1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH

167 1,5K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 14,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT...44 Tiểu kết chương 1...51 Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG ỨNG PHÓ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Hạnh Phúc

Trang 2

HÀ NỘI, NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm

lý trong học tập của học sinh Trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh” là công

trình do chính tôi nghiên cứu

Các số liệu trong đề tài này là kết quả công sức tôi đã đầu tư thu thập và

xử lý thông tin một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trongluận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trìnhbày hay công bố ở bất cứ công trình nào khác trước đây

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

TRẦN THỊ LOAN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời biết ơn

sâu sắc đến cô PGS.TS Đỗ Thị Hạnh Phúc - Người đã chỉ bảo, hướng dẫn

em một cách tận tâm, chu đáo giúp em hoàn thành luận văn

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy Cô giáo khoa Tâm lý

- Giáo dục học, phòng Sau đại học và Ban lãnh đạo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội đã hết sức tạo điều kiện để em có thể học tập và nghiên cứu

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy

cô giáo cùng các em học sinh trường THPT Quế Võ số 3 và trường THPTHàn Thuyên tỉnh Bắc Ninh đã hợp tác, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốtthời gian nghiên cứu tại trường

Xin cảm ơn gia đình, anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng hộ vàgiúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn

Do thời gian và khả năng nghiên cứu của bản thân còn có hạn nên luậnvăn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi mong sẽ nhận đượcnhững ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp đểluận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng 10 năm 2016

Học viên

Trần Thị Loan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.2 Một số khái niệm công cụ 13

1.2.1 Kỹ năng và kỹ năng ứng phó 13

1.2.2 Khó khăn và khó khăn tâm lý trong học tập 25

1.2.3 Học sinh trung học phổ thông 29

1.3 Kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT 37

1.3.1 Kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh trung học phổ thông là gì? 37

1.3.2.Một số đặc điểm KNƯP với khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT 38

1.3.3 Biểu hiện kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý của học sinh trung học phổ thông 38

Trang 6

1.3.4 Mức độ kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập của học

sinh THPT 43

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT 44

Tiểu kết chương 1 51

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 52

2.1 Nội dung nghiên cứu 52

2.2 Tổ chức nghiên cứu 52

2.2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 52

2.2.2 Các bước tiến hành và tiến trình nghiên cứu 56

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 56

2.3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 56

2.3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 57

2.3.2 Nhóm phương pháp xử lí số liệu 64

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC NINH 67

3.1 Thực trạng những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh 67

3.1.1 Kết quả đánh giá về mức độ khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh trường THPT tỉnh Bắc Ninh 67

3.2 Thực trạng kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh 81

3.2.1 Thực trạng biểu hiện của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh trong việc sử dụng các kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập 81

Trang 7

3.2.2 Thực trạng biểu hiện của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh trong việc

sử dụng các kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập xét theo

các nhóm khách thể 90

3.3 Thực trạng về nhận thức và cách thức ứng phó của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh trong việc thay đổi hình thức thi Tốt nghiệp THPT và thi Đại học, cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined. 3.3.1 Mức độ lo lắng của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh về sự thay đổi hình thức thi Tốt nghiệp THPT và thi Đại học, cao đẳng Error! Bookmark not defined. 3.3.2 Ứng phó của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh trước sự thay đổi hình thức thi Tốt nghiệp THPT và thi Đại học, cao đẳng Error! Bookmark not defined 3.4 Thực trạng về hiệu quả của các kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh 97

3.4.1 Tự đánh giá của HS THPT tỉnh Bắc Ninh về hiệu quả của việc sử dụng các phương án ứng phó với khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 97

3.4.2 Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của việc sử dụng các phương án ứng phó với khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh 98

3.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh 99

3.5.1 Nguyên nhân chủ quan 100

3.5.2 Yếu tố khách quan 102

3.6 Phân tích một số trường hợp điển hình về kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THPT tỉnh Băc Ninh 106

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng khách thể được nghiên cứu 54Bảng 3.1 Điểm trung bình về những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tậpcủa học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh 68Bảng 3.2 Điểm trung bình về những khó khăn trong hoạt động học tập được

so sánh theo lát cắt khối lớp 72Bảng 3.3 Điểm trung bình về những khó khăn tâm lý trong học tập, được sosánh theo lát cắt về giới tính 76Bảng 3.4 Điểm trung bình những khó khăn tâm lý trong học tập theo lát cắt

về môi trường học tập 79Bảng 3.5 Điểm trung bình về các ứng phó mang sắc thái tình cảm của họcsinh THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những khó khăn trong học tập 82Bảng 3.6 Điểm trung bình về các ứng phó trong suy nghĩ của học sinh THPT

tỉnh Bắc Ninh đối với những khó khăn trong học tập Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.7 Điểm trung bình về các ứng phó bằng hành động của học sinh

THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những khó khăn trong học tậpError! Bookmark not defined.

Bảng 3.8 Điểm trung bình về các kiểu ứng phó mang tính tích cực và tiêu cực củahọc sinh THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những khó khăn trong học tập 89Bảng 3.9 Điểm trung bình về các kiểu ứng phó với những khó khăn tâm lýtrong học tập của học sinh nam và học sinh nữ 90Bảng 3.10 Điểm trung bình về các kiểu ứng phó với những khó khăn tâm lýtrong học tập của các khối lớp 92Bảng 3.11 Điểm trung bình các kiểu ứng phó với những khó khăn tâm lýtrong học tập của học sinh trường THPT Quế Võ số 3 95

và trường THPT Hàn Thuyên Error! Bookmark not defined.

Trang 11

Bảng 3.12 Mức độ lo lắng của HS THPT về sự thay đổi hình thức thi Tốt

nghiệp và thi Đại học, cao đẳng Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.13 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến kỹ năng ứng phócủa học sinh THPT 100Bảng 3.14 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến kỹ năng ứngphó của học sinh THPT 102

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Những vấn đề khó khăn nhất, ít khó khăn nhất trong hoạt độnghọc tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh 69Biểu đồ 3.2 Điểm trung bình chung về những khó khăn trong hoạt động họctập ở ba khối lớp 73Biểu đồ 3.3 Điểm trung bình về các kiểu ứng phó mang tính tích cực và tiêu cựccủa HS THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những khó khăn trong học tập 89Biểu đồ 3.4 Điểm trung bình về các kiểu ứng phó với những khó khăn tâm lýtrong học tập của học sinh nam và học sinh nữ 91Biểu đồ 3.5 Điểm trung bình về các kiểu ứng phó với những khó khăn tâm lýtrong học tập của HS THPT theo trường 96Biểu đồ 3.6 Kết quả tự đánh giá của học sinh về hiệu quả của việc sử dụngcác phương án ứng phó với KKTL trong học tập 97Biểu đồ 3.7 Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của việc sử dụng các phương

án ứng phó với KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh 99Biểu đồ 3.8 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó với khókhăn tâm lý của học sinh THPT 102Biểu đồ 3.9 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó vớiKKTL của HS THPT 106

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lứa tuổi thanh niên là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời mỗi conngười Trong tâm lí học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắtđầu từ lúc dậy thì và kết thúc vào tuổi người lớn Lứa tuổi học sinh trung họcphổ thông ( THPT) là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên

Những công trình nghiên cứu sự phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi họcsinh THPT gần đây quan niệm: lứa tuổi này như là một giai đoạn phát triển điqua một loạt những lớp sự kiện, những kinh nghiệm, sự trải nghiệm haynhững nhiệm vụ phát triển được xác định về mặt xã hội Đây được coi là lứatuổi mùa xuân của cuộc đời

Trong giai đoạn phát triển này, nhiệm vụ học tập và hướng nghiệp làhoạt động chủ đạo và luôn là mục tiêu hàng đầu mà các em muốn hướng tới.Các em mong muốn làm thế nào để thực hiện được nhiệm vụ học tập mộtcách tốt nhất, chính vì mục tiêu ấy các em luôn phải chịu những áp lực từ phíabản thân, áp lực từ những chương trình học tập quá tải, áp lực từ việc thi cử,cùng với sự kỳ vọng của gia đình, thầy cô, bạn bè, và để đáp ứng với nhữngyêu cầu của xã hội Tất cả những điều đó nhiều khi tạo nên sức ép lớn đối vớicác em, tạo nên những khó khăn, căng thẳng trong học tập, ảnh hưởng vôcùng lớn đến kết quả học tập cũng như đời sống của các em Đứng trướcnhững áp lực từ công việc học tập như vậy nếu các em không có kĩ năng ứngphó và phương pháp học tập phù hợp thì sẽ dẫn tới những kết quả học tậpkhông tốt, cùng với những thất bại trong học tập dẫn đến chán nản, nhụt ý chí,những hoàn cảnh gây stress dẫn đến sự tuyệt vọng và hủy hoại bản thân trongrượu, ma túy và những tệ nạn xã hội khác, và thậm chí còn có cả trường hợp

tự tử… Trong các nghiên cứu xã hội kết quả cũng cho thấy con đường dẫn

Trang 14

đến những hành vi lệch chuẩn, vi phạm pháp luật ở lứa tuổi thanh thiếu niên

đó là do các em chưa có kĩ năng ứng phó tốt với những khó khăn trong hoạtđộng học tập, nếu các em được rèn luyện và có khả năng ứng phó tốt vớinhững khó khăn đó, thì có thể góp phần làm giảm thiểu và ngăn chặn đượcnhững hành vi tiêu cực xảy ra với các em

Các công trình nghiên cứu về ứng phó ở trên Thế giới cũng như trongnước khá nhiều, tuy nhiên tập trung nhiều vào kỹ năng ứng phó với các vấn

đề trong cuộc sống, còn kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tậpcủa học sinh THPT còn khá mới mẻ, đặc biệt trên một địa bàn cụ thể

Trong xu thế phát triển chung với cả nước, tỉnh Bắc Ninh là một trongnhững tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, đặc biệt là tốc độ đô thị hóa, côngnghiệp hóa khá nhanh Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp vàcác khu công nghiệp đã góp phần nâng cao đời sống, tạo ra nhiều cơ hội việclàm cho lao động phổ thông Bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của nó làviệc quan tâm đến học tập của con em các gia đình có cả bố mẹ đều làm côngnhân bị chểnh mảng, các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều, đặc biệt nhiều họcsinh có thái độ học tập chống đối chỉ để lấy bằng tốt nghiệp là sẽ có việclàm, Do đó, vấn đề học tập, hướng nghiệp trong nhà trường THPT ở tỉnhBắc Ninh luôn được quan tâm Tuy nhiên, khi gặp những khó khăn trong họctập, học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh ứng phó chưa hiệu quả, làm ảnh hưởng đếnkết quả học tập của các em Vì vậy việc giáo dục để học sinh THPT tỉnh BắcNinh có được khả năng ứng phó tốt là việc hết sức cần thiết, qua đó giúp các

em nâng cao khả năng ứng phó với những khó khăn trong hoạt động học tập,

để có được kết quả học tập mong muốn Với tính cấp thiết đó, chúng tôi chọn

nghiên cứu đề tài “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh” với mong muốn tìm hiểu về

cách ứng phó của HS THPT tỉnh Bắc Ninh trong việc ứng phó với khó khăn

Trang 15

trong học tập, từ đó kiến nghị một số biện pháp tâm lý – sư phạm giúp họcsinh THPT nâng cao kỹ năng ứng phó hiệu quả với những khó khăn tâm lýtrong học tập để các em có thể đạt được kết quả cao trong học tập và địnhhướng tốt cho tương lai.

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện của kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong họctập ở học sinh THPT

3.2 Khách thể nghiên cứu

200 học sinh của trường trung học phổ thông Quế Võ số 3( Huyện Quế

Võ – Tỉnh Bắc Ninh) và 200 học sinh của trường trung học phổ thông HànThuyên (Thành Phố Bắc Ninh – Tỉnh Bắc Ninh)

4 Giả thuyết khoa học

Đa số học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh gặp khó khăn tâm lý trong học tậpnhư: chưa có phương pháp học tập phù hợp; việc tập trung chú ý trong họctập, sắp xếp, phân phối thời gian học tập còn chưa hợp lí, đặc biệt là khó khăntrong việc vận dụng tri thức học tập vào giải quyết các bài tập thực tiễn, nhất

là học sinh lớp 12 gặp khó khăn trong việc chọn nghề… Trước những khókhăn tâm lý đó, học sinh THPT đã có một số kỹ năng ứng phó, nhưng hiệuquả chưa cao Nếu chỉ ra được một số biện pháp sư phạm tích cực, khả thi sẽgiúp nâng cao hiệu quả của các kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý tronghọc tập ở học sinh THPT

Trang 16

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý

trong học tập của học sinh THPT

5.2 Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT

tỉnh Bắc Ninh và kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý đó

5.3 Kiến nghị một số biện pháp sư phạm giúp học sinh THPT nâng cao kỹ

năng ứng phó hiệu quả với những khó khăn tâm lý trong học tập

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về biểu hiện của kỹ năng ứng phó vớinhững khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh

6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 400 học sinh và một số giáo viên ở haitrường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh năm học 2015 – 2016, cụ thể:

200 học sinh và 15 giáo viên trường THPT Hàn Thuyên thuộc thànhphố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

200 học sinh và 15 giáo viên trường THPT Quế Võ số 3 thuộc huyện Quế Võ,tỉnh BN

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 17

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, thì luận văn còn có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT

Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT

Chương 3 Thực trạng kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh.

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP

CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kỹ năng ứng phó (KNƯP) với khó khăn tâm lý (KKTL) có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng đối với lứa tuổi thanh niên, lứa tuổi mà các em đang tích lũy

để chuẩn bị cho mình một hành trang bước vào đời Vì thế vấn đề đó đượcnhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu Sau đây chúng tôi xin điểm quatình hình nghiên cứu của các nhà tâm lý học nước ngoài và ở Việt Nam để cócái nhìn chung nhất về vấn đề đã được giải quyết, đang giải quyết và nhữngvẫn đề đặt ra cho luận văn này

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nước, nhất là các nước phát triển đã quan tâmnghiên cứu KNƯP với hoàn cảnh khó khăn nói chung ở lứa tuổi vị thành niênnhất là ở tuổi học sinh THCS và ứng dụng vào thực tiễn nhằm góp phần nângcao KNƯP cho các em

Các nghiên cứu khẳng định: những hạn chế về KNƯP của trẻ vị thànhniên với hoàn cảnh khó khăn đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ thể chất vàtinh thần của các em

Vào năm 1970, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một cách tiếp cận để đo

lường và đánh giá sự ứng phó được tóm tắt trong công trình của Folkman và Lazarus Họ đã xác định tám cách ứng phó gồm: đối diện với vấn đề, cố

thoát khỏi tình huống khó khăn, tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội, gánh vác tráchnhiệm, né tránh thực tại, lập kế hoạch giải quyết vấn đề và nhìn thấy điềuthuận lợi Các nhà nghiên cứu tin rằng những cách này phản ánh hai kiểu cơ

Trang 19

bản của sự ứng phó: tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc Lazarus

và Folkman nhấn mạnh rằng những khía cạnh trong hành vi ứng phó của cánhân thay đổi phụ thuộc vào tình huống hay mức độ hỗ trợ xã hội mà cá nhânnhận được Một trong những công cụ đo lường được phát triển bởi quan điểmmới là CISS (Coping with stressful situations) Công cụ này cố gắng đưa ranhững dấu hiệu của các cách ứng phó mà con người có thể sử dụng trongtình huống khó khăn Những cách thức ứng phó mà công cụ này đưa ra baogồm cách thức hướng vào nhiệm vụ, trong đó người ta hướng đến việcđương đầu với những vấn đề kế tiếp sẽ diễn ra; cách thức hướng vào cảmxúc, cách thức tránh né thực tại (bao gồm tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt xã hội

và tìm kiếm sự giải tỏa tâm trí) [44]

Trong nghiên cứu của Bolognini Monique, Plancherel Bernard, Halfon Olivier “Đánh giá các chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có

sự khác nhau theo tuổi và theo giới tính hay không?” đã tìm hiểu các cáchứng phó theo đặc trưng giới, mối tương quan giữa việc chọn lựa các cáchứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và theo độ tuổi Các tác giả đãđưa ra những cách thức ứng phó như: sử dụng quan hệ xã hội, gia đình, tìnhcảm âm tính, sự giải trí, hài hước, cam kết, tiêu xài, gia đình, nhà trường Cáckết quả khẳng định nữ thanh thiếu niến tự điều chỉnh tùy theo khó khăn bằngcách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố mẹ

và các người lớn khác) Nghiên cứu đã cho thấy con gái đầu tư nhiều hơnvào thế giới tương tác nhằm thể hiện tình cảm một cách cởi mở, nhằm nhậnđược sự nâng đỡ, các lời khuyên và những điều an ủi từ một người tâmtình (bạn bè, gia đình) Trong khi đó, các nam thanh thiếu niên cố gắng nhiềuhơn trong việc giữ ý nghĩa của sự hài hước và tiến hành một hoạt động thểlực mạnh mẽ Con trai ít cởi mở hơn và ít phụ thuộc vào người khác hơn sovới con gái, nhưng lại có xu hướng làm cho tình huống bớt khủng hoảng và

Trang 20

tỏ ra lạc quan, tìm kiếm sự giải tỏa trong các trò chơi và hoạt động thể lực.

Về mối quan hệ sức khỏe tâm trí và các cách thức ứng phó, nghiên cứu chothấy các kết quả tỏ ra khác biệt giữa con trai và con gái Ở con gái, trong sốcác cách thức ứng phó có tương quan cao nhất là sự thể hiện các tình cảm âmtính phối hợp với một xác suất cao nhất bị rối nhiễu tâm trí như khí sắctrầm nhược, lo âu và rối nhiễu giấc ngủ Ở con trai, chỉ có tương quan về mặt

lo âu [39]

Nhà nghiên cứu Camus Jean trong bài viết “Sự bố trí thời gian và

các khó khăn học đường Phản ứng tức thời và trì hoãn” đã đối chiếu và cáchthức ứng phó tâm lý của trẻ thuộc nhóm SES (những trẻ học sinh lớp đặcbiệt, các em này được gọi là những “học sinh không thích nghi”, “chậmchạp” trong học tập) và trẻ thuộc nhóm CES (nhóm học sinh cấp 2 bìnhthường) Kết quả cho thấy, trẻ trai thuộc nhóm SES khi gặp khó khăn sẽhành động chớp nhoáng, không cần đánh giá, chúng xem những hành độngbột phát như thể là một “tấm áo giáp” chống lại sự sợ hãi về thất bại liên tiếptấn công Trẻ nữ trong nhóm này có xu hướng trì hoãn thời gian thực hiệncông việc, các em loay hoay tìm kiếm giải pháp phù hợp, cảm thấy thấtvọng, luôn phàn nàn và yêu cầu được giúp đỡ hơn nhóm trẻ nữ CES [40]

Một nghiên cứu của Neru và Ronan (1988) chỉ ra rằng trẻ vị thành niên

(VTN) không có kỹ năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thểdẫn đến stress, những vấn đề về trầm cảm, lo âu Để giải quyết được, VTNcần có niềm tin dựa trên năng lực, xác lập được những KNƯP với những hoàncảnh khó khăn của chính bản thân VTN [43;1]

Theo Kovacs (1989), có nhiều vấn đề về tâm thần của VTN liên quan

đến sự kém hiểu biết về kỹ năng xã hội , đây cũng là một trong những nguyênnhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát [43;2]

Trang 21

Một tác giả cho rằng hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi

là xu hướng ứng xử (Carver, Schenier,Weinntraub) Theo các tác giả này, con

người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau [45]

Cách ứng phó thể hiện mối liên quan của hành vi ứng phó với các sựkiện của cuộc sống, với những trải nghiệm sớm của cá nhân được nhiều tácgiả quan tâm

Các tác giả Myers L.B, Brewin C.R (1994) cho rằng đứa trẻ có những trải

nghiệm âm tính sớm thường có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi chúng gặp lạiquang cảnh của sự kiện cũ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến quan hệ giađịnh Ở đây có mối quan hệ chặt chẽ giữa mức độ trải nghiệm các cảm xúc vớicách mà con người ứng phó với hoàn cảnh khó khăn, với stress tâm lý [7]

Segersform S.C, Taylor S.E, Kemeny M.E, Fahey J.L (1998), Horowwitz, Sdler và Kegeles (1988) tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của

các ứng phó với tính lạc quan và bi quan Các tác giả nhận thấy tính lạc quan

có quan hệ với khuynh hướng sử dụng cách ứng phó tập trung vào giải quyếtvấn đề, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, thể hiện những khía cạnh dương tính trongtình huống stress, ngược lại tính bị quan thường đi kèm với xu hướng phủđịnh hoặc tránh xa tình huống stress, tập trung vào những cảm giác stress củamình [7]

Terry D.L (1991), Lees M.C, Neufeld R W J(1999) nghiên cứu mối

liên quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận thức về các khía cạnh khácnhau của stress với hành vi ứng phó Theo họ, việc con người ứng xử thế nàotrong hoàn cảnh khó khăn thường chịu ảnh hưởng của việc họ đánh giá chính

về hoàn cảnh đó, tình huống đó [42]

Cách ứng phó với xung đột gia đình, stress gia đình được nhiều tác giả

quan tâm nghiên cứu Mccubbin (1980) nghiên cứu ảnh hưởng có hại của

cách ứng phó sai lầm với stress gia đình và chỉ ra rằng nó có thể dẫn đến việc

Trang 22

phá hủy hệ thống gia đình Figley (1993) quan tâm đến những chiến lược ứngphó hiệu quả trong gia đình có thể dẫn đến stress và cách mà các thành viênứng phó với sự chuyển đổi này.

Slavin (1991) - nhà tâm lý học đã nghiên cứu cách ứng phó của con

người đối với chuyển đổi của xã hội ngày nay và phát hiện thấy chuyển đổi xãhội liên quan đến những vấn đề vĩ mô như quan hệ dân tộc, tục lệ, lễ nghi, sựphân hóa kinh tế- xã hội và nó có liên quan đến thói quen, văn hóa của mỗigia đình, mỗi cá nhân Cuộc sống của mỗi xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phảithích nghi với chuyển đổi xã hội dường như đã gây ra những tình huống stresssâu sắc Vì thế hành vi ứng phó của mỗi con người trước hoàn cảnh mới đãlàm nên văn hóa hành vi, nhiều khi nó liên quan đến chuẩn mực văn hóa , lễnghi, tập tục ở cấp độ xã hội Vì vậy, những chương trình tự giáo dục, phânloại giá trị và sự chế ngự stress là những phương pháp được đề nghị để ứngphó với những chuyển đổi xã hội [9; 38]

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam những nghiên cứu về KNƯP còn chưa nhiều và xuất hiệnvài năm trở lại đây Trong các nghiên cứu về Kỹ năng sống có đề cập đếnKNƯP như một kỹ năng sống cơ bản giúp thế hệ trẻ hội nhập tích cực vàthành công Tuy nhiên những nghiên cứu này còn tản mạn chưa được biết đếnrộng rãi

Năm 2006, nhóm tác giả do Phan Thị Mai Hương ( Chủ biên) thuộc

Viện tâm lý học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên cứu vềcách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn tại một số trườngTHCS, THPT, Trung tâm giáo dục thường xuyên ở Hà Nội và một số trườngGiáo dưỡng số 2 Ninh Bình Nghiên cứu đã đưa ra một số đặc điểm ứng phócủa trẻ vị thành niên Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả Phan ThịMai Hương đã tìm hiểu về “Mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị

Trang 23

thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tố xã hội” và “mối tươngquan giữa cách ứng phó của trẻ vị thành niên trong hoàn cảnh khó khăn vớicác nhân tố nhân cách” Kết quả nghiên cứu khẳng định một số nhân tố xãhội như mức độ trải nghiệm các sự kiện của cuộc đời, chỗ dựa xã hội từ cácmối quan hệ với cha mẹ, thầy cô và bạn bè, thành tích học tập đạt được quacác năm học, những thành tích nổi bật trong hoạt động ở nhà trường và vịthế kinh tế - xã hội của gia đình có ảnh hưởng lớn đến khả năng đáp ứngtrước khó khăn của học sinh Nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên có chỗdựa xã hội vững chắc về tinh thần: có nơi để chia sẻ, nhận được sự thôngcảm, an ủi cũng như giúp đỡ, có sự quan tâm và hiểu biết lẫn nhau… và cóđịnh hướng tốt đẹp, ít trãi qua những sự kiện âm tính trong cuộc sống thìthường có những cách ứng phó tích cực trước hoàn cảnh khó khăn và ngượclại [9].

Tác giả Nguyễn Hữu Thụ với nghiên cứu “Các kiểu ứng phó với stress

trong học tập của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội” đã chỉ ra rằng chiếnlược ứng phó của sinh viên trước các tình huống gây stress trong học tập chủyếu bằng phương thức thay đổi nhận thức và hành vi bằng cách giải tỏa cảmxúc, đánh giá sự kiện xem nó có gây stress không và thay đổi hoạt động của

cá nhân Từ đó, sinh viên chủ động trong học tập, giảm bớt sự lo lắng vàcảm xúc tiêu cực nảy sinh từ các sự kiện gây stress cao trong học tập [22]

Nghiên cứu “Một số khó khăn trong học tập của trẻ vị thành niên và

cách ứng phó của các em” của nhà nghiên cứu Lưu Song Hà đã tập trung tìm

hiểu những biến đổi về tâm sinh lý, môi trường học tập từ tiểu học lên trunghọc cơ sở đã tạo ra những khó khăn tâm lý đặc trưng nào và liệt kê nhữngkiểu ứng phó của trẻ vị thành niên khi gặp khó khăn trong học tập Kết quảnghiên cứu chỉ ra rằng khi gặp khó khăn, trẻ vị thành niên thường sử dụng

Trang 24

trước hết là những cách thức ứng phó bằng hành động, tiếp đến là ứng phó vềtình cảm và cuối cùng là suy nghĩ [6].

Bên cạnh nghiên cứu của Viện tâm lý học, Trung tâm Thông tin vàChương trình Giáo dục Lê Thánh Tông, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố

Hồ Chí Minh với sự tài trợ của UNESSCO và UNICEF đã triển khai chươngtrình giáo dục kỹ năng sống

Gần đây cũng có một vài nghiên cứu đề cập đến vấn đề KNƯP như:

Năm 2008- Công trình nghiên cứu cấp Bộ của tác giả Đào Thị Oanh

cùng các cộng sự “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và kỹ năngđương đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên hiện nay” đã chỉ ra hầu hết họcsinh thiếu niên chưa biết đương đầu hiệu quả với các xúc cảm tiêu cực vàchưa hình thành một phong cách đương đầu nhất định với xúc cảm tiêu cực.Không thấy có sự khác biệt giữa học sinh nam và nữ; giữa các địa bàn khácnhau; giữa các khối lớp và giữa các trường với nhau [18]

Năm 2008- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Thu Hồng ( Viên Khoa

học giáp dục Việt Nam) nghiên cứu “Kỹ năng ứng phó với những khó khăntrong cuộc sống của học sinh Trung học Cơ Sở tại Hà Nội” cho thấy : họcsinh THCS gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Tuy nhiên, việc lựa chọn cácphương án tích cực để giải quyết những khó khăn của các em còn nhiều lúngtúng do thiếu hiểu biết về mặt xã hội, đặc biệt thiếu kỹ năng sống [8]

Tác giả Lê Minh Nguyệt ( Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) nghiên cứu “Xung đột tâm lý của thiếu niên với thiếu niên THCS”.

Tác giả Bùi Bích Phượng ( Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) nghiên cứu “Ứng phó với Stress trong học tập của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội”.

Tác giả Vũ Thị Thanh Hiển (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – Năm

2010) nghiên cứu “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn trong việc rèn luyệnnghiệp vụ của giáo sinh trường trung cấp sư phạm mầm non Đăk Lăk”

Trang 25

Tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội –

Năm 2012) nghiên cứu “Kỹ năng ứng phó với khó khăn trong cuộc sống củasinh viên dân tộc ít người trường cao đẳng sư phạm Thái Nguyên”

Như vậy, các nghiên cứu này xác nhận, thanh thiếu niên Việt Nam gặpnhững khó khăn tâm lý trong lĩnh vực học tập và trong hoạt động hàng ngày.Tùy vào đặc điểm nhân cách và môi trường xã hội mà các em sẽ chọn lựa cáccách đáp ứng trước những khó khăn khác nhau Việc phân tích lịch sử nghiêncứu về ứng phó với những khó khăn tâm lý của thanh thiếu niên cho thấy, córất ít công trình đi sâu nghiên cứu về kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lýtrong học tập của học sinh THPT Đặc biệt chưa có tác giả nào đi sâu nghiêncứu KNƯP với KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Kỹ năng và kỹ năng ứng phó

1.2.1.1 Kỹ năng

Theo một cách phổ biến nhất thì kỹ năng được hiểu là việc cá nhânthực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó Tuy nhiên khixem xét một cách hệ thống, chỉ tính riêng trong khoảng từ năm 1960 cho đếnnay đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về kỹ năng được các tác giả

đề cập đến Tóm lại chúng tôi nhận thấy chủ yếu tập trung vào hai cách tiếpcận nổi bật sau [7;10]:

Cách tiếp cận thứ nhất: Coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành

động hay hoạt động

Các tác giả theo khuynh hướng này coi kỹ năng là sự nắm vững và vậndụng phương thức hành động vào thực tiễn trên cơ sở tri thức và những kỹnăng được hình thành trước đó

Ph.N Gonobolin (1973) cho rằng Kỹ năng là những phương thức tươngđối hoàn chỉnh của việc thực hiện hành động bất kỳ nào đó Các hành động

Trang 26

này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được conngười lĩnh hội trong quá trình hoạt động.

A.V.Kruteski (1980) lại cho rằng: Kỹ năng là sử dụng các tri thức vàotrong thực hành, là phương thức thực hiện hoạt động – cái mà con người lĩnhhội được Trong một số trường hợp, KN là phương thức sử dụng các tri thứcvào trong thực hành, tức là khi có tri thức con người phải sử dụng nó vàotrong thực tiễn cuộc sống Và cũng trong quá trình ấy, các kỹ năng được hoànthiện hơn trước

Quan điểm của các tác giả này bộc lộ hạn chế là để đạt được kết quảcho mỗi hành động nếu chỉ nắm phương thức của hành động trong hoạt động

cụ thể liệu có mang lại kết quả? Covaliov cho rằng: “ KN là phương thức thựchiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” Theoông, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọnghơn cả năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thứchành động là đem lại kết quả tương ứng

Chung quan điểm với các tác giả trên, một số nhà Tâm lý học Việt Namnhư: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên cũng quan niệm kỹ năng

là mặt kỹ thuật của hành động, là hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành,phương thức vận dụng tri thức vào thực hành để giải quyết các nhiệm vụ đặt

ra phù hợp với điều kiện cho trước Con người nắm được các hành động tức

là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng

Tác giả Trần Trọng Thủy, trong cuốn “Tâm lý học lao động” cũng cho

rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động Con người nắm bắt được cách thức hành động là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng”[32;2].

Tác giả Bùi Thị Xuân đưa ra quan niệm: “Kỹ năng là sự vận dụng đúngđắn những tri thức, giá trị, thái độ liên quan vào hoạt động hay hành độngthực tiễn theo những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động

Trang 27

có kết quả” Theo tác giả chỉ khi nào cá nhân nắm rõ tri thức về phương thứcthực hiện hành động và có thái độ vận dụng nó vào thực tiễn thì cá nhân mớiđược coi là có kỹ năng trong hoạt động ấy.

Cách tiếp cận thứ hai: Xem xét kỹ năng không chỉ là kỹ thuật của

hành động còn là biểu hiện năng lực của con người Theo quan điểm này thì

kỹ năng vừa có tính ổn định vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo, vừa cótính mục đích Đại diện cho quan niệm này có các tác giả như: N.Đ Lêvitop,X.I Kixegof, K.K Platonov, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Tất Dong, NguyễnThạc, Vũ Dũng, Hà Thị Đức, Trần Quốc Thành… Tuy cách trình bày khác

nhau, nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất : Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một nhiệm vụ về lý luận hay thực tiễn nhất định, là năng lực vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có vào hoạt động cá nhân.

Theo N.Đ Lêvitôp thì “kỹ năng là sự thực hiện có hiệu quả của một tác động nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả” Ông cho rằng, con người có kỹ năng không chỉ nắm

bắt lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tế [41;3]

K.K Platonov khẳng định: “ Cơ sở tâm lý của những kỹ năng là sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích và hành động, các điều kiện và phương thức hành động”[36;77]

A.V Petropxki cũng khẳng định: “Kỹ năng là sự vận động tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra”[35;175]

N.D.Levitov, G.G.Golobev cho rằng kỹ năng là năng lực của ngườithực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điềukiện khác nhau và trong những khoảng thời gian tương ứng, các tác giả cũngđồng thời nhấn mạnh bất kỳ kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu

Trang 28

tượng, khái niệm, vốn, tri thức, kỹ xảo tập trung và phân phối, di chuyển chú

ý, kỹ xảo tri giác, qua sát, tư duy sáng tạo, tự kiểm tra, điều chỉnh quá trìnhhoạt động cũng như kỹ xảo hành động

Từ điển Tiếng Việt (1997) định nghĩa “Kỹ năng là sự vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”[34].

Trong từ điển tâm lý học do Vũ Dung chủ biên định nghĩa “ Kỹ năng

là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”[3;132].

Các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Thị Đức, Trần Quốc Thành đều

cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động trí tuệ hay hành động chân tay nhất định bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có của cá nhân” Kỹ năng đòi hỏi con người phải có tri thức

về hành động và những kinh nghiệm cần thiết, nhưng bản thân tri thức vàkinh nghiệm không phải là kỹ năng Muốn có kỹ năng, con người phải vậndụng vốn tri thức và kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn và có kết quả

Về thực chất, hai cách tiếp nhận trên không phủ định lẫn nhau Sự khácnhau giữa hai khuynh hướng chủ yếu ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phầncấu trúc của kỹ năng mà thôi Dù theo quan niệm nào khi nói đến kỹ năngchúng ta đều phải thống nhất một số quan điểm sau đây:

Thứ nhất, mọi kỹ năng đều phải dựa trên cơ sở là tri thức và kinh

nghiệm đã có Muốn có hành động, muốn thao tác được trước hết phải có kiếnthức về nó, dù cho tri thức có thể ẩn chứa ở những dạng khác nhau

Thứ hai, kỹ năng là mặt kỹ thuật của một thao tác hành động nhất định,

không có kỹ năng chung trừu tượng, tách rời hành động của cá nhân Kỹ năngcủa con người bao giờ cũng có mục đích, tức là trước khi hành động, thao táccủa con người đã hình dung ra kết quả cần đạt tới

Thứ ba, để có kỹ năng đòi hỏi con người phải biết cách hành động

trong những điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình, muốn vậy đòi hỏi

Trang 29

phải có sự tập luyện mới có được.

Thứ tư, tiêu chuẩn xác định sự hình thành và mức độ phát triển của kỹ

năng là : tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịpnhàng của các động tác trong hoạt động

Thứ năm, kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người, là sự

biểu hiện cụ thể của năng lực

Tổng hợp việc phân tích kỹ năng nói trên, tác giả luận văn xin đề xuất

khái niệm về kỹ năng như sau:

“Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức và kinh nghiệm đã có của chủ thể trong một lĩnh vực hoạt động nào đó phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh

cụ thể nhất định nhằm giải quyết thành công những nhiệm vụ đặt ra”.

Theo đó, kỹ năng có một số đặc điểm như sau:

- Kĩ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn

là mặt biểu hiện năng lực của chủ thể hành động

- Người có kỹ năng hành động là người vừa nắm vững tri thức vềphương thức tiến hành hành động, vừa luôn thực hiện được nó trong khi hànhđộng nhằm đạt kết quả mong muốn của hành động

- Việc thực hiện hành động được điều chỉnh theo mục đích và điềukiện cụ thể của hoạt động phù hợp với sự biến đổi của hiện thực khách quan

- Tiêu chí để xác định sự hình thành, mức độ phát triển của kỹ năng làtính đầy đủ, chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt, mềm dẻo và hiệu quả

Như vậy, kỹ năng của hoạt động cần dựa trên kiến thức, bởi lẽ xuấtphát từ cấu trúc của kỹ năng: hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả,hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó Nếu hành độngcòn mắc nhiều lỗi và vụng về, thiếu thời gian công thức triển khai, cứng nhắc,mang tính dập khuôn thì chưa thể coi là đã có kỹ năng Khi có kỹ năng conngười mới có thể sử dụng được tri thức một cách tự giác và có chủ định, biếtlựa chọn các biện pháp cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và vận dụng

Trang 30

biện pháp đó để đạt kết quả của hành động trong những điều kiện khác nhau.

* Mức độ kỹ năng ( Tiêu chí đánh giá kỹ năng)

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về mức độ hình thành kỹ năng Tác giảK.K.Platonov và G.G.Golubev, dựa vào quá trình phát triển KN, đã chiathành 5 mức độ hình thành kỹ năng như sau:

- Mức độ 1: KN còn rất sơ đẳng Ở mức độ này, chủ thể mới chỉ ýthức được mục đích, tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”

- Mức độ 2: KN đã có nhưng chưa đầy đủ Ở mức độ này, con ngườimới chỉ biết cách làm nhưng không đầy đủ, có hiểu biết về cách thức thựchiện hành động, sử dụng các kỹ xảo đã có những không phải là kỹ xảo chuyênbiệt dành cho hoạt động này

- Mức độ 3: KN còn mang tính riêng lẻ Ở mức độ này, con người cóhàng loạt những kỹ năng phát triển cao nhưng còn mang tính riêng lẻ, các KNnày cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau

- Mức độ 4: KN ở trình độ cao Ở mức độ này, cá nhân sử dụng thànhthạo các thao tác kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích

- Mức độ 5: KN tay nghề cao Ở mức độ này, cá nhân vừa thành thạovừa sáng tạo sử dụng các KN ở những điều kiện khác nhau

Theo cách phân chia này, kỹ năng được hình thành dần dần, từ thấp đếncao qua các giai đoạn: từ nắm được tri thức về kỹ năng đến có kỹ năng nhưngchưa đầy đủ, chưa thành thục, rồi đến đầy đủ và cuối cùng là có kỹ năng đầy

đủ, thành thạo các thao tác và linh hoạt trong mọi điều kiện của hoạt động Vàtheo đó, kỹ năng không chỉ được thể hiện qua tính đầy đủ, thành thạo mà cònđược đánh giá dựa trên sự ổn định, bền vững, linh hoạt Sử dụng cách phânchia này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khá toàn diện về mặt định tính và địnhlượng của kỹ năng và giúp cho việc nghiên cứu quá trình hình thành kỹ năngthuận lợi Việc xác định các mức độ của kỹ năng sẽ là căn cứ tiếp theo cho

Trang 31

việc định hình kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý ở phần sau.

Dựa trên quan điểm này, Luận văn dự kiến đánh giá kỹ năng nói chung

và kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý của HS THPT có thể dựa theo 5 mức

độ nêu trên và 3 tiêu chí sau:

- Tính đầy đủ: thể hiện sự có mặt đầy đủ các thành phần, các biểu hiện

của kỹ năng

- Tính thành thục của kỹ năng: thể hiện sự phù hợp của kỹ năng với

mục đích và điều kiện của hoạt động Tính thành thục thể hiện sự thành thạocủa từng thao tác và sự kết hợp hợp lý các thao tác về số lượng và trình tự

- Tính linh hoạt: thể hiện sự ổn định, bền vững và sáng tạo của kỹ

năng trong các điều kiện khác nhau của hoạt động

Kết hợp ba tiêu chí tính đầy đủ, tính thành thục, tính linh hoạt trongviệc đánh giá kỹ năng sẽ giúp chúng ta đánh giá cả mặt định lượng và mặtđịnh tính Trong đó, tính đầy đủ đánh giá mặt định lượng của kỹ năng, còntính thành thục và tính linh hoạt sẽ giúp đánh giá mặt định tính của kỹ năng

1.2.1.2 Kỹ năng ứng phó

* Khái niệm kỹ năng ứng phó

Để đưa ra khái niệm “kỹ năng ứng phó” phải xuất phát từ khái niệm

“kỹ năng “ và khải niệm “ứng phó”

Có nhiều định nghĩa về “ứng phó” Thuật ngữ “cope” trong tiếng Anh

có nghĩa là “ứng phó”, “đương đầu”, “đối mặt” với những tình huống vàhoàn cảnh bất thường khó khăn

Theo nghĩa rộng, ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủthể với những yêu cầu của thế giới bên ngoài và nội tâm - nắm bắt làm chủhay là suy giảm làm quen hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh

có vấn đề Những điều kiện bên ngoài – yêu cầu của hoàn cảnh, hay bên trong

- đặc điểm tâm lý của chỉ thể tạo nên nội dung của cách ứng phó, làm chúng

Trang 32

hoàn toàn khác biệt với sự thích ứng đơn giản.

Có quan điểm cho rằng: ứng phó tham gia vào hành động, khi mà tínhphức tạp của nhiệm vụ vượt qua tầm năng lượng của những phản xạ thườngngày và đòi hỏi những năng lượng mới, trong khi đó sự thích ứng ngày đã trởnên không đủ trong hoàn cảnh mới Hiện nay, những người đi theo lý thuyết

về stress của cuộc sống (Life stress paradigm) vẫn tiếp tục khẳng định ýtưởng này

Theo Adler, tương ứng với đường đời của con người, có thể coi ứngphó là phong cách sống của cá nhân, là sự tổng hợp những mục đích có ýnghĩa và cách đạt được chúng, được xác định như sự thống nhất giữa nhữngđặc điểm nhân cách, tâm thế và hoạt động hàng ngày Còn tương ứng vớihoàn cảnh, như một thời khắc của đường đời thì có thể coi ứng phó như một

sự thay đổi phong cách sống theo hoàn cảnh

Định nghĩa có thể chấp nhận được trong nghiên cứu này do Lazarus và

cộng sự đưa ra “Ứng phó là sự cố gắng cả trong hành động và về mặt tâm lý

để kiểm soát những đòi hỏi của môi trường cũng như bên trong cơ thể và các xung đột”[44;121]. Định nghĩa này bao hàm cả các khía cạnh nhận thức, cảmxúc và hành vi của quá trình ứng phó

Với cách tiếp cận đó, cách hiểu của ứng phó nổi lên có vai trò của hoàncảnh tình huống nhất định, đó là hoàn cảnh tâm lý cá nhân, diễn ra có ý nghĩavới cá nhân, tướng đối đặc thù chứ không phải hoàn cảnh xã hội chung Hoàncảnh tâm lý là sự thống nhất giữa các điều kiện bên ngoài và sự diễn giải chủquan của hạn chế theo thời gian và thúc đẩy có lựa chọn của con người

Ứng phó là cách mà cá nhân thể hiện sự tương tác của mình với hoàn cảnh tương ứng với logic riêng của họ, với ý nghĩa trong cuộc sống con người và với những khả năng tâm lý của họ [10;46]

Như vậy khái niệm ứng phó bao trùm một phạm vi rộng, bao gồm cả

Trang 33

những ứng phó nội tâm trước hoàn cảnh xảy ra (suy nghĩ và tình cảm) vànhững hành động bên ngoài nhằm đáp ứng yêu cầu của hoàn cảnh Ở đây ứngphó bao hàm cả nội dung của hoàn cảnh mà con người tri giác được và khảnăng tâm lý của cá nhân Ý nghĩa tâm lý ứng phó ở chỗ: làm thế nào để conngười thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của hoàn cảnh, cho phép họnắm bắt và làm chủ chúng, làm những yêu cầu của hoàn cảnh trở nên suy yếu,làm cho con người thoát khỏi hoặc làm quen với chúng và bằng cách đó cảihóa được những tác động gây stress của hoàn cảnh Nhiệm vụ chủ yếu củaứng phó là cung cấp và ủng hộ sự bền vững của con người, sức khỏe thể chấtcũng như tâm lý, làm thỏa mãn các quan hệ xã hội cá nhân.

Như vậy từ hai khái niệm “kỹ năng” và “ứng phó”, ta có thể hiểu: Kỹ năng ứng phó là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết có kết quả những tình huống, hoàn cảnh bất thường và khó khăn.

Khi giúp con người giải quyết những vấn đề cụ thể, các nhà tham vấnchuyên nghiệp thấy rằng: chú ý đến những KNƯP thường giúp ích cho cánhân, các KNƯP thành công thay đổi cùng với những hoàn cảnh có vấn đềphải vượt qua Tuy nhiên, học và luyện tập KNƯP thường được xem là rấthữu ích với hầu hết các cá nhân, thậm chí việc chia sẻ KNƯP với người kháccũng thường có ích

* Phương án ứng phó

Phương án ứng phó là sự ứng phó một cách chủ động có dự định trước một tình huống xảy ra Cách ứng phó là phương thức ứng phó cụ thể hơn

trước một tình huống, một hoàn cảnh nhất định Trong mỗi phương án ứngphó có thể có nhiều cách ứng phó khác nhau [10;48]

Có nhiều cách phân loại phương án ứng phó phụ thuộc vào đối tượngnghiên cứu của từng tác giả

Lazarus và Folkman cho rằng có hai phương án ứng phó với hoàn cảnh

Trang 34

Đó là tập trung trọng tâm vào vấn đề (hành vi hướng tới vấn đề cần giảiquyết, giải quyết vấn đề ) và tập trung vào các cảm xúc (thay đổi thái độ, tâm

thế của cá nhân trong mối quan hệ với hoàn cảnh) Phương án ứng phó trọng tâm vào vấn đề, hay là những cố gắng giải quyết vấn đề là sự cố gắng làm

một cái gì đó có tính xây dựng trước tình huống khó khăn, trong điều kiện

stress Phương án trọng tâm vào cảm xúc bao gồm những nỗ lực của con

người nhằm điều chỉnh các hệ quả của phản ứng cảm xúc trong các biến cốxảy ra [43;49] Theo Compas (1991) ứng phó tập trung vào vấn đề xuất hiện

từ tuổi thơ ấu, còn các KNƯP tập trung vào cảm xúc xuất hiện muộn hơn, vàogiai đoạn tuổi ấu thơ ấu hoặc đầu tuổi vị thành niên

Năm 1986, tác giả Lazarus, Folkman và các cộng sự phân chia cácphương án ứng phó một cách chi tiết hơn vào 8 nhóm:

- Sẵn sáng đương đầu được đặc trưng bởi những nỗ lực mang tính xâmkích nhằm thay đổi tình huống

- Tìm kiếm chỗ dựa xã hội đặc trưng bởi những cố gắng để có được sựbình ổn về cảm xúc và cơ hội để có thể chia sẻ thông tin với những ngườikhác về vấn đề vừa xảy ra với mình

- Giải quyết vấn đề có kế hoạch mô tả những nỗ lực nhằm giải quyếtvấn đề

Ba phương án này gần với phương án ứng phó đặt trọng tâm vào vấn

đề đã được nói ở trên.

- Kiểm soát bản thân mô tả những cố gắng điều chỉnh cảm giác củamình; giữ khoảng cách là những cố gắng không đề cập đến tình huống stress,thờ ơ với nó

- Đánh giá lại những điểm dương tính đặc trưng bởi những nỗ lực tìm

ra những ý nghĩa tốt đẹp trong việc trải nghiệm tình huống stress như việc coi

đó là cơ hội để bản thân lớn hơn, có kinh nghiệm hơn

Trang 35

- Chấp nhận trách nhiệm nhìn nhận lại trách nhiệm, vai trò của cá nhântrong vấn đề xảy ra.

- Lảng tránh, chạy trốn mô tả suy nghĩ hy vọng rằng tình huống xấu điqua thật nhanh hay là những nỗ lực chạy trốn hoặc lảng tránh tình huống bằngcách ăn uống, uống rượu hút thuốc lá, dùng ma túy…[44]

Các phương án này tập trung nhiều hơn vào việc điều chỉnh cảm xúc.Một cách phân loại khác là chia các loại phương án ứng phó của conngười thành 3 mảng : phương án ứng phó bằng nhận thức (cognitive copingstrategies), phương án ứng phó bằng hành động (behavioral copingstrategies), và phương án ứng phó bằng con đường sinh lý (physiologicalcoping strategies)

Phương án ứng phó bằng nhận thức gồm việc thay đổi cách diễn giải

hoàn cảnh khó khăn của con người và vì thế có thế thay đổi cách họ đáp lạihoàn cảnh Phương án này giúp con người suy nghĩ một cách bình tĩnh hơn,hợp lý hơn và có tính xây dựng hơn khi đối mặt với những khó khăn Việcứng phó thành công bằng con đường nhận thức không làm khó khăn nhỏ đinhưng nó làm cho chúng đỡ nguy hiểm hơn và đỡ có sức công phá hơn đốivới con người, về tổng thể có thể tạo ra trạng thái cảm xúc đầy hy vọng

Phương án ứng phó bằng hành động bao gồm việc lên kế hoạch, sắp

xếp lại các công việc phải làm trước hoàn cảnh xảy ra nhắm làm giảm đếnmức tối thiểu những khó khăn gây ra cho bản thân Phương án ứng phó bằnghành động chủ yếu nằm trong phương án giải quyết vấn đề mà một số tác giả

đã đề cập ở trên Nó gắn chặt với vấn đề lựa chọn và ra quyết định trên cơ sởphân tích hình thành và tiềm năng, khả năng của bản thân Như thế, phương

án ứng phó bằng hành động chú ý đến toàn bộ hoàn cảnh khó khăn trong mộttổng thế và những hành động của bản thân theo một kế hoạch nhất định

Phương án ứng phó bằng con đường sinh lý là việc phản ứng trực tiếp

Trang 36

hướng về thể chất của bản thân trước hoàn cảnh khó khăn, stress xảy ra , ví dụnhư sử dụng thuốc lá, rượu, ma túy,vv… Cách ứng phó này chỉ có tác dụngtạm thời vì nó không nhằm trực tiếp đến những vấn đề xảy ra [10].

Olson phân tích phương án ứng phó thành 3 loại: Phương án ứng phóhướng tác nhân kích thích, phương án ứng phó hướng đến làm giảm nhẹstress và phương án ứng phó nhận thức

Phương án ứng phó tác nhân kích thích, phương án này hướng đến tác

nhân kích thích nhằm cố găng thu hẹp, hạn chế tiêu cực của nguồn gây rastress, có thể hạn chế được nhuyên nhân của vấn đề, tiềm năng của sự đe dọacũng như giảm được khả năng kéo dài của stress; đẩy cách thức ứng phóxoay quanh vấn đề xảy ra; tìm hiểu kỹ lưỡng vấn đề, các nguyên nhân phátsinh, những bước hành động để khắc phục nó, làm thay đổi hoặc phát triểntheo hướng thuận lợi, gây tác hại ít hơn

Phương án ứng phó hướng đến làm giảm nhẹ stress, ứng phó hướng

đến phản ứng đáp lại nhằm giảm biên độ của phản ứng đáp lại stress, là mộttrong những cách làm quên đi tình huống khó khăn hiện tai (có thể bằng tậpluyện thể dục thể thao, sử dụng hóa chất, vv…)

Phương án ứng phó nhận thức là việc thay đổi cách nghĩ về tác nhân

gây stress cũng như phản ứng stress; đa số các phản ứng stress là kết quả củaphản ứng cảm xúc đối với sự kiện, về vấn đề xảy ra sẽ giúp con người suynghĩ về biến cố theo hướng tích cực Ví dụ: kỹ thuật tưởng tượng về bản thânvới đầy đủ tiềm năng để vượt qua khó khăn, lỗi suy nghĩ “trong cái rủi có cáimay” làm giảm ảnh hưởng có hại của stress đối với sức khỏe và với cơ thể

Phân chia theo hiệu quả, ảnh hưởng của các phương án ứng phó đối vớicon người, có tác giả phân biệt phương án ứng phó hiệu quả và phương ánứng phó không hiệu quả

Phương án ứng phó hiệu quả là những phương án giải quyết vấn đề cơ

bản những vấn đề xảy ra, giúp con người làm chủ tình thế, làm giảm đi đáng

Trang 37

kể tác hại của stress gây ra cho con người, mang đến cho hy vọng, niềm tin vànhững cảm giác dương tính về bản thân.

Phương án ứng phó không hiệu quả, ngược lại nó không giúp con

người đương đầu với stress một cách tốt đẹp mà làm suy sụp tinh thần củatình huống đó, không làm thay đổi ngược vấn đề thậm chí càng lún sâu vàovấn đề phức tạp hơn [43]

Erica Frydenberg và Ramon Lewis lại đưa ra 18 phương án ứng phó mà

trẻ vị thành niên hay sử dụng: 1) Tìm kiếm sự trợ giúp xã hội; 2) Tập trung giải quyết vấn đề; 3) Làm việc chăm chỉ và đạt được thành công; 4) Lo lắng; 5) Tập trung vào những người bạn thân; 6) Tìm hiểu sự gắn bó; 7) Mơ tưởng; 8) Buông xuôi; 9) Giảm thiểu căng thẳng; 10) Hành động xã hội; 11)Phớt lờ vấn đề ; 12) Tự trách bản thân; 13) Không nói vấn đề của mình với ai; 14) Tìm kiếm sự hỗ trợ về tâm linh; 15)Tập trung vào những mặt tích cực ; 16)Tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên nghiệp; 17)Tìm kiếm những trì giải trí; 18) Luyện tập thể chất [43].

Mỗi phương án ứng phó đều được xác định bởi ý nghĩa chủ quan củahoàn cảnh trải nghiệm và đều đáp ứng lại các nhiệm vụ đặt ra theo các cáchkhác nhau - giải quyết vấn đề thực tế hoặc trải nghiệm cảm xúc, thay đổi tựđánh giá hoặc điều chỉnh mối quan hệ qua lại với mọi người Không có mộtbảng phân loại chung cho các phương án ứng phó mà chúng được xác địnhbởi các nhà nghiên cứu khác nhau mà tùy theo hướng nghiên cứu của họ

1.2.2 Khó khăn và khó khăn tâm lý trong học tập

1.2.2.1 Khó khăn

Trong cuộc sống hàng ngày,chúng ta vẫn thường hay nói đến hai từ

“khó khăn” khi tiền hành công việc mà gặp phải một trở ngại nào đó Vậy thếnào là khó khăn?

Trong từ điển Anh - Việt, từ “difficultly” được dùng để chỉ sự khó khăn

sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực để khắc phục

Trang 38

Người ta hay dùng từ “shock” để chỉ sự khó khăn, sự sốc, sự choángváng trước một môi trường mới.

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng [34; 357] khó khăn có nghĩa là mấtnhiều trở ngại công sức

Theo từ điển láy Việt khó khăn có nghĩa là có nhiều trở ngại, mất nhiềucông sức [7;19]

Khái quát các quan điểm nêu trên chúng ta có thế hiểu: Khó khăn là sự gay go, khắc nghiệt gây ra những trở ngại… trong hoạt động, đòi hỏi chủ thể phải nỗ lực để vượt qua.

1.2.2.2 Khó khăn tâm lý

Trong thực tiễn cuộc sống, bất kỳ một hoạt động nào của con ngườicũng đều gặp phải những khó khăn, kể cả những hoạt động đã có kỹ năng.Những khó khăn gặp phải nếu con người ta không biết cách khắc phục thì sẽkhông vượt qua được hoặc nếu vượt qua thì hiệu quả công việc sẽ rất thấp.Đặc biệt là khi ta làm quen với hoạt động mới, môi trường mới

Những khó khăn, đặc biệt là những KKTL làm xuất hiện những hiệntượng tiêu cực, gây sốc, choáng, mệt mỏi, nhìn chung là làm mất phươnghướng và những điều đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả công việcđặc biệt là đối với lứa tuổi còn đang ngồi trên ghế nhà trường

Khó khăn tâm lý được biểu hiện ở các mặt:

+ Mặt nhận thức: Chủ thể chưa nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ hoạtđộng của mình, chưa đánh giá đúng khả năng của bản thân trong hoạt động.(Đánh giá quá cao hoặc quá thấp khả năng của bản thân trong hoạt động)

+ Mặt xúc cảm – tình cảm: Thiếu khả năng kiềm chế xúc cảm, tìnhcảm, thờ ở với hoạt động

+ Mặt hành vi: Những người có khó khăn tâm lí trong hoạt độngthường biểu hiện các hành vi lúng túng, nói năng thiếu chính xác, hoạt

Trang 39

động thiếu lôgic, hành vi diễn ra bột phát, không làm chủ được trong quatrình hoạt động.

Nhìn chung KKTL do những yếu tố bên ngoài (khách quan) và yếu tốbên trong (chủ quan) gây ra

Những yếu tố bên ngoài được kể đến như điều kiện, phương tiện hoạtđộng, môi trường gia đình, môi trường xã hội vv… những yếu tố này ảnhhưởng gián tiếp đến quá trình hoạt động của con người

Những yếu tố bên trong chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân nộitại mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động như: kiến thức, kinh nghiệm, kỹnăng, kỹ xảo, hứng thú và động cơ, những yếu tố này ảnh hưởng đến tiếntrình và kết quả hoạt động

Xét theo phương diện, nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thểphân làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý Yếu tố bên trong này ảnhhưởng trực tiếp đến tiến trình và kết quả hoạt động của con người [4] Nhữngkhó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là những KKTL

Trong quá trình nghiên cứu, ta có thể tìm thấy một thuật ngữ có nghĩatương đương với “khó khăn tâm lý” là “hàng rào tâm lý” V.Ph.Galugin chorằng: hàng rào tâm lý là chướng ngại có tính chất tâm lý, nó cản trở quá trìnhthích ứng của cá nhân đối với các yếu tố mới của ngoại cảnh, do các đặcđiểm của hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân tạo nên Theo B.D.Parughi cho rằng:hàng rào tâm lý được hiểu ngầm như các quá trình, các thuộc tính, các trạngthái của con người nói chung bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm con người

Từ các nghiên cứu về thuật ngữ “khó khăn tâm lý” cho thấy rằng khókhăn tâm lý xuất hiện khi cá nhân thể hiện tính thụ động, lúng túng trong việcthích ứng với các yếu tố mới của ngoại cảnh do năng lực trí tuệ, tình cảm, ýchí của họ không phù hợp với đối tượng hoạt động

Khó khăn tâm lý được xem là toàn bộ những nét tâm lý của cá nhân(nảy sinh ở chủ thể trong quá trình hoạt động với hoàn cảnh xác định) ít phù

Trang 40

hợp với những yêu cầu, đặc trưng của hoạt động đó, gây trở ngại cho tiếntrình và kết quả của hoạt động.

Khó khăn tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái, các đặc điểmnhân cách không phù hợp với đối tượng hoạt động, làm cho quá trình hoạtđộng gặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được khả năng của mìnhdẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế [25]

Qua nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu chúng tôi đưa ra định nghĩa về

KKTL như sau: KKTL là toàn bộ các yếu tố tâm lý của cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động, mà những yếu tố này tác động tiêu cực, thường làm cản trở, ảnh hưởng xấu đến tiến trình và kết quả của hoạt động đó.

1.2.2.3 Khó khăn tâm lý trong học tập

Trong sự phát triển giai đoạn lứa tuổi, hoạt động học tập của học sinhTHPT giúp các em tiếp thu những tri thức khoa học, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩxảo góp phần to lớn vào sự hình thành và phát triển nhân cách Tuy nhiên,không phải việc học lúc nào cũng diễn ra một cách thuận lợi mà có những lúcgặp khó khăn, bế tắc mà bản thân học sinh khó giải quyết được, dẫn tới việchọc tập trì trệ và kết quả không cao, không đạt được mục đích đề ra Đó làkhi các em đang gặp những khó khăn tâm lí trong học tập

Khó khăn tâm lý trong học tập chính là các trở ngại về mặt tâm lí trong quá trình học tập làm cho học sinh khó đạt hoặc không đạt được mục tiêu học tập

Mức độ của khó khăn tâm lí trong học tập có cả mức độ thấp là nhữngyêu cầu, thử thách các phẩm chất tâm lí ở học sinh để đạt được mục tiêu và cảmức độ cao làm cản trở động lực tiến hành các hành động học tập đạt đếnmục tiêu học tập Khi ở mức độ cao ấy, khó khăn tâm lí trở thành những ràocản tâm lý

* Biểu hiện của KKTL trong học tập

Ngày đăng: 02/04/2017, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Biểu hiện những khó khăn tâm lý trong học tập của HS THPT - KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH
Bảng 3.2. Biểu hiện những khó khăn tâm lý trong học tập của HS THPT (Trang 80)
Bảng 3.8. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó mang tính tích cực và tiêu cực của HS THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những KKTL trong học tập - KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH
Bảng 3.8. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó mang tính tích cực và tiêu cực của HS THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những KKTL trong học tập (Trang 97)
Bảng 3.9. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh nam và học sinh nữ - KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH
Bảng 3.9. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh nam và học sinh nữ (Trang 98)
Bảng 3.10. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những KKTL trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh xét theo khối lớp - KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH
Bảng 3.10. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những KKTL trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh xét theo khối lớp (Trang 100)
Bảng 3.11. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những - KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH
Bảng 3.11. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những (Trang 103)
Bảng 3.14. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những KKTL trong học tập của học sinh Phùng Hữu T. - KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH
Bảng 3.14. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những KKTL trong học tập của học sinh Phùng Hữu T (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w