Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Trong luận án này, các kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ các chiềucạnh của lý thuyết, từ lý thuyết hành động xã hội nhằm nhận diện các động
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫnkhoa học của PGS.TS Vũ Cao Đàm và PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, đảm bảo tínhkhách quan, khoa học, dựa vào kết quả khảo sát thực tế Các tài liệu tham khảo đều
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Cao Đàm và PGS.TSNguyễn Thị Kim Hoa đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thựchiện luận án này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học và Ban GiámHiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong công việc để tôi có thể tập trung hoàn thành luận án
Tôi cũng xin cảm ơn UBND các phường Phan Chu Trinh và phường Hàng
Mã (thuộc quận Hoàn Kiếm), xã Liên Bạt và xã Cao Thành (thuộc huyện ỨngHòa), và các bác tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn cùng các cô, các chị công nhân
vệ sinh môi trường tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội đã
hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập các thông tin và số liệu cho luận án
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các anh chị đồngnghiệp đã luôn khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vàthực hiện luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Kim Nhung
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
i” và “mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải”
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
9
Hình 4 1: Sơ đồ về mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hoạt động QLRT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quy luật tất yếu trong quá trình phát triển đô thị của mỗi quốcgia Dân số đô thị ngày một tăng nhanh, ước tính chiếm tới 70% tổng số dân trêntoàn thế giới vào năm 2050 [Shen và cộng sự, 2011] Quá trình đô thị hóa diễn ramạnh mẽ đã dẫn tới nhiều hệ quả kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và môi trườngđối với khu vực đô thị nói riêng và tình hình phát triển chung của mỗi quốc gia Đôthị hóa một mặt đã đem tới sự phát triển và diện mạo mới cho cơ cấu kinh tế vùng,các loại hình công việc và dịch vụ mới, thay đổi phương thức sản xuất; mặt khác,cũng tạo ra nhiều vấn đề như thất nghiệp hay tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” trongcác khu đô thị hiện nay Về phương diện xã hội, đô thị hóa đã tạo ra một số nhữngthay đổi liên quan đến các vấn đề như: cơ sở hạ tầng thiếu thốn, tắc nghẽn giaothông đô thị, thiếu việc làm cho người lao động, vấn đề nhà ở và các tiện nghi vệsinh, bất bình đẳng trong xã hội đô thị, các tệ nạn xã hội, khoảng cách giữa nôngthôn-đô thị [Trịnh Duy Luân, 2005, tr 81-82] Đối với môi trường đô thị, quá trình
đô thị hóa đã dẫn tới ô nhiễm không khí, đất, nước, tiếng ồn, hay nhiều nhà caotầng mọc lên thay cho công viên và cây xanh Một trong những vấn đề của môitrường đô thị dưới tác động của đô thị hóa là quá trình quản lý rác thải đô thị cònchưa hiệu quả và thiếu tính bền vững
Hoạt động quản lý rác thải là một quá trình liên tục, từ phân loại rác thải tạinguồn, thu gom, tập kết, vận chuyển đến quá trình xử lý, tái chế và tái sử dụng rác.Hoạt động này có thể được xem xét ở các chiều cạnh như: (1) chiều cạnh các bênliên quan (stakeholders), bao gồm: chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ,người sử dụng dịch vụ, khu vực tư nhân phi chính thức, khu vực tư nhân chính thức
và các tổ chức quyên góp, hỗ trợ; (2) chiều cạnh các nhân tố của hệ thống quản lýrác thải gồm: sự phân loại, thu gom, chuyển giao vận chuyển, xử lý, hay giảm thiểurác thải, tái sử dụng và tái chế rác; (3) chiều cạnh các yếu tố kỹ thuật, tài chính/kinh
tế, văn hóa/xã hội, thể chế, chính trị/chính sách/luật pháp [Hoffman&Muller,
Trang 92001] Như vậy, trong các chiều cạnh khi xem xét hoạt động quản lý rác thải đô thịhiện nay, vai trò và sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động này là mộtvấn đề cần đưa vào khung phân tích.
Sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan là một trong những bìnhdiện của hoạt động quản lý rác thải Sự tham gia của người dân và cộng đồng tronghoạt động quản lý rác thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm yếu tố chủquan của người tham gia và các yếu tố khách quan thuộc về môi trường tự nhiên và môitrường xã hội Vì thế, để đảm bảo tính bền vững trong quá trình quản lý rác thải, bêncạnh những vấn đề kinh tế-tài chính, kỹ thuật, thể chế-chính sách, thì yếu tố “sự thamgia của người dân” cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có những giải pháp hiệuquả cho quá trình quản lý rác thải nói chung Phát huy sự tham gia của người dân cũng
là đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân có quyền bình đẳng như nhau khi đưa ra các ýkiến và đánh giá về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ Có như vậy,mục tiêu dân chủ và phát triển bền vững xã hội trong chiến lược phát triển của mỗi quốcgia mới được đảm bảo
Thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của cả nước cũng mangnhiều đặc điểm của các đô thị khác trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia đang pháttriển Dân số Hà Nội tăng nhanh dẫn đến những vấn đề về lao động – việc làm, khoảngcách giàu-nghèo và các vấn đề về môi trường, trong đó phải kể đến sự gia tăng của
lượng rác thải và các loại hình rác thải Mỗi ngày Hà Nội phát sinh 5.370 tấn chất thải
rắn sinh hoạt, trong đó ở khu vực các quận, thị xã là 3.200 tấn, trên địa bàn cáchuyện là trên 2.000 tấn mỗi ngày [Thụy Anh, 2014] Tuy nhiên, hoạt động quản lýrác thải còn gặp nhiều khó khăn do các vấn đề về trang thiết bị, kỹ thuật xử lý, nguồnlực tài chính và ý thức tham gia của cộng đồng [Nguyen Phuoc Dan&Nguyen TrungViet, 2009], [Nguyen Phuc Thanh cùng cộng sự, 2010] Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìnthấy những hình ảnh người dân xả rác, đổ rác không đúng nơi quy định, hoặc người dânkhông kịp đổ rác vào khung giờ quy định của Công ty vệ sinh môi trường, v.v Câu hỏiđặt ra là vì sao người dân có những hành vi vi phạm vệ sinh môi trường trong quản lýrác thải mặc dù họ biết các nội quy và quy định này Phải chăng sự tham gia của ngườidân vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách còn tồn tại những hạn chế và không
có hiệu quả? Trước thực tế này, để giảm thiểu lượng rác thải trên địa bàn thành phố, bêncạnh những giải pháp kỹ thuật, công nghệ xử lý, cần có những giải pháp mang tính xã
Trang 10hội, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của người dân và các bên liên quan trong hoạt độngquản lý rác thải Bởi lẽ, thái độ và hành vi cũng như cách ứng xử của người dân với môitrường sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường sống của chính họ
và tính bền vững của môi trường tự nhiên Những hành vi và cách ứng xử của người dânđối với hoạt động quản lý rác thải chính là biểu hiện cho sự tham gia từ phía cộng đồng
Vì thế, tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng chính là tìm hiểu các hành vi và cách ứng xửcủa cộng đồng đối với các quá trình phân loại, thu gom đến vận chuyển và xử lý rácthải Các giải pháp tiếp cận từ dưới lên trên (bottom-up) sẽ mang tính bền vững và lâudài hơn, đồng thời cũng là nhằm thực hiện mục tiêu dân chủ và phát triển bền vững,trong đó đề cao quyền lực công dân, đảm bảo cho các tầng lớp dân cư trong xã hội cótiếng nói bình đẳng như nhau trong quá trình xây dựng và thực thi các quyết định cóliên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ
Với những lý do trên đây, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị” (nghiên cứu
trường hợp quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, Hà Nội) làm đề tài luận án tiến sĩ củamình
1.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong luận án này, các kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ các chiềucạnh của lý thuyết, từ lý thuyết hành động xã hội nhằm nhận diện các động cơ vàyếu tố chi phối hành vi môi trường của cá nhân, đến lý thuyết cạnh tranh chức năngmôi trường và lý thuyết phát triển bền vững giúp phát hiện các rủi ro, xung độttiềm ẩn và thách thức trong quá trình huy động sự tham gia của cộng đồng trongquản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị Đồng thời, từ chiều cạnh phântích sự tham gia như một quá trình trao quyền cho người dân, luận án đối chiếu và
so sánh với các thang bậc đo lường sự tham gia của Arnstein (1969) và Choguill(1996), từ đó rút ra kết luận về cấp độ tham gia của người dân đô thị trong quátrình quản lý rác thải Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích và minh chứng rõ thêmđối tượng nghiên cứu của bộ môn xã hội học môi trường, bổ sung và làm phongphú bằng những chứng cứ thực nghiệm cho lý thuyết xã hội học môi trường
Về mặt thực tiễn, luận án sẽ cung cấp cho các nhà quản lý và những ngườihoạch định chính sách một bức tranh khái quát về hoạt động quản lý rác thải tại đôthị hiện nay Những dữ liệu thu thập được về sự tham gia của nhóm chủ thể thải rác
Trang 11cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nhóm này sẽ là cơ sở để cácnhà quản lý có các giải pháp về mặt chính sách có hiệu quả hơn nhằm phát huyđược quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời cũng huy động được sự tham gia chủđộng và tích cực hơn từ phía cộng đồng trong các hoạt động của quá trình quản lýrác thải đô thị
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Luận án sẽ cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng quản lý rác thảihiện nay ở đô thị và sự tham gia của người dân trong hoạt động này, từ đó đề xuấtnhững giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân, hướng tới thực hiện mụctiêu phát triển bền vững đô thị
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá tình hình quản lý rác thải của Hà Nội, tại quận Hoàn Kiếm vàhuyện Ứng Hòa, tập trung vào ba hoạt động phân loại rác tại nguồn, thu gom và xử
- Đề xuất những giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạtđộng quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo pháttriển bền vững đô thị
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Đoàn thể xã hội - Công nhân VSMT
- Người thu mua phế liệu
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian:
Trang 12Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8/2008, Hà Nội hiện naygồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành Việc tiến hành nghiên cứu toàn bộcác quận và huyện ngoại thành Hà Nội là một việc làm không khả thi đối với một
cá nhân khi thực hiện một công trình nghiên cứu, do những hạn chế về nguồn lực,
vật lực và tài chính Vì thế, tác giả lựa chọn nghiên cứu trường hợp Hai địa bàn
nghiên cứu được tác giả lựa chọn là quận Hoàn Kiếm (đại diện cho khu vưc nộithành) và huyện Ứng Hòa (đại diện cho khu vực ngoại thành) Quận Hoàn Kiếm làquận trung tâm của khu vực nội thành, với những đặc trưng về lối sống, văn hóacủa người dân gốc Hà thành trong các khu phố cổ, bên cạnh những đặc điểm kinh
tế tập trung dân cư buôn bán, kinh doanh với mật độ dân cư khá đông Trong quậnHoàn Kiếm, tác giả lựa chọn phường Hàng Mã và phường Phan Chu Trinh làmđiểm nghiên cứu Trong đó, phường Hàng Mã đại diện cho khu phố cổ Hà Nội, cònphường Phan Chu Trinh là một trong những phường nội thành được chọn điểmthực hiện dự án phân loại rác thải 3R của thành phố
Đối với huyện Ứng Hòa là địa phương ngoại thành đầu tiên được thành phốchọn làm thí điểm cho hoạt động phân loại và thu gom rác thải sinh hoạt Trong địabàn huyện, tác giả lựa chọn xã Cao Thành (thôn Cao Lãm), một xã có trình độ dântrí cao, người dân làm nông nghiệp không nhiều mà chuyển qua làm công ty, hoặccác loại hình phi nông nghiệp, hiệu quả thu gom rác thải và công tác vệ sinh môitrường được đánh giá khá cao; và xã Liên Bạt (thôn Lưu Khê) có trình độ dân tríthấp hơn, công việc chủ yếu là chăn nuôi, trồng trọt và nông nghiệp, công tác vệsinh môi trường ở thôn còn nhiều hạn chế
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 5
năm, từ năm 2009 đến 2014
- Phạm vi nội dung
Hoạt động quản lý rác thải là một hoạt động tổng hợp nhiều quy trình, baogồm phân loại rác, thu gom rác, vận chuyển rác, xử lý và tái chế rác Trong luận ánnày, tác giả tìm hiểu sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải.Nhận thấy, để tìm hiểu sự tham gia của người dân, cần lựa chọn các hoạt động vàquá trình mà vai trò của người dân thể hiện rõ nhất, gồm các quy trình phân loại,thu gom và xử lý rác thải Vì thế, khi phân tích sự tham gia của người dân như
Trang 13thông qua cách người dân hành xử với môi trường, tác giả tiến hành phân tích cáchngười dân phân loại, thu gom và xử lý rác thải.
Về chủ thể tham gia hoạt động quản lý rác thải, tác giả nhận thấy hoạt độngnày cần huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan, như chính quyền, các đoànthể xã hội, tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ, nhóm công ty môi trường vànhóm hộ gia đình Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung phân tích sự tham gia của nhómchủ thể thải rác – các hộ gia đình với đại diện là các cá nhân Người dân được đặt ở
vị trí trung tâm trong bức tranh quản lý rác thải đô thị, trong khi đó các bên liênquan khác được xem như những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nhóm ngườidân (hộ gia đình)
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Hoạt động quản lý rác thải được thực hiện thế nào tại
quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Người dân quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa đã
tham gia vào quá trình quản lý rác thải đô thị theo những hình thức nào? Có sựkhác biệt về mức độ tham gia giữa các nhóm xã hội khác nhau hay không?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ tham gia
của người dân trong hoạt động quản lý rác thải?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hoạt động quản lý rác thải ở quận Hoàn Kiếm và
huyện Ứng Hòa có sự khác nhau về cách thức phân loại, thu gom, xử lý rác thải vàđặc điểm xã hội của thành viên đội thu gom rác do sự khác biệt về điều kiện pháttriển kinh tế - xã hội và các đặc trưng về lối sống và không gian
Giả thuyết nghiên cứu 2: Người dân tham gia vào quá trình quản lý rác thải
đô thị theo hình thức trực tiếp và gián tiếp, biểu hiện ở các mức độ khác nhau.Người dân thuộc các nhóm xã hội khác nhau thì khác nhau về mức độ tham gia,trong đó những cá nhân thuộc các gia đình có người làm quản lý đoàn thể xã hội,
và chính quyền có mức độ tham gia cao hơn các cá nhân khác Nữ giới và ngườinghỉ hưu là những nhóm xã hội có mức độ tham gia cao
Giả thuyết nghiên cứu 3: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của
người dân trong hoạt động quản lý rác thải, trong đó các yếu tố cá nhân như nghề
Trang 14nghiệp, giới tính và các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải, gồm chínhquyền và nhóm công nhân vệ sinh môi trường có mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếpđến mức độ tham gia của người dân
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình xây dựng đề cương luận án và thực hiện phần tổng quan lịch
sử nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp những tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khácnhau Những tài liệu này tập trung vào 3 chủ đề chính, đó là (i) hoạt động quản lýrác thải đô thị, (ii) sự tham gia của cộng đồng và (iii) mục tiêu phát triển bền vững
đô thị Khoa Môi trường (trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia HàNội), Thư viện Quốc gia, đặc biệt là bộ dữ liệu tìm kiếm tài liệu Proquest và thưviện Đại học Quốc gia Hà Nội là các địa chỉ mà tác giả tìm kiếm và tổng hợp tàiliệu Bên cạnh đó, để phục vụ đề tài, tác giả còn khai thác thông tin từ các báo cáotổng hợp tình hình kinh tế - xã hội của xã/phường, báo cáo tổng kết công tác quản
lý nhà nước (trong đó có công tác vệ sinh môi trường) của các phường, báo cáo xâydựng đề án Nông thôn mới của UBND huyện Ứng Hòa, và số liệu thống kê mứcsống trên địa bàn dân cư huyện Ứng Hòa
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân được thực hiện với 3 nhóm đối tượng:người dân, nhóm chính quyền (tổ trưởng tổ dân phố/trưởng thôn, cán bộxã/phường), nhóm công nhân vệ sinh môi trường/ đội thu gom Kết quả là tác giả
đã tiến hành được 26 phỏng vấn sâu cá nhân, bao gồm: 14 người dân, 3 tổ trưởng tổdân phố/trưởng thôn, 5 cán bộ xã/phường, 3 công nhân VSMT/đội thu gom, 1người thu mua phế liệu Mỗi nhóm xã hội có nội dung khai thác thông tin khácnhau
(i) Đối với nhóm người dân: tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạtđộng phân loại, thu gom và xử lý rác thải của người dân và quá trình ra các quyếtđịnh rác thải tại khu vực sinh sống của người dân
(ii) Đối với nhóm chính quyền, bên cạnh việc tìm hiểu sự tham gia củachính quyền trong hoạt động quản lý rác với tư cách là một thành viên của cộngđồng, tác giả còn tìm hiểu quá trình ban hành các quyết định liên quan tới vấn đềquản lý rác thải (thu phí vệ sinh) và sự tham gia của các thành viên trong chính
Trang 15quyền cấp xã/phường và nhóm tổ trưởng tổ dân phố/trưởng thôn trong quá trìnhtuyên truyền, vận động người dân tham gia phân loại, thu gom và xử lý rác thảingười dân
(iii) Đối với nhóm công nhân VSMT/đội thu gom, từ góc độ của ngườicung cấp dịch vụ thu gom rác thải, tác giả tìm hiểu quá trình thực hiện thu gom rác
và đánh giá của nhóm này về mức độ thực hiện đầy đủ các quy định về thu gom rácthải của người dân
(iv) Đối với người thu mua phế liệu, tìm hiểu vai trò của người thu mua phếliệu trong hoạt động phân loại rác thải đô thị hiện nay,và nhận thức của nhómngười này về thái độ của người dân đô thị đối với nhóm nhập cư khi tham gia quản
lý rác thải đô thị
5.3 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung được thực hiện tại phường Hàng Mã,phường Phan Chu Trình (quận Hoàn Kiếm) và xã Liên Bạt (huyện Ứng Hòa)
Tại xã Liên Bạt, thành phần tham gia thảo luận nhóm là những người dântrong thôn, có đặc điểm nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng (thôn Lưu Khê là thôn
có tỷ lệ làm nông nghiệp nhiều hơn so với các thôn khác của xã Liên Bạt) Các nộidung được đưa ra trao đổi trong cuộc thảo luận nhóm gồm: (i) những vấn đề môitrường trên địa bàn thôn, thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rác thải tại thôn,(ii) hoạt động của đội thu gom rác, quá trình thành lập đội thu gom rác trong thôn,(iii) đánh giá của người dân về ý thức của cộng đồng trong công tác bảo vệ môitrường, thực hiện thu gom rác thải đúng quy định, (iv) vai trò của ban lãnh đạothôn/chính quyền xã đối với công tác môi trường nói chung và hoạt động thu gomrác thải nói riêng, và (v) những giải pháp từ phía cộng đồng nhằm nâng cao ý thức
và sự tham gia tích cực của người dân trong hoạt động thu gom rác thải, đảm bảogiữ gìn vệ sinh môi trường trong thôn
Tại phường Phan Chu Trinh, tác giả thực hiện thảo luận nhóm đối với nhómphụ nữ Sở dĩ tác giả thực hiện thảo luận nhóm đối với nhóm phụ nữ bởi hai lý do.Thứ nhất, trong quan niệm của nhiều người, phụ nữ thường có vai trò và sự thamgia trong các hoạt động về quản lý rác thải nhiều hơn nam giới Thứ hai, tại phườngPhan Chu Trinh, nơi được thành phố chọn làm phường thí điểm thực hiện dự án3R, Hội phụ nữ là đoàn thể tham gia từ đầu và tích cực hơn các đoàn thể xã hội
Trang 16khác Nội dung được đưa ra trong quá trình thảo luận gồm: (i) Quá trình thực hiện
dự án 3R Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình huy động người dân thamgia thực hiện dự án Những nguyên nhân khiến cho tính bền vững của dự án khôngcao Các giải pháp nâng cao hiệu quả của dự án, nếu dự án tiếp tục được triển khai
và nhân rộng, (ii) Ý thức của người dân trong phường đối với hoạt động phân loại
và thu gom rác thải (iii) Vai trò của các đoàn thể xã hội, đặc biệt là Hội phụ nữtrong việc tăng cường, vận động sự tham gia của người dân trong các hoạt độngphân loại và thu gom rác thải, giữ gìn vệ sinh môi trường nói chung
Tại phường Hàng Mã, tác giả thực hiện thảo luận nhóm với nhóm ngườidân, tập trung tìm hiểu các vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân trongkhu dân cư, ý kiến đánh giá của người dân về việc hình thành tổ thu gom rác củaphường, hoạt động của tổ thu gom rác của phường, ý thức của người dân trong khudân cư về hoạt động thu gom rác đúng quy định và quá trình người dân tham giaquyết định việc đóng phí vệ sinh để thuê người quét dọn khu tập thể
(iii) Những yếu tố thúc đẩy và cản trở sự tham gia của người dân trong hoạtđộng quản lý rác thải;
Tổng số đơn vị trong mẫu khảo sát: 417, trong đó quận Hoàn Kiếm: 204đơn vị, và huyện Ứng Hòa: 213 đơn vị
Cách chọn mẫu: chọn mẫu cụm kết hợp mẫu ngẫu nhiên
Trang 17Bước 1: Tác giả lựa chọn xã Cao Thành và Liên Bạt làm điểm nghiên cứutrường hợp cho huyện Ứng Hòa, trong đó chọn cụm thôn Cao Lãm (thuộc xã CaoThành) và cụm thôn Lưu Khê (thuộc xã Liên Bạt) Đối với quận Hoàn Kiếm, tácgiả chọn phường Hàng Mã (tuyến phố Lý Nam Đế, Hàng Lược) và phường PhanChu Trinh (tuyến phố Lê Thánh Tông, Hàm Long)
Bước 2: Thống kê số lượng các hộ gia đình trong từng thôn, và ở các tuyếnphố Tại từng thôn, tiến hành bước chọn k = N/n Kích thước mẫu dự kiến là n =
100 Đối với thôn Cao Lãm, kết quả thu được từ điều tra dân số (thời điểm tháng3/2013) chỉ ra tổng số hộ dân N = 367 hộ, n = 100 hộ -> k = N/n = 3 Đối với thônLưu Khê, N = 336 hộ, n = 100 hộ -> k = N/n = 3 Như vậy, cứ cách 3 hộ, tác giảlựa chọn 1 hộ, mời đại diện hộ gia đình tham gia trả lời bảng hỏi Cách làm nàyđược thực hiện tương tự ở các tuyến phố thuộc phường Hàng Mã (phố Lý Nam Đế
và Hàng Lược) và phường Phan Chu Trinh (phố Lê Thánh Tông và Hàm Long), tácgiả cũng thống kê số lượng các hộ gia đình để tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên Kếtquả điều tra dân số tại thời điểm (tháng 3/2013) cho thấy, tổng số hộ dân trên tuyếnphố Lý Nam Đế và Hàng Lược N = 644 hộ, n = 100 -> k = N/n = 6, ở phố LêThánh Tông và Hàm Long có N = 393 hộ, n = 100 -> k = N/n = 3 Nhưng, trongquá trình tiếp cận đối tượng khảo sát, nhiều hộ gia đình đi vắng, hoặc có những hộgia đình đăng ký hộ khẩu nhưng không sinh sống ở đó, dẫn đến những khó khăncho việc thu thập đủ dung lượng mẫu Đồng thời, những người không sinh sốnghoặc đi vắng không thể đưa ra các thông tin phản ánh đúng thực tế về hoạt độngphân loại và thu gom rác thải tại khu dân cư Điều này ảnh hưởng tới chất lượngcủa cuộc điều tra Vì thế, tác giả tiến hành phỏng vấn theo cách lấy mẫu thuận tiện,lựa chọn các hộ gia đình sinh hoạt và tham gia quản lý rác thải tại các tuyến phố
Khi tiến hành phỏng vấn, ngoài dung lượng mẫu đã chọn n = 100, ngườinghiên cứu bổ sung thêm đơn vị khảo sát trong mẫu Số đơn vị mẫu dự trữ được bổsung để tránh trường hợp những hộ gia đình đã được lựa chọn trong khung chọnmẫu không thể tham gia điều tra Vì thế, tổng số dân được điều tra là 213 người(huyện Ứng Hòa) và 204 người (quận Hoàn Kiếm)
Trang 18Bảng 1: Cơ cấu mẫu của cuộc khảo sát STT Tiêu chí
Q.Hoàn Kiếm H.Ứng Hòa
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng Tỷ lệ %
47,552,5
87126
40,859,2
0,52,58,024,49,549,36,0
125896612190
0,511,84231,15,79,00,0
20,222,234,822,7
12489952
5,722,746,924,6
29,94,92,527,94,430,4
20401312234
9,51,9062,110,416,1
6 Khung phân tích
Dưới tác động của quá trình đô thị hóa nhanh, lượng rác thải ngày càng tăng
về số lượng và thành phần trong khi các công cụ, kỹ thuật chưa đáp ứng được côngtác thu gom và xử lý dẫn đến những vấn đề nảy sinh trong hoạt động quản lý rácthải đô thị Sự tham gia của người dân là một trong những chiều cạnh của hoạt
Trang 19Nhận thức, tâm lý, nhu cầu/giá trị, và yếu tố nhân khẩu xã hội
Quá trình đô thị hóa
động quản lý rác thải, được phân tích dưới hai bình diện Một là sự tham gia vào
quá trình trực tiếp xử lý rác thải tại khu dân cư Hai là sự tham gia vào quá trình
gián tiếp xử lý rác thải, gồm: đóng phí vệ sinh, tuyên truyền, vận động, kiểm tra,
giám sát và quá trình người dân thảo luận bàn bạc khi ra các quyết định môi trường
tại khu dân cư Mức độ tham gia của người dân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
chủ quan và khách quan, trong đó các yếu tố chủ quan là nhận thức, tâm lý, nhu
cầu và yếu tố nhân khẩu xã hội của chính người dân Các yếu tố khách quan là các
thiết chế như chính sách, quy định, truyền thông và các bên liên quan trong hoạt
động quản lý rác thải đô thị
7 Đóng góp của luận án
Kết quả của luận án là cơ sở dữ liệu mô tả sự tham gia của người dân trong
hoạt động quản lý rác thải đô thị Những đóng góp mới của luận án được thể hiện ở
những điểm sau:
Trang 20Thứ nhất, so với các công trình nghiên cứu đi trước, luận án không chỉ mô tả
thực trạng người dân thực hiện phân loại, thu gom và xử lý rác, mà còn bổ sung cácbình diện khác của sự tham gia, đó là các hoạt động gián tiếp, như đóng phí vệsinh, kiểm tra/giám sát, tuyên truyền, vận động và đóng góp ý kiến trong quá trình
ra quyết định,
Thứ hai, nhận diện các yếu tố tác động đến mức độ tham gia của người dân,
gồm các yếu tố thuộc về chủ quan người dân và các yếu tố khách quan Phân tíchvai trò của các yếu tố trong quá trình thúc đẩy và hạn chế sự tham gia của ngườidân, và mối quan hệ giữa các yếu tố này
Thứ ba, đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham
gia của người dân trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.Các kết quả về sự tham gia của người dân cũng được thảo luận trong các chiềucạnh phát triển bền vững kinh tế - xã hội và môi trường đô thị
Thứ tư, các kết quả của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ đối tượng nghiên
cứu của xã hội học môi trường, gồm mối quan hệ con người và môi trường tựnhiên, và mối quan hệ con người và con người trước các vấn đề môi trường
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, luận án gồm 4chương nội dung và 10 tiết Cụ thể, các chương trong luận án trình bày những nộidung sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Chương này trình bày kết quả của những công trình nghiên cứu đi trước trên thếgiới và ở Việt Nam về vấn đề quản lý rác thải đô thị và sự bền vững đô thị Từ đó,tác giả phát hiện khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn mà các công trình nghiêncứu đi trước chưa giải quyết được, và mở ra các hướng nghiên cứu mới trong lĩnhvực này
Chương 2: Cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đô thị Chương này trình bày các khái niệm công cụ và lý thuyết
vận dụng trong nghiên cứu quản lý rác thải đô thị Bên cạnh đó, bối cảnh kinh tế
-xã hội, đặc biệt tác động của đô thị hóa đến vấn đề quản lý rác thải đô thị cũngđược đề cập trong chương này
Trang 21Chương 3: Thực trạng tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đô thị, có hai nội dung chính, gồm (i) giới thiệu khái quát hoạt động quản lý
rác thải đô thị tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, và (ii) mô tả sự tham giacủa người dân vào quá trình trực tiếp và gián tiếp xử lý rác thải tại khu dân cư
Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị Chương này sẽ
nhận diện các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân, phântích, đánh giá các yếu tố và mối quan hệ của các yếu tố; và thảo luận các phân tíchtrong ba chiều cạnh của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI
Sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý rác thải đô thị là một trongcác chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích Thực hiện quản lý rácthải hiệu quả và đảm bảo sự tham gia bình đẳng giữa các nhóm xã hội trong quátrình xử lý rác thải là những tiêu chí về bền vững môi trường và xã hội Trên thếgiới và ở Việt Nam hiện nay, vai trò của người dân và các bên liên quan trong hoạtđộng quản lý rác thải được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu Nội dungchính trong chương này là tổng hợp các công trình nghiên cứu đi trước, liên quantới chủ đề về sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảophát triển bền vững đô thị Từ đó, luận án chỉ ra những tồn tại trong lĩnh vựcnghiên cứu về sự tham gia của người dân trong quá trình quản lý rác thải đô thị vàđưa ra hướng nghiên cứu mới trong luận án này Khi xem xét và tổng hợp cácnghiên cứu đi trước, luận án chia ra 3 nhóm chủ đề, gồm: những nghiên cứu vềhoạt động quản lý rác thải nói chung, các nghiên cứu về sự tham gia của người dântrong hoạt động quản lý rác thải và nhóm nghiên cứu về phát triển bền vững đô thị
1.1.Những nghiên cứu về hoạt động quản lý rác thải
Xét trên góc độ lý luận, nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích và chỉ racác phương diện của khái niệm “quản lý rác thải” và “quản lý rác thải bền vững”.Những nghiên cứu này đều chỉ ra sự cần thiết của một tiếp cận tổng hợp và có tính
hệ thống đối với hoạt động quản lý rác thải [Hoffman&Muller, 2001], [Seadon,2010] Vận dụng các tiếp cận này khi đưa vào phân tích tình hình thực tiễn, nhiềucông trình nghiên cứu đã tập trung mô tả thực trạng phân loại, thu gom, tập kết, vậnchuyển, xử lý rác thải; đồng thời chỉ ra những tồn tại trong công tác quản lý từ cácbên liên quan [Pathak cùng cộng sự, 2012], [Balasubramanian & Birundha, 2011],[Bai cùng cộng sự, 2011],[Menikpura cùng cộng sự, 2012] Các nghiên cứu đãphân tích thực trạng quản lý rác thải chưa hiệu quả tại các nước đang phát triển,như sự xuất hiện của nhiều bãi rác lộ thiên, lượng rác thải ngày càng tăng do đô thịhóa và gia tăng dân số nhưng quá trình thực hiện chưa hiệu quả nên không thu gomđược hết số rác thải Bên cạnh đó, công tác xử lý rác thải còn chưa khoa học, gây
Trang 23ảnh hưởng ô nhiễm môi trường và cộng đồng dân cư Nhìn chung, các nghiên cứuđều khẳng định rằng các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn và thách thứchơn so với các nước phát triển do những vấn đề về thể chế, xây dựng và thực hiệnchính sách, sự tham gia của người dân, mối quan hệ giữa các bên liên quan trongviệc thực hiện quản lý rác thải, và những vấn đề về trang thiết bị công nghệ lạc hậuhay vấn đề thiếu tài chính ngân sách để triển khai các hoạt động quản lý rác thảihiệu quả [Desmond, 2006], [Ezeah&Roberts, 2012], [Ianos, 2012],[Karani&Jewasikiewitz, 2007].
Dựa trên việc xác định các nguyên nhân, khó khăn và thách thức đối vớihoạt động quản lý rác thải, nhiều tác giả đã đề xuất các giải pháp từ nhiều chiềucạnh khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, cơ chế thể chế và xã hội [Skinner, 1993],[Price&Joseph, 2000], [Kaosol, 2009], [Ozkan, 2010], [Jalil, 2010], [Ibrahim cùngcộng sự, 2012] Các nhóm giải pháp được đưa ra chủ yếu là (1) nhóm giải pháp về
kỹ thuật như tái sử dụng, tái chế rác thải; đồng thời có thể tạo ra năng lượng từ cáchoạt động này hướng tới phát triển bền vững cho vùng đô thị; (2) nhóm giải phápkinh tế như giảm thiểu các nhu cầu tiêu thụ của người dân, (3) nhóm giải pháp thểchế nhằm phát huy vai trò của các cấp chính quyền trong việc thu gom, tập hợp rác,tạo dựng một trung tâm xử lý rác thải với công nghệ hợp lý và giảm chi phí xử lýdựa trên lượng rác thải phát ra; (4) nhóm giải pháp từ phía cộng đồng cần giáo dục,nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc chứa đựng và xử lý rác thải Có nhữngtác giả nhấn mạnh hơn đến các giải pháp từ cộng đồng và đề cao vai trò của các hộgia đình với tư cách là các chủ thể thải rác [Memon, 2010], [Nahman&Godfrey,2010], trong đó vai trò của người dân là chủ động tham gia chứ không phải bị độngthực hiện do chịu sự quản lý của luật pháp [Ozkan, 2010]
Quản lý rác thải ở Việt Nam cũng là một vấn đề quan tâm của người nghiêncứu và các nhà quản lý và hoạch định chính sách môi trường Một mặt, các nghiêncứu đã mô tả thực trạng quản lý rác thải ở Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các vấn
đề cơ sở hạ tầng hay kỹ thuật và công nghệ xử lý Mặt khác, các nghiên cứu đã chỉ
ra những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý rác thải, do công nghiệp hóa tăngnhanh và đô thị hóa không có kiểm soát như: rác thải rắn không được phân loại tạinguồn phát rác, bãi rác như lượng mùi thải ra, ô nhiễm đất và nước quanh khu bãirác [Nguyen Phuoc Dan&Nguyen Trung Viet, 2009], [Nguyễn Đức Khiển, 2009],
Trang 24[Nguyen Phuc Thanh cùng cộng sự, 2010) Dựa trên những vấn đề nảy sinh hiệnnay trong quản lý rác thải tại đô thị, một số tác giả đã đề ra các giải pháp khắcphục, như phân loại rác tại nguồn (chương trình 3R), nâng cao ý thức cộng đồng,cải thiện các chính sách, thể chế xử phạt đối với các hành vi không thân thiện vớimôi trường (Ngo Kim Chi&Pham Quoc Long, 2011], [Nguyễn Đức Khiển và cộng
sự, 2010]; [Nguyễn Đức Khiển, 2009], [Ranjith&Chowdhury, 2007] Nhữngnghiên cứu này cũng chỉ ra vai trò quan trọng của cộng đồng trong giảm thiểulượng rác thải phát sinh hàng ngày, trong đó nhấn mạnh vai trò của các tổ chứccộng đồng và nhóm dân cư có trình độ nhận thức và kỹ năng tập huấn Nhóm này
sẽ tiến hành các hoạt động tuyên truyền cho các nhóm dân cư khác Bên cạnh đó,
sự xuất hiện của các tổ chức phi chính phủ và tư nhân trong việc phối kết hợp vớinhà nước cũng là một giải pháp cho quá trình quản lý rác thải hiệu quả ở Việt Nam
Có thể thấy những nghiên cứu về hoạt động quản lý rác thải trên thế giới và
ở Việt Nam đã làm sáng tỏ (1) thực trạng của hoạt động quản lý rác thải; (2) vai tròcủa nhóm chủ thể thải rác và sự tham gia của các bên liên quan trong quá trìnhquản lý rác thải; và (3) các giải pháp cho quản lý rác thải bền vững
1.2 Những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực môi trường và quản lý rác thải
Về mặt lý luận, các nghiên cứu từ thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đã tậptrung phân tích sự tham gia của cộng đồng trong các kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của chính cộng đồng đó Sự tham gia của cộng đồng được xem là quyền lựccủa công dân, thể hiện mức độ dân chủ của xã hội [Arnstein, 1969] Dựa trên cácchương trình xã hội điển hình của nước Mỹ lúc đó, gồm các chương trình: đổi mới
đô thị, chống nghèo đói và các thành phố kiểu mẫu, Arnstein [1969] đã tìm hiểu sựtham gia của cộng đồng người dân Mỹ, gồm người da đen và người da trắng trongquá trình xây dựng và ra quyết định các kế hoạch phát triển Arnstein cho rằng sựtham gia là quá trình phân phối lại quyền lực của những công dân không có tài sảnhay tiền tài trong xã hội Quá trình phân phối lại quyền lực sẽ giúp những ngườivẫn thường bị loại ra khỏi quá trình phát triển chính trị - kinh tế có khả năng thamgia vào quá trình phát triển ở tương lai Bà phân chia sự tham gia thành 8 bậc thang
Trang 25tương ứng với 3 cấp độ, từ vận đông, trị liệu/tâm lý – mức độ không tham gia, qua cung cấp thông tin, tham vấn, xoa dịu – mức độ có dấu hiệu tham gia đến cộng tác, ủy quyền, quyền kiểm soát – mức độ tham gia cao nhất Dựa trên mô hình tham
gia của Arnstein [1969], Wilcox [1996] đã rút gọn các cấp độ tham gia trong 5 bậcthang, gồm (1) Thông tin (Information), (2) Tham vấn (consultation), (3) Cùngnhau quyết định (deciding together), (4) Cùng nhau hành động (acting together),(5) Ủng hộ những hoạt động địa phương (Supporting local initiatives) Tuy nhiên,Choguil [1996] cho rằng thang đo của Arnstein chỉ sử dụng hiệu quả ở những nướcphát triển và ít phù hợp trong bối cảnh của những nước nghèo và kém phát triển Vìthế, trên cơ sở xác định các đặc điểm khác nhau về vai trò, trình độ nhận thức vànhu cầu của cộng đồng dân cư giữa các nước phát triển và nước kém phát triển,ông đã đề xuất một thang đo riêng cho nhóm các nước kém phát triển Sự khác biệttrong mô hình của Choguill là đã bổ sung thêm cấp độ thấp nhất trong bậc thang,
đó là quá trình “tự quản lý” của chính cộng đồng với sự trợ giúp của các tổ chứcphi chính phủ bất chấp những phản đối của chính quyền Từ các quan điểm lý luận
về sự tham gia của cộng đồng, nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng lý thuyết nàytrong các lĩnh vực của đời sống thực tiễn, như các dự án phát triển kinh tế-xã hội tạicộng đồng
Cũng như trong các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, yếu tố tham gia củacộng đồng cũng được đề cao trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực môi trường.Phần lớn các nghiên cứu về sự tham gia trong lĩnh vực môi trường đã đề cập đến sựtham gia của cộng đồng trong việc ra các quyết định môi trường hay triển khai vàthi hành chính sách về môi trường Trong quá trình thực hiện các dự án phát triển,rất nhiều công cụ đo lường, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các dự án đến môitrường tự nhiên và sức khỏe của người dân được thực hiện, như đánh giá tác độngmôi trường (environmental impact assessment – EIA) và đánh giá chiến lược môitrường (strategic environmental assessment – SEA) [O’Faircheallaigh, 2010], [Ran,2012], [Spengler, 2009]
Riêng đối với hoạt động quản lý rác thải, sự tham gia của cộng đồng đượcchia ra nhiều nhóm, dựa trên việc xác định các bên liên quan trong quá trình này
Đó là mối quan hệ của nhà nước và tư nhân trong quá trình quản lý rác thải tại các
đô thị, trong đó nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các tổ chức tư nhân, đơn lẻ,
Trang 26đặc biệt trong bối cảnh khu vực nhà nước không đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu
về dịch vụ quản lý rác thải [Ahmed&Ali, 2006], [Chakrabarti cùng cộng sự, 2009],[Kruljac, 2012] Hoặc các nghiên cứu về chủ thể thải rác là các hộ gia đình Các hộgia đình, dù với tư cách cá nhân từng thành viên hay là sức mạnh của tập thể cộngđồng thì cũng đều có vai trò quan trọng trong việc thải rác, phân loại, thu gom vàtái chế rác thải Tuy nhiên, sự tham gia mạnh hay yếu của nhóm hộ gia đình cũngphụ thuộc vào mức độ tham gia tích cực của các tổ chức dựa vào cộng đồng Bêncạnh đó, vai trò của cấp chính quyền địa phương cũng quan trọng trong việc thihành các chính sách, tổ chức các chiến dịch giáo dục tại cộng đồng hay hỗ trợ vàủng hộ sự tham gia hoạt động của các tổ chức đoàn thể xã hội hay cộng đồng dân
cư [Joseph, 2006] Nhìn chung, các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng người dân đãtham gia vào hoạt động rác thải ở những mức độ khác nhau Mức độ tham gia phụthuộc vào nhiều yếu tố như: thể chế, chính sách, tính minh bạch công khai của khuvực quốc doanh và sự sẵn sàng chi trả các dịch vụ của người dân, đặc biệt là nhómngười yếu thế trong xã hội [Ahmed&Ali, 2006]; những tác động tiêu cực từ cộngđồng khu phố, sự phức tạp của hoạt động phân loại rác, sự vận chuyển và xử lý ráclẫn lộn [Vicente, 2008]; các yếu tố về thể chế và chính sách [Bull và các cộng sự,2010]; hay các yếu tố thuộc về nhận thức, thái độ của người dân [Feo&Gisi, 2010],[Zhang cùng cộng sự, 2012]
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh CNH-HĐH, nghiên cứu về sựtham gia của cộng đồng xuất hiện từ những năm 1990 đã khẳng định vai trò củacộng đồng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội [Mai Quỳnh Nam, 2006],[Trịnh Duy Luân, 2006], [Ngô Thị Kim Yến&Phạm Văn Lương, 2008], [TrầnHùng, 2010] Đối với lĩnh vực môi trường và cụ thể trong các hoạt động quản lýrác thải, nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng tập hợp các vấn đề khác nhau, từnhững nghiên cứu mô tả hành vi tham gia và cách ứng xử của người dân trước vấn
đề rác thải đô thị [Vũ Thị Kiều Dung, 1995], [Viện Xã hội học, 1995] cho đếnnhững nghiên cứu tìm hiểu các rào cản đối với sự tham gia của người dân, trong đónhấn mạnh đến các yếu tố về nhận thức và thói quen của cộng đồng [Vũ Cao Đàm,2002], [Tô Duy Hợp & Đặng Đình Long, 2006], [Tran Hang cùng cộng sự, 2012].Các tác giả cho rằng thay đổi hành vi của người dân là một việc cần đầu tư về thờigian, công sức cũng như tài chính Vì thế, cần quan tâm những gì người dân thích
Trang 27và không thích, nghiên cứu vấn đề của người dân là gì, cái gì quan trọng với họ,tìm hiểu xem họ sẽ ứng xử như thế nào trong đời sống hàng ngày, so sánh hìnhthức tham gia giữa những nhóm dân cư khác nhau theo các chuẩn mực văn hóakhác nhau, tổng kết các yếu tố ảnh hưởng tới cách ứng xử của họ và đem lại lợi ích
mà họ mong muốn trong khuôn khổ phù hợp với chuẩn mực văn hóa môi trường.Hostovsky cùng cộng sự [2010] cho rằng sự tham gia của cộng đồng trong đánh giátác động môi trường ở Việt Nam vẫn trong giai đoạn sơ khai, không có dấu hiệucủa việc tham gia ở thời kỳ đầu của lập kế hoạch và ra quyết định Tác giả nhấnmạnh đến những đặc điểm văn hóa ở Việt Nam mà khi triển khai đánh giá tác độngmôi trường cần quan tâm tới như: việc sợ "mất mặt" của người Việt Nam khi trìnhbày hay phát biểu ý kiến hoặc một lỗi sai nào bị bắt được, hoặc thói quen đi đếnhọp dân đều được cho tiền
Nhìn chung, các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong các hoạtđộng môi trường nói chung và hoạt động quản lý rác thải nói riêng đã chỉ ra đượckhá đầy đủ những chiều cạnh khác nhau của vấn đề Các nhóm nghiên cứu chủ yếugồm : (1) Mô tả thực trạng phân loại và thu gom rác thải của người dân, nhận diệncác yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện và đề xuất các giải pháp; (2) Phân tích
sự tham gia và mức độ tham gia của cộng đồng trong việc ra các quyết định môitrường; xem xét sự tham gia như mục tiêu hay công cụ, như một giải pháp hay vấn
đề mới nảy sinh
1.3 Những nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững
Trên thế giới, những nghiên cứu về phát triển bền vững đô thị cũng đượcchia ra nhiều nhóm chủ đề khác nhau Một số các nghiên cứu tập trung vào việcnhận diện các thành phân của phát triển bền vững từ cách tiếp cận hệ thống Cácthành phần này gồm ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường Ngoài ra, một số tácgiả còn bổ sung thêm các yếu tố khác, như văn hóa [Basiago, 1999], đạo đức vàchính trị [Smith, 2011] hay tài nguyên thiên nhiên [Alpopi cùng cộng sự, 2011].Một chủ đề khác cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả nghiên cứu làphân tích các yếu tố thúc đẩy và cản trở sự bền vững đô thị, bao gồm những yếu tốthuộc về đời sống đô thị, từ kinh tế, thể chế, chính trị, đến các vấn đề về quy môdân số, hay cơ sở hạ tầng đô thị, v.v [Banister, 1998], [Bai cùng cộng sự, 2010],
Trang 28[Nour, 2011], [Fitzgerald, 2012] Từ đó, một số tác giả đã đưa ra các giải pháp thểchế, chính sách, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội – môi trường đảm bảo sựphát triển hài hòa trong khung thể chế và văn hóa vùng miền Trong các nhóm giảipháp được đưa ra, một số công trình nghiên cứu tập trung vào các giải pháp từ phíachính quyền, nhà quản lý, hoạch định đô thị, trong khi một số khác lại đề xuất giảipháp tiếp cận từ phía cộng đồng và mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quátrình xây dựng đảm bảo phát triển đô thị bền vững [Teelucksingh, 2007], [Wangcùng cộng sự, 2010], [Maiello cùng cộng sự, 2013].
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về phát triển bền vững cũng bắt đầu xuấthiện cùng với xu hướng phát triển chung của thế giới Phạm Khôi Nguyên [2004]
đã giới thiệu khái quát quá trình thực hiện các cam kết phát triển bền vững của ViệtNam, từ việc ban hành các chính sách, quy định đến việc lập kế hoạch triển khaicác chương trình quản lý nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế - xã hội
và môi trường Đoàn Minh Huấn và Vũ Văn Hậu [2010] trong “Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội” đã đề cập đến khái niệm phát triển bền vững, cách hiểu về
khái niệm này và đặt trong bối cảnh phát triển của Hà Nội hiện nay Các tác giảkhẳng định việc tiếp cận về phát triển bền vững đô thị là vấn đề lớn, có tính chấtliên ngành và chỉ ra 5 nội dung đặc trưng của phát triển bền vững đô thị, đó là bềnvững môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa và thể chế Trong lĩnh vực môi trường,nhóm tác giả cũng đề cập đến giải pháp tổ chức phân loại rác tại nguồn, thu gom và
xử lý 100% phế thải đô thị, phế thải công nghiệp, y tế; xây dựng một số nhà máy
xử lý, tái chế tập trung Cũng đề cập đến các chiều cạnh khác nhau của phát triểnbền vững đô thị, David&Chris [1997] đã chỉ ra các chiều cạnh gồm kinh tế, xã hội,môi trường, dân số, và chính trị Tác giả đồng thời chỉ ra những khó khăn của quátrình thực hiện phát triển bền vững, như nghèo đói đô thị, những nhu cầu cơ bảncủa đô thị và môi trường đô thị Số dân nhập cư vào Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh vẫn tăng cao, lượng thất nghiệp nhiều tại các khu vực đô thị, trong khi đónhững vấn đề môi trường đô thị vẫn chưa được giải quyết triệt để như vấn đề rácthải đô thị, thu gom và xử lý rác, hệ thống thoát nước gây úng ngập ở đô thị vẫntiếp diễn Lê Hồng Kế [2009] lại chỉ ra những khó khăn về thực trạng cơ sở hạtầng kỹ thuật đô thị còn chưa đạt yêu cầu: tỷ lệ đất dành cho giao thông nhỏ bé, tỷ
lệ thu gom chất thải rắn tại các đô thị lớn nhỏ chưa cao, từ đó, nảy sinh ra nhiềuthách thức cho công tác quy hoạch phát triển đô thị như các vấn đề về đất đai, cấp
Trang 29nước, rác thải, giao thông đường bộ, công ăn việc làm cho người dân, và tính côngbằng xã hội giữa các nhóm dân cư Ngoài ra, có một số công trình khác đã tậptrung phân tích từng khía cạnh của sự phát triền bền vững , như bền vững về mặt xãhội [Trịnh Duy Luân, 2006], [Giang Thanh Long, 2012], hay bền vững môi trường[Vincoli, 1996], [Nguyen Thi Binh Minh cùng cộng sự, 2001], [Huge cùng cộng
sự, 2010], [Nguyen&Coowwanitwong, 2011]
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã mô tả các kết quả nghiên cứu từ các công trình đi trước, bàn về
các chủ đề liên quan tới vấn đề tham gia của người dân trong các hoạt động quản
lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị Từ đây, có thể rút ra một số kết luận
sau đây:
Chủ đề này đã được các nhà nghiên cứu môi trường và hoạch định chínhsách ở nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu đã tậptrung tìm hiểu thực trạng tham gia của người dân biểu hiện thông qua quá trìnhthực hiện phân loại và thu gom rác thải Đồng thời, phân tích các yếu tố ảnh hưởngđến sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý rác thải, gồm những yếu tốthể chế, chính sách, kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v Từ đó, những nghiên cứu nàyđều khẳng định “Sự tham gia của cộng đồng” là một trong những yếu tố quan trọngcủa hoạt động quản lý rác thải bền vững Đây cũng được xem là một trong nhữngtiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững đô thị, trong đó có sự bền vững về kinh tế -
xã hội và sự bền vững về môi trường
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu sự tham gia của người dântrong hoạt động quản lý rác thải chưa được thực hiện nhiều Những nghiên cứuđược tác giả tổng hợp trong chương này phần lớn mới dừng lại ở việc mô tả thựctrạng người dân phân loại và thu gom rác thải Đây chỉ là một bình diện khi nói đến
sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải Hơn thế nữa, đặt trongbối cảnh hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đô thị thì yếu tố tham gia củacộng đồng trong việc xây dựng các chính sách và quy định có ảnh hưởng trực tiếpđến cuộc sống của người dân càng trở nên cần thiết hơn Những nghiên cứu đánhgiá sự tham gia của người dân trong xây dựng các chính sách hoặc các dự án pháttriển được thực hiện chủ yếu ở các vùng nông thôn Vì thế, có thể nhận thấy sựthiếu hụt những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng đô thị trong hoạt độngquản lý rác thải Đồng thời, trong lĩnh vực môi trường đô thị, cũng chưa có nhiều
Trang 30nghiên cứu tìm hiểu quá trình người dân tham gia trong xây dựng chính sách và racác quyết định Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững đô thị ở Việt Nam hiệnnay, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường đô thị, rất cần bổ sung những nghiên cứu
về sự tham gia của người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG ĐÔ THỊ 2.1 Hệ khái niệm công cụ
2.1.1 Khái niệm “rác thải” và “quản lý rác thải”
Chất thải (waste) là những thứ không được sử dụng cho những mục đích củacon người Nó là những chất liệu đã được dùng và không còn giá trị sử dụng saunhững hành động sản xuất hay tiêu dùng, thường gắn liền với các đặc điểm như đểtrong thùng rác, sự bẩn thỉu, không sạch sẽ [O’Connell, 2011, tr.106]
Chất thải có nhiều nguồn khác nhau, ]gồm chất thải từ các hộ gia đình, chấtthải công nghiệp, thương mại, y tế, động vật, nông nghiệp, hạt nhân nguyên tử vàkhoáng chất, v.v Chất thải có nhiều loại, như chất thải rắn, khí, lỏng, v.v Chất thảirắn cũng bao gồm các loại: chất thải sinh hoạt, chất thải độc hại, y tế và chất thảiđiện tử [Basu, 2010, tr.20]
Cù Huy Đấu &Nguyễn Thị Hường [2010] đã cho rằng trên thực tế, theo thóiquen trong cuộc sống hàng ngày, cụm từ “rác thải” hay “phế thải” được sử dụngnhiều hơn so với “chất thải rắn” Điều này cũng phù hợp đặt trong nghiên cứu tìmhiểu sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đô thị Thuật ngữ
“rác thải” mang tính phổ biến, dễ hiểu và gần gũi trong cộng đồng dân cư hơn sovới thuật ngữ “chất thải rắn” Do vậy, việc sử dụng thuật ngữ “rác thải” sẽ tiếp cậnngười dân dễ dàng hơn và tạo ra sự thống nhất trong cách hiểu của người dân vềvấn đề nghiên cứu Vì thế, luận án này sử dụng khái niệm “rác thải” thay cho kháiniệm “chất thải rắn” Trong các loại rác thải khác nhau, luận án này chỉ tập trung
tìm hiểu tình hình rác thải sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Trang 31Khái niệm “quản lý rác thải” được trình bày trong nhiều công trình nghiêncứu khác nhau Hoffman&Muller [2001] khi mô tả sự hợp tác tại cộng đồng tronghoạt động quản lý rác thải bền vững đã chỉ ra các nội dung của khái niệm “quản lýchất thải rắn’, gồm 3 phương diện Một là các quy trình như: sự phân loại, thu gom,vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, và xử lý chất thải Hai là các yếu tố tham gia củacác bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải Ba là các yếu tố kinh tế/tàichính, kỹ thuật, thể chế, văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rác thải.
Theo Cù Huy Đấu & Nguyễn Thị Hường [2010], hoạt động quản lý chất thảirắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chấtthải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng và xử
lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa , giảm thiểu những tác động có hại đối với môitrường và sức khỏe con người Khi tiếp cận từ góc độ rác thải sinh hoạt của các hộgia đình, tác giả nhận thấy sự tham gia của các hộ gia đình được biểu hiện rõ ràngnhất ở các quá trình phân loại rác, thu gom rác và xử lý rác thải (sự tham gia củangười dân trong hoạt động xử lý rác thải được biểu hiện ở khu vực nông thôn rõràng hơn so với khu vực đô thị); vì thế, luận án sẽ tập trung phân tích hoạt độngquản lý rác thải ở ba chiều cạnh và quy trình phân loại rác tại nguồn, thu gom và xử
lý rác thải
2.1.2 Khái niệm “sự tham gia của người dân”
Harding cùng cộng sự [2009] đã phân tích khái niệm “sự tham gia của cộngđồng” theo hai thuật ngữ thành phần “sự tham gia” và “cộng đồng” “Sự tham gia”đặc biệt trong lĩnh vực môi trường, được hiểu là quá trình đối thoại giữa cộng đồng
và người ra quyết định, giữa một bên là các cá nhân, nhóm tổ chức và một bên là
“nhóm chính quyền” trong việc thảo luận và ra các quyết định môi trường Thuậtngữ “cộng đồng” bao gồm tất cả các chủ thể đóng góp hay bị ảnh hưởng bởi cácquyết định môi trường, bao gồm những người hoạch định chính sách, chuyên gia,doanh nhân, các cá nhân thụ hưởng, tổ chức dân sự và nhóm người dân Như vậy,cộng đồng được hiểu là một khái niệm có nội hàm khá rộng, bao gồm tất cả cácthành viên cùng sinh sống trong một khu vực địa lý, có những đặc điểm chung vềlối sống và các điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa, chính trị
Tiếp cận khái niệm này ở một chiều cạnh khác, Marzuki [2009] cho rằng
“sự tham gia của cộng đồng” là khái niệm thể hiện các phương diện sau: (i) sự
Trang 32tham gia là quá trình trao quyền cho mỗi cá nhân trong cộng đồng được tham giavào việc xây dựng và ra các quyết định, chính sách của chính phủ; (ii) sự tham gia
là quá trình chia sẻ một hành động chung giữa chính phủ và công dân trong việctạo dựng chính sách; và (iii) sự tham gia là nền tảng của quyền con người, đặc biệtđối với những nhóm yếu thế trong xã hội; từ đó tác giả kết luận “dân chủ”, “quyềncông dân” và “trao quyền” là những nội dung trọng tâm của khái niệm sự tham gia
và sự tham gia của cộng đồng là một quá trình quan trọng trong hoạch định chínhsách, xây dựng kế hoạch và hướng tới phát triển bền vững
Người dân là một thành tố của cộng đồng, bên cạnh đó còn có các nhómđoàn thể xã hội, các tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ.Trong hoạt động quản lýrác thải, người dân là một trong hai nhóm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lýrác thải (cùng với nhóm công ty vệ sinh môi trường và công nhân vệ sinh môitrường) Bởi vậy, nội dung chính của luận án là tìm hiểu sự tham gia của người dânvới tư cách là các chủ thể thải rác Đồng thời, phân tích mối quan hệ của nhómngười dân và những nhóm khác của cộng đồng trong bức tranh quản lý rác thải đôthị; từ đó làm sáng tỏ thêm sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý rácthải hiện nay
Như vậy, phân tích sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rácthải, sẽ tiến hành trên hai bình diện sau:
Thứ nhất, nhìn nhận “sự tham gia” như một hành động xã hội, tìm hiểu xemhành động phân loại, thu gom và xử lý rác của người dân có tính duy lý hay không?Ngoài ra, hành động tham gia gián tiếp xử lý rác thải tại khu dân cư được biểu hiệnnhư thế nào? Các nhóm xã hội khác nhau về địa vị, vai trò và chức năng trong cơcấu xã hội sẽ có sự khác biệt ra sao trong những hành động tham gia của mình?
Thứ hai, phân tích “sự tham gia” như một quá trình trao quyền cho ngườidân trong quá trình thảo luận ra các quyết định về quản lý rác thải Trên phươngdiện này, luận án sẽ tìm hiểu các thang bậc của sự tham gia và xác định mức độtham gia của người dân hiện nay ở thang bậc nào, có những đặc điểm nào giống vàkhác với thang bậc mà Arnstein (1969) và Choguill (1996) đã đưa ra
2.1.3 Khái niệm “phát triển bền vững đô thị”
Khái niệm “đô thị”
Nguyễn Thế Bá [2011, tr.5] đã chỉ ra các yếu tố cơ bản của đô thị bao gồm:
Trang 33• Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định;
• Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn);
• Tỷ lệ lao đông phi nông nghiệp >=60% trong tổng số lao động, là nơi
có sản xuất dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển;
• Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân
và một số chuyên gia; (iii) đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải cómột phần quyền lực quản lý điều hành; (iv) thể hiện những hình thức tương táctrong đó hình ảnh cá nhân gắn liền với các vai trò; (v) đòi hỏi một gắn kết xã hộidựa trên cái gì rộng hơn là gia đình trực hệ hay bộ lạc
Khái niệm “phát triển bền vững”
Những quan điểm về phát triển bền vững được khởi đầu từ Hội nghị Liênhiệp quốc (LHQ) về Môi trường con người được tổ chức ở Stockholm năm 1972 làmột khởi đầu tốt cho quá trình thảo luận sự phát triển của thuật ngữ ‘sự bền vững’[Harding cùng cộng sự, 2010, tr.24] Tuy nhiên, định nghĩa phát triển bền vữngtrong báo cáo Brundtland [1987] được các nhà nghiên cứu sử dụng và trích dẫn
nhiều hơn cả Định nghĩa này đã chỉ ra rằng “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai” [World Commission on Environment and
Development, 1987, tr.43] Báo cáo này khẳng định những nhu cầu của con người
là cơ bản và cần thiết, tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự công bằng chia sẻ nguồnlực cho người nghèo sẽ được khuyến khích bởi sự tham gia của người dân một cáchhiệu quả Khái niệm phát triển bền vững cũng đề cập tới các giới hạn Giới hạn nàynói tới khả năng của hệ sinh thái và nguồn lực môi trường có thể chịu đựng các tácđộng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, biểu hiện qua hoạt động của conngười hay không [Kates cùng cộng sự, 2005] Tuy vậy, cũng cần nói thêm rằng
Trang 34việc xác định được chính xác các nhu cầu của thế hệ tương lai khi chúng ta đangtồn tại trong thế giới hiện tại không phải là điều dễ dàng, và nhiều khi còn mơ hồ.
Vì thế, khái niệm “phát triển bền vững” được sử dụng trong luận án này nhấn mạnhđến ba trụ cột chính của sự bền vững, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội vàbảo vệ môi trường Trong đó, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho các nhóm xãhội khác nhau khi tham gia bảo vệ môi trường và xây dựng các chính sách môitrường sẽ được đề cập đến sâu hơn trong chương 3 và chương 4 của luận án
Về khái niệm “phát triển bền vững đô thị”, tác giả Đoàn Minh Huấn và VũVăn Hậu [2012] đã tổng hợp nhiều cách định nghĩa khác nhau, như:
Quan điểm của trung tâm về định cư con người của Liên hợp quốc cho rằngmột thành phố bền vững khi có những thành tựu phát triển tự nhiên, kinh tế và xãhội Sự phát triển này phải phù hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh nhữngrủi ro từ môi trường có thể đe dọa đến những mục đích phát triển
Quan điểm của Hội nghị đô thị 21: đô thị bền vững là đảm bảo nâng caochất lượng cuộc sống ở thành phố, gồm các điều kiện về sinh thái, văn hóa, chínhtrị, tổn giáo, kinh tế và xã hội nhưng không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của thế
hệ tương lai
Ở Việt Nam, Hội thảo phát triển đô thị bền vững đã tổng kết quan điểm đôthị bền vững phải đảm bảo có 3 yếu tố bền vững kinh tế, xã hội và môi trường, dựatrên 4 tiêu chí là cạnh tranh tốt, cuộc sống tốt, tài chính lành mạnh và quản lý tốt
Tổ chức UN Habitat (2004) đã định nghĩa đô thị bền vững là quá trình vậnđộng đảm bảo mối quan hệ hài hòa trong sự bền vững của các yếu tố môi trường,
xã hội, kinh tế và các thể chế/chính trị
Tóm lại, khái niệm phát triển bền vững đô thị được hiểu là mối quan hệ bềnvững của ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong một khung thể chế phù hợp,đảm bảo chất lượng cuộc sống cho thế hệ hiện tại và không làm suy giảm khả năngcủa hệ sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai
2.2 Các lý thuyết sử dụng
Trang 352.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết hành động xã hội bao gồm nhiều quan điểm như lý thuyết hànhđộng xã hội (M Weber, T.Parsons), lý thuyết tương tác biểu trưng (G.Mead), lýthuyết trao đổi xã hội (G.Homans), lý thuyết lựa chọn hợp lý (G.Coleman) Quanđiểm chủ đạo của thuyết hành động là cá nhân hành động do các động cơ và nhucầu, từ đó lựa chọn các công cụ phương tiện để đạt tới đích cuối cùng của hànhđộng Các động cơ và nhu cầu này chính là nguyên nhân của hành động
Thuyết hành động của Weber nhấn mạnh tới sự hiểu biết diễn giải, đã coiđộng cơ thúc đẩy ở bên trong mỗi chủ thể là nguyên nhân của hành động Đồngthời, ông cũng khẳng định rằng hành động chỉ mang tính xã hội khi hành động ấyhướng tới hành vi của người khác Những hành động đám đông hay phản ứng tuântheo đám đông, hành động bắt chước đều không phải hành động xã hội
Weber [1947, tr.115-117] cũng phân loại hành động xã hội dựa trên các môhình của sự định hướng Thứ nhất là sự định hướng duy lý tới một hệ thống của cácmục đích riêng rẽ độc lập thông qua những mong đợi hành vi của khách thể trongmột tình huống bên ngoài và của những cá thể khác, khiến cho những mong đợinày trở thành công cụ và điều kiện thành công của những mục đích hợp lý mà chủthể hành động lựa chọn Thứ hai là định hướng duy lý hướng tới giá trị, liên quantới một niềm tin được nhận thức trong hệ giá trị của dân tộc, tôn giáo hay hình thứckhác nhau của hành vi, hoàn toàn là giá trị tự thân Thứ ba là sự định hướng xúccảm Loại hành động này bị quy định bởi những những tác động cụ thể và nhữngtrạng thái cảm xúc của chủ thể hành động Thứ tư là định hướng truyền thống,thông qua những thói quen được thực hiện thường xuyên và lâu dài
T.Parsons lại đưa ra cách tiếp cận khác khi xem xét hành động xã hội Ôngnhấn mạnh đến các chuẩn mực và giá trị quy định hành động xã hội của cá nhân.Mỗi cá nhân có thể được xem xét như một hệ thống với những giá trị và mục tiêu
rõ ràng, trong mối quan hệ với các cá nhân khác Đây được xem như là một phầncủa môi trường Chính những yếu tố và điều kiện của môi trường cung cấp cho chủthể hành động các cơ hội để đạt mục tiêu cũng như chỉ ra các giới hạn và nguồn lựccho việc thực hiện mục tiêu Những điều kiện này theo Parsons chính là năng lựcnhận thức của chủ thể về các cơ hội, các cơ hội này thường xuất hiện tiềm ẩn khi
Trang 36tình huống (điều kiện môi trường) thay đổi Việc cá nhân chấp nhận những cơ hộimới này chính là khả năng thích nghi của chủ thể [Parsons, 1961].
Theo Parsons, mỗi cá nhân đều có một vị trí được xác định trong cơ cấu xãhội Đối với từng vị trí, cá nhân đều đảm nhận vai trò, tương ứng với các chứcnăng cụ thể của từng bộ phận trong cơ cấu xã hội Parsons cho rằng các quyết địnhhành động không ở dạng bị động hay ngẫu nhiên mà là những hành động có chủđích và là các lựa chọn hợp lý Tuy nhiên, mục đích và các phương tiện hành động
bị ảnh hưởng và kiềm chế bởi các tình huống mà cá nhân phải đối diện
Đối với vấn đề quản lý rác thải tại các khu đô thị hiện nay, lý thuyết hànhđộng có thể vận dụng để tìm hiểu và phân tích động cơ, nhu cầu của những chủ thểthải rác và các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải Sự tham gia củangười dân trong hoạt động quản lý rác thải được xem là một hành động xã hội,trong đó động cơ và nhu cầu chính là những nguyên nhân của hành động Bên cạnh
đó, hành động của người dân bị quy định bởi các giá trị và chuẩn mực, trong nhiềutrường hợp tương ứng với các vị trí và vai trò cá nhân chiếm giữ trong cơ cấu xãhội Theo đó, từ góc độ của người dân, hành động phân loại rác và đổ rác khôngđúng nơi quy định được coi là dạng hành động truyền thống, hình thành dựa trênthói quen kéo dài từ quá khứ đến hiện tại Trong khi đó, phần lớn người dân cũngtuân thủ đầy đủ các quy định về thu gom rác thải, chính là biểu hiện của việc tuânthủ các chuẩn mực xã hội (chuẩn mực thành văn và bất thành văn) Hành động thảirác và thu gom rác đúng nơi quy định hay các hình thức xử lý rác của người dân sẽ
là minh chứng phân tích cho dạng hành động duy lý công cụ Những kết quả củanghiên cứu sẽ trả lời cho câu hỏi liệu hành động tham gia trực tiếp vào quá trình xử
lý rác thải, gồm phân loại, thu gom và xử lý rác khi được thu gom có mang tínhduy lý hay không?
Lý thuyết hành động được sử dụng trong luận án này còn tìm hiểu mối quan
hệ tương tác giữa con người và con người trước các vấn đề của môi trường Khitham gia gián tiếp vào quá trình quản lý rác thải, các hình thức tuyên truyền, vậnđộng, kiểm tra, giám sát đều biểu hiện cho quá trình tương tác giữa các cánhân/nhóm trong cộng đồng Các tương tác này sẽ đạt được hiệu quả khi các cánhân cùng thống nhất về mục tiêu, chia sẻ các biểu tượng, ý nghĩa của “môi trường
Trang 37tự nhiên” và những phần thưởng họ bỏ ra trong quá trình tương tác tương xứng vớiphần thưởng mà họ thu nhận được
2.2.2 Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng
Từ khái niệm nền tảng “sự tham gia của cộng đồng”, nhiều tác giả đã xâydựng thang đo về sự tham gia của cộng đồng, trong đó đảm bảo mục tiêu thực hiệndân chủ, trao quyền và quyền con người Trong số đó phải kể đến các công trìnhnghiên cứu của Sherry R Arnstein [1969], Wilcox (1995), và Choguill (1996).Arnstein là người đầu tiên đưa ra các thang bậc đo lường mức độ tham gia củacộng đồng trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội Lúc đó, tại nước Mỹ,những quan điểm trái chiều của người dân Mỹ, đặc biệt khi người Mỹ da màu cần
có quyền lực ngang bằng với người da trắng trong quá trình ra các quyết định củathành phố, trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Arnstein tìm hiểu mức độtham gia của cộng đồng với mục tiêu cao nhất là trao quyền cho người dân, biểuhiện mạnh mẽ của xã hội dân chủ Bà nhấn mạnh, nếu như sự tham gia mà không
có yếu tố quyền lực ở trong đó thì sự tham gia đó trở nên vô nghĩa, mang tính hìnhthức [Arnstein, 1969, tr 216]
từ người nắm giữ quyền lực và chuyên gia đến người dân mà không có đường
Trang 38truyền ngược lại, đặc biệt khi thông tin được đưa ra ở những giai đoạn cuối của dự
án thì người dân sẽ không có cơ hội tham gia và góp ý kiến cho việc lập kế hoạch
và triển khai Bậc (5) biểu hiện mức độ tham gia mà tại đó người dân được đưa ralời khuyên và ý kiến nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về chính quyền Hai mứcthang tiếp theo biểu hiện sự tăng lên của quyền lực của người dân trong việc raquyết định Theo đó, người dân có thể đi đến giai đoạn hợp tác, đàm phán, tranhluận và gắn kết vào các thỏa thuận với những người nắm giữ quyền lực Arnsteincũng cho rằng trên thực tế không có một cá nhân hay tổ chức nào có quyền lựckiểm soát một cách tuyệt đối nhưng trong bối cảnh tham gia của người dân thìngười dân có quyền yêu cầu và đòi hỏi về mức độ quyền lực kiểm soát, và nóichung người dân có quyền quản lý chương trình, có trách nhiệm với việc hoạchđịnh và thi hành chính sách, và có thể tiến hành những đàm phán cần thiết
Dựa trên 8 thang bậc về sự tham gia của Arnstein [1969], Wilcox [1995] đãrút gọn các thang bậc này, và đưa ra 5 bậc thang của sự tham gia, bao gồm: (1)Thông tin (Information), (2) Tham vấn (consultation), (3) Cùng nhau quyết định(deciding together), (4) Cùng nhau hành động (acting together), (5) Ủng hộ nhữnghoạt động địa phương (Supporting local initiatives)
Khác với quan điểm của Arnstein [1969] và Wilcox [1995], Choguill [1996]cho rằng mục tiêu của sự tham gia của cộng đồng không chỉ là việc trao quyền, hayngười dân có quyền lực mà bên cạnh đó, sự tham gia còn hướng đến mục tiêu tựquản lý, giúp đỡ lẫn nhau của chính cộng đồng, với sự hỗ trợ của các nhóm bênngoài cộng đồng (như các tổ chức phi chính phủ), bất chấp sự thờ ơ và không ủng
hộ của chính phủ Tác giả cũng cho rằng 8 thang bậc của Arnstein đưa ra chỉ phùhợp trong bối cảnh của các nước phát triển, vì thế đặt trong hoàn cảnh của các nướckém phát triển, cần một thang đo về sự tham gia phù hợp hơn
Về cơ bản, những thang bậc cao nhất trong 8 nấc thang mà Choguill [1996]đưa ra có phần trùng khớp với thang bậc của Arnstein [1969] Theo đó, ở nhữngbậc thang cao nhất của thang đo, người dân được trao quyền, có số ghế nhiều hơntrong hội đồng ra quyết định Các bậc thang tiếp theo thể hiện sự giảm dần vềquyền lực của người dân, đồng nghĩa với nó là quyền lực của chính quyền, bộ phậnhoạch định chính sách và ra quyết định sẽ lớn hơn Trong đó, càng ở cấp độ thấpthì sự tham gia chỉ mang tính hình thức, đôi khi là sự truyền thông tin một chiều
Trang 39Mức độ quyền lực của người dân giảm xuống, đặc biệt khi chính quyền không quantâm đến nhóm người nghèo, đẩy nhóm này ra ngoài các chiến lược phát triển của
đô thị, vì thế Choguill đã bổ sung thêm bậc thang cuối cùng là “tự quản lý” Tạiđây, cộng đồng có thể tự vận động sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ haynhững nhóm ủng hộ họ để thực hiện các dự án phát triển, đáp ứng những nhu cầu
cơ bản phục vụ cuộc sống cộng đồng Theo tác giả, mức độ này được thực hiện sẽđảm bảo mục tiêu giúp đỡ lẫn nhau của các thành viên trong cộng đồng; tuy nhiênmục tiêu về quyền lực hay thay đổi vị thế trong hệ thống chính trị là khó thực hiện
Như vậy, có thể thấy điểm chung của các quan điểm lý thuyết khi bàn đến
sự tham gia của cộng đồng là đều chỉ rõ cấp độ cao nhất của sự tham gia là traoquyền; với những biểu hiện cao nhất về quyền lực và quyền tự do của con người,đặc biệt đối với nhóm người yếu thế trong xã hội; mức độ trao quyền và quyềnkiểm soát của người dân giảm xuống qua các mức độ thể hiện sự bị động, chấphành, lắng nghe những người có quyền lực cung cấp và truyền bá thông tin mộtchiều từ trên xuống dưới Trong nhiều trường hợp, khi chính quyền thờ ơ và bỏ quanhững yêu cầu của nhóm yếu thế trong cộng đồng thì cộng đồng đó có thể tự lựcthực hiện các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của mình với sự giúp đỡ củanhóm đồng minh bên ngoài cộng đồng Bên cạnh đó, các lý thuyết cũng nhấn mạnhđến việc đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng hay huy động sự tham gia củacộng đồng cần căn cứ vào bối cảnh chính trị cũng như bối cảnh phát triển kinh tế -
xã hội cùng với các điều kiện văn hóa, phong tục tập quán của từng quốc gia
Vận dụng lý thuyết về sự tham gia trong luận án này, tác giả muốn tìm hiểumức độ tham gia của người dân trong quá trình quản lý rác thải, cả ở chiều cạnhtrực tiếp và gián tiếp Bên cạnh đó, các thang bậc về sự tham gia sẽ là cơ sở để tácgiả đo lường mức độ tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện
cơ chế quản lý rác thải tại địa phương, từ đó, xác định chân thực nhất cấp độ và bảnchất của sự tham gia của người dân trong các hoạt động quản lý rác thải tại mộtnước đang phát triển như Việt Nam
2.2.3 Lý thuyết cạnh tranh các chức năng môi trường
Lý thuyết cạnh tranh chức năng môi trường được đưa ra bởi Dunlap &Catton [1992] Theo các tác giả này, lý thuyết cạnh tranh các chức năng môi trường
là nền tảng cho việc giải thích sự suy thoái môi trường Môi trường có 3 chức năng
Trang 40chính gồm: (1) Chức năng trạm cung cấp (supply depot): cung cấp những tàinguyên thiết yếu cho cuộc sống từ không khí, nước, thức ăn cho đến những nhu cầuvật chất khác như chất đốt, điện và hàng loạt các hàng hóa khác; (2) Chức năngkhông gian sống (living space): cung cấp không gian sống cho con người, như: nơi
cư trú, làm việc, vui chơi và du lịch; (3) Chức năng kho chứa rác (waste repository): chứa đựng rác thải Trong quá trình sinh sống, sử dụng tài nguyên, giống nhưmuôn loài, con người cũng tạo ra các rác thải, lượng chất thải con người tạo ra cònnhiều hơn và đa dạng hơn những loài khác Môi trường phải thực hiện chức năngtiêu hủy hoặc chứa rác, để từ đó hấp thụ hoặc tái sử dụng chúng hay ít nhất cũnglàm cho chúng trở thành chất vô hại với môi trường [Dunlap&Marshall, 2007]
Dunlap&Marshall [2007, tr 31] cho rằng khi con người khai thác vượt quákhả năng môi trường có thể chịu đựng để phục vụ cho các chức năng thì các vấn đềmôi trường sẽ xuất hiện như ô nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên, quá tảidân số Trong nhiều trường hợp, khi môi trường sử dụng chủ yếu một chức năngnào đó dẫn đến môi trường khó đảm bảo sự cân bằng khi thực hiện 2 chức năngcòn lại Lúc này, sự ảnh hưởng của việc thực hiện chức năng không chỉ đối với 2chức năng còn lại mà ngay cả đối với chức năng mà môi trường đang sử dụng cũng
sẽ không đáp ứng được Hoạt động quản lý rác thải và những vấn đề nảy sinh trongquá trình thu gom và xử lý rác thải là một trong những minh chứng rất rõ ràng biểuhiện sự cạnh tranh các chức năng của môi trường [Vũ Cao Đàm, 2002] Tại các khuvực đô thị hiện nay, vấn đề cạnh tranh các chức năng được biểu hiện cụ thể như thếnào? Chức năng nào đang phải thực hiện nhiều hơn so với các chức năng khác?Những câu hỏi này sẽ được trả lời trong các chương sau của luận án
2.2.4.Tiếp cận phát triển bền vững
Những định nghĩa về phát triển bền vững đều xuất phát từ quan điểm chorằng thế giới là một hệ thống không gian và thời gian Đối với chiều cạnh khônggian, ô nhiễm không khí ở vùng Bắc Mỹ có thể ảnh hưởng đến chất lượng khôngkhí ở Châu Á Hay theo chiều cạnh thời gian thì những quyết định của thế hệ ôngcha chúng ta hay những chính sách phát triển kinh tế của chúng ta hiện nay có thểảnh hưởng đến chính chúng ta và con cháu chúng ta [International Institute forSustainable Development, 2014]