Trong quá trình kiểm toán, việc lữa chọn các kĩ thuật thu thập bằng chứng như thế nào để có thể thu thập được những bằng chứng kiểm toán vừa thích hợp, vừa đầy đủ trong từng giai đoạn củ
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I 2
KHÁI QUÁT VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC KĨ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN 2
I.Bằng chứng kiểm toán 2
1 Khái niệm 2
2 Yêu cầu đối với bằng chứng kiểm toán 2
2.1.Yêu cầu về tính tính hiệu lực: 3
2.2.Tính đầy đủ 4
3 Các kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán 5
3.1 Kiểm tra 5
3.1.1 Kiểm tra vật chất 6
3.1.2 Kiểm tra tài liệu 6
3.2 Kĩ thuật quan sát 9
3.3 Lấy xác nhận 9
3.4 Phỏng vấn 11
3.5 Kỹ thuật tính toán 13
3.6 Phân tích 14
PHẦN 2 16
VẬN DỤNG CÁC KĨ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀO QUY TRÌNH KIỂM TOÁN 16
I.Kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 17
II.Kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 18
III.Kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn kết thúc kiểm toán 21
PHẦN 3 23
THẢO LUẬN VỀ KĨ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI CHU TRÌNH BÁN HÀNG – THU TIỀN 24
I.Bản chất của chu trình bán hàng thu tiền: 24
Trang 2II.Kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong quy trình kiểm toán chu trình bán hàng –
thu tiền 24
1.Kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán chứng minh sự tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ 24
2.Kĩ thuật phân tích trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền 27
1.1.Phân tích xu hướng 27
2.2 Phân tích tỷ suất 27
3.Kĩ thuật gửi thư xác nhận trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền 28
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Bằng chứng kiểm toán là tài liệu, thông tin quan trọng liên quan đến cuộc kiểm toán Bằng chứng kiểm toán là cơ sở cho những kết luận của kiểm toán viên, quyết định đến thành công của cuộc kiểm toán Vấn đề làm thế nào để gia tăng chất lượng của bằng chứng kiểm toán mà không làm chi phí kiểm toán tăng cao luôn là một vấn đề cần thiết mà mỗi kiểm toán viên phải xem xét khi tham gia vào cuộc kiểm toán
Trong quá trình kiểm toán, việc lữa chọn các kĩ thuật thu thập bằng chứng như thế nào để có thể thu thập được những bằng chứng kiểm toán vừa thích hợp, vừa đầy đủ trong từng giai đoạn của cuộc kiểm toán là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi kiểm toán viên Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kiểm toán và các kết luận của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán
Chính vì tầm quan trọng trên của bằng chứng kiểm toán nói chung và các
kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán nói riêng, em chọn đề tài “ Kĩ thuật thu
thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính” với mục tiêu
mang lại cái nhìn tổng quát về bằng chứng kiểm toán và các kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán đến chi tiết hơn về kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán qua các giai đoạn trong quy trình kiểm toán Dựa tên nội dung trên, đề tài của em sẽ gồm 3 phần chính như sau:
Phần 1: Khái quát về bằng chứng kiểm toán và kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
Phần 2: Vận dụng kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán vào quy trình kiểm toán
Phần 3: Thảo luận về kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong chu trình bán hàng – thu tiền
Trang 4PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC KĨ THUẬT
THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN I.Bằng chứng kiểm toán
1 Khái niệm
Theo VAS số 500: “ Bắng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này kiểm toán viên đưa ra kết luận từ đó hình thành ý kiến kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán bao gốm những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, kể cả báo cáo tài chính và những tài liệu thông tin khác”
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, bằng chứng kiểm toán có một vai trò vô cùng quan trọng Nó là cơ sở để hình thành nên ý kiến kết luận kiểm toán Thành công của cuộc kiểm toán phụ thuộc vào việc thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng kiểm toán Nếu không thực hiện được việc này, kiểm toán viên sẽ không thể đưa ra được các một nhận định xác đáng về đối tượng kiểm toán
2 Yêu cầu đối với bằng chứng kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán có thể là những tài liệu có sẵn như các loại chứng từ,
sổ sách kế toán, các loại biên bản họp…Hoặc có thể là nhứng tài liệu được tạo ra dưới sự yêu cầu của kiểm toán viên như các phiếu câu hỏi, các tài liệu thuyết minh, xác nhận của bên thứ ba, các lập luận suy diễn của kiểm toán viên dựa trên khả năng phán đoán nghề nghiệp Hoặc có thể là các bằng chứng kiểm toán đặc biệt khác như sử dụng ý kiến của các chuên gia, giải trình của nhà quản lý, tài liệu của kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên khác: bằng chứng về các bên hữu quan…
Dù thuộc loại bằng chứng kiểm toán nào, dù là dưới hình thức vật chất gì, vì vai trò vô cùng quan trọng mà bằng chứng kiểm toán phải đáp ứng được các yêu cầu như sau
Trang 52.1.Yêu cầu về tính tính hiệu lực:
Hiệu lực là khái niệm chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng chứng kiểm toán Một bằng chứng có hiệu lực sẽ giúp kiểm toán viên xem xét để đưa ra những nhận xét xác đáng nhất, từ đó đưa ra những kết luận báo cáo kiểm toán đứng đắn nhất
Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán chịu sự ảnh hưởng của những yếu
tố sau:
- Đầu tiên, tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng của loại hình hay dạng bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng vật chất ( Ví dụ như Biên bản kiểm kê có được sau khi thực hiện kiểm kê) và hiểu biết của kiểm toán viên về lĩnh vực kiểm toán bao giờ cũng được xem là có độ tin cậy cao hơn những bằng chứng bằng lời nói ( Ví dụ như bằng chứng thu thập qua phỏng vấn)
- Thứ hai là nguồn gốc thu thập bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng kiểm toán có nguồn gốc càng độc lập với đối tượng được kiểm toán thì càng có hiệu lực Ví dụ, các bằng chứng thu thập từ bên ngoài như bản kê ngân hàng, giấy báo số dư khách hàng do khách hàng gửi đến, xác nhận của ngân hàng về số dư tiền gửi và các khoản công nợ, hóa đơn mua hàng…
có độ tin cậy cao hơn, khách quan hơn bằng chứng kiểm toán có được do khách thể kiểm toán cung cấp như tài liệu kế toán, tài liệu thống kê ban đầu liên quan đến hoạt động được kiểm toán
- Thứ 3 là hệ thống kiểm soát nội bộ: Do hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế nhằm ngăn chặn và phát hiện các sai phạm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên trong môi trường kiểm soát nội bộ hoạt động tốt thì khả năng tồn tại sai phạm mà hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được là thấp hơn Vì vậy, bằng chứng kiểm toán thu được trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt có độ tin cậy cao hơn so với bằng chứng kiểm toán thu được trong điều kiện hệ thống này hoạt động kém hiệu quả
Trang 6- Thứ tư là sự kết hợp các bằng chứng kiểm toán: Nếu nhiều bằng chứng cùng xác minh cho một vấn đề thì sẽ có độ tin cậy hơn so với một thông tin riêng lẻ Ví dụ nếu số dư trên tài khoản “ Tiền gửi ngân hàng” khớp với số dư trên “Giấy báo số dư khách hàng” do ngân hàng gửi đến cho đơn vị được kiểm toán thì số liệu này đáng tin hơn so với chỉ xem xét duy nhất thông tin về số dư trên tài khoản Tiền gửi ngân hàng trong sổ sách được cung cấp bởi khách thể kiểm toán Vì vậy nếu có thể kết hợp bằng chứng kiểm toán từ nhiều nguồn khác nhau để phục vụ cho việc xem xét một vấn đề thì độ tin cậy sẽ cao hơn.
2.2.Tính đầy đủ
Đầy đủ là khái niệm chỉ số lượng hay quy mô cần thiết Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán đề cập đến số lượng và chửng loại bằng chứng kiểm toán cần thu thập mà dựa vào đó kiểm toán viên có thể đưa ra những ý kiến của mình một cách chính xác nhất Tính đầy đủ là một khái nieemj tương đối bởi không
có một con số cụ thể về số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, mà tùy từng cuộc kiểm toán ở từng đơn vị cụ thể mà số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập là khác nhau Vấn đề này đòi hỏi sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên tùy thuộc và từng tình huống cụ thể và kiểm toán viên phải cân nhắc những yếu tố có ảnh hưởng đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán Điều này cũng được đề cập đến trong chuẩn mực kiểm toán số 500: “ Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng bằng chứng kiểm toán,
số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của kiểm toán viên đối với rủi ro có sai sót trọng yếu và chất lượng của mội bằng chứng kiểm toán”
Cũng như tính hiệu lực ( tính thích hợp), tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán cũng chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, nhứng yếu tố đó là:
- Thứ nhât là tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng có độ tin cậy càng thấp thì càng cần thu thập với số lượng nhiều bởi vì một số ít bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy thấp chưa đủ để có thể nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm toán cụ thể Ngược lại nếu bằng chứng
Trang 7thu thập có chất lượng tốt thì kiểm toán viên có thể giẩm số lượng bằng chứng cần thu thập xuống để tiết kiệm chi phí kiểm toán mà vẫn đầy đủ
cơ sở để đưa ra kết luận kiểm toán chính xác
- Thứ hai là tính trọng yếu: Đối tượng kiểm toán càng tọng yêu thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập đòi hỏi phải càng nhiều để khi đó kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến xác đáng về đối tượng kiểm toán Kiểm toán viên phải phát hiện mọi sai phạm có ảnh hưởng trọng yếu dến báo cáo tài chính, những sai phạm này thường là những sai phạm có giá trị lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới báo cáo tài chính
- Thứ ba là mức độ rủi ro: Những đối tượng được đánh giá là có khả năng rủi ro lớn thì lượng bằng chứng kiểm toán thu thập càng nhiều và ngược lại
Như vậy ta thấy, tính đầy đủ và tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán có mối liên hệ tương quan Đầy đủ là tiêu chuẩn để đánh giá số lượng bằng chứng kiểm toán, số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng của bởi đánh giá của kiểm toán viên đối với rủi ro có sai sót (rủi ro được đánh giá ở mức
độ càng cao thì càng cận nhiều bằng chứng kiểm toán) và đồng thời chịu ảnh hưởng bởi chât lượng của bằng chứng kiểm toán đó Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng nhiều bằng chứng kiểm toán được thu thập không có nghĩa là chất lượng bằng chứng kiểm toán được đảm bảo
3 Các kĩ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
3.1 Kiểm tra
Theo VAS số 500 “ Việc kiểm tra bao gồm kiểm tra tài liệu, sổ sách kế toán hoặc chứng từ, có thể từ trong hoặc ngoài đơn vị, ở dạng giấy, dạng điện tử hoặc các dạng thức khác; hoặc kiểm tra tài sản hiện vật Việc kiểm tra tài liệu, sổ sách
kế toán và chứng từ cung cấp các bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy khác nhau, tùy thuộc vào nội dung, nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán và tùy thuộc vào tính hữu hiệu của các kiểm soát với quá trình tạo lập ra tài liệu, sổ kế toán
và các chứng từ thuộc nội bộ đơn vị”
Trang 8Theo như nội dung trong VAS số 500 đã nói ở trên, ta có thể thấy kiểm tra gồm 2 loại:
3.1.1 Kiểm tra vật chất
Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loại tài sản của doanh nghiệp Kiểm kê thường được áp dụng đối với tài sản có dạng vật chất cụ thể như: hàng tồn kho, tài sản cố định, tiền mặt, nhưng nó cũng được vận dụng cho quá trình kiểm tra các loại giấy tờ thanh toán có giá trị, chẳng hạn như khi một trái phiếu lập ra chưa được ký thì nó là một chứng từ, sau khi ký thì
nó là một tài sản và khi thanh toán thì nó lại là một chứng từ, do đó khi nó là tài sản thì kiểm toán viên có thể áp dụng kỹ thuật kiểm tra vật chất
Ưu điểm và hạn chế:
• Ưu điểm:
- Cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất, vì kiểm kê là quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản do kiểm toán viên trực tiếp tham gia hay giám sát quá trình kiểm kê nên kiểm kê vật chất có tính khách quan cao
- Ưu điểm thứ hai phải kể đến là cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán
• Hạn chế:
- Đối với một tài sản cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị… thì kỹ thuật kiểm kê vật chất chỉ cho biết sự hiện hữu của tài snar, không cho biết quyền sở hữu của đơn vị đối với tài sản đó, vì vậy có thể phát sinh trường hợp có sự hiện hữu của tài sản nhưng thực chất tài sản đó không thuộc sở hữu của doanh nghiệp mà là tài sản đi thuê ngoài
- Đối với hàng hóa, nguyên vật liệu tồn kho, kiểm tra vật chất chỉ cho biết
sự tồn tại thực tế về số lượng, còn chất lượng, tình trạng kĩ thuật, phương pháp đánh giá đúng hay sai thì không thể xác định
Do vậy, để đưa ra kết luận kiểm toán xác đáng nhất thì khi thực hiện kiểm tra vật chất cần đi kèm với các bằng chứng khác để chứng minh quyền sở hữu và giá trị tài sản
3.1.2 Kiểm tra tài liệu
Trang 9Ngoài kiểm kê vật chất, kiểm toán viên còn tiến hành kiểm tra tài liệu hay còn gọi là xác minh tài liệu: là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng
từ, sổ sách kế toán và các tài liệu khác có liên quan sẵn có của khách thể kiểm toán để chứng minh một thông tin trên báo cáo tài chính
Chứng từ được kiểm toán viên xem xét, kiểm tra là các sổ sách , chứng từ…
mà công ty khách hàng sử dụng để cung cấp thông tin cho quản lý Vì từng nghiệp vụ kinh tế ở công ty khách hàng thường được chứng minh bởi ít nhất một chứng từ nên luôn có sẵn một khối lượng lớn loại chứng từ này Ví dụ,với nghiệp vụ bán hàng thì sẽ có một hoá đơn bàn hàng (liên 3), với nghiệp vụ xuất kho vật tư dùng vào sản xuất thì có phiếu xuất kho, hoặc một chứng từ vận chuyển chứng minh cho nghiệp vụ bán hàng đã được giao cho khách hàng và căn cứ để tính cước vận chuyển,
Trong quá trình xác minh (xem xét và kiểm tra), KTV cần phân biệt toàn bộ chứng từ của công ty khách hàng thành hai loại: Chứng từ nội bộ và Chứng từ bên ngoài Chứng từ nội bộ là chứng từ được lập và sử dụng trong phạm vi của công ty khách hàng mà không cung cấp ra bên ngoài (khách mua hàng hoặc người cung ứng) Ví dụ như bảng chấm công, các báo cáo nhập kho, Chứng
từ bên ngoài là chứng từ do một đơn vị nào đó ở bên ngoài công ty khách hàng lập (đơn vị bên ngoài có thể là một bên của nghiệp vụ kinh tế đang được phản ánh trên chứng từ) và đang lưu trữ tại công ty khách hàng Thí dụ như hoá đơn của người cung ứng, các phiếu nợ phải trả đã thanh toán Chứng từ bên ngoài cũng bao gồm những chứng từ do công ty khách hàng lập hiện đang lưu trữ tại công ty khách hàng và cũng đang có tại một đơn vị bên ngoài công ty khách hàng Thí dụ như hoá đơn bán hàng Những chứng từ khác như séc đã thanh toán, khởi đầu từ công ty khách hàng, đi ra bên ngoài rồi cuối cùng quay trở lại công ty khách hàng
Việc phận biệt chứng từ nội bộ và chứng từ bên ngoài sẽ giúp KTV nhận định về độ tin cậy của chứng từ đó Nếu là chứng từ nội bộ thì phải xem xét nó
có được tạo ra và xử lý trong một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu hay không? Chứng từ nội bộ được tạo ra và xử lý trong điều kiện của hệ thống kiểm
Trang 10soát nội bộ yếu kém sẽ cấu thành những bằng chứng ít tin cậy Còn với chứng từ bên ngoài, do nó được lưu trữ cả tại công ty khách hàng và đối tác bên ngoài nên
có dấu hiệu cho thấy thông tin trên chứng từ đã có sự nhất trí của cả hai bên, do
đó chứng từ bên ngoài được đánh giá là những bằng chứng đáng tin cậy hơn các chứng từ nội bộ
Khi sử dụng kỹ thuật này, kiểm toán viên cần phân biệt quá trình kiểm tra vật chất về tài sản như: tiền mặt, trái phiếu có giá với quá trình kiểm tra các chứng từ như phiếu chi đã thanh toán, chứng từ bán hàng Nếu tài liệu được kiểm toán là một hoá đơn mua hàng, không có giá trị thanh toán như tiền thì bằng chứng đó là một tài liệu chứng minh Đối với trái phiếu, khi chưa được ký,
nó là một chứng từ, sau khi được ký, nó là một tài sản, sau khi thanh toá, nó là một chứng từ Kỹ thuật kiểm tra vật chất áp dụng đối với trái phiếu khi nó là một tài sản, kỹ thuật kiểm tra tài liệu áp dụng khi nó là một chứng từ
Phương pháp này được áp dụng đối với: hoá đơn bán hàng, phiếu nhập kho, xuất kho, hoá đơn vận tải, sổ kế toán
Cách thức tiến hành: có 2 cách.
• Thứ nhất, từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tài liệu làm
cơ sở cho kết luận cần được khẳng định Ví dụ, kiểm toán viên kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền sở hữu tài sản
• Thứ hai, kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi vào sổ sách Quá trình này có thể tiến hành theo hai hướng: Từ chứng từ gốc lên sổ sách khi muốn chứng minh rằng nghiệp vụ phát sinh đã được ghi sổ đầy đủ; từ sổ sách kiểm tra ngược về chứng từ gốc khi muốn chứng minh về tính có thật của các nghiệp vụ được ghi sổ
Trang 11- Độ tin cậy của tài liệu minh chứng phụ thuộc vào nguồn gốc của bằng
chứng (hay sự độc lập của tài liệu so với đơn vị được kiểm toán);
- Các tài liệu cung cấp có thể đã bị sửa chữa, giả mạo làm mất tính khách quan nên cần có sự kiểm tra, xác minh bằng phương pháp kỹ thuật khác
3.2 Kĩ thuật quan sát
Theo chuẩn mực kiểm toán VAS số 500 “Quan sát là việc theo dõi một quy trình hoặc thủ tục do người khác thực hiện, ví dụ như kiểm toán viên quan sát nhân viên của đơn vị được kiểm toán thực hiện kiểm kê, hoặc quan sát việc thực hiện các hoạt động kiểm soát Việc quan sát cung cấp bằng chứng kiểm toán về việc thực hiện một quy trình hoặc thủ tục, nhưng chỉ giới hạn ở thời điểm quan sát và thực tế là việc quan sát của kiểm toán viên có thể ảnh hưởng đến cách thức thực hiện quy trình hoặc thủ tục đó.”
Quan sát là phương pháp được sử dụng để đánh giá một thực trạng hay một hoạt động của đơn vị được kiểm toán bằng các giác quan
Ví dụ, kiểm toán viên có thể đi quan sát đơn vị được kiểm toán để có ấn tượng chung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ mới cũng như sự vận hành của máy móc, nhìn các nhân viên thực thi các nhiệm vụ kế toán để xác định liệu người được giao trách nhiệm có hoàn thành nhiệm vụ đó hay không
Ưu điểm và hạn chế:
• Ưu điểm:
- Kỹ thuật này rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán;
- Bằng chứng thu được đáng tin cậy
• Hạn chế:
- Tuy bằng chứng thu được là đáng tin cậy nhưng bản thân bằng chứng thu được từ kỹ thuật quan sát chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần đi kèm với kỹ thuật khác, bởi kỹ thuật này chỉ cung cấp bằng chứng về phương pháp thực thi công việc ở thời điểm quan sát, không chắc chắn có được thực hiện ở các thời điểm khác hay không
3.3 Lấy xác nhận
Trang 12Theo Chuẩn mực kiểm toán VAS số 500 “Xác nhận từ bên ngoài là bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập được dưới hình thức thư phúc đáp trực tiếp của bên thứ ba (bên xác nhận) ở dạng thư giấy, thư điện tử hoặc một dạng khác Thủ tục xác nhận từ bên ngoài thường được sử dụng để xác minh các
cơ sở dẫn liệu liên quan đến các số dư tài khoản nhất định và các yếu tố của các
số dư tài khoản đó Tuy nhiên, việc xác nhận từ bên ngoài không chỉ giới hạn cho các số dư tài khoản Ví dụ, kiểm toán viên có thể đề nghị xác nhận về các điều khoản của hợp đồng hoặc các giao dịch của đơn vị với bên thứ ba; đề nghị xác nhận có thể được thiết kế để tìm hiểu liệu đã có thay đổi nào đối với hợp đồng hay chưa và nội dung của các thay đổi đó, nếu có Các thủ tục xác nhận từ bên ngoài cũng được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự không hiện hữu của những điều kiện nhất định, ví dụ, không có một “thỏa thuận phụ”
có thể ảnh hưởng đến việc ghi nhận doanh thu”
Lấy xác nhận là quá trình thu thập thông tin do bên thứ ba độc lập cung cấp
để xác minh tính chính xác của các thông tin trên báo cáo tài chính
Phương pháp này được áp dụng hầu như trong tất cả các cuộc kiểm toán.Các xác nhận có được sử dụng hay không là tuỳ thuộc vào nhu cầu về độ tin cậy của khoản mục đang kiểm toán Nói chung, các xác nhận không được dùng
để xác minh các nghiệp vụ kinh tế cụ thể giữa khách hàng với các bên hữu quan, thí dụ như nghiệp vụ bán hàng vì KTV có thể sử dụng chứng từ cho mục đích này Tương tự, các xác nhận ít khi được dùng trong kiểm toán việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh vì chúng có thể được xác minh đầy đủ bằng thủ tục xác minh tài liệu và qua kiểm tra vật chất
Trong các đối tượng cần xác nhận ở trên thì khoản phải thu được coi là đối tượng cần phải thực hiện (gửi thư xác nhận) trong mọi cuộc kiểm toán và trong điều kiện khả thi Vì khoản phải thu thường đại diện cho một số dư đáng kể trên báo cáo tài chính và các xác nhận là một kiểu mẫu bằng chứng có độ tin cậy cao
về chúng
Yêu cầu của công việc xác nhận:
- Thông tin cần phải được xác nhận theo yêu cầu của kiểm toán viên
Trang 13- Sự xác nhận phải được thực hiện bằng văn bản (Thư xác nhận).
- Sự độc lập của người xác nhận thông tin
- Kiểm toán viên phải kiểm soát được toàn bộ quá trình thu thập “Thư xác nhận”
• Hình thức lấy xác nhận:
Có 2 hình thức: xác nhận phủ định và xác nhận khẳng định
- Xác nhận phủ định: Kiểm toán viên yêu cầu người xác nhận gửi thư phản hồi nếu có sai khác giữa thực tế với thông tin kiểm toán viên nhờ xác nhận
- Xác nhận khẳng định: Kiểm toán viên yêu cầu người xác nhận gửi thư phản hồi cho tất cả các thư xác nhận dù thực tế có trùng khớp với thông tin mà kiểm toán viên quan tâm hay không Hình thức này do đó đảm bảo tin cậy hơn cho kỹ thuật xác nhận, nhưng chi phí cũng cao hơn Vì thế tuỳ theo mức độ hệ trọng của thông tin mà kiểm toán viên sẽ lựa chọn hình thứ phù hợp
Ưu điểm và hạn chế:
• Ưu điểm:
Bằng chứng thu được có độ tin cậy cao nếu kiểm toán viên thực hiện đúng qui trình và đảm bảo các yêu cầu trên Nếu khách hàng kiểm soát khâu chuẩn bị các xác nhận, thực hiện việc gửi đi hoặc nhận về các bản trả lời, KTV sẽ bị mất quyền kiểm soát và cùng với nó là tính độc lập Như vậy độ tin cậy của bằng chứng cũng bị giảm xuống
• Hạn chế:
Chi phí thực thi khá lớn và do đó phạm vi áp dụng tương đối giới hạn, nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, quan hệ rộng, đa quốc gia Hơn nữa kiểm toán viên cũng cần quan tâm đến khả năng các xác nhận của bên thứ ba đã qua sự dàn xếp trước của đối tượng được kiểm toán
3.4 Phỏng vấn
Trang 14Theo chuẩn mực kiểm toán VAS số 500 “Phỏng vấn là việc tìm kiếm
thông tin tài chính và phi tài chính từ những người có hiểu biết bên trong hoặc bên ngoài đơn vị Phỏng vấn được sử dụng rộng rãi trong suốt quá trình kiểm toán bên cạnh các thủ tục kiểm toán khác Phỏng vấn có thể có nhiều hình thức,
từ phỏng vấn bằng văn bản chính thức đến phỏng vấn bằng lời không chính thức Việc đánh giá các câu trả lời phỏng vấn là một phần không thể tách rời của quá trình phỏng vấn”
Các câu trả lời phỏng vấn có thể cung cấp cho kiểm toán viên những thông tin mà trước đây kiểm toán viên chưa có hoặc cung cấp bằng chứng kiểm toán chứng thực Ngoài ra, các câu trả lời phỏng vấn có thể cung cấp thông tin khác
biệt đáng kể với các tài liệu, thông tin khác mà kiểm toán viên đã thu thập được,
ví dụ thông tin về khả năng Ban Giám đốc khống chế kiểm soát Trong một số trường hợp, các câu trả lời phỏng vấn cung cấp cơ sở để kiểm toán viên sửa đổi hoặc thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung
Ví dụ, thẩm vấn khách hàng về những qui định kiểm soát nội bộ, hoặc hỏi nhân viên về sự hoạt động của những qui chế này
• Qui trình thu thập bằng chứng qua phỏng vấn bao gồm 3 giai đoạn:
- Lập kế hoạch phỏng vấn: kiểm toán viên phải xác định được mục đích, đối tượng và nội dung cần phỏng vấn, thời gian và địa điểm phỏng vấn
- Thực hiện phỏng vấn: kiểm toán viên giới thiệu lý do cuộc phỏng vấn, trao đổi về những trọng điểm đã xác định Khi phỏng vấn, kiểm toán viên
có thể dùng hai loại câu hỏi cơ bản là câu hỏi “đóng” hoặc câu hỏi “mở”.Câu hỏi “đóng” giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, được sử dụng khi kiểm toán viên muốn xác nhận một vấn đề đã nghe hay đã biết Loại câu hỏi này thường có các cụm từ “có hay không”, “Tôi biết rằng ”Câu hỏi “mở” giúp kiểm toán viên thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ, được sử dụng khi kiểm toán viên muốn thu thập thêm thông tin Loại câu hỏi này thường có các cụm từ “thế nào?”, “Cái gì?”, “Tại sao?”
- Kết thúc phỏng vấn: kiểm toán viên cần đưa ra kết luận trên cơ sở thông tin đã thu tập được Tuy nhiên, kiểm toán viên cũng cần lưu ý đến tính
Trang 15khách quan và sự hiểu biết của người được phỏng vấn để có kết luận xác đáng về bằng chứng thu thập được.
Trong trường hợp phỏng vấn về ý định của Ban Giám đốc, việc chứng thực bằng chứng thu thập được thông qua việc phỏng vấn là rất quan trọng nhưng các
tài liệu, thông tin có sẵn để hỗ trợ cho ý định của Ban Giám đốc thường bị hạn
chế Trong trường hợp này, kiểm toán viên cần tìm hiểu về những việc mà Ban Giám đốc đã làm để thực hiện các ý định của mình, các lý do Ban Giám đốc lựa chọn thực hiện một hành động cụ thể, và khả năng Ban Giám đốc theo đuổi
hành động cụ thể đó để cung cấp các tài liệu, thông tin chứng thực cho bằng
chứng thu thập được thông qua phỏng vấn
3.5 Kỹ thuật tính toán
Kỹ thuật tính toán là quá trình kiểm toán viên kiểm tra tính chính xác về mặt
số học của việc tính toán và ghi sổ
Ví dụ, đối với kiểm tra việc tính toán, kiểm toán viên xem xét tính chính xác (bằng cách tính lại) các hóa đơn, phiếu nhập - xuất kho, số liệu hàng tồn kho, tính toán lại chi phí khấu hao, giá thành, các khoản dự phòng, thuế, số tổng cộng trên sổ chi tiết và sổ cái, Đối với tính chính xác của việc ghi sổ, kiểm toán viên đối chiếu các chứng từ có liên quan để xem cùng một thông tin được phản ánh như nhau trên các chứng từ khác nhau, ở những nơi khác nhau
Trang 16Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần tuý về mặt số học, không chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được sử dụng Do đó, kỹ thuật này thường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác như kiểm tra tài liệu, kiểm tra vật chất, phân tích, trong quá trình thu thập bằng chứng.
3.6 Phân tích
Phân tích là quá trình so sánh, đối chiếu, đánh giá các mối quan hệ để xác định tính hợp lý của các số dư trên tài khoản Các mối quan hệ bao gồm quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau và quan hệ giữa các thông tin tài chính với các thông tin phi tài chính
Trong kiểm toán tài chính, người ta thường sử dụng ba kỹ thuật phân tích sau: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất
• Kiểm tra tính hợp lý: thường bao gồm những so sánh cơ bản như: so
sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán, Từ kết quả so sánh, việc điều ra những sai khác lớn giữa số thực tế và số kế hoạch sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện những sai sót trong báo cáo tài chính hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị Kiểm tra hợp lý cũng có thể được sử dụng để so sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị và các chỉ tiêu bình quân trong ngành hoặc so sánh số liệu của đơn vị kiểm toán với kết quả dự kiến của kiểm toán viên
• Phân tích xu hướng: là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của
số dư tài khoản hay nghiệp vụ Phân tích xu hướng thường được kiểm toán viên sử dụng qua so ssánh thông tin tài chính kỳ này với các