuộc các nhóm trên vừa có tính độc lập tương đối, vừa quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau, có thể làm cho hoạt động của NHTM giảm thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng ngân hàng Nhưng chúng cũng có thể gây ra những tổn thất, thậm chí rất lớn, dẫn tới phá sản của một hoặc một số NHTM Chẳng hạn sự yếu kém, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán trong cơ chế, chính sách cho vay, dẫn tới tình trạng cán bộ quản lý của NHTM, hoặc người đi vay lợi dụng, đặc biệt nguy hại khi cán bộ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của NHTM bị sa sút phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
Rủi ro tín dụng do các nguyên nhân khách quan
Trang 13Nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố là: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường xã hội.
Môi trường kinh tế: Tín dụng ngân hàng cũng là một hoạt động kinh doanh do đó
nó cũng chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của môi trường kinh tế - xã hội Nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng Khi đó, quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành bình thường, không bị ảnh hưởng của các yếu tố lạm phát, khủng hoảng sẽ làm khả năng vay nợ và trả nợ vay không bị biến động lớn Ngược lại, một nền kinh tế bị suy thoái thì sức mua của người dân bị giảm sút, sản xuất bị đình trệ, tất cả những điều
đó tác động xấu đến khả năng thu hồi vốn tín dụng của ngân hàng Khi các quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng thì các biến động kinh tế không chỉ ảnh hưởng tới một quốc gia mà còn tác động tới cả các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
Môi trường pháp lý: Bao gồm các quy định, quy chuẩn, các văn bản luật do Chính
phủ, Ngân hàng Nhà nước, các bộ ngành liên quan, hoặc các tổ chức quốc tế ban hành Khi môi trường pháp lý không lành mạnh, không hoàn chỉnh tức là có sự thiếu đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật, các giải pháp thi hành pháp luật
và sự tuân thủ không nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham gia kinh doanh
và các ngành có liên quan sẽ làm cho hoạt động tín dụng ngân hàng gặp nhiều rủi
ro Môi trường pháp lý như vậy sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp và ngân hàng, vừa tạo khe hở để kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho cả doanh nghiệp và ngân hàng
Nhân tố xã hội: Môi trường xã hội là nhân tố quan trọng hình thành nên phong tục
tập quán, đạo đức lối sống của các cá nhân Trong khi đó tín dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin Nếu trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết sẽ không hiểu được đúng đắn về bản chất của hoạt động tín dụng, kinh doanh kém hiệu quả gây tổn thất cho ngân hàng hoặc những người đạo đức không tốt cố tình lừa đảo trốn nợ , hoặc do sự thay đổi yếu tố tâm lý xã hội cũng có khả năng hạn chế việc trả nợ của người vay
Trang 14Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng chịu tác động của các biến cố như thiên tai, chiến tranh…không thể lường trước có tác động trực tiếp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới
kế hoạch trả nợ vay của người đi vay
Bên cạnh đó những thay đổi, điều chỉnh về cơ chế, về chính sách kinh tế vĩ mô…cũng có thể đặt doanh nghiệp vào những tình huống khó khăn có thể kéo theo nguy
cơ thiệt hại cho ngân hàng
Rủi ro tín dụng do các nguyên nhân chủ quan
Rủi ro chủ quan đến từ cả hai phía Ngân hàng và khách hàng
Rủi ro tín dụng do các nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng
• Trước tiên, rủi ro tín dụng xẩy ra do sự yếu kém của đội ngũ cán bộ:
Rủi ro trong quản trị kinh doanh NHTM như một tất yếu là không thể tránh khỏi Song việc lựa chọn, bố trí sử dụng cán bộ, không đánh giá đúng năng lực cũng như phẩm chất tư cách đạo đức nghề nghiệp thì sẽ dẫn đến sử dụng những cán bộ thiếu trung thực Chúng ta phải thừa nhận rằng ở đâu chú trọng đến công tác tín dụng, luôn tuân thủ các quy trình từ xét duyệt cho vay, kiểm tra giám sát việc sử dụng tiền vay, thu hồi nợ, xử lý nợ nghi ngờ, nợ xấu luôn nêu cao phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm của cán bộ thì ở đó, chất lượng tín dụng cao và kiểm soát tốt, giảm thiểu rủi ro Ngược lại, ở đâu sự quan tâm chú trọng không đầy đủ đúng mức thì ở đó, chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao và thậm chí mất cả cán bộ Thực tế cho thấy, nhiều món vay kém chất lượng, tồn đọng không có khả năng thu hồi và có nguy cơ mất trắng đều có nguyên nhân thẩm định sơ sài, hồ sơ có vấn đề, thiếu kiểm tra kiểm soát Điều đó một phần là
do cán bộ làm công tác ngân hàng, nhất là cán bộ tín dụng, non kém về trình độ,
về năng lực nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng xử lý thông tin và thẩm định dự án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, xác định kỳ hạn của các khoản vay chưa phù hợp, không có khả năng theo dõi các khoản tín dụng đã cấp Tuy nhiên còn một phần không nhỏ gây nên rủi ro tín dụng là một
bộ phận cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định liên quan đến công tác cho vay bị
sa sút về phẩm chất, đạo đức, thiếu trách nhiệm
Trang 15Tư chất đạo đức kém, thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho con người dễ
bị lôi cuốn bởi những cám dỗ vật chất có thể hành động trái đạo lý, trái pháp luật, gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng Nhiều khi vì lợi ích cá nhân mà cán bộ tín dụng và thẩm định đã cố tình làm sai còn cán bộ quản lý lại thiếu trách nhiệm dẫn tới khoản vay đó bị rủi ro cao Hay trường hợp một nhóm tập thể cán bộ quản lý trong công tác điều hành đã vô tình hoặc cố ý làm sai mặc dù điều kiện khách hàng vay vốn có thể chưa hội tụ đủ, thậm chí không
đủ điều kiện và đã được cán bộ tín dụng, thẩm định ghi rõ nguyên nhân trong báo cáo thẩm định là không duyệt cho vay Theo đó cán bộ quản lý đã bằng cách này hay cách khác, hướng dẫn khách hàng hợp thức hoá hồ sơ, thậm chí còn yêu cầu cán bộ tín dụng, thẩm định phải thực hiện theo ý kiến chỉ đạo
• Thứ hai là vấn đề chất lượng thông tin thấp.
Thông tin ở đây bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính Có thể khái quát là những thông tin liên quan đến những hoạt động sản xuất kinh doanh trước đây và nhu cầu trong hiện tại của khách hàng và những thông tin phản ánh trình độ, năng lực quản lý, uy tín, quan hệ của khách hàng, tình hình kinh tế - xã hội, xu hướng phát triển, quan hệ cung cầu, cạnh tranh của một ngành kinh doanh trên thị trường Yêu cầu đối với thông tin là phải chính xác, đầy đủ, kịp thời
• Thứ ba là nhân tố chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng nhằm sử dụng vốn hiệu quả nhất Nếu chính sách tín dụng không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có thể tạo ra nhiều rủi ro Thí dụ như nhiều ngân hàng lại quá chú trọng vào cho vay dựa trên tài sản thế chấp, chỉ đặt ra yêu cầu có thế chấp đầy đủ là được nhận tín dụng, dẫn đến việc nới lỏng trong thẩm định cũng như giám sát thực hiện hợp đồng; có khi một tài sản thế chấp được quay vòng nhiều lần để rút vốn ngân hàng mà không bị phát hiện, nhất là khi vài ngân hàng cùng cho vay một khách
Trang 16hàng mà khách hàng đó không trung thực Việc tập trung tín dụng cho một số khách hàng truyền thống thoạt xem có thể an toàn nhưng thực ra một danh mục cấp tín dụng thiếu đa dạng lại hàm chứa rất nhiều rủi ro khi “ bỏ tất cả trứng vào một giỏ” Các ngân hàng có xu hướng muốn nhanh chóng tăng số dư nợ nhưng việc mở rộng tín dụng quá nhanh cũng đe doạ gây tình trạng quá tải, vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng Như vậy, một chính sách tín dung thiếu linh hoạt, không phù hợp cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng.
Một ảnh hưởng nữa góp phần tăng thêm mức độ rủi ro của các khoản tín dụng là do các ngân hàng thường đưa ra các cam kết này, hay cam kết khác buộc các khách hàng phải thực hiện trong khi các cam kết đó không phù hợp với điều kiện thực tế của khách hàng vay Phần lớn các quy định trong hợp đồng tín dụng đều mang chế tài bảo vệ người cho vay như: Ngân hàng có quyền thay đổi lãi suất cho vay, kiểm tra tình hình tài chính, tài sản bảo đảm tiền vay; đình chỉ cho vay và thu hồi nợ trước hạn; thu hồi nợ bằng các nguồn khác nhau, bao gồm phát mại tài sản bảo đảm, kiểm tra tình hình tài chính, tài sản bảo đảm tiền vay bất cứ lúc nào… Chính tính “áp đặt này” mà trong một số trường hợp, ngân hàng cho vay xử lý các tình huống phát sinh một cách quan liêu, không sâu sát thực trạng, không nắm bắt được toàn bộ nội dung và bản chất của của sự việc Việc đưa ra các quyết định về số tiền cho vay, thời hạn cho vay cũng dựa trên đánh giá chủ quan của Ngân hàng mà chưa thực sự căn cứ vào nhu cầu và khả năng thực tế của khách hàng Ngoài ra, các ngân hàng còn chưa thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc quản lý kinh tế tài chính, thể lệ tín dụng; những nguyên tắc quy chế cầm cố, bảo lãnh, thế chấp…Nhiều ngân hàng chưa trích lập hoặc trích lập dự phòng rủi ro chưa sát với mức độ rủi ro thực tế của đơn vị mình
Rủi ro tín dụng xuất phát từ phía khách hàng
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn có hai chủ thể là ngân hàng và khách hàng Theo thống kê cho thấy, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ khách
Trang 17hàng là phổ biến nhất bởi khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay Nhân
tố này rất đa dạng bao gồm:
• Do khách hàng không tuân thủ các quy định, cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng
Nhiều trường hợp khách hàng chủ ý cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch, làm cho ngân hàng đánh giá sai về năng lực tài chính của họ; thậm chí có khách hàng đủ năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam kết trong hợp đồng nhưng vẫn cố tình chây ỳ không chịu thực hiện nghĩa vụ Việc khiếu kiện cũng chỉ là giải pháp bị động, bất đắc dĩ, chi phí tốn kém; hơn nữa nếu các cơ quan pháp luật điều tra thiếu khách quan, xét xử thiếu công bằng thì ngân hàng phải chịu thiệt hại cả hữu hình lẫn vô hình
Khi cho vay, Ngân hàng mong muốn khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích
và hiệu quả để có khả năng trả nợ gốc và lãi vay ngân hàng Đối với các doanh nghiệp, khi vay vốn đều có mục đích rõ ràng, phương án kinh doanh cụ thể và khả thi; đối với các thể nhân thì có kế hoạch trả nợ cụ thể và khả thi Tuy nhiên khách hàng sau khi vay lại sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trả nợ
sẽ làm cho các ngân hàng bị tổn thất và rủi ro trong vấn đề thu hồi nợ
• Do khách hàng kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ
Nguyên nhân có thể do năng lực quản lý kinh doanh kém Nếu chiến lược kinh doanh không được quản lý hoạch định tốt sẽ ảnh hưởng đến nguồn trả nợ Ngân hàng cho vay dựa trên kế hoạch, chiến lược kinh doanh vì đấy là nguồn trả
nợ tốt nhất, tuy nhiên nếu sự quản lý hoạch định ấy yếu kém, sẽ làm cho phương
án kinh doanh có thể đi vào phá sản Hoặc khách hàng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh vượt quá khả năng kiểm soát trong khi đó chưa chú trọng tới phát triển theo chiều sâu thì khách hàng đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Hơn nữa nếu tỷ lệ vốn tự có trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp thấp, chủ yếu là vốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ lao theo những cơ hội đầy mạo hiểm, đến khi gặp rủi ro thì ngân hàng phải gánh chịu
• Do tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch.
Trang 18Hiện nay báo cáo tài chính của các doanh nghiệp cung cấp vẫn chưa phải là nguồn thông tin xác thực, chưa phản ánh đúng thực tế tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, ngân hàng không có căn cứ chính xác đáng tin cậy dựa vào thông tin doanh nghiệp cung cấp mà phải dùng tài sản thế chấp làm chỗ dựa để phòng chống rủi ro tín dụng
Như vậy, khách hàng vừa là người mang lại thu nhập cho ngân hàng đồng thời đưa lại cho ngân hàng cả những nguy cơ rủi ro Cho nên nếu hạn chế được những nguy cơ đó sẽ làm tăng đáng kể lợi nhuận cho ngân hàng
Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây rủi ro trên đây giúp chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó có được đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của NHTM một cách hữu ích, thiết thực hơn
• Môi trường kinh tế: thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng tiêu thụ
• Sự phát triển của ngành liên quan: nếu ngành liên quan đến dự án đang ở giai đoạn phát triển thì dự án có nhiều khả năng thành công Ngược lại; nếu ngành liên quan đến dự án đang ở giai đoạn suy thoái và có nhiều công ty trong ngành làm ăn thua
lỗ thì khả năng thành công của dự án là thấp
• Môi trường pháp lý: Luật bảo hiểm, luật lao động, luật cạnh tranh là những điều khoản cần được quan tâm khi đánh giá một dự án
Các yếu tố chủ quan
Trang 19Các yếu tố chủ quan có thể được hiểu là tính tin cậy của doanh nghiệp đi vay hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn Nhân tố này được phân tích chủ yếu dựa vào các dữ liệu kế toán của doanh nghiệp.
• Hiệu quả hoạt động hiện tại của doanh nghiệp: kết quả kinh doanh hàng quí và hàng năm của doanh nghiệp
• Các khoản tín dụng hiện tại và lịch sử của các khoản tín dụng quá khứ của doanh nghiệp: Nếu hiện tại doanh nghiệp đang có các khoản vay khác và có các khoản vay tín dụng quá hạn chưa được thanh toán hay doanh nghiệp có các khoản vay tín dụng đã được thanh toán nhưng thường quá hạn phải chi trả thì tính tin cậy của doanh nghiệp là thấp, và việc cho doanh nghiệp vay tín dụng sẽ có rủi ro cao
• Khả năng tài chính của doanh nghiệp: được căn cứ dựa vào vốn tự có, các khoản cho vay, tài sản thế chấp, người bảo lãnh Các ngân hàng có thể đánh giá mức rủi
ro tín dụng trên cơ sở xác định tỷ lệ tổng vốn cần vay của doanh nghiệp/vốn tự có của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này là cao thì rủi ro tín dụng cao, và ngược lại
• Tính thanh khoản cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Dù doanh nghiệp có tình trạng kinh tế tốt nhưng nếu tính thanh khoản hay khả năng huy động tiền mặt không cao thì doanh nghiệp có nhiều khả năng phải thanh toán nợ quá hạn quy định Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có rủi ro tín dụng cao
1.2.4.1 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro tín dụng: là điều mà tất cả các nhà quản lý đều rất quan
tâm vì nó giúp ngân hàng loại bỏ những khách hàng có mức độ rủi ro quá cao và nhận biết trước những rủi ro có thể xảy ra Nó giúp khách hàng hiểu rõ hơn những điểm mạnh, điểm yếu của chính khách hàng để từ đó tư vấn cho khách hàng những giải pháp đảm bảo vay vốn phù hợp Đồng thời qua đó, ngân hàng
có thể đưa ra nhiều sản phẩm hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Theo Basel II các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng hay tổn thất dự kiến EL
Trang 20(Expected Loss), theo khả năng vỡ nợ PD (Probability of Default, với mức độ tổn
thất khi vỡ nợ LGD (Loss Given Default) theo công thức sau:
EL = EAD x PD x LGD
Trong đó:
EAD (Exposure at Default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá khó khăn Tuy nhiên với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì lại khá phức tạp và EAD được tính như sau:
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
LEQ: Loan Equivalent Exposure: là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
“LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân”: là phần dư nợ
khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân
PD (khả năng vỡ nợ): cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản vay
trong quá khứ của khách hàng gồm các khoản nợ đã trả, nợ trong hạn, nợ không có khả năng thu hồi
Trang 21LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
Trong đó số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố
Ngoài ra LGD còn được tính như sau:
LGD = 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được
Tỷ lệ vốn có thể thu hồi được là khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ Hai yếu tố quan trọng nhất quyết định tỷ lệ này là tài sản bảo đảm của khoản vay và cơ cấu tài sản của khách hàng, trong đó cơ cấu tài sản được hiểu như là thứ tự ưu tiên trả nợ của các khoản phải trả trong trường hợp khách hàng phá sản
Theo các công thức này, nếu mỗi món cho vay là một phép thử, ta có thể xác định được một cách tương đối chính xác xác suất và mức độ bị rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng trong từng thời kỳ, từng loại hình tín dụng, từng lĩnh vực đầu tư,…Điều này có ý nghĩa rất quan trọng chiếu theo giác độ kinh tế
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu
Đối với Ngân hàng thương mại
Khi RRTD xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó đòi, sự ứ đọng vốn dẫn đến giảm vòng quay vốn ngân hàng Mặt khác, nó cũng làm phát sinh tăng các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ Trong khi các khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất
nợ quá hạn không được bao nhiêu, vì đây chỉ là những khoản thu nhập ảo, một
Trang 22trong những giải pháp xử lý của ngân hàng, thực tế ngân hàng rất khó có thể thu hồi đầy đủ chúng Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động trong khi một bộ phận tài sản của ngân hàng không thu được lãi cũng như không chuyển được thành tiền cho người khác vay và thu lãi Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút.
Giảm khả năng thanh toán
Ngân hàng thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra (trả lãi và gốc tiền gửi, cho vay, đầu tư mới,…) và dòng tiền vào (tiền nhận gửi, tiền thu nợ gốc và lãi cho vay,…) tại các thời điểm trong tương lai Khi các hợp đồng vay không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến sự không cân đối giữa hai dòng tiền Ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản tiền gửi tiết kiệm nhưng lại không thu được tiền từ những hợp đồng cho vay Nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị suy yếu, gặp phải vấn đề lớn trong rủi ro thanh khoản
Giảm uy tín
Tình trạng mất khả năng chi trả tái diễn nhiều lần, hay những thông tin về RRTD của ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm sút, đây là cơ hội tốt cho các đối thủ cạnh tranh giành giật lấy thị trường và khách hàng
Khi ngân hàng liên tục mất khả năng chi trả, sẽ có khả năng khách hàng không tin tưởng và ồ ạt đến rút tiền Nếu không chuẩn bị trước các phương án dự phòng, không đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu rút vốn quá lớn, và Ngân hàng Trung Ương không can thiệp kịp thời thì sẽ nhanh chóng mất khả năng thanh toán, dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng
Trang 23 Đối với hệ thống ngân hàng
Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý
sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Đối với khách hàng
Lãi vay ngân hàng được hạch toán vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp Khi để phát sinh nợ quá hạn với lãi suất ≥ 150% lãi suất trong hạn thì chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng lên Nguy cơ không đủ khả năng trả nợ ngân hàng là điều không tránh khỏi, dẫn đến việc phát mại tài sản thế chấp, đôi khi dẫn đến tình trạng phá sản của khách hàng
Đối với nền kinh tế
Khi ngân hàng gặp khó khăn thì việc cung cấp vốn cho doanh nghiệp sẽ
bị hạn chế, tốc độ luân chuyển vốn chậm gây ngừng trệ các hoạt động kinh tế khác Do một lượng vốn lớn nằm tồn đọng trong các khoản nợ khó đòi, nợ quá hạn, ngân hàng không đủ vốn để cấp tín dụng cho các dự án khả thi khác Trong khi đó, khoản tín dụng đã cấp là hoạt động không có hiệu quả mà ngân hàng lại không kiểm soát nổi, kết quả là sản xuất bị đình đốn, nền kinh tế chậm phát triển, rơi vào trạng thái lũng đoạn
Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng
sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng
Trang 24trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cấu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Rủi ro tín dụng làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các
mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập
dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những giải pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng
1.3.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng
Khái niệm
Khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng, ngân hàng cần lường trước những rủi
ro có thể xảy ra Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên những ý tưởng quản lý rủi ro tín dụng của NHTM Mặc dù RRTD là một hiện tượng tiềm ẩn, nhưng do tính lặp lại của rủi ro nên có thể nhận biết được quy luật của nó, chính
vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra những giải pháp quản lý nhằm hạn chế khả năng xảy ra RRTD và giảm thiểu nó một cách tối đa
Như vậy, quản lý rủi ro tín dụng là: việc tổ chức, điều khiển và thực hiện các
hoạt động, các quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng nhằm đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất mà ngân hàng có thể chấp nhận được
Quản lý RRTD bao gồm toàn bộ quá trình thẩm định đánh giá trước khi khoản
Trang 25vay được phê duyệt cùng với toàn bộ quá trình giám sát và báo cáo việc tuân thủ những cam kết tín dụng Công tác quản lý này được thực hiện ngay từ khi xem xét hồ sơ xin vay vốn, thẩm định khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng và việc thực hiện giải ngân và kiểm soát khi cho vay đến việc thu nợ và xử lý nợ quá hạn.
Quản lý RRTD có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì RRTD mang tính gián tiếp, đa dạng, phức tạp, mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Mặt khác, hiệu quả kinh doanh lại phụ thuộc vào mức độ rủi ro Mức thu nhập ngày càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn sẽ ngày càng lớn và ngược lại, điều đó được đúc kết qua thực tế, nhưng cho tới nay vẫn chưa có lời giải nào chính xác cho bài toán đó Vì vậy, các NHTM mong muốn đạt được kết quả kinh doanh cao với mức độ rủi ro
có thể kiểm soát được, tuỳ từng thời kỳ mà mỗi ngân hàng sẽ đề ra những kế hoạch và chiến lược khác nhau để giải quyết được cả hai vấn đề luôn tồn tại song hành Thu nhập và Rủi ro
Yêu cầu quản lý rủi ro tín dụng
Việc quản lý rủi ro tín dụng phải được quan tâm và đáp ứng các yêu cầu sau:
Tạo lập được một danh mục tín dụng hợp lý, có khả năng sinh lời cao,
ít rủi ro và khi cần thiết có thể chứng khoán hóa để hỗ trợ thanh khoản
Tạo ra sự chủ động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bộ phận tác nghiệp nhằm tìm kiếm các khoản vay có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro
Có những quy định để thực hiện thống nhất, minh bạch các bước công việc trong quá trình cho vay, có các quy định hợp lý về cơ cấu, tỷ lệ
Đảm bảo phản ánh minh bạch, chính xác chất lượng danh mục tín dụng, trích đủ dự phòng để bù đắp những rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay
Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp để phát hiện, ngăn ngừa và
xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh đối với danh mục tín dụng
Trang 261.3.2Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của NHTM Phần lớn lợi nhuận của ngân hàng cũng được tạo ra từ chính nghiệp vụ này Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng yếu tố rủi ro luôn thường trực do đó việc kiểm soát cũng như các giải pháp phát hiện, phòng ngừa, hạn chế RRTD được đặc biệt chú ý Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng luôn là một tổ chức kinh tế hạch toán độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Vì vậy, để đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của mình quản lý rủi ro tín dụng là một đòi hỏi cấp thiết với Ngân hàng thương mại của các cá nhân doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế
Quản lý RRTD giúp Ngân hàng dự báo, phát hiện rủi ro tiềm ẩn, phát hiện
những biến cố không có lợi, ngăn chặn các tình huống không có lợi đã và đang xảy ra và có thể lan ra phạm vi rộng
Quản lý RRTD giúp NH phòng ngừa và hạn chế được các khoản nợ khó đòi,
giảm các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ… tăng lợi nhuận
Quản lý RRTD giúp các món vay được thanh toán đầy đủ, đúng hạn…giúp
ngân hàng tăng khả năng thanh toán
Tăng uy tín của NH trong nền kinh tế thị trường vì quản lý RRTD đảm bảo
khả năng chi trả cho NH Quản lý rủi ro tín dụng tốt sẽ làm gia tăng lợi nhuận của ngân hàng, khả năng tài chính của ngân hàng tăng… sẽ nâng cao được vị thế của ngân hàng trên thị trường trong và ngoài nước
Quản lý RRTD tốt giúp ngân hàng giảm nguy cơ phá sản
Đối với khách hàng:
Quản lý rủi ro tín dụng giúp khách hàng tránh được việc phải trả lãi quá hạn với lãi suất lớn hơn (150%).Trong tình trạng khách hàng gặp rủi ro, việc trả lãi quá hạn đối với họ là một khó khăn trong tình trạng khách hàng đang suy yếu Ngoài ra, việc để phát sinh lãi quá hạn còn khiến khách hàng mất uy tín đối với ngân hàng
Đối với nền kinh tế:
Trang 27Quản lý RRTD tốt giúp cho hoạt động của ngân hàng trôi chảy, từ đó giúp cho luồng tiền trong nền kinh tế không bị gián đoạn, hoạt động của nền kinh tế không bị ngừng trệ.
Vì việc kinh doanh khó có thể thât bại qua một đêm, do vậy mà sự thât bại
đó thường có một vài dấu hiệu báo động Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu của những khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc xử lý chúng Dấu hiệu của các khoản tín dụng có vấn đề có thể xếp thành các nhóm sau:
Dấu hiệu tài chính
• Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu
• Các chỉ số khả năng sinh lời cho thấy dấu hiệu suy yếu
• Cơ cấu vốn không hợp lý
• Các vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu
Dấu hiệu phi tài chính
• Dấu hiệu liên quan đến Ngân hàng
Giảm sút mạnh số dư tiền gửi
Công nợ gia tăng
Mức độ vay thường xuyên
Yêu cầu cho vay vượt quá nhu cầu dự kiến
Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ có lãi suất cao
Chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng
• Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng
Có sự thay đổi về cơ cấu nhân sự trong hệ thống quản trị
Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành
Ít kinh nghiệm xuất hiện nhiều hành động nhất thời
Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên
Tranh chấp trong quá trình quản lý
Chi phí quản lý bất hợp lý
Quản lý có tính gia đình
• Dấu hiệu thuộc về kỹ thuật và thương mại
Khó khăn trong phát triển sản phẩm mới, hoặc không có sản phẩm thay thế
Trang 28Thay đổi thị trường: Tỷ giá, lãi suất, thị hiếu, cập nhật kỹ thuật mới
Những thay đổi chính sách của nhà nước
Sản phẩm có tính thời vụ cao
Có biểu hiện cắt giảm chi phí
• Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính
Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính, hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp báo cáo tài chính
Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy:
Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ Nợ thường xuyên
Khả năng tiền mặt giảm
Tăng doanh số bán, nhưng giảm lại hoặc không có
Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp
Số khách hàng nợ tăng nhanh, thời gian thanh toán kéo dài
Kết quả kinh doanh thua lỗ
Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản
Lệ thuộc vào những sản phẩm bất thường để tạo nên lợi nhuận
• Các dấu hiệu phi tài chính khác
Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh
Hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng hoặc lạc hậu
Có xử kỷ luật đối với cán bộ chủ chốt
Là việc xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro Phân tích rủi ro là nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng ngừa rủi ro
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau đo lường rủi ro tín dụng Một ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình
để phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng Sau đây là một số mô hình được sử dụng rộng rãi tại nhiều NHTM trên thế giới
Mô hình định tính
Trang 29Là mô hình truyền thống dựa vào đánh giá chủ quan của người cho vay, căn
cứ vào việc trả lời một số câu hỏi để đưa ra quyết định có cấp tín dụng không? Một
kiểu mô hình định tính thường dùng là mô hình 6C (6 khía cạnh của người cho
vay):
(1)Character(tư cách người vay): Cán bộ tín dụng phải đánh giá tính đúng
đắn và hợp lý của mục đích xin vay, xác định xem có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không? Thậm chí, cho dù mục đích xin vay là tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, có thiện chí và nỗ lực hoàn trả nợ vay khi đáo hạn Trong thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân có khả năng trả nợ nhưng không thanh toán cho ngân hàng, mà chiếm dụng vốn với mục đích cá nhân
và các khoản đầu tư kiếm tìm lợi nhuận khác
(2)Capacity(năng lực của người cho vay):Cán bộ tín dụng phải chắc chắn
rằng người xin vay đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng, người đại diện đặt bút ký phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty,
có tư cách pháp nhân Năng lực hành vi dân sự của các nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Còn năng lực pháp luật dân sự là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự
(3)Cash(thu nhập của người vay):Nhìn chung, người vay có 3 khả năng tạo
ra tiền: tiền từ doanh thu bán hàng hay lợi nhuận thu nhập; tiền từ thanh lý tài sản; tiền từ chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Ngân hàng ưu tiên hơn về khả năng trả nợ của khách hàng theo nguồn thu từ khoản vay đầu tiên, vì việc thanh lý tài sản
sẽ làm cho năng lực khách hàng trở nên yếu đi, ngoài ra đó cũng là một biểu hiện không lành mạnh trong kinh doanh, khiến quan hệ tín dụng trở lên có vấn đề
(4)Collateral(bảo đảm tiền vay): khách hàng có thể dùng tài sản để bảo đảm
dưới các hình thức: cầm cố, thế chấp, tín chấp, hay bảo lãnh từ bên thứ ba,…Việc
Trang 30nhận bảo đảm tín dụng nhằm 2 mục đích: thứ 1 là nếu người đi vay không trả nợ theo đúng thỏa thuận, thì ngân hàng sẽ thanh lý tài sản đó để thu hồi nợ đọng; thứ 2
là để ràng buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay
để thu hồi tài sản bảo đảm của mình, tạo uy tín và trở thành khách hàng thân thiết của các ngân hàng
(5)Conditions(các điều kiện): Ngân hàng cần xem xét các khía cạnh khác
như: xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến công việc của người vay,…
(6)Control(kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như: các thay đổi trong
luật pháp có ảnh hưởng đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay
có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của quản lý về chất lượng tín dụng không?
Tóm lại, chỉ khi nào các tiêu chí này đều được đánh giá là tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi Các cán bộ tín dụng cần phải nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể để ra quyết định tín dụng
Ngày nay, một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hóa RRTD của người vay Mô hình này có ưu điểm là cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát RRTD ngân hàng Sau đây là một số mô hình lượng hóa RRTD cơ bản thường được sử dụng nhất:
• Mô hình điểm số Z
Trang 31Mô hình này do E.I.Altman xây dựng để cho điểm tín dụng đối với các công
ty sản xuất của Mỹ Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xј)
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + X5
Trong đó:
X1 = Tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản
X2 = Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản
X3 = Tỷ số lợi nhuận trước thuế, tiền lãi trên tổng tài sản
X4 = Tỷ số giá trị cổ phiếu trên giá trị ghi sổ nợ dài hạn
X5 = Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp và ngược lại (Trị
số Z có thể âm) Theo mô hình cho điểm của Altman:
+ Nếu Z >2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
+ Nếu 1.8< Z <2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá
+ Nếu Z <1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao
Trang 32(Lâm Minh Chánh (2007) – “Dùng chỉ số Z để ước tính chỉ số tín nhiệm”)
• Mô hình xếp hạng của Moody’s
Mô hình này xếp hạng tình trạng hoạt động của doanh nghiệp dựa trên tỷ lệ rủi ro hàng năm, chất lượng này thay đổi hàng năm Các doanh nghiệp được xếp
hạng cao khi tỷ lệ rủi ro dưới 0,1%.
Trang 33Bảng 1.1: Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s
Nguồn: Moody’s
1.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo nhằm hạn chế tối đa tổn thất từ rủi ro tín dụng Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của một ngân hàng càng đảm bảo an toàn thì mức độ tăng cường quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng đó càng hiệu quả Các nhóm chỉ tiêu đó bao gồm:
- Các chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng trên cơ sở phân loại nhóm nợ
+ Tỷ lệ và tốc độ giảm nợ quá hạn trên Tổng dư Nợ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được một phần/ hoặc toàn
bộ nợ gốc và/ hoặc lãi khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành Nợ quá hạn Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá rủi ro tín dụng phản ánh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt
Trang 34Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố tác động nằm ngoài tầm kiểm soát của chính ngân hàng, và khách hàng Vì thế, trên thực tế trong kinh doanh ngân hàng không thể không có nợ quá hạn, Ngân hàng phải cố găng kiểm soát, duy trì
Nợ quá hạn ở một mức độ hợp lý
Tỷ lệ Nợ quá hạn được tính như sau:
Tỷ lệ Nợ quá hạn = Dư Nợ qúa hạn x 100%
Tổng dư Nợ
Chỉ tiêu này phản ánh chỉ số tương đối giữa dư Nợ mà ngân hàng không thu hồi được đúng như thời hạn cam kết trong các hợp đồng tín dụng và tổng dư nợ mà ngân hàng đã cho vay Tỷ lệ này càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro càng cao Thực
tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi nên Ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ Nợ quá hạn nhất định được coi là giới hạn an toàn Khi tỷ lệ này vượt quá một giới hạn cho phép thì nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng
Tốc độ giảm Nợ quá hạn (T) được đánh giá trên cơ sở so sánh tỷ lệ Nợ quá hạn của năm đánh giá (năm N) so với năm liền trước (năm N-1) và được tính toán như sau:
T = ( Tỷ lệ quá hạn năm NTỷ lệ quá hạn năm N - 1 - 1 ) x 100%
Khi T < 0, tức là tỷ lệ Nợ quá hạn đang giảm xuống, T âm càng lớn thì tốc độ giảm Nợ quá hạn càng nhanh Điều này chứng tỏ công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng có hiệu quả và đang tiến triển theo xu hướng tốt
+ Tỷ lệ và tốc độ giảm Nợ xấu trên Tổng Dư Nợ
Trang 35Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước, các khoản dư nợ tín dụng khách hàng của ngân hàng được phân loại từ Nhóm
1 đến Nhóm 5, tương ứng với các loại:
Nợ đủ tiêu chuẩn (Nhóm 1), Nợ cần chú ý (2), Nợ dưới tiêu chuẩn (3), Nợ nghi ngờ (4) và Nợ có khả năng mất vốn (5) Các khoản nợ phân loại từ Nhóm 3-5 được xem là nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay
Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay
Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy chất lượng các khoản tín dụng được cải thiện Hoặc cũng có thể ngân hàng có chính sách xóa các khoản nợ xấu hay thay đổi các phân loại nợ
Tỷ lệ Nợ xấu được tính như sau:
Tỷ lệ Nợ xấu = Dư Nợ xấu x 100%
Tổng dư Nợ
Đồng thời, để đánh giá tính hiệu quả của các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng, chỉ tiêu tốc độ giảm Nợ xấu cũng thường các nhà quản trị ngân hàng sử dung Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tốc độ giảm Nợ xấu = ( Tỷ lệ nợ xấu năm NTỷ lệ nợ xấu năm N - 1 - 1 ) x 100%
Ngoài các chỉ tiêu tính toán dựa trên sự phân loại nhóm Nợ, có thể sử dụng một số chỉ tiêu khác giúp cho việc phân tích rủi ro tín dụng để đánh giá mức độ tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của một ngân hàng Cụ thể như sau:
Tỷ lệ Dư Nợ cho vay có tài sản bảo đảm bằng tài sản trong Tổng Dư Nợ
Trang 36Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ lệ Dư Nợ cho vay có đảm bảo bằng Tài
đó, ngoài tỷ lệ Dư Nợ cho vay có tài sản bảo đảm trên Tổng Dư Nợ, cũng cần xem xét đến tính khả mại của từng loại tài sản đối với từng khoản vay
Ngoài ra, một số ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá rủi ro tín dụng như: Tổng lãi treo phát sinh/ Tổng thu nhập cho vay, Miễn giảm lãi/Thu nhập
từ hoạt động vay…
Tính đa dạng của danh mục tín dụng: Đa dạng hóa là giải pháp hạn chế rủi ro
Một danh mục tín dụng đa dạng phản ánh mức độ tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của một NHTM Khi một danh mục tín dụng của ngân hàng tập trung vốn tín dụng quá lớn vào một đối tượng, một loại hình, một ngành nghề, một lĩnh vực hay một hình thức tín dụng nhất định tức là rủi ro tiềm ẩn xảy ra đối với các ngân hàng
đó càng lớn Nguyên nhân là do sự biến động của môi trường kinh doanh là không ngừng và rất khó dự đoán, những thay đổi trong chính chu kỳ của người vay là khó tránh khỏi Vì thế, khi có những biến động xấu tác động đến đối tượng người vay, ngân hàng sẽ phải đối mặt với tổn thất lớn hay như khi ngân hàng tập trung danh mục cho vay trung, dài hạn, trong khi thực tế nguồn vốn của các ngân hàng chủ yếu
là nguồn vốn ngắn hạn, dẫn đến việc mất cân đối giữa nguồn vốn và tài sản, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng
1.5 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng của một số nước và bài học kinh nghiệm cho các NHTM của Việt Nam
Trang 371.5.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số NHTM nước ngoài
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng, tuy nhiên rủi ro của nó cũng rất lớn Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cùng với những thời cơ và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là diễn biến phức tạp và nguy cơ khủng hoảng tín dụng và kinh tế thế giới đang tăng cao, vấn đề nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất
có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại đang và ngày càng trở nên cấp thiết…
Trong cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng khu vực châu Á thời kỳ
1997-1998, và cuộc khủng hoảng tài chính-ngân hàng toàn cầu khởi đầu từ Mỹ những năm gần đây đã và đang cho thấy ngày càng nhiều ngân hàng trên thế giới công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ lớn kỷ lục, trong đó có rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới bị phá sản, kể cả những ngân hàng lớn tầm cỡ thế giới với bề dày hoạt động hàng trăm năm
Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng ở các nước trên thế giới sẽ
là hữu ích để sẵn sàng đối phó với khủng hoảng tín dụng thế giới
Kinh nghiệm của một số NHTM ở Trung Quốc
Hoạt động tín dụng tại Trung Quốc cho thấy các khoản Nợ xấu của ngân hàng thương mại tại nước này thường xuất phát từ:
Thứ nhất, dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, trong khi cho vay những lĩnh vực ngoài
thị trường truyền thống và dựa vào thế chấp, người bảo lãnh, danh tiếng – là những nguồn trả nợ thứ yếu – mà không đánh giá nguồn trả nợ chính
Trang 38Thứ hai, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế so với tiêu
chuẩn.
Thứ ba, coi nhẹ các tiêu chuẩn an toàn tín dụng, như: cho vay với kỳ vọng tài sản
hình thành từ vốn vay sẽ có giá trị cao (tuy nhiên tình trạng sốt và giảm giá nhà đất nghiêm trọng ở Thượng Hải gần đây đã làm cho sự kỳ vọng vô nghĩa, giá bất động sản sụt giảm, trị giá thế chấp không đủ bù đắp khoản vay, thanh khoản kém, nguy
cơ không trả được nợ là rất lớn); Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản thế chấp quá cao; Cho vay đảm bảo bằng chính cổ phiếu ngân hàng mình; Cơ cấu khoản vay kém hiệu quả, cho vay quá khả năng chi trả; Không văn bản hoá thoả thuận cụ thể về mục đích và cách sử dụng khoản vay, kế hoạch nguồn trả nợ
Thứ tư, giám sát sau giải ngân kém; không giám sát thoả đáng các khoản cho vay
xây dựng, như đi thực địa, tiến độ rút vốn vay, thanh tra,…Không có chứng từ địa chỉ giao dịch với khách hàng vay, hồ sơ pháp lý không đầy đủ; Không thu thập, xác minh và phân tích các báo cáo trong suốt kỳ hạn hiệu lực khoản vay; Không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm lại, chu kỳ các khoản phải trả dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh.Nhận biết và xử lý sớm, hiệu quả các nguyên nhân trên là điều kiện quan trong nhất để giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc
Kinh nghiệm của một số NHTM của Nhật Bản
Hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế Nhật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Khi nền kinh tế có vấn đề thì ngành kinh doanh ngân hàng cũng không thể hoạt động tốt được.Cho dù ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ đối với các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống ngân hàng cũng có thể làm tình hình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của nền kinh tế nếu bản thân ngân hàng cũng gặp khó khăn.Nếu như phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp
Trang 39không khỏe mạnh, thì không chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả, mà nền kinh
tế cũng sẽ bị ảnh hưởng
Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Nhật Bản cho thấy việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách mở rộng quá tham vọng càng được kích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường là kết quả gây ra thua lỗ của ngân hàng Mặt khác, do không có kinh nghiệm với những khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng Nhật không biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng
Các ngân hàng không hiểu rõ hậu quả nghiêm trọng của việc trì hoãn những giải pháp dứt khoát đối với các khách hàng vay có rủi ro, do đó mức lỗ lãi của ngân hàng không thể được giải quyết nhanh chóng và với phí tổn thấp hơn.Nói cách khác, ngân hàng nên chủ động trong việc đánh giá một khách hàng có tiềm năng rủi
ro trong tương lai gần và xa, từ đó có giải pháp xử lý càng sớm càng tốt
Ngoài ra, thực tế ở Nhật cũng cho thấy, nếu mức lỗ của ngân hàng vượt quá khả năng của các ngân hàng thương mại, Nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia
để can thiệp và tất yếu Ban điều hành các ngân hàng cũng phải được thay thế
Hiện nay các ngân hàng Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được Tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial Service Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những khoản nợ xấu mà trước đây đã từng gây ra các khoản lỗ lớn kéo dài trong nhiều năm đối với hầu hết các ngân hàng
Kinh nghiệm của một số NHTM ở Mỹ
Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Mỹ cho thấy, để việc kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả cần:
Thứ nhất, nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi vay
và phục vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ.Kết quả là những người cho vay sẽ hiểu
Trang 40nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán các sản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch vụ tín dụng.
Thứ hai, nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản
vay.Việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ
xấu.Thêm vào đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khối lượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn.Hơn nữa, cần đánh giá đúng tình trạng của từng bên vay hơn là câu nệ vào các phương pháp và công thức tự động, ví dụ như chấm điểm tín dụng Chấm điểm tín dụng, căn cứ vào công thức có sẵn để đo lường và tiên đoán về mức độ rủi ro của các khách hàng tiềm năng, được thiết kế để cải tạo quy trình thẩm định khoản vay Mặc dù chấm điểm tín dụng theo cách truyền thống thường được sử dụng cho vay tiêu dùng, khi dựa vào đó để duyệt khoản tín dụng thẻ hoặc tín dụng để mua ô tô, họ là khách hàng tiềm năng trong một chuỗi khách hàng 8/9 đơn vị cho vay được nghiên cứu, tuy nhiên, lại không sử dụng chấm điểm tín dụng cho khách hàng nhỏ, chủ yếu vì họ cho rằng không có nhiều tương quan giữa quá khứ tín dụng của bên vay, như được
đo lường trong hệ số tín nhiệm, với hoạt động của khách hàng này trong tương lai Mặc dù có một số đơn vị cho vay sử dụng chấm điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, họ tin rằng cho vay doanh nghiệp nhỏ có quá nhiều những đặc tính riêng rất khó được phân tích thông qua một hệ thống tự động Hơn thế nữa, chấm điểm tín dụng có thể loại trừ mất các khách hàng tiềm năng tốt, những khách hàng không có
đủ số lượng năm có lãi, số năm có lãi tối thiểu là một tiêu chí để xác định dự án khả thi trong tương lai
Thứ ba, tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì các đơn vị môi giới không
có động cơ để đem lại các khoản vay có chất lượng cao hơn do họ được trả không căn cứ vào chất lượng khoản vay