1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

QUÁ TRÌNH xâm lược và CHÍNH SÁCH THỰC dân của bồ đào NHA ở BRAXIN (1500 – 1822)

143 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 7,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, khi người Bồ Đào Nha đến định cư ở Braxin từ năm 1534, họ đã tàn sát người da đỏ cả ở vùng ven biển và trong nội địa Braxin, làm cho dân số người bản địa suy giảm nhanh chóng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -LƯƠNG XUÂN HIỆU

QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH

THỰC DÂN CỦA BỒ ĐÀO NHA

Ở BRAXIN (1500 – 1822)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -LƯƠNG XUÂN HIỆU

QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH

THỰC DÂN CỦA BỒ ĐÀO NHA

Ở BRAXIN (1500 – 1822)

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Mã số: 60 22 03 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lương Thị Thoa

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lương Thị Thoa – người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Đồng thời, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Ban chủ nhiệm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn.

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Lương Xuân Hiệu

MỤC LỤC

Trang 4

1.1.1 Tình hình Bồ Đào Nha trước và trong quá trình

xâm lược Braxin ……….9

1.1.2 Tình hình Braxin trước sự xâm lược của thực dân

Trang 5

Chương 2 : CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA BỒ ĐÀO NHA Ở

Trang 6

2.2.2 Đẩy mạnh khai thác vàng và kim cương ………

Chương 3 : HỆ QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀ

CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA BỒ ĐÀO NHA Ở BRAXIN …………

Trang 7

3.2.2.2 Nảy sinh chế độ nô lệ ………

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năm 1500, Pedro Álvares Cabral phát hiện ra Braxin Đây là một vùng đất rất rộng lớn với dải đồng bằng phì nhiêu chạy dọc bờ biển, hệ thống đồng bằng các con sông lớn như Amazon rộng mênh mông bao phủ phần lớn diện tích Braxin Tuy nhiên, giai đoạn đầu Bồ Đào Nha cũng chỉ coi Braxin như các vùng đất khác ở phương Đông, họ lập lên một loạt các thương điếm dọc

bờ biển để tiến hành hoạt động buôn bán Cây dyewood dùng làm phẩm nhuộm màu đỏ là mặt hàng có giá trị nhất

Vào thời điểm người Bồ Đào Nha đặt chân lên đất Braxin, cư dân sinh sống là người da đỏ (người Indian) Họ vẫn sống trong tình trạng xã hội nguyên thủy, sống bằng săn bắt, đánh cá, hái lượm Họ sống tập trung chủ yếu

ở vùng ven biển, họ chưa có nhà nước, chữ viết Họ luôn luôn gây chiến tranh với nhau và ăn thịt kẻ thù của mình Đây là một khó khăn lớn cho người Bồ Đào Nha với một vùng đất rộng lớn lại do người bản địa hiếu chiến cai quản, không có một bộ máy chính quyền tồn tại, tài nguyên không có gì ngoài cây dyewood

Từ khi hoạt động buôn bán với phương Đông của người Bồ Đào Nha bắt đầu suy yếu và vùng đất Braxin rộng lớn đứng trước nguy cơ đe dọa bị xâm nhập của người Pháp cũng như tham vọng mở rộng lãnh thổ của người Tây Ban Nha Bồ Đào Nha mới quan tâm thực sự đến vùng đất rộng lớn này Chính sách định cư được người Bồ Đào Nha sử dụng như là một biện pháp để khẳng định quyền sở hữu vùng đất và là cơ sở để Bồ Đào Nha chống lại các cuộc xâm nhập của người Pháp, người Tây Ban Nha từ ngoài biển

Từ năm 1549, nhà vua Bồ Đào Nha đã thiết lập được bộ máy chín

Trang 9

quyền cai trị ở Braxin Tuy nhiên, bộ máy chính quyền thuộc địa rất lỏng lẻo Nhà vua chỉ quản lý gián tiếp thuộc địa thông qua một Thống đốc nắm toàn quyền ở Braxin Thống đốc thực hiện các nhiệm vụ nhà vua giao cho qua các

bản hướng dẫn thường trực (regimentos) Tòa án Hoàng gia cũng được thành

lập ở Braxin để bảo vệ quyền lợi cho nhà vua Các Hội đồng thành phố là cơ quan quyền lực ở địa phương cũng được nhà vua quản lý chặt chẽ Nhà vua

Bồ Đào Nha đã sử dụng giáo lý của nhà thờ Công giáo để biện minh cho hoạt động thực dân của mình ở Braxin Đồng thời, nhà thờ dựa vào chính quyền thực dân để mở rộng hoạt động truyền giáo của mình ra khắp lãnh thổ Braxin

Người Bồ Đào Nha đã trồng cây mía và sản xuất đường để phục vụ cho xuất khẩu Với đất đai rộng lớn, phì nhiêu, Braxin đã trở thành nơi sản xuất đường lớn nhất thế giới Hoạt động thương mại giữa Bồ Đào Nha với Braxin thông qua Đại Tây Dương trở thành con đường thương mại trên biển chủ yếu của người Bồ Đào Nha Từ thế kỷ XVIII, ngoài mía đường, người Bồ Đào Nha đã tìm thấy và khai thác sản lượng lớn vàng và kim cương ở Braxin Điều này đã đem lại sự giàu có cho Hoàng gia Bồ Đào Nha

Tuy nhiên, khi người Bồ Đào Nha đến định cư ở Braxin từ năm 1534,

họ đã tàn sát người da đỏ cả ở vùng ven biển và trong nội địa Braxin, làm cho dân số người bản địa suy giảm nhanh chóng Chế độ nô lệ được hình thành với chủ nô là chủ đồn điền, chủ nhà máy bóc lột nô lệ người Indian và sau đó

là người da đen Chế độ nô lệ là vết nhơ mà người Bồ Đào Nha đã để lại ở Braxin

Trong suốt hơn 300 năm cai trị ở Braxin, Bồ Đào Nha đã tạo nên một dân tộc Braxin với sự đa dạng chủng tộc gồm người người da trắng, người da đen, người bản địa và người lai giữa các chủng tộc Người Bồ Đào Nha đã không ngừng mở rộng lãnh thổ Braxin về phía bắc, phía nam và vào sâu trong nội địa Điều này đã định hình nên lãnh thổ Braxin rộng lớn như ngày nay

Trang 10

Trong suốt thời kỳ thuộc địa, chính quyền thực dân Bồ Đào Nha đã tạo điều kiện để các dòng tu Kitô giáo mở rộng truyền giáo ra khắp lãnh thổ Braxin Văn hóa Bồ Đào Nha có ảnh hưởng sâu sắc và định hình nên nền văn hóa Braxin.

Với những nhận thức như trên, việc nghiên cứu quá trình xâm lược và chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin vừa có ý nghĩa về mặt khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn Về ý nghĩa khoa học, đề tài giúp hiểu rõ quá trình xâm lược của Bồ Đào Nha ở Braxin và các chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin về tổ chức bộ máy chính quyền cai trị, khai thác kinh tế và chính sách văn hóa giáo dục Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài góp phần làm sáng

tỏ bản chất của chủ nghĩa thực dân, từ đó đánh giá đúng đắn mặt tiêu cực và tích cực của nó Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình xâm lược và chính sách thực dân của Bồ Đào Nha đối với Braxin là vấn đề mang tính cấp thiết

Do đó, tác giả quyết định chọn vấn đề : Quá trình xâm lược và chính sách

thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin (1500 - 1822) làm đề tài luận văn thạc sĩ

của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài luận văn là một vấn đề mới, chưa được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm, do đó nguồn tài liệu bằng tiếng Việt rất hạn chế Trong số các

tài liệu ít ỏi đó, cuốn giáo trình Lịch sử thế giới cận đại của Vũ Dương Ninh,

Nguyễn Văn Hồng, Nxb Giáo dục, 2004 có ý nghĩa quan trọng Trong phần lịch sử cận đại khu vực Mỹ La tinh, tác giả đã trình bày chế độ kinh tế xã hội

và tổ chức bộ máy chính quyền cai trị của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

Nguồn tài liệu tiếng Anh của các tác giả nước ngoài khá phong phú, nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về chế độ thực dân Bồ Đào Nha ở Braxin theo quan điểm của các sử gia phương Tây

Trang 11

1 Đầu tiên phải kể đến cuốn The Cambridge history of Latin America

(Lịch sử Mỹ La tinh của Cambridge) do Leslie Bethell làm chủ biên, bao gồm

10 tập của nhà xuất bản Đại học Cambridge, Luân Đôn Trong đó, 2 tập đầu

tiên viết về thời kỳ thuộc địa được xuất bản năm 1984 Volume I : Colonial

Latin America (Tập 1 : Mỹ La tinh thời thuộc địa) trình bày về đời sống người

Indian vào thời điểm người Bồ Đào Nha đặt chân đến Braxin năm 1500, quá trình xâm lược của người Bồ Đào Nha và tổ chức bộ máy chính quyền thực dân Ngoài ra, tác giả còn nêu tóm tắt hoạt động truyền giáo của Giáo hội

Công giáo thời thuộc địa Volume II : Colonial Latin America (Tập 2 : Mỹ La

tinh thời thuộc địa) trình bày về dân số Braxin thời thuộc địa, cấu trúc kinh tế

xã hội Braxin, thành tựu về kiến trúc và nghệ thuật thời thuộc địa

2 Trên cơ sở tổng hợp tập 1 và 2 về thời kỳ thuộc địa Mỹ La tinh của

bộ sách Lịch sử Mỹ La tinh của Cambridge (The Cambridge history of Latin

America, Volume I + II : Colonial Latin America), Leslie Bethell đã biên soạn

riêng về lịch sử thuộc địa Braxin trong cuốn Colonial Brazil (Thuộc địa

Braxin) do nhà xuất bản Đại học Cambridge, Luân Đôn in năm 1987 Tác giả

trình bày quá trình định cư của người Bồ Đào Nha từ 1500 – 1580, mối quan

hệ về kinh tế chính trị giữa Bồ Đào Nha với Braxin từ 1580 – 1750, hoạt động của đồn điền trồng mía từ 1580 – 1750, khai thác vàng kim cương từ 1690 – 1750

3 Cuốn A history of Latin America from the beginnings to the present

(Lịch sử Mỹ La tinh từ khởi thủy đến hiện tại) của Hubert Herring, Nxb Alfred A Knopf, New York, 1967 Trong phần một chương ba, tác giả đề cập đến tình hình Bồ Đào Nha trước cuộc xâm lược Braxin Trong phần 2 chương

12 tác giả trình bày quá trình định cư và tổ chức bộ máy chính quyền Bồ Đào Nha từ năm 1500 - 1580, hoạt động truyền giáo của các linh mục dòng Tên

Trang 12

4 Cuốn A history of Latin America (Lịch sử Mỹ La tinh) của Benjamin

Keen và Keith Haynes, Nxb Houghton Mifflin Harcourt, Boston, 2009 Trong phần 1 : Di sản thuộc địa Mỹ La tinh, tác giả dành riêng chương 6 để nói về những đặc trưng chính của thuộc địa Braxin : thời kỳ hoạt động của thương

điếm, thành lập hệ thống captaincy, chính sách của Bồ Đào Nha với người

bản địa; các hoạt động khai thác như : đồn điền trồng mía, khai thác vàng và hoạt động thương mại; tổ chức bộ máy chính quyền, chế độ nô lệ

5 Cuốn A brief history of Brazil (Tóm tắt lịch sử Braxin) của Teresa A

Meade, sách điện tử của nhà xuất bản Infobase, New York, 2004 Tác giả dành 3 chương đầu để giới thiệu tóm tắt về thời kỳ thuộc địa Chương một tóm tắt về vùng đất và con người trước khi người Bồ Đào Nha đặt chân đến Chương hai tóm tắt về tình hình kinh tế, chính trị Braxin Chương ba tóm tắt

về chế độ nô lệ, chế độ gia trưởng và hoạt động của nhà thờ

6 Cuốn A History of Portugal and the Portuguese Empire, Volume II :

The Portuguese Empire (Lịch sử Bồ Đào Nha và đế chế Bồ Đào Nha, tập 2 :

đế chế Bồ Đào Nha) của tác giả A R Disney, Nxb Đại học Cambridge, New

York, 2009 Tác giả dành chương 22, 23, 24 để viết khái quát về thời kỳ thuộc địa Braxin Chương 22, tác giả trình bày về thời kỳ định cư, thành lập chính quyền Hoàng gia, sự tan rã của xã hội người bản địa ven biển, hoạt động của các linh mục dòng Tên, Hà Lan xâm lược vùng đông bắc Braxin Chương 23 trình bày về các hoạt động kinh tế thực dân và chế độ nô lệ, sự mở rộng lãnh thổ về phía bắc và phía nam

7 Cuốn Brazil : Five centuries of change (Braxin : 5 thế kỷ thay đổi)

của Thomas E Skidmore, Nxb Đại học Oxford, New York, 1999 Tác giả dành chương một viết về quá trình hình thành và phát triển của thuộc địa từ

1500 – 1750, gồm các nội dung : con người Braxin, bộ máy chính quyền thực dân, mở rộng biên giới; cấu trúc văn hóa, kinh tế, xã hội Braxin

Trang 13

8 Cuốn Modern Latin America (Mỹ La tinh hiện đại) của tác giả

Thomas E Skidmore và Peter H Smith, Nxb Đại học Oxford, New York,

2005 Tác giả đề cập đến bản chất của thuộc địa Braxin như một thế giới khác biệt với thế giới Mỹ La tinh của Tây Ban Nha

Các công trình nghiên cứu trên có mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, đã làm rõ một số nội dung của đề tài Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa nghiên cứu chuyên sâu về quá trình xâm lược và chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin từ năm 1500 đến năm 1822 và những

hệ quả của nó Vì vậy, tác giả sử dụng các công trình nghiên cứu trên để tổng hợp và làm rõ trong nội dung của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của luận văn là làm rõ quá trình xâm lược và những chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin từ 1500 – 1822, từ đó bước đầu đánh giá những hệ quả của quá trình xâm lược và những chính sách thực dân của

Bồ Đào Nha đối với Braxin

3.2 Nhiệm vụ

Đề tài nghiên cứu những nội dung cơ bản sau :

- Quá trình xâm lược của thực dân Bồ Đào Nha ở Braxin (1500 – 1548)

- Các chính sách thực dân của Bồ Đào Nha thực hiện ở thuộc địa Braxin (1549 - 1822)

- Phân tích hệ quả của công cuộc xâm lược và chính sách thực dân của

Bồ Đào Nha ở Braxin (1500 - 1822)

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

- Về thời gian : Luận văn nghiên cứu quá trình xâm lược, chính sách

thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin từ 1500 – 1822 (từ khi người Bồ Đào Nha phát hiện ra Braxin năm 1500 đến khi Braxin tuyên bố độc lập năm 1822)

- Về không gian : Luận văn tập trung tìm hiểu quá trình xâm lược và

chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân Ngoài

ra, tác giả còn vận dụng các phương pháp : tổng hợp, thống kê, phân tích để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn là một đề tài mới, nội dung của nó không được đề cập cụ thể trong các tài liệu nghiên cứu trong nước, do đó tác giả hy vọng luận văn có một số đóng góp nhỏ sau đây :

- Làm rõ quá trình xâm lược và chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin từ 1500 – 1822 trên cơ sở khảo cứu và tổng hợp các nguồn tài liệu từ nước ngoài

- Góp phần đánh giá bước đầu về những hệ quả của quá trình xâm lược

và cai trị của thực dân Bồ Đào Nha ở Braxin

Trên cơ sở những đóng góp đó, luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích trong dạy học lịch sử khu vực Mỹ La tinh thời cận đại ở trường trung học phổ thông

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :

Chương 1 : Quá trình xâm lược của thực dân Bồ Đào Nha ở Braxin

(1500 – 1548)

Trang 15

Chương 2 : Chính sách thực dân của Bồ Đào Nha ở Braxin (1549 -

1822)

Chương 3 : Hệ quả của quá trình xâm lược và chính sách thực dân của

Bồ Đào Nha ở Braxin (1500 - 1822)

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1 : QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC BRAXIN CỦA THỰC DÂN

BỒ ĐÀO NHA (1500 - 1548)

1.1 Bối cảnh lịch sử của quá trình xâm lược

1.1.1 Tình hình Bồ Đào Nha trước và trong quá trình xâm lược Braxin

Trước thế kỷ XI, Bồ Đào Nha nằm dưới sự thống trị của người Hồi giáo, giống như những vùng đất khác trên bán đảo Iberia Từ phong trào Reconquista (Phục hồi), nước Bồ Đào Nha độc lập ra đời, với việc Henrique

de Borgonha lập nên vương triều Borgonha, cai trị từ năm 1093 đến năm 1383 (ban đầu Henrique vẫn mang danh hiệu Bá tước, nhưng con trai kế nghiệp của ông là Afonso I đã xưng vua năm 1139)

Nét đặc biệt của quá trình thiết lập vương quốc Bồ Đào Nha là đã diễn

ra hai cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược, can thiệp của ngoại bang : thế lực Hồi giáo và các vương quốc khác trên bán đảo Iberia Nếu như cuộc đấu tranh chống người Hồi giáo dẫn đến sự thành lập vương triều thứ nhất - vương triều Borgonha, thì cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của xứ Castilla (vương hầu Castilla muốn giành ngôi vua Bồ Đào Nha), dẫn tới sự thành lập vương triều thứ hai - vương triều Aviz (1358 - 1580) Năm 1580, Bồ Đào Nha bị sáp nhập vào Tây Ban Nha, do vương triều Habsbuorg cai trị Đến năm 1640, Bồ Đào Nha mới giành lại được độc lập

Thời kỳ cai trị của vương triều Aviz là thời kỳ Bồ Đào Nha đã đạt tới đỉnh cao về kinh tế, chính trị, quân sự Các vua Bồ Đào Nha như : John I (1385 - 1433), được gọi là “John đại đế”; John II (1481 - 1495), người được biết đến như là “John hoàn hảo”; Manoel I (1495 - 1521), được vinh danh là

“Người may mắn”; John III (1521 - 1557) cũng được gán cho danh hiệu

“Người may mắn” đã đưa Bồ Đào Nha trở thành đế quốc thực dân châu Âu

Trang 17

đầu tiên thiết lập được hệ thống thuộc địa giàu có ở châu Á (tây nam Ấn Độ, Macao, Malacca …), châu Phi (bờ biển Đông Phi), Nam Mỹ (Braxin).

* Sự hình thành và phát triển của đế quốc thực dân Bồ Đào Nha

Sau khi Vasco da Gama tìm được con đường biển sang Ấn Độ năm

1498, Bồ Đào Nha làm mọi cách để nắm độc quyền thương mại ở Ấn Độ Dương Trước hết, Bồ Đào Nha tìm cách loại các đối thủ cạnh tranh của mình

là người Arập, Ai Cập và Vơnidơ (Ý) Năm 1503, hạm đội Bồ Đào Nha tới đóng ở Ấn Độ Dương để bắt các tàu biển của người Arập đi từ Ai Cập qua Hồng Hải tới Ấn Độ Họ chiếm giữ đảo Xôcôtra, án ngữ eo Đácđanen thông với Ấn Độ Dương và chiếm giữ vịnh Ocmurơ để ngăn chặn con đường từ Bátđa đến Pécxích Năm 1509, một cuộc hải chiến giữa người Bồ Đào Nha và người Arập đã diễn ra ở Địa Trung Hải Kết quả là người Arập thất bại Từ đó,

Bồ Đào Nha độc chiếm con đường hàng hải buôn bán với Ấn Độ Bất cứ thuyền bè nào qua con đường này đều phải xin phép người Bồ Đào Nha, còn thuyền buôn của người Arập đều phải nộp thuế cho họ

Sau đó, người Bồ Đào Nha còn tiến xa hơn nữa sang phía Đông, vì họ biết rằng các hương liệu và gia vị quý giá không phải chỉ có ở Ấn Độ, mà còn

có rất nhiều ở các đảo thuộc Inđônêxia Vì thế, năm 1509, họ tới đảo Xumatơra Đến năm 1511, họ chiếm Malắcca và đảo Giava, án ngữ con đường buôn bán Ấn Độ - Trung Quốc Bồ Đào Nha tiếp tục tiến xa lên phía Bắc Năm 1520, họ tới Macao (Trung Quốc) Năm 1542, họ tới Nhật Bản Như vậy, một đế quốc thực dân rộng lớn Bồ Đào Nha đã được thiết lập, trải dài trên 8000 km bờ biển, rải rác dọc bờ biển châu Phi, Ấn Độ, sang đến đảo Môluých trên Thái Bình Dương [14; 97] Ngoài ra còn thêm một phần Nam

Mỹ là Braxin, được coi là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ năm 1500 sau phát kiến của Cabral

Trang 18

Thực dân Bồ Đào Nha đã thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn bán hương liệu, tơ lụa và các thứ quý giá khác từ phương Đông Chúng

sử dụng các biện pháp chia rẽ, mua chuộc các vương quốc địa phương để cướp đoạt hay bắt cống nạp hàng hóa Thương nhân Bồ Đào Nha mua hàng hóa với giá rẻ như : trâm, tơ lụa, thuốc phiện, ngọc, gạo, đường, vải bông (ở Điu), hồ tiêu (ở Goa, Calicút) và những mặt hàng khác Trong đó, buôn bán

hồ tiêu có vai trò quan trọng Bồ Đào Nha trở thành nhà phân phối hồ tiêu độc quyền ở châu Âu và bán với giá cao gấp 7 - 8 lần số tiền đã phải chi phí [3; 492] Lisbon trở thành chợ lớn buôn bán gia vị cho toàn châu Âu và trở thành một trong những thành phố sầm uất nhất châu Âu thời đó Tuy nhiên, những của cải cướp được ở các thuộc địa đều lọt vào tay giai cấp quý tộc phong kiến

Bồ Đào Nha Kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp ở Bồ Đào Nha không được chú trọng phát triển, mà còn bị hủy hoại Bồ Đào Nha phải nhập hàng hóa từ các nước có nền kinh tế công thương nghiệp phát triển như Anh, Pháp Chẳng bao lâu sau, số vàng bạc và của cải cướp được ở thuộc địa của Bồ Đào Nha đã chuyển sang các nước có nền kinh tế công thương nghiệp phát triển

Sự thịnh vượng của đế quốc Bồ Đào Nha ở phương Đông chỉ tồn tại trong thế kỷ XVI Chính sách thực dân của Bồ Đào Nha là vừa buôn bán, vừa cướp bóc thuộc địa Bởi vì Bồ Đào Nha có dân số ít, họ chưa đi sâu vào các vùng thuộc địa, chưa tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, cũng như chưa

mở rộng lãnh thổ chiếm đóng Bồ Đào Nha chỉ chiếm một số địa điểm ven biển đặt làm hải cảng và xây dựng các thương điếm Bồ Đào Nha đã không khai thác được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và không thiết lập được nền tảng kinh tế ở các thuộc địa cho sự thống trị của mình Hà Lan, Anh, Pháp đã xây dựng được nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, sản xuất hàng hóa hàng loạt, làm giảm giá cả sản phẩm Bồ Đào Nha không có một nền sản xuất công nghiệp phát triển, họ phải mua sản phẩm công nghiệp từ Anh, Pháp, Hà Lan

Trang 19

Trong thế kỷ XVII, Hà Lan, Anh, Pháp đã tìm cách bành trướng thuộc địa, cạnh tranh gay gắt với Bồ Đào Nha Ở Inđônêxia, người Hà Lan đã hất cẳng người Bồ Đào Nha Ở Ấn Độ, người Bồ Đào Nha cũng phải nhường chỗ cho người Anh.

Tuy nhiên, Bồ Đào Nha thực hiện chính sách thực dân ở Braxin khác so với phương Đông Braxin không có sẵn các loại hương liệu, tơ lụa, vàng bạc như ở phương Đông Cây dyewood dùng làm thuốc nhuộm trong ngành công nghiệp dệt ở châu Âu, là mặt hàng có giá trị duy nhất Trong hơn 30 năm đầu của thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha đã lập ra nhiều thương điếm dọc bờ biển Braxin

để buôn bán loại cây gỗ này Từ năm 1534, những người định cư Bồ Đào Nha

đã bắt đầu khai phá đất đai để trồng cây mía Đến giữa thế kỷ XVI, các đồn điền trồng mía và nhà máy đường sản xuất ra sản lượng lớn đường, phục vụ cho hoạt động xuất khẩu sang châu Âu của các thương nhân Bồ Đào Nha Giá đường bán trên thị trường châu Âu được đẩy cao, do Braxin là nơi cung cấp đường chủ yếu cho châu Âu Đồng thời, việc buôn bán nô lệ từ bờ biển châu Phi cung cấp cho các đồn điền và nhà máy sản xuất đường ở Braxin cũng đem lại nguồn thu lớn cho các thương nhân Bồ Đào Nha Cuối thế kỷ XVII, vàng

và kim cương được phát hiện và khai thác ở Braxin, đã thỏa mãn ước mơ tìm thấy vàng của người Bồ Đào Nha trên đất Braxin

Như vậy, Bồ Đào Nha đã xây dựng được nền tảng kinh tế vững chắc ở thuộc địa Braxin, dựa trên nền kinh tế sản xuất đường và khai thác vàng, kim cương Do vậy, Bồ Đào Nha đã duy trì được ách cai trị ở Braxin trong suốt hơn 300 năm (1500 - 1822) Ở phương Đông, Bồ Đào Nha đã không làm được điều này, dẫn tới mất dần các thuộc địa vào tay các nước Anh, Pháp, Hà Lan Bồ Đào Nha không xây dựng được nền công nghiệp sản xuất hàng hóa theo phương thức tư bản chủ nghĩa ở chính quốc Tuy nhiên, Bồ Đào Nha sở

Trang 20

hữu thuộc địa Braxin rộng lớn, giàu có, nên tiếp tục duy trì được vị thế của mình so với các quốc gia khác ở châu Âu.

* Tình hình văn hóa - xã hội Bồ Đào Nha thế kỷ XV – XVI :

Bồ Đào Nha có diện tích nhỏ, đất đai canh tác không được màu mỡ, dân cư không đông, nên nền kinh tế nông nghiệp không có điều kiện phát triển Những trận dịch hạch đen đã tàn phá dân số và nền nông nghiệp Bồ Đào Nha, để lại hậu quả nghiêm trọng : dân cư nông thôn giảm sút, dân cư thành thị tăng lên, không phải do sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp mà là sự vận động cơ học do hậu quả của tình trạng nghèo nàn

và nạn dịch hạch Điều này khiến cho những nhà quý tộc nắm giữ đất đai lâm vào khủng hoảng : thiếu hụt nhân công, thiếu hụt nguồn thu thuế Vì vậy, các quý tộc địa chủ, dân nghèo thành thị, nông dân có ít ruộng sẵn sàng ra đi đến vùng đất mới giàu có, rộng lớn để định cư, mong muốn tìm kiếm một cuộc sống mới tốt đẹp hơn

Sau khi Vasco da Gama tìm được con đường biển sang Ấn Độ năm

1498, rất nhiều đại lý thương mại được thành lập ở Ấn Độ, Trung Quốc, Malắcca và các nơi khác để thu mua hương liệu, tơ lụa và các thứ quý giá khác chở về châu Âu Người Bồ Đào Nha vừa buôn bán vừa cướp đoạt đã đem về cho các thương nhân và quý tộc một nguồn lợi nhuận vô cùng to lớn Nhờ đó đã tạo ra vốn và tiềm lực kinh tế cho Bồ Đào Nha để tiếp tục đầu tư vào thương mại hoặc các thuộc địa, trong đó có Braxin

Nhà thờ Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng trong quá trình xâm lược Braxin Kitô giáo của người Bồ Đào Nha có sự khác biệt rõ rệt so với Kitô giáo của người Tây Ban Nha Nếu so sánh với những người đến từ vùng Castilla, nhà thờ của người Bồ Đào Nha đã có sự tiếp xúc từ sớm với những tín đồ Hồi giáo, người châu Phi Negroes và người nước ngoài phiêu dạt vào,

do vậy giáo lý của nó có sự dung hòa với các tôn giáo khác Freyre, một

Trang 21

người Braxin viết rằng : “tôn giáo Bồ Đào Nha không là hệ thống cứng nhắc

và khắc nghiệt của các quốc gia Tân giáo ở phía bắc hoặc thậm chí là Công giáo bảo thủ của Castile; tôn giáo của họ thiên về nghi thức xã hội hơn là tôn giáo, lời bài hát đạo Kitô êm dịu với nhiều tưởng tượng về sinh thực khí và thuyết duy linh của hệ thống thờ cúng tôn giáo của người ngoại giáo” [29; 87] Đồng thời, Kitô giáo ở Bồ Đào Nha cũng đi theo lối của Tây Ban Nha :

nó đã thiết lập nên Tòa án dị giáo vào năm 1536, đã chào đón các giáo sỹ dòng Tên vào năm 1540, đã tiếp thu một số giáo lý mới thể hiện đặc trưng của nhà thờ Tây Ban Nha Nhưng Bồ Đào Nha không sản sinh ra những giáo sĩ như Isabella, Cardinal Jimenez, Ignatius Loyola, Theresa hay Luis de Leon

Nó phát triển mà không có các chức vụ cao như ở thời đại hoàng kim của Tây Ban Nha

Người Bồ Đào Nha đã có sự tiếp xúc từ lâu với nền văn hóa của người

da đen, người theo đạo Hồi, nên họ dễ dàng chấp nhận tự nhiên đối với tất cả các chủng tộc, các nền văn hóa Một người Braxin đã miêu tả về thực dân Bồ Đào Nha như sau : “trong sự tôn trọng nhất định, người Bồ Đào Nha giống với người Anh, cũng như những người Tây Ban Nha khác Một người Tây Ban Nha không có ngọn lửa hiếu chiến hoặc tính chính thống rõ rệt của người

đi xâm chiếm Mexico và Peru; một người Anh không có đặc trưng khắc nghiệt của người Peru Một kiểu người thỏa hiệp Với việc không có ý tưởng

cụ thể, không có định kiến kiên định… của tính mềm dẻo xã hội lớn hơn… như so sánh với những kẻ thực dân châu Âu khác” [29; 88]

* Sự hình thành và lớn mạnh của nền quân chủ chuyên chế Bồ Đào Nha :

Trong giai đoạn từ 1300 - 1500, ở Bồ Đào Nha đã diễn ra một cuộc đấu tranh lâu dài và căng thẳng giữa xu hướng hướng tâm và xu hướng ly tâm trong cơ cấu quyền lực của bộ máy nhà nước Vương triều Borgonha và

Trang 22

vương triều Aviz đều cố gắng tập trung quyền lực quốc gia vào tay mình, còn bên kia là những lực lượng có xu hướng ly tâm là nhà thờ, quân đội và quý tộc Trong cuộc đấu tranh đó, vương triều hoàng tộc đã lôi kéo tầng lớp quân đội và quý tộc dân sự về phía mình, bởi vì sự ủng hộ của phe nhà thờ đối với việc tập trung quyền lực của nhà vua vô cùng khó khăn.

Chính quyền nhà vua không đủ sức tấn công vào nhà thờ, do “sức mạnh tinh thần mà nhà thờ và linh mục ảnh hưởng lên dân thành thị và dân cư ở những vùng thôn quê hẻo lánh vẫn là rất đáng kể, thậm chí nếu như họ nắm giữ các khu đất rộng lớn, thì sức mạnh về kinh tế của họ khiến cho không ai

có thể tấn công trực diện mà thành công được Vì thế, phía Hoàng gia đã không thể nào hướng sức ép thực sự về việc tập trung hóa quyền lực của mình vào thế lực nhà thờ được, mà nhắm vào giai cấp quý tộc địa chủ” [45; 33]

Do vậy, nhà vua Bồ Đào Nha củng cố vương quyền bằng cách khống chế và điều khiển bộ phận quý tộc địa chủ

Sau những biến động lớn, vào thế kỷ XV, một hệ thống cấp bậc rõ ràng

đã hình thành theo mô hình của nước Anh Tầng lớp quý tộc được phân chia thành : công tước, hầu tước, bá tước, tử tước, nam tước Hệ thống cấp bậc tước vị này về hình thức giống với chế độ phong quân bồi thần ở Tây Âu Tuy nhiên, tính chất của nó lại khác : những tước vị đó là do nhà vua ban tặng và các quý tộc chịu ảnh hưởng từ nhà vua chứ không phải từ những nhà quý tộc

có danh vị cao hơn mình Cũng có những trường hợp một quý tộc lớn có thể lôi kéo những quý tộc nhỏ hơn về phe mình trong các cuộc đấu tranh nội bộ, song đó là một thỏa thuận liên minh chứ không phải nghĩa vụ quân sự của quý tộc nhỏ với quý tộc lớn

1/10 trong số quý tộc này là những người kế vị các “Ricos-homens” (những người giàu có) xưa kia Tuy nhiên, họ không phải lúc nào cũng là con cháu trực hệ của các vị này, vào thế kỷ XIV – XV trong nhóm này có một số

Trang 23

người là di dân Cùng trong thời gian này, bộ phận những người sau cùng trong chính quyền Afonso (1438 - 1481) hay còn gọi là bộ phận quý tộc thứ hai đã hình thành, họ giữ những vị trí không mấy quan trọng Sự tồn tại của

bộ phận này nhằm củng cố, tăng cường quyền bính của vương triều [45; 33]

Mặt khác, các vua của vương triều Aviz không những nắm giữ được tầng lớp quý tộc địa chủ (hạng vừa và nhỏ) mà còn được đông đảo tầng lớp thị dân ủng hộ Tầng lớp quý tộc địa chủ và các thị dân này tham gia phe nhà vua chống lại xu hướng ly tâm của các quý tộc thượng lưu có dòng dõi lâu đời

và còn nhiều mối gắn kết với Tây Ban Nha Để đề cao quyền lực của mình, có những thời điểm nhà vua dùng những biện pháp mạnh mẽ về quân sự, trấn áp những lực lượng muốn chống đối lại mình Tiêu biểu là sự kiện năm 1484, John II đã phế truất công tước Braganca, một người rất có ảnh hưởng nhưng chống lại đường lối khám phá con đường biển tới phương Đông Không những vậy, ông còn đày ải một số đồng minh của công tước này [45; 36]

Sau khi đánh bại cuộc tấn công của xứ Castilla năm 1385, vương triều Aviz phải tiếp tục củng cố nền độc lập của mình, loại bỏ các thế lực muốn hợp nhất với Tây Ban Nha, luôn luôn thể hiện đường lối độc lập trước âm mưu thôn tính của Tây Ban Nha và những ảnh hưởng mà vương triều Habsbourg muốn áp đặt lên Bồ Đào Nha

Như vậy, đến cuối thế kỷ XV, Bồ Đào Nha có diện tích nhỏ, dân số gần 1,5 triệu người [35; 16] nhưng lại có thể khai phá được đất nước Braxin rộng lớn với nhiều bộ lạc người da đỏ sống rải rác khắp các vùng đồng bằng và cao nguyên Điều này là do Bồ Đào Nha đã xây dựng được chế độ quân chủ chuyên chế mạnh thời vương triều Aviz, tình hình trong nước tương đối ổn định Tầng lớp quý tộc địa chủ sa sút, thị dân nghèo, nông dân ít ruộng sẵn sàng đến vùng đất mới giàu có, rộng lớn để tìm kiếm một cuộc sống mới tốt đẹp hơn Tầng lớp thương nhân, quý tộc Hoàng gia có đủ tiềm lực về kinh tế

Trang 24

để đầu tư và chinh phục thuộc địa Nhà thờ Kitô giáo gần gũi với đời sống tinh thần của người dân.

1.1.2. Tình hình Braxin trước sự xâm lược của thực dân Bồ Đào Nha

Trước khi người Bồ Đào Nha đến năm 1500, đất nước Braxin có hàng trăm bộ lạc người da dỏ (người Indian) sinh sống Người da đỏ được phân chia thành bốn nhóm ngôn ngữ chính là Tupi (hoặc Tupi-Guarani), Ge, Carib

và Aruak (Arawak) Ngoài ra, còn có các nhóm ngôn ngữ nhỏ khác ở vùng biên giới như : Xiriana và Tukano ở phía tây bắc, Panoan và Paezan ở phía tây, Guaicurus và Charrua ở phía nam

Nhóm Tupi-Guarani sinh sống dọc ven biển Đại Tây Dương, vùng hạ lưu sông Amazon và thượng nguồn sông Amazon gần biên giới với Peru Nhóm Ge sống ở vùng cao nguyên miền trung Braxin Họ có thể là con cháu của các cư dân sinh sống đầu tiên ở Braxin – với những hóa thạch lâu đời nhất của con người được tìm thấy ở Lagôa Santa nằm trong bang Minas Gerais, có niên đại hơn 10.000 năm tuổi, giống với thể chất của nhóm Ge hiện đại [36; 119]

Lưu vực sông Amazon là nơi sinh sống và tranh chấp của ba nhóm ngôn ngữ chính là : Tupi, Aruak và Carib Đồ gốm khai quật được trên đảo Majaro ở cửa sông Amazon và ở Satarem có niên đại hơn 2000 năm trước công nguyên, đã chứng tỏ một xã hội tiến bộ lúc bấy giờ [36; 120] Nhóm Aruak sinh sống giữa lưu vực sông Amazon và thượng nguồn sông Madeira, phía trên đồng bằng Paraguay Nhóm Carib sinh sống trên vùng cao nguyên Guyana và hầu hết các nhánh phía bắc của sông Amazon, một số ở nhánh phía nam sông Amazon và hạ lưu sông Amazon

* Đời sống kinh tế của người da đỏ :

Phần lớn người da đỏ sống trong các làng trong một khoảng thời gian ngắn Nguyên nhân chính cho điều này là vùng đồng bằng Nam Mỹ không có

Trang 25

động vật được thuần hóa - không giống như lạc đà không bướu và chuột lang, những loài động vật cung cấp protein cho những nền văn minh lớn của châu

Mỹ Người dân ở đây buộc phải săn bắn thú rừng, đánh bắt cá, bắt côn trùng

và hái lượm củ quả trong rừng để sinh sống

Các khu rừng nhiệt đới Amazon, vùng đồi núi khô của cao nguyên rộng lớn là những môi trường sinh sống rất khó khăn cho con người Ngay cả hệ thống sông Amazon đầy ắp cá, lợn biển, rùa nhưng cũng thường xuyên xảy ra

lũ lụt Rừng bao phủ phần lớn đất đai Braxin luôn luôn không thích hợp cho nông nghiệp Nguyên nhân là đất đá ong bên dưới các khu rừng còn nghèo, động vật ăn thịt và ký sinh trùng liên tục tấn công, cạnh tranh giữa các thảm thực vật diễn ra mạnh mẽ, đồng thời dưới ánh nắng mặt trời gay gắt và những cơn mưa dữ dội không ngớt, cùng với nhiệt độ ít thay đổi theo mùa đã cản trở

sự sinh sôi của thực vật trên cùng một bề mặt Tất cả những yếu tố này chống lại hoạt động định cư lâu dài của con người

Những chiếc bầu đựng nước và rổ rá được dùng phổ biến ở phần lớn các bộ lạc, mặc dù kiểu đan và mẫu hình giữa các bộ lạc hoàn toàn khác nhau

Kỹ thuật làm gốm tuyệt đẹp của văn hóa Marajó và Santarém ở vùng ven sông Amazon thời kỳ đầu dường như không còn tồn tại vào thời điểm diễn ra những cuộc xâm chiếm của người châu Âu, ngoại trừ các bộ lạc Amagua và Machiparo ở thượng nguồn sông Amazon Trong số những bộ lạc còn lại đến ngày nay, người Xinguano rất nổi tiếng với những chiếc chậu lớn đựng bánh

Karajá tạo ra những bức tượng nhỏ giống như búp bê Người Kadiwéu trang trí lên đồ gốm với những hình học lõm sâu, tương tự như những hình họ đã xăm lên mặt

1 () khoai mì : là một loại sắn, mọc tự nhiên ở lưu vực sông Amazon

Trang 26

Do điều kiện tự nhiên của các khu rừng nhiệt đới không phù hợp với cuộc sống định cư lâu dài của con người Vì vậy, người da đỏ luôn có sự di chuyển từ vùng có ít động vật và củ, quả đến vùng có nhiều động vật và củ, quả hơn Đây là nguyên nhân dẫn đến các bộ lạc xung đột với nhau để tranh chấp đất đai sinh sống.

* Tổ chức xã hội của người da đỏ :

Một ngôi làng của người Tupi thường bao gồm bốn hoặc hơn bốn ngôi nhà tranh mái vòm hình bán nguyệt Các ngôi nhà tranh được bố trí xung quanh nhau và được bao quanh bởi một hàng rào Mỗi ngôi nhà tranh có nhiều gia đình sinh sống, mỗi gia đình sống ở một góc ngôi nhà cùng với những chiếc giường treo (võng) bên cạnh bếp lửa Trong thị tộc, người đàn

ông có trách nhiệm săn bắn, đánh bắt cá, chiến đấu và khi cần thiết còn khai

hoang đất rừng để trồng trọt Người phụ nữ trồng và thu hoạch khoai mì, đậu phộng, một số loại quả và hạt Ngoài ra, họ còn phải chuẩn bị thức ăn cho thị tộc và chăm sóc trẻ nhỏ Phụ nữ và đàn ông đều tự làm đồ dùng cá nhân của

họ như : giỏ, võng, cung tên, những đồ trang trí bằng hạt và lông vũ, những dụng cụ thô sơ, bẫy, xuồng và dĩ nhiên cả những ngôi nhà tranh

Các cô gái Tupinamba phải vượt qua những thử thách và chịu sự xa lánh khi đến tuổi dậy thì, sau đó mới được xem như người trưởng thành Người đàn ông trẻ phải chứng minh bản thân trong các cuộc chiến hoặc bằng cách giết chết những tù binh thì mới được cho là đủ điều kiện để kết hôn Khi kết hôn, cặp vợ chồng sẽ phải sống chung thủy với nhau, người chồng chuyển sang sống cùng gia đình nhà vợ Tuy nhiên, người thủ lĩnh được lấy nhiều vợ

do chế độ đa thê của các thủ lĩnh và những người vợ sẵn sàng chấp nhận điều này, một phần là do niềm tự hào của họ về người đàn ông quan trọng đó và một phần là do muốn chia sẻ việc chăm sóc chồng

Trang 27

Hội đồng trưởng lão có quyền quyết định các hoạt động của bộ lạc, nhưng đứng đầu bộ lạc là một thủ lĩnh Thủ lĩnh là người có sức mạnh trong chiến đấu, có khả năng diễn thuyết và được các thành viên trong bộ lạc kính trọng Các thành viên trong bộ lạc đều tự giác thực hiện công việc của mình Điều này là cần thiết đối với cộng đồng người sống bằng nghề săn bắn trong điều kiện môi trường khắc nghiệt Những nhà thám hiểm nước ngoài đầu tiên

đã đưa ra kết luận về sự vắng mặt của những kẻ thống trị hùng mạnh : “Mỗi người đàn ông đều có thể tự cung cấp cho mình Họ không có tài sản và cũng không cố gắng làm giàu như những người khác Họ không có sự phân biệt đẳng cấp, không có khái niệm về nhân phẩm hay lễ nghi Họ không cần những điều đó Tất cả đều bình đẳng về mọi phương diện, hài hòa với môi trường xung quanh và họ sống một cách công bằng, phù hợp với quy luật tự nhiên” [36; 129]

Người Tupi ở vùng ven biển chìm đắm trong những mối hận thù chết chóc giữa các bộ lạc và lôi kéo nhiều người da đỏ tham chiến hơn các nơi khác trên đất Braxin Các cuộc chiến gần như chiếm mất vị trí trung tâm trong đời sống xã hội và đời sống tôn giáo của các bộ lạc Mục đích chính của những cuộc chiến giữa các bộ lạc này là để bắt tù binh hơn là xâm chiếm đất đai hay giành chiến lợi phẩm Cuộc tấn công sẽ bắt đầu khi có điềm báo chiến thắng, nhất là những trận đánh úp hoặc những cuộc phục kích Các loại vũ khí chủ yếu là cung và tên, những thứ được người da đỏ sử dụng vô cùng mau lẹ

và chính xác Nhưng các cuộc chiến lại nhanh chóng biến thành những trận chiến giáp lá cà khốc liệt với gậy gỗ và rìu chiến bằng đá

thù bị tiêu diệt bởi các cuộc tấn công bất ngờ và “họ bắt rất nhiều người già

2 () Anthony Knivet (1591 - 1649) : một thủy thủ người Anh bị người Bồ Đào Nha bắt ở Braxin, từng sống một thời gian với các bộ lạc người da đỏ.

Trang 28

và phụ nữ, rồi chúng tôi lại mang họ đi giết” [36; 132] Một linh mục dòng Tên viết rằng : “có quá nhiều người mà đất đai lại quá màu mỡ, số lượng người tăng nhanh đến nỗi họ phải tiêu diệt lẫn nhau mới có thể tồn tại” [36; 132] Một linh mục dòng Tên khác lại xem chiến tranh như một “sự tiêu hao bình thường của đám đông, không có chiến tranh, họ sẽ không có được mảnh đất đó” [36; 132].

Các tù nhân bị giam giữ trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng, được tù trưởng bộ lạc vỗ béo và ban phát cho một phụ nữ để hưởng lạc thú, trước khi

bị tiến hành một nghi lễ hành quyết phức tạp Nạn nhân bị hành quyết khá nhẹ nhàng bằng một cú đánh từ phía sau, sau đó bị nấu chín và lột da Mỗi thành viên trong bộ lạc sẽ ăn một miếng thịt được nấu chín của anh ta và tin rằng mình được tiếp thêm sức mạnh tinh thần và nuôi dưỡng ý chí trả thù

Như vậy, người da đỏ được tổ chức theo thị tộc và bộ lạc, thủ lĩnh là người đứng đầu bộ lạc, được mọi thành viên kính trọng Trong thị tộc, người đàn ông và người phụ nữ có sự phân công lao động hợp lý, mọi người đều tự giác thực hiện công việc của mình Tuy nhiên, giữa các bộ lạc luôn xảy ra xung đột với nhau và họ ăn thịt kẻ thù bị bắt như là để ghi sâu mối hận thù

* Đời sống tinh thần của người da đỏ :

Sự sáng tạo của người da đỏ thể hiện rõ rệt nhất trong trang trí cho cá nhân Ngoại trừ một số bộ lạc ở thượng nguồn sông Amazon, phần lớn người

da đỏ ở Braxin đều không mặc quần áo Do đó, việc trang trí bao gồm : nghệ thuật vẽ trên cơ thể, dùng lông chim hoặc đá trang sức đeo ở cổ, cổ tay, dái tai, mũi, mắt cá chân hoặc thắt lưng Những người đàn ông Tupinamba sống ở ven biển Đại Tây Dương thường đeo những chiếc khuyên đá cẩm thạch xanh được đánh bóng vào má và môi dưới của họ Nhiều bộ lạc Ge đeo những vật hình đĩa bằng gỗ ở dái tai và thậm chí cả ở môi dưới Những vật hình đĩa này

Trang 29

đập lên, đập xuống khi họ nói hoặc ăn và làm cho họ trông thật đáng sợ đúng như mong muốn của họ.

Nguyên liệu trang trí sẵn có phổ biến nhất là bộ lông của vô số những con chim Nam Mỹ Các bộ lạc khác nhau tạo ra những món đồ tỉ mỉ từ lông chim để làm mũ, vòng hoa đội đầu, băng tay, tấm che ngực hoặc để trang trí mũi tên, lao hoặc trống lúc lắc Một số pháp sư người Tupinamba mặc những chiếc áo choàng màu đỏ tươi được làm từ lông chim Guara Các chiến binh mặc những bộ lông đà điểu lớn xung quanh thân, hầu hết họ đều đội mũ làm

từ lông của loài vẹt đuôi dài Nam Mỹ, được kết nối bằng dây làm từ vỏ cây Những bộ lạc ngày nay ở thượng nguồn sông Xingu đều tự làm ra những chiếc mũ màu đỏ và xanh từ lông của loài vẹt đuôi dài Nam Mỹ hoặc màu trắng từ lông loài cò trắng Những người Ge nói tiếng Chavante và Caiapó thích bộ lông màu vàng và xanh của những con vẹt hoặc màu vàng nâu của những con chim ưng và màu đen nhánh lấp lánh của loài chim curassow

Một phương diện khác thể hiện sự sáng tạo của người da đỏ là nghệ thuật vẽ trên cơ thể Hai màu thực vật phổ biến ở Braxin và vùng ven sông Amazon là : màu đỏ của hạt điều màu (hay hạt điều annatto) và màu đen của hạt genipap Họ cũng sử dụng màu trắng và màu vàng Tuy nhiên, hầu hết các

bộ lạc chuộng màu đen và màu đỏ Những người da đỏ đầu tiên được đoàn tùy tùng của nhà thám hiểm Cabral tìm thấy vào năm 1500, đó là những chiến binh thân thể nhuộm đầy hai màu đen và đỏ, cùng một nhóm thiếu nữ khá khêu gợi Một trong số những cô gái này nhuộm màu đen che đi đùi và mông, những bộ phận còn lại trên cơ thể không nhuộm màu Số khác lại chỉ nhuộm màu ở đầu gối và bắp chân mà không che những vùng nhạy cảm, họ cứ thế hồn nhiên để lộ những khoảng thân thể như thể không tồn tại thứ cảm xúc gọi

là xấu hổ

Trang 30

Ở một số bộ lạc, nếu người da đỏ cùng nhóm tuổi và giới tính với nhau

sẽ vẽ lên cơ thể cho nhau Trong các bộ lạc Xinguano, những người đàn ông

vẽ cơ thể cho nhau trước khi đấu vật Những người phụ nữ Caiapó dùng tay sơn màu của cây genipap lên cơ thể họ và màu hạt điều annatto vào phía dưới khuôn mặt của họ Người Kadiwéu ở phía nam Mato Grosso và người Tirió ở phía bắc Pará thường vẽ hoặc xăm những hình học phức tạp lên mặt những người phụ nữ Một số bộ lạc có những dấu hiệu nhận biết riêng như : vòng tròn trên má của người Karajá, đường kẻ ngang qua hai má của người Cintas Largas hoặc Suruí, sơn màu đen quanh miệng của người Juruna, xăm đường

kẻ thẳng đứng của người Asurini … Người Bororo và một số bộ lạc khác lại tạo ra những mật mã tinh vi trên cơ thể để phân biệt với số còn lại và các thị tộc và các nhóm độ tuổi khác Trong khi đó, những màu sắc và mẫu vẽ của người Yanomani có thể diễn tả tâm trạng hoặc thái độ của họ Các bộ lạc Caiapó khi tiến hành chiến tranh với nhau thường sử dụng phẩm nhuộm màu đen để ngụy trang trong bóng tối trong rừng

Có nhiều loại nhạc cụ như : cây sáo mũi tròn của người Nambikuara; cây sáo quạt, kèn trumpet dài ở thượng nguồn sông Xingu và nhạc cụ hình thoi tựa như hình cánh quạt của người Bororo

Vũ khí của mỗi bộ lạc đều mang những đặc điểm cá nhân riêng, đa dạng trong những chi tiết như : độ dài, mũi và lông của mũi tên, các loại gỗ và hình dạng của cung tên, các thành phần trong nhựa độc tẩm mũi tên, ống thổi của các bộ lạc ở phía bắc sông Amazon, lá chắn tránh lợn biển của người Omagua và các loại bẫy và gậy khác nhau

Đối với người Tupi, thế giới siêu nhiên là có thực, ngay cả khi họ không có một tôn giáo có tổ chức nào Họ cảm thấy mình đang ở giữa những linh hồn hoặc ma quỷ, một bộ phận trong số chúng bảo vệ họ, một số lại làm hại họ Đời sống bộ lạc được bao trùm bởi những truyền thuyết, thần thoại,

Trang 31

những nghi lễ và tín ngưỡng tâm linh Hầu hết những nghi lễ đều liên quan đến lịch nông nghiệp, công việc săn bắn, những cuộc chiến, hoặc các giai đoạn của cuộc sống và mang đậm ý nghĩa về mặt tinh thần Mỗi bộ lạc đều có những pháp sư để kết nối với thế giới siêu nhiên và chữa bệnh cho những người bệnh thông qua niềm tin của họ đối với các thế lực đặc biệt.

Người già rất thích kể cho con cháu họ nghe những truyền thuyết về ông bà, tổ tiên của mình Những người ghi chép biên niên sử ở thế kỷ XVI đã ghi lại những thần thoại trữ tình và những thiên anh hùng ca của người da đỏ

miêu tả như sau: “Họ nói rằng ông không có bắt đầu, cũng không có kết thúc, ông có mặt ở mọi thời điểm Ông chính là người đã tạo ra bầu trời, mặt đất, chim chóc, động vật” Trong một thần thoại, Monan tạo ra lửa, gây lũ lụt để tiêu diệt thế giới trước khi tạo ra những cư dân của người anh hùng có tên là Irin Mage [36; 130]

Trong số những linh hồn độc ác, linh hồn được những người truyền giáo sử dụng để phù hợp với thế giới ma quỷ của họ là Anhan Thevet viết rằng : “Tộc người khốn khổ này thường khổ sở vì những ảo tưởng kỳ quái và

bị bức hại bởi những linh hồn độc ác, những thứ được họ nhìn nhận bằng những cách khác nhau Nó xuất hiện và trừng phạt họ Thỉnh thoảng, chúng tôi nghe thấy tiếng họ khóc một cách kinh hãi suốt đêm, họ cầu cứu chúng tôi, nói bằng ngôn ngữ của họ: “Anh không thấy sao? Anhan đang đánh đập và tra tấn tôi? Cứu tôi với, tôi sẽ làm người hầu hạ cho anh” [36; 130]

Các pháp sư (người Tupi gọi là Pages) là trung gian giữa cộng đồng

người và thế giới siêu nhiên Họ là những người già trong bộ lạc, có thể là đàn ông hoặc phụ nữ, những người có năng lực siêu nhiên đã được chứng minh về khả năng chữa bệnh hoặc đưa ra những lời tiên tri Việc tiên tri hoặc trò

3 () André Thevet (1502 - 1590) : là một tu sĩ dòng Phanxicô, nhà sử học người Pháp

Trang 32

chuyện với thế giới thần linh được thực hiện bằng những nghi lễ phức tạp

Các Pages chủ trì các điệu nhảy và các nghi lễ của bộ lạc, lắc cây bầu có hạt

nổ maraca trên tay cùng với tràng hạt abouai trên chân một cách nhịp nhàng

Chữa bệnh được tiến hành bằng sử dụng khói thuốc lá với việc hút những linh hồn ma quỷ ra khỏi người bệnh hoặc giả vờ nhổ ra một vật gì đó coi như nguyên nhân gây ra bệnh tật Đó là một nghi lễ chữa bệnh cổ điển, được thực

hiện bằng những cách khác nhau trên khắp các vùng Amazon Các Pages

thành công sẽ được tôn sùng và phục tùng tuyệt đối Tuy nhiên, nếu đưa ra những lời tiên tri sai liên tiếp hoặc không chữa khỏi bệnh cho nhiều người, thì

các Pages này sẽ bị mất uy tín và thậm chí phải trả giá bằng mạng sống của

chính mình

Tóm lại, trước khi người Bồ Đào Nha đến chinh phục, các bộ lạc Braxin vẫn còn sống trong tình trạng xã hội nguyên thủy Họ sống bằng săn bắn, hái lượm, dựa vào nguồn tài nguyên động thực vật dồi dào trong rừng

Họ không có sự phân biệt giầu nghèo, phân chia giai cấp, mọi của cải đều là của chung bộ lạc Nhưng giữa các bộ lạc lại thường xuyên gây chiến tranh với nhau để tranh giành đất đai và họ ăn thịt những tù binh bị bắt như là để ghi sâu mối hận thù Họ có đời sống tinh thần phong phú với đồ trang sức và những hình vẽ đặc sắc trên cơ thể Họ tin tưởng vào thế giới thần linh, sự bất

tử của linh hồn và tin rằng những lực lượng này có thể phù hộ hoặc làm hại

họ Tuy nhiên, từ khi người Bồ Đào Nha đến xâm lược, xã hội của họ đã bị phá hủy hoàn toàn

1.2 Quá trình xâm lược Braxin của thực dân Bồ Đào Nha (1500 - 1548)

Từ khi người Bồ Đào Nha phát hiện ra Braxin năm 1500 cho đến khi thành lập được chính quyền Hoàng gia cai trị ở Braxin năm 1549, Bồ Đào Nha đã phải mất gần 50 năm mới khẳng định được quyền sở hữu của mình

Trang 33

với vùng đất rộng lớn Braxin Quá trình này được chia làm 3 thời kỳ : thời kỳ phát hiện ra Braxin (1500 - 1502), thời kỳ hệ thống thương điếm (1502 - 1534), thời kỳ định cư (1534 - 1548).

1.2.1 Thời kỳ phát hiện ra Braxin (1500 - 1502)

Sau khi Vasco da Gama tìm được con đường biển sang Ấn Độ (1497 - 1498), Hoàng gia Bồ Đào Nha cử Pedro Álvares Cabral tiến hành chuyến thảm hiểm tiếp theo tới Ấn Độ Hạm đội của Cabral gồm 13 chiếc tàu đi theo

lộ trình của Gama từ Lisbon qua Canaries đến Cape Verde [35; 5] Nhưng sau khi đi qua quãng đường sóng yên biển lặng, đoàn tàu đã bị đẩy về phía tây do hướng gió và dòng chảy của nam Đại Tây Dương và xuất hiện trước mặt họ là cảnh bờ biển Braxin (ngày nay là Porto Seguro) vào ngày 22 tháng 4 năm 1500

Trong 8 ngày, đoàn thám hiểm đã giành thời gian để nghỉ ngơi và thu xếp cuộc gặp mặt đầu tiên giữa hai nền văn minh, một nền văn minh đang bước sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản, còn một nền văn minh vẫn trong thời kỳ

đồ đá và dân cư đang sống hoang dã trong xã hội nguyên thủy Chi tiết về những liên lạc đầu tiên đã được người ghi chép của hạm đội thám hiểm tên là Pero Vaz da Caminha thuật lại một cách tỉ mỉ trong một bức thư dài gửi đến

: “Giấy khai sinh” của Braxin) Ngày 1 tháng 5 năm 1500, hạm đội của Cabral nhổ neo để tiếp tục đến Ấn Độ Đồng thời, các tàu hỗ trợ hậu cần dưới sự chỉ huy của Gaspar de Lemos được tách ra để mang ngay những tin tức của sự phát hiện “huyền diệu” về cung điện Bồ Đào Nha Đức vua Manuel I (1495 - 1521) lập tức thông báo cho người thân của mình ở Castile là vua Ferdinand

và hoàng hậu Isabella về chuyến thám hiểm và nhấn mạnh giá trị chiến lược

4 () João Capistrano de Abreu (1853 - 1927) : nhà sử học Braxin, chuyên nghiên cứu về thời

kỳ thuộc địa.

Trang 34

của nó đối với Bồ Đào Nha như là một điểm dừng chân của các đội tàu trên đường tới Ấn Độ Nhà vua cũng quyết định tổ chức thêm các đoàn thám hiểm khác trong năm tới để tiếp tục khám phá nhiều hơn về hòn đảo này.

Chuyến thám hiểm thứ hai gồm có 3 chiếc thuyền đã rời Lisbon vào tháng 5 năm 1501 dưới sự chỉ huy của Goncalo Coelho cùng với Amerigo Vespucci (một nhà địa lý hàng hải) Chuyến thám hiểm này đã khám phá và

Roque ở phía bắc đến gần Cananneia về phía nam Tuy vậy, với sự nhạy bén

về mặt thương mại, Vespucci đã không hứng thú với những gì ông nhìn thấy :

“… người ta có thể nói rằng, chúng tôi không phát hiện ra được điều gì mang lại lợi nhuận, ngoại trừ những cây gỗ khô vô tận… và những tuyệt tác thiên nhiên khác, mà nếu miêu tả sẽ trở nên rất buồn tẻ…” [35; 6] Chuyến thám hiểm lần thứ hai này đã không chỉ mang trở về Lisbon những mẫu cây gỗ

chuyến đi này cũng thiết lập nên tuyến đường biển nối liền Bồ Đào Nha với Braxin

1.2.2 Thời kỳ hệ thống thương điếm (1502 – 1534)

Sau các chuyến đi của Cabral và Coelho, người Bồ Đào Nha đã có một bức tranh khá chính xác về quy mô và hình dạng bờ biển Braxin Tuy nhiên, trong ba thập kỷ, Bồ Đào Nha ít quan tâm đối với vùng đất mới được khám phá này Gỗ Braxin là một sản phẩm có thị trường tiềm năng ở châu Âu, nên

Bồ Đào Nha đã nhanh chóng tổ chức các chuyến đi để khai thác gỗ Năm

1502, vua Manuel ủy quyền cho một nhóm các thương gia Lisbon (do Fernão

Trang 35

de Noronha đứng đầu) để tiến hành các hoạt động buôn bán ở Braxin Các thương gia được cấp độc quyền thương mại trong ba năm, với ưu đãi không phải đóng thuế cho nhà vua trong năm đầu tiên, 1/6 lợi nhuận năm thứ hai, ¼ lợi nhuận năm thứ ba Đổi lại, các thương gia đồng ý gửi sáu tàu mỗi năm để

Nhóm đã gửi hai đội tàu đến Braxin Đội tàu thứ nhất do một thuyền trưởng không rõ tên đứng đầu, đã rời Lisbon tháng 8 năm 1502, tới Porto Seguro và trở về Lisbon vào tháng tư năm sau, mang theo gỗ Braxin và một vài người da đỏ Đội tàu thứ hai gồm năm tàu (trong đó Vespucci chỉ huy một tàu), đã rời Lisbon vào ngày 10 tháng 6 năm 1503, đoàn tàu gặp phải thời tiết xấu gần đảo Fernando Noronha Tại đây, tàu của Vespucci cùng một số tàu khác bị đắm, số tàu còn lại tới được Cabo Frio ở Braxin Họ ở lại năm tháng

để xây dựng thương điếm (được quy định trong hợp đồng) và đồn trú với 24 người Tháng sáu năm 1504, hai tàu trở về Lisbon với hàng hóa là gỗ Braxin Lợi nhuận của hai chuyến đi này thì không rõ ràng Nhưng sau khi hết hạn hợp đồng vào năm 1505, nhà vua tiếp tục gia hạn hợp đồng cho nhóm thương gia vào năm 1506 và còn kéo dài đến tận năm 1534, khi vùng đất đai ven biển không còn được dùng làm thương điếm mà dùng vào mục đích định cư

Trong những năm từ 1506 đến 1534, Bồ Đào Nha tiếp tục duy trì hệ thống thương điếm tại các địa điểm chiến lược dọc ven biển Braxin Tuy nhiên, đối với các tàu tư nhân, việc trao đổi buôn bán với người bản địa phải đặt dưới sự bảo trợ của Hoàng gia Năm 1511, con tàu của Breton được cấp phép sang Braxin, nó được tài trợ bởi một nhóm các thương gia, trong đó có Bartolomeu Marchione - một thương gia giàu có người Florentine đã cư trú ở Lisbon Tàu gồm 5 sĩ quan và 31 thủy thủ, đã rời cảng Lisbon vào tháng hai, đến Bahia vào tháng tư Vào tháng năm, con tàu tiến về phía nam để chở cây

7 ( ) 1 dặm = 1,609 km

Trang 36

dyewood tại thương điếm được thiết lập năm 1504 gần Cabo Frio Thương điếm này được đặt trên một hòn đảo ngoài khơi (để đảm bảo an toàn trước các cuộc tấn công của người da đỏ), việc liên lạc giữa thủy thủ và người bản địa

bị nghiêm cấm, chỉ có các nhân viên của thương điếm mới được phép đi lại Người Tupi đã cắt 5000 khúc gỗ dyewood và vận chuyển đến thương điếm [35; 9] Họ được trả công lao động bằng món quà tặng nữ trang và các công

cụ nhỏ Con tàu rời bến vào cuối tháng 7 và đến Lisbon vào cuối tháng 10 cùng năm Lợi nhuận của chuyến đi này không rõ ràng, nhưng nó đã chứng tỏ

có sức hấp dẫn với các thương gia tham gia vào thương mại ở Braxin

1.2.3 Thời kỳ định cư (1534 - 1548)

Năm 1534, Jão III và hội đồng cố vấn Hoàng gia đã thực hiện một chính sách mới, chuyển từ chính sách thương mại sang chính sách định cư Điều này do một số nguyên nhân chính sau :

Thứ nhất, việc mở rộng ngành công nghiệp dệt của châu Âu đòi hỏi

nhiều thuốc nhuộm, mà ở vùng đất mới này có rất nhiều cây gỗ Braxin, sẽ đem lại nguồn lợi nhuận lớn

Thứ hai, người Pháp đã bày tỏ một mối quan tâm lớn ở Braxin Bất

chấp sự độc quyền của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở châu Mỹ, vua Pháp Francis I (1515 - 1547) đã tuyên bố rằng “chưa bao giờ thấy một điều khoản nào trong di mệnh của Adam thừa nhận sự quản lý duy nhất vùng đất này của vua Manoel (Bồ Đào Nha) và Charles (Tây Ban Nha)” [29; 219] Do đó, những chiếc tàu của Pháp đã men theo bờ biển Braxin, khai thác cây dyewood

và cướp bóc tàu thuyền của Bồ Đào Nha Nhiều cuộc đụng độ giữa Bồ Đào Nha và Pháp đã xảy ra Hạm đội của Bồ Đào Nha tấn công Pháp và đặt một đơn vị đồn trú nhỏ ở Pernambuco năm 1521, nhưng Pháp đã đánh lại và phá hủy cảng Pernambuco năm 1530 Những ý định trên của Pháp đã khiến cho

Bồ Đào Nha không thể không quan tâm nhiều hơn đến sự quản lý của mình tại Braxin

Trang 37

Thứ ba, là sự lo lắng không yên của Bồ Đào Nha trước tham vọng của

Tây Ban Nha Xét về nhiều khía cạnh, Tây Ban Nha mạnh hơn Bồ Đào Nha, hơn nữa, quốc gia này đã được thống nhất với những tham vọng của Charles I (1516 - 1556) Đến giữa năm 1520, Tây Ban Nha đã chiếm giữ phần lớn các quần đảo trong vùng biển Carribbean, Hernán Cortés đã xâm lược Mexico và Francisco Pizarro cũng đã thực hiện những hành trình đầu tiên hướng tới Peru Những nhà thám hiểm khác cũng đã mang theo lá cờ của Tây Ban Nha đặt chân tới bờ biển Braxin như Díaz de Solís năm 1516, Magellan năm 1519

và Cabot năm 1526 Như vậy, Tây Ban Nha tại Tân thế giới đang “thuận buồm xuôi gió” và không ai biết rằng khả năng của họ còn tiến xa tới đâu Mặc dù “Bồ Đào Nha đã có một sự bảo đảm chính thức từ hiệp ước Tordesillas, nhưng sự từng trải của Bồ Đào Nha với Castile cũng đã khiến quốc gia này phải thận trọng”[29; 219 - 220]

Thứ tư, đến năm 1510, thương mại của Bồ Đào Nha với Ấn Độ đã suy

giảm dần Trước kia “mỗi hạt hồ tiêu có giá một giọt máu” [29; 220] thì bây giờ thị trường châu Âu đã quá thừa thãi mặt hàng này và giá cả đã giảm xuống Thêm vào đó, thương mại thịnh đạt với Ấn Độ vẫn không thể bù đắp được những khoản ăn tiêu hoang phí của triều đình Bản thân vua Bồ Đào Nha đã phải vay mượn khắp nơi từ những người cho vay nặng lãi châu Âu

Do đó, “sự hứa hẹn của Braxin đã trở nên sáng giá như là một sự tin cậy bên trên một Ấn Độ không thần sắc” [29; 220]

Năm 1530, Martim Affonso de Sousa rời Tagus với 5 chiếc thuyền và

400 người định cư, mất 2 năm để kiểm soát 3000 dặm bờ biển từ Maranhão tới Rio Grande do Sul Ông đã tịch thu được một số tàu thuyền của Pháp, chiếm giữ pháo đài của Pháp ở Pernambuco Năm 1532, ông thành lập São Vicente (gần Santos hiện nay) khu định cư đầu tiên của người Bồ Đào Nha ở Braxin [29; 220]

Trang 38

Năm 1534, nhà vua Bồ Đào Nha ban cấp đất đai ở Braxin cho 12 đội

bản thân tại phương Đông như : Duarte Coelho, Francisco Coutinho, hoặc các quan lại bao gồm cả nhà sử học João de Barros Những người được ban cấp đều có mối liên hệ mật thiết với Hoàng gia, đặc biệt là với Antonio de Ataide,

người quản lý kho bạc của Hoàng gia (Vedor da Fazenda), là người điều phối

trực tiếp các doanh nghiệp thuộc địa của Bồ đào nha

captaincy có 2 phần và 2 người nhận được 2 captaincy) từ sự ban cấp của

Hoàng gia [35; 13] (xem Phụ lục 1) Mỗi captaincy gồm một dải đất từ 25 đến

giới do Hiệp ước Tordesillas đặt ra [29; 220] Về bản chất của hệ thống

captaincy, Duarte Coelho (người được ban cấp captaincy Pernambuco) sẽ

minh họa rõ ràng nhất cho các donatary còn lại.

Về quyền hạn của Coelho, chức vụ của ông có quyền thừa kế cho con cháu, họ hàng của ông Ông có quyền bổ nhiệm tất cả các viên công chứng,

thư ký và các quan chức cấp dưới trong captaincy do ông quản lý Ông và các

quan chức của ông được trao các quyền pháp lý và dân sự quan trọng nhất trừ các trường hợp và cá nhân có quyền hạn lớn hơn thuộc về Hoàng gia Ông cũng được trao quyền thành lập các thị trấn và giám sát bầu cử các quan chức Ngoài những quyền hạn pháp lý, Coelho còn là hầu tước sở hữu 10 dặm bờ biển Để thu hút người tới định cư, phần còn lại của vùng đất, ông chia cho

8 () đội trưởng : còn gọi là donatary hoặc donatario : người được nhà vua ban cấp cho đất

đai

9 () captaincy : vùng đất được nhà vua ban cấp cho donatary

10 () 1 dặm = 1,609 km

Trang 39

những người đi khai hoang toàn quyền sở hữu và chỉ có nghĩa vụ nộp thuế thập phân cho nhà thờ.

Về nghĩa vụ với nhà vua, Coelho có trách nhiệm nộp thuế cho Hoàng gia, bao gồm : thuế 1/10 được đánh vào cái mà người khai hoang đánh bắt được, 1/10 doanh thu trong quản lý và 1/20 lợi nhuận từ khai thác gỗ Các

khoản thuế này do donatario lưu giữ và được nhà vua quản lý trực tiếp Tuy

nhiên, những khoản đóng này không phân biệt được với các khoản tài trợ tương tự của chính quyền Hoàng gia từ Bồ Đào Nha

Về quyền lực của nhà vua : trong thư gửi cho các đội trưởng, nhà vua

bổ sung thêm một loại tiểu thể chế (foral) quy định cho các captaincy Thư

này giải thích chi tiết về mối quan hệ giữa người định cư và đội trưởng, cũng như các quyền của nhà vua Theo tiểu thể chế, nhà vua miễn cho những người định cư các loại thuế Hoàng gia Nhưng nhà vua vẫn giữ lại độc quyền kinh doanh gỗ dyewood trước đó, cũng như quyền thu thế 1/10 khi đánh bắt cá, 1/5 khi khai thác khoáng sản và 1/10 về thương mại Thương mại được mở cửa cho cả người Bồ Đào Nha và người nước ngoài Tuy nhiên, chỉ có đội trưởng

và người dân Bồ Đào Nha được phép giao thương với người Indian Cuối cùng, nhà vua đã phục quyền bổ nhiệm trực tiếp các quan lại liên quan tới

việc thu thuế trong captaincy.

Chỉ có 10 trong số các captaincy tổ chức định cư thành công ở thế kỷ XVI Hai captaincy (Ceara và Santana) bị bỏ rơi Trong số 10 captaincy được định cư, chỉ có 2 captaincy (Sao Vicente và Pernambuco) thực sự thành công trước năm 1550, 5 captaincy thành công vừa phải (Santo amaro, Itamaraca, Espirito santo, Porto seguro, Ilheus) Trong khi đó, 3 captaincy còn lại nhanh

chóng thất bại hoàn toàn (Sao Tome, Maranhao-Rio Grande và Bahia) [35;

16] (xem Phụ lục 1) Sự thành công của các captaincy phụ thuộc vào khả

Trang 40

năng của các donatary trong việc thu hút được người tới định cư, vốn tư bản

cần thiết và chinh phục được người da đỏ địa phương

Để thu hút được người tới định cư không phải là điều dễ dàng Dân số của Bồ Đào Nha vào những năm 30 của thế kỷ XVI ước tính không quá 1,5 triệu người sinh sống rải rác trên diện tích 34.200 dặm vuông (0,40 - 4 người/dặm vuông) [35; 16] Việc không có quá nhiều áp lực di cư đã khiến cho những người định cư thường được tìm kiếm trong số những quan lại bị

cách chức (degredados), những kẻ lưu vong, tội phạm chính trị và tội phạm

thông thường Nhìn chung, họ không mong muốn di cư và nhiều đội trưởng

đã phải kêu ca về họ, đôi khi là chua chát Coelho gọi họ là “thuốc độc” và thay vào đó đã cố gắng thu hút những nông dân từ vùng đất sở hữu riêng của ông ở Minho Thiếu vốn cũng là một khó khăn khác dẫn tới thất bại Một số đội trưởng có sự hậu thuẫn tài chính tốt như : Pero de Góis (Sao Tome) được

sự hỗ trợ của Martin Ferreira, là một thương gia Lisbon; trong khi Coelho có mối liên hệ với thương nhân Florentine và Jorge de Figueiredo Correia (Illheus) được sự giúp đỡ của gia đình Giraldi, một gia đình thương nhân người Ý định cư ở Lisbon Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không phải đến từ người Bồ Đào Nha di cư sang vùng đất mới, mà nằm ở sự thù địch của người Tupi vùng ven biển và người Indian nói tiếng Gê

Trong thời kỳ thương điếm (1502 - 1534), mối quan hệ giữa người Bồ Đào Nha với người da đỏ rất tốt đẹp Người da đỏ cung cấp lao động cần thiết

để chặt và vận chuyển gỗ lên các tàu của Bồ Đào Nha, cung cấp thức ăn cho các nhân viên thương điếm Đổi lại, người Bồ Đào Nha tặng họ các công cụ

để làm tăng năng suất nền kinh tế truyền thống của họ Nhưng từ khi người

Bồ Đào Nha tới định cư, mối quan hệ giữa người Bồ Đào Nha với người da

đỏ đã bị rạn nứt và tình hình đã thay đổi

Ngày đăng: 02/04/2017, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w