1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

So sánh đặc điểm tên gọi các dân tộc sử dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ nam á và nam đảo ở việt nam

96 647 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 535,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay vẫn chưa có một công trình nàonghiên cứu, so sánh một cách đầy đủ, chi tiết về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hoá tên gọi các dân tộc và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tên dân tộc (TDT - còn gọi là tộc danh) là một hiện tượng văn hoángôn ngữ biểu hiện một nét văn hoá - xã hội, tâm lý - xã hội của mỗi dân tộc(DT) trong những môi trường sống nhất định Tên dân tộc là một vấn đề liênquan chặt chẽ với nguồn gốc, đặc điểm văn hoá, phản ánh cách nhìn nhận,phân chia thế giới khách quan của mỗi DT Vì vậy, vấn đề TDT cũng là mộtvấn đề nhạy cảm và mang tính văn hoá ứng xử của tộc người này, nhóm địaphương (NĐP) này đối với các tộc người khác, các NĐP khác

Mỗi DT thường mang nhiều tên gọi khác nhau Ở mỗi thời kì lịch sửnhất định thì mỗi DT lại có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau do quan niệmvăn hóa, cách định danh TDT của chính họ và các DT có quan hệ tiếp xúc.Việc chọn được một tên gọi đúng đắn để gọi tên một DT là biểu thị thái độtôn trọng đối với DT đó, đồng thời chứng tỏ ý thức nghiêm túc về mặt khoahọc Vì vậy khi nghiên cứu tên gọi các DT và NĐP về đặc điểm cấu tạo, ýnghĩa, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn đặc điểm văn hoá, lịch sử của mỗi DT

và các NĐP, góp phần xác định một cách chính xác hơn tên gọi của họ

Theo ý kiến của phần lớn các nhà khoa học, ở khu vực Đông Nam Á cónăm họ ngôn ngữ là: Nam Á (NA), Nam Đảo (NĐ), Thai-Ka đai, Hmông -Dao (Mèo - Dao, Hmông - Miến) và Hán Tạng, Cư dân sử dụng tiếng nói củacác họ ngôn ngữ này (ít nhiều) đều có mặt trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó

cư dân sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á, chiếm một số lượng đáng

kể Còn cư dân sử dụng các ngôn ngữ Nam Đảo ở nước ta chiếm một sốlượng không lớn và bao gồm ít DT hơn Việc nghiên cứu so sánh đặc điểmcấu tạo, ngữ nghĩa và văn hoá tên gọi của các DT và NĐP sử dụng các ngôn

Trang 2

khái quát, đầy đủ hơn về cư dân các DT sử dụng ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệnày Từ đó chúng ta có thể thấy được nét tương đồng và khác biệt về đặcđiểm tên gọi của chúng, góp phần vào việc phân định thành phần các dân tộcthiểu số (DTTS) sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ này ở Việt Nam hiện

nay Vì vậy, luận văn chọn đề tài: "So sánh đặc điểm tên gọi các dân tộc sử

dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo ở Việt Nam"

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Đối với các quốc gia đa DT, đa ngôn ngữ thì việc xác định thành phầncác DT chính là giúp cho việc hoạch định các chính sách, đường lối phát triểncủa đất nước nói chung, bảo tồn, và phát triển nền kinh tế, văn hoá-xã hội củacác DTTS nói riêng Vấn đề xác định thành phần các DT ở Việt Nam trải quanhững giai đoạn và quan điểm khác nhau Ở mỗi thời kì lịch sử thì việc xácđịnh thành phần DT theo những quan điểm chính trị, xã hội, văn hoá, rấtkhác nhau Ở nước ta đến những năm cuối của thập kỉ 50 (thế kỷ XX), chúng

ta mới có một bản danh mục khá chi tiết về các DTTS ở Việt Nam Theo các

tác giả của cuốn "Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam" thì lúc đó ở Việt Nam có 64

dân tộc, trong đó có 63 dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ thuộc ba ngữ hệ:Malayô-Polynêdiêng, Môn - Khơ me, Hán Tạng Mặc dù còn những hạn chếnhất định về tư liệu và phương pháp luận khoa học, cũng như phương phápnghiên cứu, nhưng đây là một công trình đầu tiên hệ thống được danh sáchcác DT và nó cũng chính là cơ sở khoa học tộc người để tiến hành cuộc tổngđiều tra dân số miền Bắc năm 1960

Vào những năm 70 của thế kỉ trước vấn đề tộc danh lại tiếp tục đượcđặt ra Năm 1973, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, hội nghị khoa học về vấn đềxác định thành phần DT ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội, Hà Bắc, NghệTĩnh Các nhà khoa học và hoạch định chính sách đề nghị một bản danh

Trang 3

mục gồm 59 dân tộc So với bản danh mục trước đây thì bản danh mục này đã

có nhiều sự thay đổi Sau khi thống nhất đất nước, các nhà khoa học có điềukiện nghiên cứu các DTTS ở phía nam Và đến năm 1979, một bản Danh mục

về thành phần các dân tộc ở Việt Nam được Tổng cục Thống kê (theo ủynhiệm của Thủ tướng Chính phủ) ban hành Theo bản Danh mục thành phầncác dân tộc ở Việt Nam này, nước ta gồm 54 DT, trong đó người Kinh (Việt)

là DT đa số và 53 DTTS khác So với bản Danh mục năm 1973, bản này cómột số thay đổi: đó là sự mất đi một vài dân tộc, sự kết hợp hai, ba nhóm DT,NĐP thành một dân tộc, cùng với sự xuất hiện một vài DT mới, cũng như sựxác định lại tên gọi đối với một số DT mới

Tại sao con số tên gọi các DT ở nước ta lại thay đổi, khác biệt nhau đếnnhư vậy qua các thời kì ? Hiện trạng này cho chúng ta thấy được sự phức tạpcủa thành phần các DT của nước ta Gần đây, PGS TS Đoàn Văn Phúc( Việnngôn ngữ quốc gia) cho biết, Ủy ban dân tộc Chính phủ nhận được các báocáo từ các tỉnh và tổng hợp cho thấy: hiện có 22 dân tộc, nhóm tộc ngườithiểu số/ NĐP đề nghị được xác minh lại thành phần dân tộc, và 12 dân tộc,nhóm tộc người/ NĐP đề nghị xác minh lại tên gọi và cách viết tên gọi của họbằng tiếng Việt

Do những điều kiện lịch sử, địa lí đặc biệt, Việt Nam trong nhiều thiên

kỉ là ngã ba đường của các cuộc thiên di, đất lành tụ hội của nhiều tộc người

Là một bộ phận của Đông Nam Á, thuộc về một trong những trung tâm hìnhthành văn minh nông nghiệp, lại nằm ở ngã ba giữa lục địa và hải đảo, giữavăn minh Trung Hoa phương bắc và văn minh Ấn Độ phía tây, các ngôn ngữ -tộc người ở Việt Nam chịu sự tác động mạnh mẽ của mọi biến cố lịch sử, kinh

tế, chính trị, văn hoá của khu vực Do đó, bức tranh về tộc người ở Việt namthật phong phú, đa dạng Quá trình hình thành tộc người ấy ở Việt Nam diễn

Trang 4

ra trong thời gian dài trên một địa bàn hội tụ nhiều luồng di cư, tạo nên rấtnhiều nhóm địa phương (NĐP) Mỗi nhóm lại hình thành theo một cách riêng,phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, địa lý, xã hội của nhóm

Đã có khá nhiều công trình, nhiều bài viết, nhiều báo cáo khoa học củanhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau về tên gọi dân tộc (TDT),NĐP, về cách đọc, cách viết tên DTTS Cũng có một vài bài viết về đặc điểmvăn hoá tộc người qua tên gọi của một vài nhà dân tộc học Gần đây cũng đã

có một số công trình, bài viết về cách viết và phiên chuyển tên DTTS, hoặc

cách viết tên DTTS (Võ Xuân Quế, Về tên riêng trong các ngôn ngữ dân tộc

thiểu số trên sách báo tiếng Việt, trong "Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng", H., 1998; Tạ Văn Thông, Tên riêng trong tiếng KơHo, Ngôn

ngữ, số 1, 1993, tr.23-27; Cách viết tên các dân tộc ở Việt Nam, Ngôn ngữ,

2001, số 10, tr 26-32; Hoàng Thị Châu, , "Tiến tới chuẩn hoá cách viết tên

riêng tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản tiếng Việt" (đề tài của Hội Ngôn ngữ

học Việt Nam thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và kĩ thuật Việt Nam),

Nghiệm thu 2001; Đoàn Văn Phúc, Chuẩn hoá chính tả tên riêng dân tộc

thiểu số trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, 2005, số 11, tr 75 – 80; Vấn đề chính tả

tên các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng, Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở

Việt Nam, - KHXH., H - 2009 - tr 190 - 221 ) Do những yêu cầu cấp bách

của công tác dân tộc, mấy năm gần đây, Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoahọc xã hội Việt Nam đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề tênDTTS ở Việt Nam Tuy nhiên dường như mới chỉ có một só ít bài viết nằmtrong chương trình này được công bố, còn toàn bộ các ý tưởng chính của côngtrình vẫn chưa được xuất bản Hiện nay vẫn chưa có một công trình nàonghiên cứu, so sánh một cách đầy đủ, chi tiết về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa

và văn hoá tên gọi các dân tộc và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ

hệ Nam Á (NA), Nam Đảo (NĐ) để rút ra được những nét tương đồng vàkhác biệt về đặc điểm tên gọi các DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc haingữ hệ này

Trang 5

Việc nghiên cứu này góp phần giải quyết một số vấn đề quan trọngđang gây tranh luận về nguồn gốc, lịch sử tộc người, quan hệ các nhóm tộcngười thuộc hai ngữ hệ này Đồng thời việc này còn giúp chúng ta có cái nhìntổng thể về tên gọi các DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ

NA và NĐ ở Việt Nam Vấn đề tên DT và các NĐP của các DTTS ở ViệtNam được các nhà nghiên cứu khá nhiều, đặc biệt là tên các nhóm tộc người/NĐP Điều này có thể thấy rõ qua những công trình nghiên cứu của các nhànghiên cứu dân tộc học và các nhà ngôn ngữ học Năm 2005, trong khoá luận

tốt nghiệp đại học, Hoàng Thị Nhung đã tiến hành nghiên cứu đề tài "Đặc

điểm tên gọi các dân tộc thiểu số ở Việt Nam" Trong khoá luận này, chị đã

tổng kết, thống kê, phân tích, miêu tả và chỉ ra một số đặc điểm chung nhất vềcấu tạo hình thái, ngữ nghĩa và văn hoá của các tên DTTS Tuy nhiên, do điềukiện đề tài qua lớn và rộng nên chị chưa thể đi sâu phân tích được đặc điểm

về cấu tạo, ngữ nghĩa TDT và NĐP

3 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài "So sánh đặc điểm tên gọi các dân tộc sử dụng ngôn ngữ thuộc

ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo ở Việt Nam" muốn áp dụng lí thuyết cấu tạo từ và

nghĩa của từ vào việc nghiên cứu và so sánh đặc điểm cấu tạo hình thái vàngữ nghĩa cũng như văn hóa của một kiểu đơn vị định danh: tên DTTS (baogồm cả TDT và NĐP) Những kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra đặc điểm về cấutạo hình thái và ngữ nghĩa của một loại đơn vị định danh tồn tại trong tiếngViệt - tên DT và NĐP Bên cạnh đó, đề tài còn chỉ ra những điểm tương đồng

và khác biệt của tên DT sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai họ NA và NĐ, giúpcho các nhà nghiên cứu có thêm những tư liệu mới về vấn đề lí thuyết về cấutạo từ thông qua loại đơn vị định danh đặc biệt này

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.

Trang 6

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Vấn đề tên gọi các DT và NĐP ở Việt Nam là một vấn đề cấp báchhiện nay và rất rộng bởi nó liên quan đến không chỉ vấn đề phương thức địnhdanh mà còn cả vấn đề tâm lí - xã hội, ngôn ngữ - tộc người Ngay khi nghiêncứu đặc điểm TDT và các NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ này,

có rất nhiều vấn đề được đặt ra như: đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, văn hoá,tâm lý tộc người, mối liên hệ giữa các tên gọi, lịch sử và nguyên nhân biếnđổi tên gọi và nhóm địa phương để góp phần xác định các nhóm địa phương

và dân tộc, Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn và năng lực của một họcviên, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa têngọi của các DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ NA và NĐ ởViệt Nam, đồng thời luận văn so sánh, chỉ ra những điểm tương đồng và khácbiệt về đặc điểm tên gọi của các DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc haingữ hệ này

4.2 Nhiệm vụ của đề tài

Với định hướng, phạm vi như vậy, đề tài có 4 nhiệm vụ:

- Thứ nhất, tìm hiểu một số khái niệm lí thuyết về dân tộc và định danh,cũng như đặc điểm ngôn ngữ chung của các dân tộc có liên quan tới đề tài

Thứ hai, miêu tả đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa tên DT và NĐP cư dânnói các ngôn ngữ NA ở Việt Nam

- Thứ ba, miêu tả đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa tên DT và NĐP cư dânnói các ngôn ngữ NĐ ở Việt Nam

- Thứ tư, so sánh để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về cáchcấu tạo, ngữ nghĩa trong TDT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai họngôn ngữ này

Trang 7

5 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Tư liệu

Tư liệu cho bản luận văn được thống kê qua sách báo, các công trìnhnghiên cứu của những người đi trước, đồng thời chúng tôi cũng sử dụng thành

quả của Khoá luận "Đặc điểm tên gọi các dân tộc thiểu số ở Việt Nam" do chị

Hoàng Thị Nhung đã thực hiện năm 2005

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài kiểu này, người viết áp dụng một số phương phápnghiên cứu cũng như một số thủ pháp sau:

a) Phương pháp miêu tả để miêu tả đặc điểm cấu tạo hình thái, ngữnghĩa của các đơn vị định danh Tuy nhiên để có được tư liệu phân tích này,chúng tôi vận dụng thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại dữ liệu và phân tíchthành tố trực tiếp các thành tố tạo nên TDT và NĐP Trên cơ sở thống kê cácphiếu tư liệu chúng tôi tiến hành phân loại các số liệu đó theo từng nhóm,từng vấn đề cụ thể

b) Phương pháp so sánh để chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữacác đối tượng nghiên cứu

c) Phương pháp quy nạp là phương pháp của tư duy lôgíc cũng được ápdụng Trên cơ sở các phiếu tư liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành miêu tả,nhận xét và rút ra đánh giá tổng hợp để từ đó miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữnghĩa và văn hoá của các TDT và NĐP đó

6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

6.1 Về lý luận

Trang 8

Lần đầu tiên, vấn đề tên gọi các DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữthuộc hai ngữ hệ NA và NĐ được nghiên cứu, so sánh với nhau để nhìn nhậnthấy được những nét cơ bản trong cách đặt tên DT và NĐP về phương diệncấu trúc và ngữ nghĩa cũng như văn hóa Nó bổ sung những vấn đề lí luận khiđặt tên cho các DT hay các NĐP không chỉ ở Việt Nam mà còn góp phần vào

lí luận cho việc đặt tên cho các DT và các NĐP của chúng trên phạm vi khuvực và thế giới

6.2 Về thực tiễn

Đề tài góp phần vào việc xác định cách gọi tên, cách viết TDT và NĐP

sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ NA và NĐ chính xác hơn, góp phầnxây dựng tình đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc trong cộng đồng quốc gia dântộc Hiện nay, vấn đề xác định TDT và tên gọi DT, cũng như tên gọi các NĐPlại càng đặc biệt quan trọng khi mà những vấn đề về dân tộc, tôn giáo đang nổ

ra nhiều vấn đề trên phạm vi thế giới chứ không phải ở một khu vực địa –chính trị nào

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Thư mục

tham khảo chính Ngoài Mở đầu và Kết luận, Phần nội dung gồm 4

Trang 9

Chương IV: Những tương đồng và khác biệt về tên dân tộc và nhóm địaphương DTTS sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo.

Ngoài ra, luận văn còn có phần Phụ lục về: Tên các dân tộc và nhómđịa phương sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á; Tên các dân tộc vànhóm địa phương sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH DANH, DANH XƯNG HỌC VÀ TỘC DANH

1.1.1 Về định danh

Ngôn ngữ có vai trò vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ của tư duy.Tên gọi là biểu hiện cụ thể vai trò của ngôn ngữ Vậy tên gọi có tác dụng như

thế nào đối với hoạt động suy nghĩ ? K Marx viết: “ Trên lý luận người ta

cũng học hỏi biết cách đem những vật ngoại giói có thế thoả mãn nhu cầu của mình phân biệt hết thảy với những vật khác Sau này, khi đã đạt đến một mức độ phát triển nào đó, và sau khi những nhu cầu của mình và những hình thái hoạt động thoả mãn nhu cầu của mình đều tăng lên dần và phát triển thêm một bước nữa, thì người ta lại đặt cho cả một lớp sự vật những tên gọi khac nhau và người ta căn cứ vào kinh nghiệm đã có mà phân biệt các sự vật

đó với các sự vật khác của ngoại giới” Điều này có nghĩa là tên gọi xuất hiện

do nhu cầu phân biệt các sự vật ở ngoại giới với nhau Định danh là chứcnăng gọi tên sư vật, hiện tượng của đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, đó là từ

Trang 10

Chức năng định danh được coi là một trong những tiêu chí để xác định từ Sựhình thành những đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh được coi là mộttrong những tiêu chí để xác định từ Sự hình thành những đơn vị ngôn ngữ cóchức năng định danh nghĩa là dùng để gọi tên sự vậtvà chia tách những khúcđoạn của thực tại khách quan và tạo nên những khái niệm tương ứng về sự vậthiện tượng dưới hình thức là các từ, các tổ hợp từ, thành ngữ, câu Thuật ngữ

“định danh” có nguồn gốc từ tiếng Latinh có nghĩa là “tên gọi” Thuật ngữ

này biểu thị kết quả của quá trình gọi tên Đó là chức năng của đơn vị cónghĩa của ngôn ngữ Đối tượng của lý thuyết định danh là nghiên cứu và mô

tả những quy luật về cách cấu tạo những đơn vị ngôn ngữ, về sự tác động qualại giữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh;tìm hiểu vai trò của nhân tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu làm

cơ sở cho sự định danh xuất phát từ mối quan hệ giữa ba thành tố trong tamgiác ngữ nghĩa: hiện thực - khái niệm - tên gọi Lý thuyết định danh phảinghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định nhữngtiêu chí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh nàyvới đơn vị định danh khác Hiện thực khách quan được hình dung như là cáibiểu vật của tên gọi, nghĩa là như toàn bộ các thuộc tính được chia tách ratrong các hành vi định danh ở tất cả các lớp sự vật do tên gọi đó biểu thị Kháiniệm, khi lựa chọn những thuộc tính có tính chất phạm trù tham gia như là cáibiểu nghĩa của tên gọi Còn tên gọi được nhận thức như là một dãy âm thanhđược phân đoạn trong nhận thức ngôn ngữ ứng với một cấu trúc cụ thể củangôn ngữ đó Chính mối tương quan giữa các biểu nghĩa của tên gọi với cácbiểu vật và xu hướng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh cụthể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của sự định danh

1.1.2 Danh xưng học

Trang 11

Danh xưng học là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu tên riêng Thuậtngữ "danh xưng học" (onomastika) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là

nghệ thuật đặt tên) là tên gọi toàn bộ các tên riêng Danh xưng học thườngđược chia nhỏ thành những bộ phận tương ứng với các đối tượng có tên gọiriêng Nhân xưng học nghiên cứu tên người Địa danh học nghiên cứu các đốitượng địa lý Thiên văn học nghiên cứu tên gọi các vì sao và thiên thể trong

vũ trụ Tộc danh học nghiên cứu tên gọi các tộc người Lý thuyết định danhphân biệt tên chung và tên riêng Tên riêng là tên gọi của từng cá thể, chủ yếu

cá thể sự vật Tên gọi DTTS và NĐP cũng là tên riêng

1.1.3 Về khái niệm tộc danh - tên gọi dân tộc.

Hiện nay giữa các nhà nghiên cứu nhân học (anthopology) ở nước tacũng như trên thế giới không có một cách hiểu thống nhất về tộc người cũngnhư các tiêu chí để xác định tộc người Trong một số từ điển thuật ngữ về dântộc học xuất bản gần đây, tộc người (ethnic) thường được định nghĩa: đó làmột cộng đồng người hình thành trên một vùng lãnh thổ, có những đặc điểmvăn hoá (bao gồm ngôn ngữ) chung và ổn định cũng như ý thức về sự thốngnhất của mình và phân biệt với các cộng đồng khác bằng tên tự gọi của mình

Ở Việt Nam, mỗi dân tộc thường mang nhiều tên gọi khác nhau Trong sốnhững TDT và NĐP (mà chúng tôi thống kê được) chính là những tên tự gọi

và tên được gọi Trong số này thậm chí có những tên được gọi đã chuyểnthành tên tự gọi của một dân tộc

Mỗi thị tộc, bộ lạc hay dân tộc đều có tên gọi của mình, đó là tộc danh(ethnonym - trong đó ethnos bắt nguồn từ Hy Lạp có nghĩa là bộ lạc, tộcngười; nyma - là tên gọi) Tộc danh được hiểu như tiêu chí để nhận biết tộcngười Nó cũng được dùng như một tiêu chí để thống nhất trong nội bộ tộcngười Tộc danh cũng được dùng như một tiêu chí để thống nhất trong nội bộ

Trang 12

tộc người và khu biệt với những người ngoài tộc người đó Tộc danh còn cógiá trị biểu trưng để nhận biết tộc người Vì vậy tộc danh có một vai trò rấtquan trọng trong việc xác định thành phần DT.

Về khái niệm tên gọi DT, thì một DT thường mang nhiều tên gọi khácnhau, ở từng thời kỳ lịch sử nhất định, mỗi một dân tộc thường được gọi bằngnhiều tên khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện chính trị, xã hội cũng nhưchính sách đối với dân tộc của từng nước và thế giới Tên của các dân tộc

thường được chia làm hai loại là: tên tự gọi và tên được gọi.

Tên tự gọi (autonym) là tên do một dân tộc tự đặt để chỉ cộng đồng dântộc mình bằng ngôn ngữ của mình nhằm phân biệt mình với dân tộc xung

quanh (theo GS Đặng Nghiêm Vạn trong bài "Bàn về tên gọi các dân tộc ỏ

miền Bắc nước ta"), ví dụ: Tày, Bru, Khơ mú, Kháng, Ơ đu, ) Hiện nay có

những tên gọi mà các DT cho là tên tự gọi của mình, song chưa hẳn đã phải làtên tự gọi của họ

Tên tự gọi của mỗi DT thường có liên quan với khái niệm con người,dân tộc Các DT trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, có rất nhiều

DT có tên tự gọi riêng để phân biệt DT mình, nhóm tộc người mình với các

DT khác, NĐP khác Những tên gọi như Mã liềng, Bru, Vân Kiều, Pa cô, Ta

ôi, Hmông, Thái… chính là như vậy

Chúng ta có thể hiểu tên tự gọi được hiểu là tên mà DT, NĐP dùngngôn ngữ mẹ đẻ của mình để chỉ về chính mình

Trong quá trình lịch sử, tên tự gọi thường biến mất đi hay bị các loạitên DT khác gọi lấn át là chuyện thường xảy ra không cứ ở nước ta mà ởnhiều nơi trên thế giới Ở nước ta hầu hết tên gọi của các dân tộc phổ biếntrước cách mạng tháng Tám là tên do các DT khác đặt cho Rất nhiều tên gọi

Trang 13

chỉ cũn lưu hành trong nội bộ DT trong lỳc bản thõn DT đú lại bị khoỏcnhững tờn gọi nhiều khi cú ý nghĩa rất xấu

Ở nước ta hiện nay, một số tờn tự gọi chỉ DTTS nay vẫn đang được sửdụng Đú là những tờn như Thỏi, Tày, hoặc cú những tờn tự gọi ở một sốNĐP như Cơ ho Srờ (Cơ ho làm ruộng nước), Mó liềng, Chứt

Tờn được gọi (exonym) là tờn gọi do cỏc dõn tộc khỏc đặt cho Tờn cỏc

DT khỏc đặt cho thường rắc rối và phức tạp Mỗi DT ở trong từng vựng đềumang một tờn phổ biến lấy trong số cỏc tờn gọi do DT khỏc đặt cho mỡnh Tờngọi phổ biến này thường là của một DT cú dõn số đụng hơn, cú ưu thế hơn về

mặt chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ ở địa phương Trong bài viết "Bàn về tờn gọi

cỏc dõn tộc ở miền Bắc nước ta"(trong "Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở Miền Bắc Việt Nam", KHXH, H 1975, tr 98 - 135) GS

Đặng Nghiờm Vạn cú viết: "Những tờn gọi phổ biến này thường lấn ỏt tờn tự

gọi hay những tờn do dõn tộc khỏc khi đặt cho và được dựng như tờn chớnh thức, thụng dụng trờn cỏc sỏch bỏo ở trung ương và địa phương" Cỏc tờn gọi

này cựng với việc sử dụng trờn bỏo chớ là việc tồn tại nhiều biến thể do bịphiờn õm theo nhiều cỏch khỏc nhau của những người nghe và thẩm õm khỏcnhau

Ở từng thời kỡ lịch sử nhất định, mỗi dõn tộc thường được gọi bằngnhiều tờn khỏc nhau Một dõn tộc khi tiếp xỳc với một dõn tộc khỏc thườngtheo hoặc phỏng theo tờn tự gọi của bản thõn dõn tộc đú, hoặc tờn của một dõntộc khỏc đó gọi họ, hoặc tự đặt cho nhúm người mới quen biết đú là một tờnriờng theo ý chủ quan của mỡnh Cỏch đặt tờn cho một nhúm người thường hếtsức tuỳ tiện, nhiều khi cú những tờn gọi sai lầm thường được duy trỡ rất lõu.Những tờn gọi ấy tồn tại song song dưới từng thời kỳ lịch sử và tờn gọi củamột dõn tộc được coi là chớnh thức cũng chưa hẳn là đó theo một quy luật nào

Trang 14

Tự bản thân mỗi dân tộc, qua từng thời kì lịch sử, lại muốn thay đổi tên gọicủa mình cho phù hợp với điều kiện lịch sử và xã hội lúc đó Và sự thay đổinày cũng không phải đã được những dân tộc xung quanh, thậm chí ngay chínhdân tộc đó ở những địa phương khác nhau chấp nhận Điều này cũng là mộtnguyên nhân làm cho tên gọi của một dân tộc trở lên phức tạp Những tên gọicủa một dân tộc như vậy có thể có hai loại: tên gọi do các dân tộc khác đặtcho và tên tự gọi chính mình.

Tên các dân tộc khác đặt thường rắc rối và phức tạp Mỗi dân tộc ởtrong từng vùng đều mang một tên phổ biến trong số các tên gọi do các dântộc khác đặt cho Tên gọi phổ biến này thường là tên do một dân tộc có mộtdân số đông hơn, có ưu thế hơn về mặt chính trị văn hoá xã hội ở địa phươngđặt ra Những tên gọi phổ biến này thường lấn át tên tự gọi và tên do các dântộc khác đặt cho rồi được dùng như tên chính thức, thông dụng trên các sáchbáo ở trung ương và địa phương Trong nhiều trường hợp, tên do các dân tộckhác gọi thường dẫn đến lầm lẫn, đôi khi mang nghĩa miệt thị Ví dụ, các tộc

danh "Xá" cũng như tộc danh "Mọi", "Thượng", không chỉ bao hàm ý nghĩa

miệt thị mà còn thiếu chính xác vì nó dùng để chỉ nhiều dân tộc có nguồn gốclịch sử, ngôn ngữ và văn hoá khác nhau Tên tự gọi là tên do một dân tộc tựđặt ra để chỉ cộng đồng dân tộc mình bằng ngôn ngữ của mình nhằm phânbiệt dân tộc mình với dân tộc xung quanh Nhưng cũng có những tên mà cácdân tộc cho là tự gọi cũng chưa hẳn đã đúng là tên tự gọi của họ

1.2 VỀ KHÁI NIỆM DÂN TỘC VÀ NHÓM ĐỊA PHƯƠNG

1.2.1 Về khái niệm dân tộc

Tại cuộc Hội thảo "Bàn về tiêu chí xác định lại thành phần các dân tộc

ở Việt Nam" (tháng 7/2002), PGS- TS Đoàn Văn Phúc cho rằng: "đối với người Việt Nam khái niệm dân tộc bao gồm hai nghĩa chính nếu chuyển sang tiếng

Trang 15

Anh, từ này tương đương với cả hai khái niệm ethnic (tộc người) và nation (dân tộc, quốc gia) Ý nghĩa thứ nhất là chỉ tộc người, ý nghĩa thứ hai là chỉ người dân của một nước." Trong báo cáo của mình, PGS- TS Đoàn Văn Phúc

đã bổ sung thêm một ý nghĩa nữa mà theo ông "đây mới là nghĩa mà người

Việt thường hay dùng" đó là "chỉ các dân tộc thiểu số" Chẳng hạn như khi

chúng ta nói người dân tộc, chính sách dân tộc, trường dân tộc nội trú, Và

PGS- TS Đoàn Văn Phúc đề nghị nên dùng khái niệm "tộc người" (ethnic) để chỉ các dân tộc ở Việt Nam, và cũng để phân biệt nó với khái niệm "dân tộc"

(nation)

Trong luận văn này, trên cơ sở ý kiến của các nhà lí luận dân tộc học và

các nhà nghiên cứu ngôn ngữ-dân tộc, khái niệm "dân tộc" được chúng tôi sử

dụng với ba ý nghĩa cơ bản là:

- Chỉ nhóm tộc người (ethnic)

- Chỉ dân tộc thiểu số (minority ethnic)

- Chỉ cộng đồng quốc gia dân tộc (nation)

Tuy vậy, để xác định thế nào là một DT thì câu chuyện lại không hềđơn giản Có nhiều ý kiến khác nhau về tiêu chuẩn xác định DT

Để giải quyết nó, các nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra một sốtiêu chí Chẳng hạn, một số nhà dân tộc học Xô Viết trước đây dựa trên địnhnghĩa của Xtalin về dân tộc và họ cho rằng có bốn tiêu chí để xác định thànhphần dân tộc là:

- Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

- Cùng nói một ngôn ngữ

- Cùng có chung các đặc điểm văn hoá

Trang 16

- Có cùng ý thức dân tộc hay là tự giác dân tộc

Ngoài ra, một số nhà dân tộc học Xô Viết còn đưa ra các tiêu chí khácnhư tiêu chí về kinh tế, tâm lý,

Ít năm gần đây, Leonchev, A.A., một nhà dân tộc học Nga đưa ra sáutiêu chí để xác định tộc người, trong đó ông đồng ý với 4 tiêu chí mà các nhàdân tộc học xô viết đưa ra Đồng thời, nhấn mạnh tiêu chí tính thống nhất vềvăn hoá vật chất và tinh thần, đặc biệt quan trọng về thống nhất tôn giáo.Đồng thời ông còn đưa thêm tiêu chí thống nhất về loại hình nhân chủng

Các nhà dân tộc học thì chú trọng đến vấn đề nguồn gốc và lịch sử củadân tộc Họ thực hiện việc xác định thành phần dân tộc theo định nghĩa về

dân tộc mà Xtalin đưa ra, trong bài "Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc học" Theo họ thì "dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong

lịch sử, có chung ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế cùng chung một tố chất tâm lý biểu hiện trong cùng một văn hoá" Sau này, một số nhà khoa học muốn

đưa thêm tiêu chí "cùng chung một phong tục tập quán" và cũng có quan tâm

đến ý thức dân tộc Tuy nhiên, tiêu chí này vẫn còn nhiều ý kiến Ngược vớiquan điểm của các nhà dân tộc Trung Quốc thì các nhà dân tộc học các nước

Âu - Mỹ lại rất coi trọng ý thức tự nhận của người dân (tức ý thức tự giác dântộc) Họ chỉ phân biệt rạch ròi giữa dân tộc bản địa và dân di cư

Như vậy để xác định tộc người (ethnic) thì mỗi nhà khoa học, mỗi quốcgia, mỗi đất nước lại có những quan điểm, tiêu chí và yêu cầu cụ thể khácnhau Các tiêu chí có thể nhiều ít khác nhau tuỳ theo quan niệm của mỗi quốcgia dân tộc Có dân tộc này tiêu chí này là cơ bản, có dân tộc lại cho tiêu chíkhác là cơ bản, song họ đều có một điểm chung, cùng thống nhất một tiêu chí

về ý thức tự giác tộc người là tiêu chí không thể thiếu Ý thức tự giác tộcngười là ý thức của một nhóm người hoặc mỗi người về sự sở thuộc vào một

Trang 17

tộc người nhất định; nó được biểu hiện cụ thể trong việc sử dụng một tộcdanh thống nhất Sự phân biệt tộc người này với tộc người khác không phải

do ai đấy tự nghĩ ra mà được cảm nhận theo nguyên tắc: đó là chúng ta, tất cảcòn lại là khác, không phải chúng ta Cái tối thiểu trong ý thức tự giác tộcngười của mỗi thành viên là biết về tên tự gọi tộc người của mình Ý thức tựgiác dân tộc thuộc về ý thức hàng ngày của con người Nó được hình thànhtrong quá trình giáo dưỡng của gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác Nhưvậy ý thức tộc người là tiêu chí quan trọng để nhận biết sự sở thuộc của một

cá nhân hay một nhóm người thuộc về một cộng đồng tộc người nào đó; ýthức tộc người liên quan chặt chẽ với tên gọi của cộng đồng tộc người nào đó;

ý thức tộc người liên quan chặt chẽ với tên gọi của cộng đồng mà mỗi ngườithừa nhận và tự gắn kết mình với cộng đồng

Còn ở Việt Nam, sau nhiều cuộc hội thảo, hội nghị thì năm 1973 cácnhà nghiên cứu đã đi đến thống nhất ba tiêu chí để xác định tộc người, đó là:

- Có chung tiếng nói (ngôn ngữ)

- Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá

- Có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc

Với ba tiêu chí này, các nhà khoa học của chúng ta đã đưa ra danh mục

53 dân tộc thiểu số năm 1978, được Tổng cục thống kê thông qua năm 1979

và sử dụng cho tới ngày nay Với một đất nước đa DT như Việt Nam, việcxác định tộc người gặp nhiều khó khăn Các tiêu chí áp dụng đã và đang gây

nhiều tranh cãi Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn có viết: "Những tiêu chí xác định

một dân tộc Việt Nam được rút ra thể hiện qua tên gọi, nhất là tên tự gọi của tộc người qua ngôn ngữ ( ), qua lịch sử, chí ít qua mối quan hệ về nguồn gốc chung thể hiện qua huyền thoại về nguồn gốc tộc người, những truyền thuyết

Trang 18

chuyển cư của các tộc người hay những trang sử chép tay, truyền miệng Tiêu chí đó còn được thể hiện qua một số đặc trưng văn hoá, một số thói quen trong cung cách sinh hoạt rất riêng biệt khi thể hiện ở những chi tiết rất dễ nhận ,rất thân thương ,có khi mang tính thiêng liêng đối với dân tộc đó Những đặc tính văn hoá thường thấy ở phạm trù tôn giáo , ở tục lệ nội hôn liên quan đến những quan hệ gia đình và dòng họ" Tuy vậy, tác giả nhận định,

trong một số trường hợp rất khó đoán được rõ rệt đặc điểm của một DT qualịch sử, ngôn ngữ và văn hoá do có sự ảnh hưởng của sắc thái địa phương.Điều này đặc biệt rõ đối với các nhóm dân cư ở những vùng xa xôi hẻo lánh,chịu nhiều biến động lịch sử, chính trị-xã hội hoặc sống xen kẽ với các DTkhác Đối với các trường hợp này, tiêu chí quan trọng nhất để xác định xem

họ thuộc DT nào lại chính là "ý thức tự giác dân tộc", tức họ tự nhận mình

thuộc về DT nào ? Có tên tự gọi là gì ? Và ý thức tự giác về ngôn ngữ - tộcngười của họ

Tuy nhiên vấn đề xác định thành phần DT ở nước ta chưa dừng lại ở

đó Do còn tồn tại một số cách sắp xếp chưa thoả đáng trong danh mục 1979nên tháng 7/2002, các nhà dân tộc học và ngôn ngữ - dân tộc học Việt Nam

lại tổ chức một cuộc hội thảo tại Hà Nội để "Bàn về tiêu chí xác định lại

thành phần các dân tộc ở Việt Nam" Tại đây, các nhà khoa học cơ bản vẫn

thống nhất 3 tiêu chí xác định dân tộc (ethnic) như năm 1973, tuy rằng vẫncòn một vài ý kiến cho rằng cần bổ sung tiêu chí về số phận lịch sử của DT

Cho tới thời điểm này có thể thấy một điều là vị trí của tên gọi trongviệc xác định thành phần dân tộc đã thay đổi Nó được đưa lên hàng đầu trongcác tiêu chí Chúng ta đều biết là theo công bố chính thức hiện nay thì nước ta

có 53 dân tộc thiểu số, nhưng bên cạnh tên gọi chính thức, còn có các tên gọikhác (gồm có tên tự gọi, tên gọi khác - tức là tên do các DT khác gọi, và tên

Trang 19

các NĐP) Chỉ có điều ở danh mục này, những tên khác và NĐP lại bị xếp lẫnlộn, trong khi chúng ở hai cấp độ hoàn toàn khác nhau Vấn đề phức tạp cònthấy ở chỗ còn tồn tại những tộc danh ghép như: Bru - Vân Kiều, Gié -Triêng, và việc phân định các NĐP như thế nào cho chính xác Bởi vậy, việctìm hiểu thống kê để có một danh mục đầy đủ, rõ ràng các tên gọi khác và têncác NĐP thuộc các dân tộc khác nhau là việc làm hết sức cần thiết đối vớikhông chỉ khoa học mà còn với xã hội.

1.2.2 Về khái niệm nhóm địa phương

NĐP là một thuật ngữ của ngành dân tộc học Đến nay, khái niệm nàyvẫn chưa được xác định một cách rõ ràng về nội hàm cũng như ngoại diên vàvẫn còn có sự khác nhau giữa các nhà dân tộc học Trong báo cáo của mình

GS Đặng Nghiêm Vạn có một số nhận xét về NĐP như sau: "Một nhóm địa

phương phải là một bộ phận của dân tộc, cũng có những tiêu chí xác định như một dân tộc, nhưng tất nhiên có những khác biệt nhất định với những nhóm địa phương khác trong cùng một dân tộc, đậm nhạt khác nhau về phương diện nhân chủng, ngôn ngữ, kinh tế, xã hội, văn hoá Nhóm địa phương đó nhất thiết phải có một tên gọi riêng Tên gọi đó là tên do người trong nhóm tự đặt hay các cư dân xung quanh vùng đặt cho (nên có khi có hai, ba tên) nhưng tên đó đã trở thành phổ biến" Tức là NĐP phải cư trú ở

cùng một khu vực, có tên gọi riêng, tự nhận mình thuộc về một cộng đồngdân tộc lớn hơn, có những đặc điểm khác biệt nhất định với các NĐP khác.Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng khái niệm NĐP của GS ĐặngNghiêm Vạn để làm cơ sở thống kê tư liệu Thực tế không dễ dàng xác địnhranh giới giữa một DT và một NĐP, nhất là những nhóm cư trú cách xa nhau,nói các thứ tiếng khác nhau Đặc biệt, các dân tộc thuộc tiểu nhóm Ba na họNam Á cư trú rải rác ở những địa bàn khác nhau do xen kẽ với các nhóm tộc

Trang 20

người khác Bởi vậy tuy số lượng dân tộc (1979) của tiểu nhóm này chỉ có 14,nhưng số lượng các nhóm địa phương của mỗi dân tộc lại nên đến con sốhàng chục, và đang còn nhiều điều tranh luận về rất nhiều NĐP trong các dântộc Ba na, Xơ đăng, Gié – Triêng, Cơ ho, Mnông, Mạ

1.3 VỀ HỌ NGÔN NGỮ NAM Á VÀ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM

1.3.1 Họ ngôn ngữ Nam Á

Theo các nhà ngôn ngữ học, họ ngôn ngữ Nam Á được coi là họ ngônngữ của cư dân bản địa trong khu vực Đông Nam Á lục địa Cư dân sử dụngcác ngôn ngữ họ này có mặt trên lãnh thổ hầu hết các nước Đông Nam Á lụcđịa (Miến Điện, Thái Lan, tây Malaysia, Việt Nam, Lào, Campuchia), namTrung Quốc, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan và Bănglađét Họ ngôn ngữ này đượcchia thành bốn chi là Mun Đa, Nicôbar, Aslia và Môn Khơ me Trong bốn chinày, chi Môn Khơ me được coi là chi quan trọng nhất Các nhà nghiên cứuhiện nay khá nhất trí với nhau rằng những ngôn ngữ Nam Á có mặt ở ViệtNam đều thuộc chi Môn Khơ me Những ngôn ngữ này được xác định làthành viên của các tiểu chi Khơ me, Ba na, Ka tu, Việt - Mường và Khơ mú

Gần đây, trong công trình “Tiếng Mảng” (2008, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội) thì nhóm tác giả Nguyễn Văn Lợi, Tạ Văn Thông, Nguyễn Hữu Hoànhđồng ý với quan niệm của một số người đề nghị tách tiếng Mảng khỏi tiểu chiKhơ mú (cùng với một số ngôn ngữ ở Trung Quốc) thành một tiểu chi riêng

có tên là Mangic

Theo "Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam" (1979) do Tổng

cục Thống kê ban hành (theo ủy nhiệm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tức

Thủ tướng Chính phủ), có 24 DTTS sử dụng các ngôn ngữ Nam Á gồm (trang

sau):

Trang 21

1 Khơ mú 9 Bru - Vân Kiều 17 Cơ ho

2 Kháng 10 Ta ôi 18 Mạ

3 Xinh mun 11 Cơ tu 19 Mnông

4 Mảng 12 Ba na 20 Xtiêng

5 Ơ đu 13 Xơ đăng 21 Co

6 Mường 14 Gié - Triêng 22 Chơ ro

7 Thổ 15 Hrê 23 Rơ măm

8 Chứt 16 Brâu 24 Khơ me

1.3.2 Họ ngôn ngữ Nam Đảo

Họ ngôn ngữ NĐ là một trong những họ ngôn ngữ lớn trên thế giới Chỉriêng nhánh phía Tây, theo con số thống kê năm 2010 của các nước trong khuvực đã có gần năm trăm triệu người sử dụng Địa bàn cư trú của cư dân nói họngôn ngữ này phân bố ở vùng Đông Nam Á, chủ yếu là ở Indonesia,Malaysia, Philippin, Đài Loan, cùng với một số ở Thái Lan, Cămpuchia vàViệt Nam Đây là họ ngôn ngữ được xác định có tới hơn một ngàn ngôn ngữkhác nhau Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc họ NĐ chỉ có 5ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Chăm Theo Danh mục thành phần các dân tộc ởViệt nam (1979) thì có 5 dân tộc sử dụng các ngôn ngữ NĐ dưới đây:

Trang 22

Theo các nhà nghiên cứu, các ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam đều lànhững ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập và mức độ đơn tiết hoá của chúng có

sự khác nhau Các ngôn ngữ NĐ đều là những ngôn ngữ chưa có thanh điệu(tuy vấn đề vẫn còn đang được tranh luận giữa các nhà nghiên cứu), và mức

độ đơn tiết hoá đã diễn ra khá mạnh Còn các ngôn ngữ Nam Á tuy đã vàđang đơn tiết hoá ở những mức độ rất khác nhau Một số ngôn ngữ đã cóthanh điệu (như các ngôn ngữ nhóm Việt - Mường), nhưng đa số các ngônngữ khác chưa có thanh điệu, còn hiện tượng đơn vị ngữ nghĩa cơ bản códạng song tiết (thậm chí đa tiết) mà người ta gọi là âm tiết rưỡi Vì vậy ởnhững ngôn ngữ này có khái niệm âm tiết (syllable/syllabic) và tiền âm tiết(presyllable/ presyllabic) Chắc chắn điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tớivấn đề xác định số lượng, đặc điểm các thành tố cấu tạo tên gọi các DT và cácNĐP ở những dân tộc này Ví dụ, các tên gọi DT và NĐP: Ta ôi, Pa cô, Pa hi,

Tà Uốt, Song chính trong những tên gọi tưởng chừng như là hiện tượngđược gọi là "tiền âm tiết" ấy lại chứa đựng rất nhiều điều hết sức thú vị Hoặccái tên gọi Mã liềng thì đúng là có tiền âm tiết từ tên tự gọi của nhóm địaphương tự gọi là [mlie1] mà người Việt phiên âm thành Mã liềng Ấy thếnhưng với những tên gọi Pa cô, Ta ôi, Pa hi, thì hoàn toàn không phải nhưvậy (xem chương II) bởi ở tiếng Ta ôi và một số ngôn ngữ nhóm Ka tu (họ)Nam Á, các phụ tố vẫn còn khả năng phái sinh từ khá mạnh Điều này đã từnggây nên những sự nhầm lẫn, ngộ nhận đáng tiếc

Ở các ngôn ngữ NA và NĐ, mối quan hệ hạn định được biểu thị bằngtrật tự cú pháp: yếu tố được hạn định - yếu tố hạn định, kiểu như: deeng

plăng (nhà - tranh: nhà tranh) trong tiếng Ta ôi, hay sang hră (nhà – chữ:

trường học) Đây chính là một điều rất đáng lưu ý khi so sánh đặc điểm cấu

tạo tên gọi DT và NĐP các dân tộc thuộc hai họ ngôn ngữ này

1.4 ĐƠN VỊ MIÊU TẢ

Trang 23

Để thuận tiện cho việc phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo và ngữnghĩa loại tên gọi này, chúng tôi cho rằng: trong cấu tạo các đơn vị định danhtên DT và NĐP, có lẽ nên căn cứ vào:

1.4.1 Số lượng các thành tố tham gia cấu tạo

Chúng tôi không phân chia TDT và NĐP thành các đơn vị như từ,ngữ, mà chỉ gọi chung là đơn vị định danh Về số lượng thành tố tham giacấu tạo, các đơn vị định danh này có thể được phân thành:

+ Đơn vị định danh đơn thành tố: Mường, Thổ, Cuối, Co, Chăm, Cơ

ho, Chu ru Về phương diện ngữ âm, mỗi thành tố này có thể có vỏ ngữ âm

là đơn tiết hoặc đa tiết

+ Đơn vị định danh đa thành tố, kiểu như: Xinh mun, Gié - Triêng, Bru

- Vân Kiều, Thổ Mọn, Mọi Sơn Phòng, Cơ ho Srê, Cơ ho Lách/Lạt

Đối vối các đơn vị định danh đơn thành tố thì bản thân chúng không cócấu trúc nội bộ Chỉ có các đơn vị định danh đa thành tố mới có cấu tạo nội bộ

mà thôi Bởi vậy trong luận văn này khi xét cấu tạo của tên DT và NĐP,chúng tôi chỉ xem xét đến loại đơn vị định danh đa thành tố Theo lý thuyếtđịnh danh, đơn vị đa thành tố thì bao giờ cũng có ít nhất một thành tố chính

/chung được kí hiệu C Thành tố chính này thường chỉ một lớp sự vật, đối tượng khách thể Còn thành tố phụ được kí hiệu P có chức năng hạn định, xác

định rõ ràng những đặc điểm, tính chất, vị trí, của thành tố chính Chẳnghạn, với những tên gọi các NĐP cư dân sử dụng các ngôn ngữ Nam Á hayNam Đảo dưới đây:

Mọi Bi: chỉ người Mọi ở mường Bi, Hòa Bình Trong tiếng Mường thì

Mọi có nghĩa “người” là thành tố chính C, còn Bi là địa danh chỉ nơi cứ trú

của người Mường đó Như vậy, thành tố Bi là thành tố phụ P có nghĩa phụ

Trang 24

cho thành tố chính Mọi, và Mọi Bi là đơn vị định danh có nghĩa chỉ ngườiMường ở vùng mường Bi Hoặc trường hợp Mọi Kon Tum là đơn vị địnhdanh chỉ chung cư dân các DTTS ở Kon Tum, còn Kon Tum là địa danh cưtrú của cư dân các DTTS này Ở đây, thành tố Kon Tum là thành tố phụ làm

rõ nghĩa cho thành tố Mọi

Ở tên gọi các NĐP cư dân sử dụng các ngôn ngữ Nam Đảo ở Việt Namcũng có tình hình tương tự Đó là:

Chăm Hroi: cũng là đơn vị định danh mà trong đó Chăm chỉ tên dân tộcChăm Còn Hroi có nghĩa là “mặt trời” trong tiếng địa phương của nhómChăm này, và Hroi là thành tố phụ của Chăm Đơn vị định danh Chăm Hroi

có nghĩa là “người Chăm thờ thần mặt trời

Tuy nhiên, trường hợp đơn vị định danh đa thành tố kiểu Giẻ - Triênghay Bru – Vân Kiều thì đó là hai thành tố có chức năng như nhau

1.4.2 Do đặc trưng loại hình các ngôn ngữ hai ngữ hệ này, chúng tôi

còn căn cứ vào số lượng âm tiết của đơn vị định danh để xác định tính chấtđơn âm tiết và đa âm tiết của các loại đơn vị định danh này Vì vậy ta có thểphân thành:

- Đơn vị định danh đơn tiết, kiểu như: Mường, Chứt, Thổ, Chăm…

- Đơn vị định danh đa tiết: Ba na, Xơ đăng, Cơ tu, Bru – Vân Kiều…Kết hợp cả tiêu chí về số lượng thành tố và đặc điểm ngữ âm: số lượng

âm tiết, ta thấy sẽ có các đơn vị định danh TDT và NĐP cư dân sử dụng cácngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo ở Việt Nam sẽ phức tạp hơn Những tư liệucủa chúng tôi về đặc điểm cấu tạo tên DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữthuộc hai ngữ hệ NA và NĐ sẽ được thống kê phân tích theo cách nhìn nhận

Trang 25

và lý giải của khung phân loại này Đối với những đơn vị định danh đặc biệt,chúng tôi sẽ có sự lý giải riêng.

1.5 MỐI QUAN HỆ GIỮA TÊN DT VÀ NĐP VỚI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI

Nói đến vấn đề văn hoá bộc lộ qua tên gọi các DT và NĐP là chúng ta

đề cập đến mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ Đó cũng là vấn đề đã đượcrất nhiều nhà ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý ngôn ngữ học, văn hóa học quan tâm Để tìm hiểu mối quan hệ này chúng ta cần đề cập tới hai khái niệmngôn ngữ và văn hoá

Theo quan niệm phổ biến và tồn tại từ lâu thì ngôn ngữ là công cụ giao

tiếp quan trọng nhất, là công cụ của tư duy Humbololt cho rằng: “ngôn ngữ

là linh hồn của dân tộc” Còn Edward Sapir thì nói: “Con người không chỉ sống trong một thế giới khách quan của các sự vật, cũng không chỉ sống trong thế giới của các hoạt động xã hội như vẫn thường nghĩ mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ cụ thể vốn là phương tiện giao tiếp trong xã hội của họ” Dưới góc độ xã hội - ngôn ngữ học, ngôn ngữ đóng vai trò điều hành

xã hội, liên kết các thành viên trong một cộng đồng dân tộc

Cho đến nay, trên thế giới có tới hàng trăm định nghĩa về khái niệm

văn hóa Khái niệm văn hóa bắt nguồn từ khái niệm kultus (có nghĩa là "trồng

trọt") trong tiếng La tinh, và có từ trước Công nguyên Khái niệm này được

người Châu Âu sử dụng dưới các từ khác nhau tùy theo từng ngôn ngữ củacác dân tộc Chẳng hạn, trong tiếng Pháp là kultur, tiếng Nga là kul'tura Ngay việc chỉ ra nội hàm và ngoại diên của khái niệm này cũng có sự biến đổitheo thời gian Một trong những định nghĩa về văn hóa của F B.Taylorthường được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa học trích dẫn tham khảo Ban đầu,người ta chỉ hiểu văn hóa có nghĩa về tinh thần nhiều hơn Song dần dần, khíaniệm văn hóa được coi là có cả nghĩa chỉ văn hóa vật chất Các nhà nghiên

Trang 26

cứu xô viết, trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin cũng khẳng định vănhóa là một khái niệm bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần.

Tại Việt Nam, khái niệm văn hóa được người đầu tiên đề cập đến làhọc giả Đào Duy Anh Trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Đảng tacũng nêu lên khái niệm này Nguyên cựu Tổng bí thư Đảng cộng sản ViệtNam Trường Chinh cũng đã đề cập đến văn hóa Việt Nam trong tác phẩm:

Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam Tại đây, đồng chí Trường Chinh quan

niệm khái niệm văn hóa theo nghĩa hẹp, và coi "văn hóa bao gồm cả văn

học, nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo ", tức là văn hóa tinh

thần Tuy nhiên, theo nghĩa rộng và đầy đủ hơn, văn hóa bao gồm cả văn hóavật chất và văn hóa tinh thần Một định nghĩa về văn hóa được các nhà nghiêncứu văn hóa thường nhắc tới là quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Chính

Người cho rằng: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người tạo

ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc

và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, trang 431)

Mấy chục năm gần đây, các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nhưPhan Ngọc, Nguyễn Hồng Phong, Trần Quốc Vượng, Từ Chi, Trần ĐìnhHượu, Đặng Nghiêm Vạn, Trần Ngọc Thêm cũng đưa những khái niệm vănhóa như vậy tuy rằng các ông có những cách diễn đạt khác nhau Một vài nhànghiên cứu lại hay trích dẫn quan niệm của ông Feredico Mayor (1988) khi

ông nói về văn hóa Theo ông, "văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng

quát sống động mọi mặt cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ,

Trang 27

nó cấu thành một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mĩ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình" Như vậy, hiểu

một cách khái quát, văn hoá là tất cả những sản phẩm do con người đã sáng

tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của mình

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng, là bộ phận chủ yếu của vănhoá Ngôn ngữ dân tộc là biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc Do đó, ngônngữ là sự sở thuộc thân thiết, là tài sản thiêng liêng của dân tộc Bảo vệ ngônngữ các dân tộc chính là bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc Ngôn ngữ và vănhóa tạo nên đặc trưng của mỗi tộc người Khi muốn nhận diện một dân tộc vàkhu biệt nó với dân tộc khác thì phải thông qua nghiên cứu ngôn ngữ và vănhóa của họ Tuy nhiên, từ phương diện dân tộc học, thì ngôn ngữ và văn hóalại là những đặc trưng thống nhất tạo nên mỗi tộc người Về phương diệnchức năng thì ngôn ngữ và văn hóa lại gắn bó hữu cơ với nhau, như hai mặtcủa một tờ giấy Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của conngười Ta không thể tách văn hóa ra khỏi ngôn ngữ và ngược lại, cũng khôngthể tách ngôn ngữ khỏi văn hóa Ngôn ngữ và văn hóa đều có chức năng: làcông cụ giao tiếp và là công cụ của tư duy Ngôn ngữ loài người vừa mangtính phổ quát vừa mang tính đa dạng Trong mỗi ngôn ngữ vừa có những hiệntượng, qui tắc mang tính phổ biến, chung cho nhiều ngôn ngữ, vừa có nhữnghiện tượng mang tính đặc thù riêng cho từng ngôn ngữ, từng dân tộc

Trong cuốn sách "Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới" (1994), GS

Phan Ngọc đã tổng kết các khái niệm về văn hóa, nguồn gốc của khái niệm

này Theo nghĩa rộng thì văn hóa là "trình độ phát triển lịch sử của xã hội và

con người biểu hiện trong các kiểu và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần con người tạo ra Khái niệm văn hóa dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất

Trang 28

và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể" Còn theo nghĩa hẹp thì

"văn hóa chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người".

Nhiều tác giả cho rằng văn hoá giống như một nền văn minh gồm có cảvăn minh vật chất và văn minh tinh thần Văn hoá là một hiện tượng, mộtphạm trù thuộc về con người, do con người làm nên Vì văn hoá là tiêu chíphân biệt con người với con vật, làm cho con người tách khỏi thế giới độngvật Chủ nhân duy nhất của văn hoá là con người Văn hoá là một sản phẩmđặc thù của xã hội loài người Nó phản ánh con người tiếp cận, chia cắt, nhậnthức và hoạch định thế giới thực tại khách quan xung quanh mình theo haithế giới khác nhau mà gắn bó với nhau Đó là thế giới thực tại được con ngườinhận thức, chia cắt và mô hình hoá nó Còn thế giới thứ hai là thế giới biểutượng, thế giới ở bên cạnh, đằng sau cái thế giới thực tại, một thế giới hết sứcđặc thù nơi con người có tư duy Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đượcxem là mối quan hệ giữa bộ phận và tổng thể Đây là quan niệm của nhiềunhà nghiên cứu và của cả các nhà chính trị nữa Người ta thường cho rằngngôn ngữ là một bộ phận của nền văn hóa cùng với các bộ phận khác nhưkhoa học, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, Nhưng trong đó, ngôn ngữ là

bộ phận luôn được kể đến đầu tiên và có vai trò quan trọng nhất Phạm Đức

Dương trong tác phẩm "Bức tranh ngôn ngữ tộc người ở Việt Nam và Đông

Nam Á" (Nxb.ĐHQG H., 2007) cho rằng: “Nếu như văn hóa là tổng thể những

hệ thống các tín hiệu khổng lồ mang tính thiết chế xã hội, bao trùm lên mọi hoạt động của một cộng đồng người nhất định thì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng bậc nhất được xây dựng trên quan hệ biểu trưng hóa của loài người”.

Ngôn ngữ là một bộ phận không thể tách rời của kết cấu văn hóa Sựliên quan hữu cơ giữa ngôn ngữ và các khía cạnh của văn hóa gần gũi tớimức: không còn một bộ phận nào thuộc văn hóa của cộng đồng người cụ thể

Trang 29

lại được nghiên cứu tách rời khỏi các biểu tượng ngôn ngữ trong hoạt độngcủa chúng Trong thực tế hoạt động, ngôn ngữ chi phối lại cơ chế, kiến trúcvăn hóa trên nhiều mặt và thông qua nhiều cấp độ phức tạp Chính F de

Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, (Nxb KHXH, H 1975),

đã khẳng định: “ngôn ngữ và văn hóa là những thiết chế trừu tượng, chúng

dần được hình thành cùng với sự phát triển của con người, xã hội” Ngôn

ngữ không chỉ là tiền đề tạo ra đối tượng văn hóa mà hơn thế, từ trong chiềusâu, trước hết nó là tiền đề tạo ra con người Từ nhiều cấp độ, ngôn ngữ làtiền đề cho đối tượng văn hóa phát triển Sự phát triển của văn hóa tạo tiền đềtrở lại cho ngôn ngữ Ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế xã hội Nétđặc thù của thiết chế này là: giá trị nhận thức có được về chúng, bao giờcũng bị quy định bởi tính ước lệ vốn được tạo ra bởi một cộng đồng xã hộixác định gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác định Hoạt độngcủa ngôn ngữ gắn liền với hoạt động tư duy Ngôn ngữ được coi là phươngtiện (duy nhất) có khả năng giải mã cho tất cả các loại hình nghệ thuật gắnvới phạm trù văn hóa Ngôn ngữ có khả năng sáng tạo ra những tác phẩmnghệ thuật ngôn từ, phản ánh một cách tương đối tập trung tiến trình pháttriển bộ mặt văn hóa của cộng đồng Văn hóa được lưu giữ trong ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một bộ phận của văn hóa, là biểu hiện của bản sắc văn hóadân tộc Ngôn ngữ dân tộc là yếu tố xã hội, là dấu hiệu để nhận ra dân tộc.Nếu như văn hóa được xem là tổng thể các hệ thống tín hiệu do con ngườisáng tạo nên, thì ngôn ngữ lại là một hệ thống tín hiệu tiêu biểu hoàn chỉnhnhất và cần thiết nhất để hình thành xã hội loài người Ngôn ngữ là một thành

tố cơ bản và quan trọng của văn hóa chi phối nhiều thành tố văn hóa khác, làmột công cụ, phương tiện có tác dụng mạnh mẽ đến sự phát triển của văn hóa.Ngôn ngữ vừa là công cụ tư duy, vừa là công cụ giao tiếp của xã hội Mỗi dântộc với công cụ tư duy của mình - ngôn ngữ đã nhận thức được thế giới khách

Trang 30

quan và phân cắt thực tại theo tâm thức của mình Qua ngôn ngữ mà người tanhận diện được những nét đặc trưng của vũ trụ quan, thế giới quan và nhânsinh quan của mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng dân tộc Với công cụ giao tiếp

xã hội - ngôn ngữ loài người đã sản sinh, truyền đạt và bảo vệ tất cả các hệthống tín hiệu của dân tộc được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngônngữ các dân tộc đã tạo nên một thế giới đa sắc màu, một bức tranh toàn cảnhrất phong phú, đa dạng về văn hóa Khi nói đến văn hóa là nói đến dân tộc.Văn hóa là gương mặt của dân tộc Một dân tộc đánh mất truyền thống vănhóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy mất tất cả

Ngôn ngữ và văn hóa có một quan hệ gắn bó với nhau không thể táchrời Ngôn ngữ là chất liệu truyền tải văn hóa, mà văn hóa là cái được hàmchứa trong ngôn ngữ Sự sáng tạo về văn hóa thường không thể tách rời ngônngữ Còn sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ lại luôn đi song song với sựbiến đổi và phát triển của văn hóa Qua những điều trình bày ở trên, có thểthấy mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa là một sự tác động qua lại lẫnnhau Vì vậy, khi nghiên cứu TDT và NĐP, ta không thể không đề cập đến trithức văn hóa mà các đơn vị ngôn ngữ biểu hiện thông qua các đơn vị địnhdanh đó

TIỂU KẾT

1 Vấn đề TDT và NĐP ở Việt Nam là một vấn đề hết sức phức tạpnhưng lại hết sức nhạy cảm, đặc biệt về văn hóa, tộc người Rõ ràng, TDT vàtên NĐP các dân tộc ở Việt Nam rất đa dạng cần được nghiên cứu cẩn trọng

và thấu đáo để tránh được những sai lầm không đáng có Điều này đã đượcnhiều nhà dân tộc học và các nhà ngôn ngữ-dân tộc học cảnh báo

2 Khi phân tích đặc điểm TDT và NĐP, chúng ta cần căn lưu ý tới đặcđiểm cấu trúc các thành tố tham gia cấu tạo, cũng như mối quan hệ ngữ nghĩa

Trang 31

giữa các thành tố đó Đồng thời, trong TDT và NĐP còn hàm chứa những đặcđiểm văn hóa hết sức quan trọng.

3 Về TDT và NĐP cư dân các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ NA và

NĐ sẽ phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của các ngôn ngữ thuộc tiểu loại hình

cổ, tức các ngôn ngữ còn mang dấu vết của một ngôn ngữ đa tiết có phụ tố cổ

mà đang còn được lưu giữ ở một số ngôn ngữ Tuy vậy, cũng có nhiều ngônngữ mà các phụ tố cấu tạo từ hiện chỉ còn là dấu vết hóa thạch cổ mà thôi Vìvậy, khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của TDT và NĐP, chúng

ta cũng cần lưu ý tới đặc điểm của các ngôn ngữ cụ thể này

CHƯƠNG II

Trang 32

ĐẶC ĐIỂM TÊN DÂN TỘC VÀ NHÓM ĐỊA PHƯƠNG

SỬ DỤNG CÁC NGÔN NGỮ THUỘC NGỮ HỆ NAM Á2.1 TÌNH HÌNH TƯ LIỆU

2.1.1 Về tên gọi chính thức

Tiến hành phân tích tên gọi các dân tộc thuộc ngữ hệ NA theo Danhmục quy định của nhà nước về kiểu tên gọi, đặc điểm ngữ âm, về số lượngthành tố tham gia cấu tạo đơn vị định danh, chúng ta nhận được kết quả phântích như Bảng dưới đây:

Tộc danh dân tộc thiểu

Ghép 2 8,3% Bru-Vân Kiều, Gié-Triêng

Đa tiết 10 41,7% Ơ đu, Ba na, Cơ ho, …

Đa thành tố 3 12,5% Bru - Vân Kiều, Gié -

Triêng, Ta ôiSố

lượng

âm tiết

Đơn tiết 11 45,8% Co, Mạ, Brâu, Mnông…

Đa tiết 13 54,2% Chơ ro, Rơ măm, Khơ

mú,

Kết quả phân tích tên gọi chính thức tên dân tộc

sử dụng các ngôn ngữ Nam Á

Nhận xét: Đặc điểm nổi bật nhất có thể nhận biết là: tên dân tộc thuộc

ngữ hệ Nam Á ở Việt Nam là: với 24 tên gọi chính thức thì có 22 tộc danh đơn (chiếm 91,7%) (mà chúng tôi gọi là kiểu tộc danh đơn) và 2 tộc danh ghép chiếm 8,3% Trong số 24 tộc danh đơn thì có 21 tộc danh là đơn vị định

danh đơn thành tố (kiểu như Mường, Thổ, Mạ, Co, Chứt, Kháng, Ba na, Cơ

Trang 33

ho, ) chiếm xấp xỉ 87,5% Còn lại 3 tộc danh là đơn vị định danh đa thành tố (kiểu như Ta ôi ) chiếm 12,5% Các đơn vị định danh đơn thành tố có cấu

trúc song tiết trong tiếng Việt như Ba na, Cơ ho, Rơ măm, thì hiện tại chưa

có đủ cứ liệu để xác định cấu trúc nội bộ cũng như nghĩa của từng âm tiếttrong các đơn vị này Vì vậy, chúng ta đành phải chấp nhận coi đây là nhữngđơn vị định danh đa tiết đơn thành tố Như vậy, trong các đơn vị định danhtên DT (theo văn bản pháp quy) sẽ có loại đơn vị đơn thành tố đơn tiết và đơnthành tố đa tiết

Đối với các tên gọi đa thành tố là tộc danh ghép như Bru - Vân Kiều,Gié - Triêng thì ta dễ giải thích về tính chất đa thành tố bởi từng tên gọi Bru,Vân Kiều, Gié, Triêng tự bản thân nó đã có nghĩa và là một thành tố trong cấutạo đơn vị định danh Nhưng với các đơn vị định danh đa thành tố mà khôngphải là tộc danh ghép như Ta ôi, Xinh mun… chúng ta vẫn có thể căn cứ vàonguồn gốc từ vựng của ngôn ngữ dân tộc để giải quyết vai trò của các thành tốtrong Xinh mun, Ta ôi Đây chính là những đơn vị định danh đa tiết đa thành

tố trong tên gọi chính thức các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á

- Trong số các tên DTTS theo Danh mục của nhà nước, rõ ràng các tên

gọi đa tiết được sử dụng nhiều hơn (13 / 11), chiếm tỉ lệ cao hơn (54,2% /

45,8%).

- Trong các tên gọi đơn tiết, có những tên gọi có tổ hợp phụ âm đầu

(mà ngay trong tiếng Việt cổ có) như br- trong Brâu, nhưng lại có cả những

tổ hợp mà trong tiếng Việt cổ cũng không có, kiểu như: tổ hợp xt- trong

Xtiêng; mn- trong tộc danh Mnông.

Trong số 13 tên gọi đa tiết thì tên gọi song tiết chiếm tỉ lệ cao, có tới 12 tên gọi, chiếm 94,6%, và duy nhất chỉ có 1 tên gọi 3 âm tiết, chiếm 5,4% Đó

là trường hợp tên gọi dân tộc Bru - Vân Kiều

Trang 34

* Về một số đơn vị định danh tên dân tộc đa tiết đa thành tố :

- Tộc danh Xinh mun: đây là tộc danh được phiên âm từ tên tự gọi

khsing/ ksing mụl của dân tộc này Trong tiếng Xinh mun, khsing/ksing

có nghĩa "người" Còn mụl có nghĩa "rừng" Và tên tự gọi Xinh mun có nghĩa là

"người rừng".

- Tộc danh Ta ôi: Tác giả Đoàn Văn Phúc trong bài “Vị trí của tiếng

Ta ôi trong các ngôn ngữ Cơ tu ở Việt Nam” cho biết, các tên gọi Ta ôi, Tà

ôi, Ta uốt, Ta uất, Taos có nguồn gốc và ngữ nghĩa như sau:

Tên gọi Ta ôi bắt nguồn từ một phong tục của người Ta ôi - phong tục

đeo hoa tai của chính dân tộc này Người Tà Ôi có tên tự gọi (ta-oóih: theo chữ viết hiện nay thường được viết là ta-oóih hay ta-os) Trong tiếng Ta ôi,

đây là một từ được cấu tạo bằng phương thức phụ tố Về mặt nghĩa, từ này có

nghĩa “đeo hoa tai (cho người khác)”, trong đó (oóih) là “cái hoa tai, vật đeo

tai”, còn (ta-) là một tiền tố cấu tạo từ (hiện có khả năng phát sinh mạnh trong

ngôn ngữ này) có nghĩa “làm cho ai cái gì/một cái gì đó” Và tên tự gọi

(ta-oóih) do ghép hai yếu tố này với nhau Có lẽ tên gọi này bắt nguồn từ tục “cà

răng căng tai” trước đây của người Ta ôi Theo phong tục, khi nữ giới đến tuổitrưởng thành thì phải đeo hoa tai cho tai dài và trễ xuống Trong quan niệmthẩm mĩ trước đây của người Ta ôi, tai người phụ nữ càng to và dài thì càngđẹp Khi tiến hành nghi lễ này, người nữ giới sẽ được dùi lỗ tai để đeo hoa tai.Theo phong tục, người phụ nữ không thể và không được phép tự làm Việcdùi tai sẽ do một nhóm người khác tiến hành Và thế là để phân biệt với một

nhóm tộc người khác, người ta tự nhận là (ta-oóih) Tuy nhiên ở một số

nhóm người Ta ôi khác thì lại được gọi là Tà Uốt, Tà Uất Các tên gọi Tà Uốt,

Tà Uất là những tên gọi được phiên âm từ ta-os, ta-uôs trong ngôn ngữ này.

Trang 35

Thực ra, đây chỉ là những biến thể về cách phát âm mang tính địa phương của

từ ta-oóih ở các vùng khác nhau mà thôi.

- Tộc danh Cơ tu: trong tiếng Cơ tu, thì tu có nghĩa là "ngọn, nguồn".

Theo cách giải thích của họ thì Cơ tu có nghĩa chỉ người ở trên cao, nơi đầu

nguồn nước Cho đến nay, tuy chưa thể xác định được nghĩa của yếu tố kơ,

nhưng ta vẫn phải thừa nhận rằng, Cơ tu là một đơn vị định danh đa thành tố,

mà ở đó, theo cấu trúc cú pháp tiếng Cơ tu thì yếu tố tu phải là yếu tố hạn định của Cơ Hơn nữa, trong tiếng Cơ tu không có tiền tố kơ hay ka (theo

chữ viết Cơ tu)

2.1.2 Về các nhóm địa phương

Trong tổng số 406 tên NĐP cư dân sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệNam Á mà chúng tôi thống kê được, qua phân tích cũng cho thấy kết quả về

số lượng các đơn vị định danh thì thấy:

- Về mặt ngữ âm, số lượng âm tiết trong một đơn vị:

+ Đơn vị đơn tiết: 73

+ Đơn vị đa tiết: 333

Do đặc điểm của các ngôn ngữ Nam Á, vì vậy, các đơn vị định danhbằng tiếng Việt là những đơn vị song tiết, song trong các ngôn ngữ dân tộc lại

là những đơn vị có cấu trúc song tiết đặc biệt (cả trong tiếng Việt lẫn ngônngữ DTTS) kiểu như Pa cô, Ta ôi, hay Xinh mun… như đã nói ở trên Đó làcấu trúc tiền âm tiết và âm tiết và mỗi âm tiết lại có nghĩa và là một thành tốtrong cấu trúc Song với những tên NĐP như Ka dong, Ha lăng, Bơ noong, tuy hình thức ngữ âm tiếng Việt là song tiết, song trong các ngôn ngữ bản địalại là những đơn vị có cấu trúc đơn tiết đích thực gồm: tiền âm tiết + âm tiết

Trang 36

Tuy vậy, trên cơ sở thống kê tiếng Việt, chúng ta phải coi đây là những đơn vịđịnh danh song tiết hay đa tiết.

- Về kiểu cấu trúc: có đơn vị định danh đơn thành tố và đa thành tố.Đơn vị đơn thành tố có 336, chiếm 82,8%, còn đơn vị đa thành tố có 70,chiếm 17,2 % Trong 333 đơn vị định danh đa tiết, có tới 122 đơn vị địnhdanh mà chưa/không thể xác định được cấu trúc, chiếm 36,6% Xin xem Bảngtổng hợp phân tích kết quả tên nhóm địa phương thuộc ngữ hệ Nam Á dướiđây:

VỀ TÊN GỌI NĐP SỬ DỤNG NGÔN NGỮ NAM Á

Tên nhóm địa phương

Số lượng

Kết quả phân tích tên gọi các NĐP

sử dụng các ngôn ngữ Nam Á

2.1.3 Quan hệ giữa các thành tố

Trang 37

Về phương diện cú pháp, trong số các đơn vị cấu trúc đa thành tố,chúng tôi chỉ bắt gặp một kiểu loại đơn vị định danh duy nhất: thành tố đứngtrước là thành tố chính, còn thành tố sau bổ sung nghĩa cho thành tố trước.Thành tố chính chỉ tên dân tộc / nhóm địa phương /người, đứng trước nhưThổ Cát Mộng, Thổ Sông Con, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Sách Bãi Dinh,Khơ me Krôm, Kháng Dẩy, Xinh mun Dạ, Xinh mun Co, Mảng Gứng, Ởcác ví dụ trên, các thành tố Thổ, Mọi, Sách, Khơ me, Mảng là những thành tốchỉ tên DT hoặc NĐP (trừ trường hợp các tộc danh Ta ôi, Xinh mun như đãgiải thích ở trên)

Đây là những tên dân tộc thiểu số và nhóm địa phương mà tên gọi cókết cấu thuận cú pháp theo kiểu kết cấu của tiếng Việt Đối với kiểu đơn vịđịnh danh này, thành tố trung tâm - luận văn gọi là thành tố chính (kí hiệu C)

- đứng trước, và thành tố phụ (kí hiệu P) - mà luận văn gọi là thành tố hạnđịnh - đứng sau Hai thành tố này gắn với nhau theo mô hình: C + P

Qua khảo sát chúng tôi thấy có 70/406 tên gọi có kiểu cấu tạo theo mô hình này, chiếm 17.2%.

+ Đi sâu và chi tiết hơn, trong kiểu mô hình cấu trúc C + P này, thành

tố chính C có thể bao gồm hai yếu tố nhỏ hơn C (C1 + C2) ví dụ các đơn vịđịnh danh dưới đây: Xinh mun Dạ, Xinh mun Nghẹt, Cơ tu Chalâu, Cơ tuNal

Trong kiểu cấu trúc C (C1 + C2) này có 7/70 tên gọi chiếm xấp xỉ chiếm

Trang 38

tố trực tiếp là miền và nam Trong kiểu cấu trúc P1 + P2 này có 6/70 tên gọi, chiếm 8,3%.

Như vậy, mô hình cho kiểu định danh tên dân tộc và nhóm địa phương

có kết cấu thuận cú pháp sẽ là: thành tố chính, tức thành tố được hạn định (C)+ thành tố phụ, tức thành tố được hạn định (P) Tuy nhiên trên thực tế tư liệu

mà chúng tôi thống kê thì đặc điểm của C và P không giống nhau ở các têngọi DT và NĐP Dưới đây sẽ là miêu tả những đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩacủa loại đơn vị định danh này

2.2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐƠN VỊ ĐỊNH DANH

2.2.1 Thành tố chính C - thành tố được hạn định

Qua khảo sát các đơn vị định danh tên DT và NĐP sử dụng các ngônngữ Nam Á ở Việt Nam có kết cấu C + P, chúng tôi nhận thấy:

+ Về phương diện từ loại, hầu như tất cả các thành tố chính C đều là

danh từ Trong các danh từ này, có danh từ chỉ "người", có danh từ chỉ tên dân

tộc, và có danh từ chỉ tên nhóm địa phương, thậm chí có trường hợp C khôngliên quan gì đến tộc danh mà họ mang, đã làm cho người nghe tưởng lầm làmột dân tộc khác Đó là trường hợp Chăm Hrê, Chăm Quảng Ngãi Kết quảthống kê cho thấy:

- C là danh từ chỉ người: có 38 đơn vị, chiếm 29,5%, ví dụ những tên

NĐP dưới đây:

Xinh (trong Xinh mun - bắt nguồn từ Khsing/ksing mụl: người núi,

người ở rừng).

Kon/Con (Kon/Con lan) - tên gọi khác chỉ người Xơ teng, một nhóm

địa phương của người Xơ đăng, mà Kon/ Con có nghĩa chỉ “người”.

Trang 39

Bu (trong Bu Lơ) "người"; Lơ: trên, cao; và Bu Lơ tên gọi chỉ một NĐP

người Xtiêng)

Xá (trong Xá Lá Vàng) "người núi", tên gọi chỉ người Tày Poọng (một

NĐP thuộc dân tộc Thổ), có lẽ xuất phát từ tên gọi Xá Toong Lương ở ngôn

ngữ Lào Thái theo kiểu: Xá - người (chỉ người thấp hèn, tôi đòi), Toong - tàu

lá chuối; Lương - màu vàng)

Kon (trong Kon Kđe) mà trong đó, Kon: người; Kđe: tên làng)

Trường hợp C là từ chỉ TDT hoặc NĐP có tới 50/129 tên gọi, chiếm38,8% Ta thấy trong kiểu loại này cũng được phân thành 2 nhóm:

Đó là những tên gọi như: Thổ Cát Mộng, Thổ Quỳ Hợp, Thổ Mọn, ThổCuối, Kháng Dẩng, Kháng Dón, Mảng Hệ, Mảng Gứng, Mạng Lệ, Cơ tuĐriu, Cơ tu Cha Lâu, Khơ me Crôm, Sách Mai, Sách Cọi, Mạ Ngăn, Mạ xốp,

Mạ Tô, Mnông Đíp, Mnông Kuênh, Mnông Sitô, Mnông Prông, Cơho Srê)

C là danh từ chỉ NĐP như Thổ, Kháng, Khơ me, Mảng / Mạng, Mạ)hoặc tên NĐP của các dân tộc đó (Sách)

Một đặc điểm nổi bật ở nhóm có tên gọi kiểu này, đó là có nhiều trườnghợp khó tìm thấy được mối liên hệ trực tiếp với dân tộc đó Ví dụ các tênnhóm địa phương dưới đây:

Nhà lang, Nhà Làng: tên nhóm địa phương thuộc dân tộc Thổ, chỉ tầnglớp thống trị của xã hội Mường xưa

Tày Hạy: tên nhóm địa phương thuộc dân tộc Khơ mú, trong khi Hạy:nương rẫy (tiếng Thái) Như vậy, Tày Hạy là một tên gọi theo nghĩa sẽ là mộtnhóm người Thái (hoặc Tày) làm nương rẫy

Trang 40

Cọi Giàng: tên nhóm địa phương (mà một số người gọi là Khạ Phoọng,Cọi Phoọng, Khạ Phọng, ) thuộc dân tộc Chứt, Hà Tĩnh Nhóm người nàyhiện ở sát vùng biên giới nên được gọi là Cọi

Chăm Quảng Ngãi: tên nhóm địa phương thuộc dân tộc Hrê, một têngọi tạo nên sự hiểu lầm đây là một nhóm địa phương của người Chăm - mộtdân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo - định cư tại Quảng Ngãi

Mường miền nam: tên nhóm địa phương thuộc dân tộc Thổ, một tênkhác của nhóm Thổ Mọn ở Nghĩa Đàn và Quỳ Hợp Trường hợp này có lí dotrong cách gọi của người đặt tên, khi họ coi nhóm được gọi là Thổ là nhómđịa phương của người Mường trong sự đối lập với nhóm địa phương Mường

ở miền bắc (Mường ở Phú Thọ) và Mường miền trung (ở Hòa Bình)

Ở tiểu loại này ta cũng thấy có rất nhiều tên NĐP có C mang tên chungnhư Xá, Khạ, Mọi, Thượng, kiểu như:

+ C mang tên Xá: Xá Quảng Lâm, Xá Hốc, Xá Bẻng, Xá Puộc, Xá Bả

O, Xá Cẩu, Xá Xúa, Xá Khao, Xá Cọi, Xá Lá Vàng,

+ C mang tên Khạ/ Kha/ Khá, : Khạ Klẩu, Khạ Mụ Giạ, Khạ Phọong,

Khạ Toong Lương

+ C mang tên Thượng thực ra là một tên gọi chung dùng chỉ người

DTTS sống ở vùng miền núi với nghĩa "trên cao" Vì vậy, tên gọi Thượng Ba

Tơ chỉ có một tên duy nhất Tên gọi này chỉ NĐP thuộc dân tộc Hrê ở Ba Tơtỉnh Quảng Ngãi

+ Mọi là tên gọi mà theo ý kiến của một số người, những tên gọi Xá,

Khạ/ Khả, Mọi là những tên gọi mang tính miệt thị, và thường được một dântộc có trình độ phát triển hơn dùng chỉ dân tộc chậm phát triển hơn Có thểtên gọi Mọi này do phiên chuyển ngữ âm từ một từ có nghĩa "người" trong

Ngày đăng: 02/04/2017, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w