Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non được lồng ghép trongcác hoạt động khác nhau như: hoạt động khám phá khoa học, hoạt động khámphá môi trường xung quanh, hoạt động âm nhạc
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Cô giáo PGS.TS LãThị Bắc Lý – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thànhLuận văn này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến với:
Các thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục Mầm non; Ban giám hiệu; Phòng sau đạihọc; Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Ban Giám hiêu, Ban Chủ nhiệm khoa Tiểu học – Mầm non Trường cao đẳng sưphạm Salavanh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu
Ban giám hiệu, tập thể giáo viên cùng các cháu mẫu giáo hai trường mầm non:Trường tư thục Lào-Việt Nguyễn Du, xã Đông Pa Lẹp, Huyện Chan Thu Bu Ly,Thủ đô Viêng Chăn và trường song ngữ Lào-Việt Khongsedon, xã Khong Nhay,Huyện Salavanh, Tỉnh Salavanh đã tạo điều kiện thuận lợi giup tôi tiến hànhnghiên cứu để hoàn thành Luận văn
Cảm ơn gia đình, anh chị em đồng nghiệp, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, khích lệ,động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Vanchay Bouakasy
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MG: Mẫu giáo
MN: Mầm non
GVMN: Giáo viên mầm non
MTXQ: Môi trường xung quanh
TC: Tiêu chí
TN: Thực nghiệm
ĐC: Đối chứng
Tb: Trung bình
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5.Giả thuyết khoa học 6
6.Nhiệm vụ nghiên cứu 6
7.Phạm vi nghiên cứu 7
8.Phương pháp nghiên cứu 7
9.Đóng góp của đề tài 8
10 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở LỚP MẪU GIÁO SONG NGỮ LÀO – VIỆT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH 10
1 Cơ sở ngôn ngữ học 10
1.1 Từ Tiếng Việt 10
1.1.1 Khái niệm về từ Tiếng Việt 10
1.1.2 Chức năng của từ Tiếng Việt 11
1.1.3 Thực từ 12
1.2 Vốn từ 14
1.2.1 Khái niệm vốn từ 14
1.2.2 Đặc điểm về vốn từ của trẻ và mức độ nắm vững ý nghĩa từ vựng 15
1.2.3 Ý nghĩa của việc phát triển vốn từ cho trẻ MGL 17
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt 19
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ em Lào 5 – 6 tuổi 19
Trang 41.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG
song ngữ Lào – Việt 22
1.4 Hoạt động cho trẻ khám phá môi trường xung quanh 24
1.4.1 Khái niệm và nội dung của hoạt động khám phá môi trường xung quanh 24
1.4.2 Hoạt động cho trẻ khám phá môi trường xung quanh với việc phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt 31
Chương II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI LỚP MẪU GIÁO SONG NGỮ LÀO – VIỆT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH 38
2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 38
2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 38
2.3 Nội dung điều tra 38
2.3.1 Khảo sát môi trường xung quanh được sử dụng trong hoạt động cho trẻ khám phá môi trường xung quanh 38
2.3.2 Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ MG 5 – 6 tuổi lớp song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh 38
2.4 Phương pháp điều tra 39
2.5 Phân tích kết quả điều tra 40
2.5.1 Kết quả điều tra các chủ đề cho trẻ khám phá môi trường xung quanh hiện đang áp dụng cho các trường mầm non 40
2.5.2 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về các vấn đề có liên quan đến việc phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh: 41
2.5.3 Kết quả điều tra việc sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 -6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh ở trường MN 45 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở LỚP MG SONG NGỮ
Trang 5LÀO – VIỆT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG
XUNG QUANH 57
3.1 Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào–Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh 57
3.1.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ MG 5-6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào–Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh 57
3.1.2 Đề xuất các biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ MG 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh ở trường MN song ngữ Lào – Việt 61
3.2 Thực nghiệm một số biện pháp phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh 74
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 74
3.2.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 74
3.2.3 Thời gian thực nghiệm: từ ngày 75
3.2.4 Địa bàn thực nghiệm 75
3.2.5 Điều kiện thực nghiệm 75
3.2.6 Nội dung thực nghiệm: 76
3.2.7 Tiêu chí và cách đánh giá 76
3.2.8 Tổ chức thực nghiệm 76
3.2.9 Phân tích kết quả thực nghiệm 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 100
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Mục tiêu của giáo dục mầm non
Là phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ cả về trí tuệ, thể chất, ngôn ngữ,thẩm mỹ, đạo đức, năng động, sáng tạo, linh hoạt trong mọi hoạt động Trong
đó, giáo dục ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng Ngôn ngữ làcông cụ của tư duy, là đặc quyền của con người Ngôn ngữ vừa là hình thức thểhiện của tư duy vừa là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàngkiến thức của dân tộc, nhân loại Đối với trẻ mầm non, ngôn ngữ đóng vai trò vôcùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Nhiềunhà nghiên cứu đã xem công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ yếu củahoạt động trong trường mầm non, là tiền đề cho mọi sự thành công khác
1.2 Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ vừa mang ý nghĩa giáo dục vừa
mang ý nghĩa nhân văn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng mẹ đẻ Nộidung phát triển ngôn ngữ cho trẻ bao gồm các mặt: giáo dục ngữ âm, từ vựng,ngữ pháp, phát triển lời nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ tập đọc, tập viết, cảmnhận ngôn ngữ nghệ thuật, giáo dục văn hóa giao tiếp bằng ngôn ngữ
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non được lồng ghép trongcác hoạt động khác nhau như: hoạt động khám phá khoa học, hoạt động khámphá môi trường xung quanh, hoạt động âm nhạc… Để thực hiện tốt nhiệm vụphát triển ngôn ngữ cho trẻ thì việc đầu tiên là phải quan tâm phát triển vốn từ.Bởi việc phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ là điều kiện, phương tiện quantrọng để làm tăng khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ trong giao tiếp với mọingười xung quanh, đồng thời làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho trẻ Nó
là điều kiện phát triển tư duy, giúp trẻ tự tin, chủ động và tích cực hơn khi thamgia vào các hoạt động ở trường mầm non cũng như hoạt động giao tiếp mọi lúc,mọi nơi Vì vậy, giáo dục mầm non coi việc hình thành và phát triển vốn từ làmột nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ Phát triển vốn từ là một
Trang 7quá trình lâu dài, nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lượng và nâng cao chất lượng
từ vựng.
Hoạt động khám phá môi trường xung quanh được coi là phương tiện
quan trọng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Mục tiêu của khám pháMTXQ là: Giúp trẻ có những hiểu biết đơn giản, chính xác, cần thiết về các sựvật, hiện tượng xung quanh; phát triển các kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội vàhình thành cho trẻ thái độ sống tích cực trong môi trường, trong đó mục tiêuphát triển kỹ năng là mục tiêu cơ bản.Trong hoạt động này giáo viên có thể lựachọn những đè tài, nội dung khám phá phong phú.Chính vì vậy mà thông quahoạt động này,trẻ được tiếp xúc với nhiều từ loại khác nhau hấp dẫn, khơi dậytính tò mò, phát triển tư duy, tình cảm và yếu tố thẩm mỹ Nếu biết cách khaithác để phát triển vốn từ cho trẻ thông qua khám phá môi trường xung quanh thìkhông những vốn từ của trẻ được tăng lên, trẻ có khả năng sử dụng và cảm nhậnngôn ngữ nghệ thuật tốt hơn mà còn phát triển đời sống tinh thần, giúp trẻ hiểubiết thế giới xung quanh đa dạng và sâu sắc hơn để phát triển nhân cách mộtcách toàn diện
1.3 Ý nghĩa của việc dạy Tiếng Việt cho trẻ MG Lào: Trong thời đại công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam – Lào đã và đang thực hiện chính sách mởcửa hội nhập với kinh tế thế giới Mặc dù phải trải qua nhiều thử thách, nhưngvới quyết tâm khẳng định mình, Lào đã không ngừng học hỏi, không ngừngvươn lên để lớn mạnh hơn, sánh vai với các nước trên thế giới và trong khu vực
Sứ mệnh của đất nước đặt lên vai thế hệ trẻ Làm thế nào để đào tạo ra thế hệtương lai cho đất nước Đó là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho nền giáo dụcnước nhà Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, trong đó giáo dục Mầm non
là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò quan trọng, lànền tảng cho sự phát triển của các bậc học tiếp theo Người Lào nói chung, trẻ
em Lào nói riêng từ lâu đã có truyền thống học Tiếng Việt
Vấn đề dạy Tiếng Việt cho trẻ em Lào hiện nay được đưa vào từ cấp họcmầm non Điều đó sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng để phát triển tình hữu nghị
Trang 8lâu đời và bền vững giữa hai nước Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Biệnpháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi ở lớp mẫu giáo song ngữ Lào– Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người” Ngôn ngữ đượchình thành, tồn tại và ngày càng phát triển trong xã hội loài người do ý muốn vànhu cầu của con người Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi bướcđầu tiếp cận một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
có liên quan đến vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ mầm non Cụ thể như sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ MG nói chung
Ở tuổi MG, trẻ phải nắm được một số vốn từ cần thiết đủ để cho chúng giaotiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trường mầmnon, chuẩn bị học tập ở trường phổ thông, xem các chương trình truyền hình,truyền thanh, tham gia các hoạt động xã hội gần gũi với đời sống của trẻ… Vìvậy muốn mở rộng thêm vốn từ cho trẻ người lớn phải thường xuyên cho trẻđược làm quen, tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể và đặc tính của
nó để từ đó trẻ nhớ được từ Theo bà E.I Tikheva, việc mở rộng khối lượng từcho trẻ trước hết phải là từ biểu tượng chứ không phải là từ âm thanh Nghĩa là,chúng ta càng cung cấp cho trẻ nhiều biểu tượng bao nhiêu thì ngôn ngữ của trẻcàng phát triển bấy nhiêu Có rất nhiều biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻnhưng theo các nhà khoa học, một trong những biện pháp hữu hiệu và dễ dàng
sử dụng nhất đối với cô và trẻ là phương pháp quan sát vật thật, tranh ảnh, kểtruyện, thăm quan, hay tổ chức trò chơi cho trẻ Những tư tưởng của bà cònđược nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và pháttriển như: M.M Kônxôva: “Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học”, L.P Pheedorencô:
“Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ mẫu giáo”, A.P Uxôva: “dạy học ở mẫugiáo” Tại Việt Nam, tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em trước tuổi đếntrường phổ thông” đã được lựa chọn để đem vào sử dụng như một tài liệu giảng
Trang 9dạy chính thức trong các trường sư phạm MN từ những năm 70 của Thế kỉ XXvẫn còn giữ nguyên giá trị đến ngày nay.
Các tác phẩm trên đều đã nghiên cứu và phát triển ngôn ngữ trẻ em về: ngữ
âm, từ vựng, ngôn ngữ mạnh lạc trước tuổi đi học để từ đó đề ra các nhiệm vụ,phương pháp, biện pháp đề phát triển từng mặt Bên cạnh đó, Kaka-hai-no-dichtrong tác phẩm: “dạy trẻ học nói như thế nào” cũng đề cập đến nhiều vấn đề dạytrẻ học nói Ông cho rằng “sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em trải qua các giaiđoạn từ thấp đến cao” Ông đã đưa ra nhiều phương tiện, biện pháp và cách thứcgiúp những bậc cha mẹ áp dụng trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày vào việcdạy trẻ học nói và phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Ở Việt Nam, trong những thập niên gần đây đã và đang có rất nhiều cố gắngtrong nghiên cứu tiếng mẹ đẻ cho trẻ Bên cạnh đó cũng đưa ra nhiều phươngpháp giáo dục thích hợp cho trẻ ở Việt Nam thông qua các công trình nghiêncứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ của các tác giả như: Nguyễn Huy Cẩn,Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái, Lê Thị Ánh Tuyết, Lã Thị Bắc Lý, NgôThu Thủy, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan,… và rất nhiều tác giả khác nữa
Tác giả Đinh Hồng Thái có thể nói là một trong những nhà nghiên cứu hàngđầu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Ông có rất nhiều công trình nghiên cứunhư: “ Phát triển ngôn ngữ trẻ em – chuyên đề cao học”, “Giáo trình phát triểnlời nói trẻ em”, “ Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫugiáo”, “Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi Mầm non”… Trong các công trìnhnày, tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận cơ bản cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻđồng thời đưa ra những phương pháp, cách thức, con đường, hình thức giáo dụcphù hợp với từng nội dung và tương ứng với từng độ tuổi khác nhau một cách hệthống và cụ thể
Trong tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tácgiả Nguyễn Xuân Khoa đã đề cập đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ quacác giai đoạn khác nhau của từng độ tuổi Ông đưa ra được cơ sở lý luận vàkhoa học để cho thấy tầm quan trọng cũng như vai trò của việc phát triển ngôn
Trang 10ngữ đối với trẻ mầm non Đồng thời, ông cũng chỉ ra nội dung, nhiệm vụ,phương pháp, phương tiện, hình thức phát triển cụ thể qua từng giai đoạn khácnhau của từng độ tuổi Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến việc cho trẻ làmquen với các tác phẩm văn học, giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ và khả năngcảm thụ văn học cũng như sáng tạo nghệ thuật ngay từ tuổi MN.
Trong công trình: “ Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 6tuổi” của tác giả Lưu Thị Lan đã khẳng định: “Sự phát triển ngôn ngữ của trẻchịu ảnh hướng rất lớn của yếu tố gia đình và sự tích cực của giao tiếp với mọingười xung quanh” Tác phẩm đã nghiên cứu về tất cả các khía cạnh của ngônngữ ở trẻ độ tuổi MN, đưa ra hệ thống các đặc điểm phát triển ngôn ngữ baogồm: phát âm, từ vựng, vốn từ, phát triển lời nói mạch lạc và các yếu tố ảnhhưởng tới việc hình thành và phát triển ngôn ngữ ở trẻ từ 0 – 6 tuổi Từ đó xâydựng nội dung, phương pháp, con đường phù hợp với trẻ từng độ tuổi để dạy trẻhọc nói một cách hiệu quả
Trong bài viết “ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ có nhu cầu đặc biệt – vấn đề cầnđược quan tâm trong thời kỳ hội nhập quốc tế” ( Kỷ yếu hội thảo GVMN trongthời kỳ hội nhập quốc tế), tác giả Lã Thị Bắc Lý đã đề cập đến việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ thuộc đối tượng đặc biệt về ngôn ngữ và văn hóa ( trẻ emkhuyết tật và trẻ dân tộc thiểu số) Tác giả khẳng định GVMN cần đặc biệt quantâm đến hai nhóm đối tượng này, nhất là quan tâm đến mặt ngôn ngữ để đảmbảo quyền lợi và công bằng cho các em được đến trường phổ thông, được hưởngthụ nền giáo dục về văn hóa của dân tộc và nhân loại
Bài viết” Can thiệp lời nói và ngôn ngữ cho trẻ nhỏ: Một số kỹ năng cơ bảntrong việc xây dựng mục tiêu can thiệp” của tác giả Phạm Thị Bền đã bàn đếnmôt số kỹ năng cũng như kỹ thuật cần thiết để xây dựng mục tiêu can thiệp lờinói và ngôn ngữ cho trẻ thuộc đối tượng này
Bên cạnh đó còn rất nhiều công trình nghiên cứu, luận án, luận văn, khóaluận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Trang 11Như vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một khoa học Muốn phát triểnngôn ngữ cho trẻ tốt nhất cần phải có sự định hướng, giáo dục từ người lớn.Thành tựu của các công trình nghiên cứu trên chính là cơ sở, nền tảng góp phầnquan trọng trong việc giáo dục ngôn ngữ trẻ em nói riêng và giá trị của ngôn ngữnói chung góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
2.2 Các công trình nghiên cứu về phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo Lào
Các công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫugiáo Lào gần như không có Giáo viên mầm non của Lào hầu như giảng dạybằng kinh nghiệm của bản thân mình
3 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6tuổi lớp MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trườngxung quanh
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ
5-6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào-Việt
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ
5-6 tuổiở lớp MG song ngữ Lào –Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
5 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ MGLào 5 – 6 tuổi, lớp song ngữ Lào – Việt một cách hợp lý và khoa học qua hoạtđộng khám phá môi trường xung quanh thì vốn từ của trẻ ở lứa tuổi này sẽ đượcphát triển tốt hơn bởi vì thông qua đó trẻ phát triển được kỹ năng nhận thức, kỹnăng xã hội và hình thành cho trẻ thái độ sống tích cực trong môi trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nghiên cứu và đánh giá thực trạng việc phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6
Trang 12tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh
6.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6
tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh
6.4 Tổ chức thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề
xuất
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Phạm vi về trẻ
Trẻ 5- 6 tuổi tại Lào, lớp MG song ngữ Lào – Việt
7.2 Phạm vi về khám phá môi trường xung quanh
Môi trường xung quanh rất đa dạng nên có nhiều chủ đề như động vật,thực vật, đất, nước, không khí, …Trong phạm vi đề tài này, tôi xin phéptrọng tâm chủ đề “Thực vật”
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tổng hợp, phận tích, nghiên cứu, khái quát hệ thống hóa các nguồn tài liệu cóliên quan đến đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp điều tra phiếu Anket
Sử dụng phiếu hỏi nhằm thăm dò ý kiến giáo viên tại các trường mầm non vềtrình độ, thái độ, kinh nghiệm và việc sử dụng các biện pháp phát triển vốn từTiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào –Việt thông qua hoạt
Trang 13động khám phá môi trường xung quanh.
8.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Phân tích và đánh giá giáo án của giáo viên
8.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Chúng tôi ứng dụng toán thống kê vào việc xử lý các số liệu thu thập được để từ
đó đưa ra những đánh giá, nhận xét một cách chính xác và khách quan
9 Đóng góp của đề tài
Về lý luận: Xây dựng cơ sở lý luận về việc phát triển vốn từ Tiếng Việt cho
trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ thông qua hoạt động khám phá môi trườngxung quanh
Về thực tiễn:
Làm rõ thực trạng phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp
MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trườngxung quanh, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế đồng thời phân tíchnguyên nhân của thực trạng đó
Xây dựng một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6tuổi ở lớp MG song ngữ thông qua hoạt động khám phá môi trườngxung quanh
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu thamk khảo, nội dungchính của luận văn gồm có ba chương:
Trang 14Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thực trạng phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi lớp MG
song ngữ Lào –Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh
Chương III: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng
Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi lớp MG song ngữ Lào – Việt qua hoạt động khám phámôi trường xung quanh
Trang 15NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở LỚP MẪU GIÁO
SONG NGỮ LÀO – VIỆT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI
TRƯỜNG XUNG QUANH
1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1 Từ Tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm về từ Tiếng Việt
Khái niệm về từ Tiếng Việt trong ngôn ngữ học được đưa ra không ít, cónhiều quan điểm Bách khoa toàn thư Việt Nam đưa ra khái niệm: Từ là đơn vịsẵn có trong ngôn ngữ Từ là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoànchỉnh, được dùng để cấu thành nên câu Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danhtừ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ) Từ là công cụbiểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực
Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khácnhau, như cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong cách học, cú pháp học
Các định nghĩa trên đúng nhưng chưa đủ vì nó không bao gồm được hếtcác sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ Từ trong mỗi ngôn ngức khác nhau sẽkhác nhau và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy Vì lẽ đó mà không ít nhữngnhà khoa học đã chối bỏ khái niệm “từ” hoặc nếu thừa nhận thì họ cũng tránhđưa ra một khái niệm chính thức
Trong các định nghĩa hiện có thì định nghĩa của Giáo sư Đỗ Hữu Châu –nhà nghiên cứu từ vựng tiếng Việt là bao quát hơn cả “Từ của tiếng Việt là mộthoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp cố định,nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất
để tạo câu”
Định nghĩa trên đã khái quát được các đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt, đó là:
Trang 16- Từ tiếng Việt là một âm tiết như: đi, cây, bố, mẹ… từ tiếng Việt có một số âmtiết như: chủ nghĩa xã hội, hợp tác xã, xinh đẹp… Từ tiếng Việt cố định, bất biến
về hình thức ngữ âm
- Mỗi từ tiếng Việt mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định Đó là đặc điểm
về khả năng kết hợp với các từ khác, khả năng đảm nhiệm những chức vụ ngữpháp trong câu…
- Mỗi từ tiếng Việt nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định: không là từ đơn thì là
từ láy, từ ghép
- Các từ thuộc cùng một kiểu cấu tạo sẽ có cùng một kiểu ý nghĩa Ví dụ: từghép đẳng lập có nghĩa mang tính khái quát (ví dụ: học tập, ăn uống, nhà cửa,bàn ghế…), từ ghép chính – phụ có nghĩa mang tính phân loại (ví dụ: xanh lơ,máy bay, cá voi…)
- Từ là đơn vị lớn nhất trong tiếng Việt vì không đơn vị ngôn ngữ nào có sẵn màlại lớn hơn từ Với tư cách là đơn vị tạo câu thì từ được coi là đơn vị nhỏ nhất
1.1.2 Chức năng của từ Tiếng Việt
Từ có các chức năng sau: chức năng biểu danh, chức năng biểu niệm vàchức năng biểu cảm
Chức năng biểu danh (còn gọi là chức năng biểu vật): là chỉ vật được nói tới.Chức năng biểu niệm: Từ là tên gọi của khái niệm, tổng hợp, khái quát hóa.Chức năng biểu cảm: là mối quan hệ giữa từ và người sử dụng từ, hay nói cáchkhác là thái độ, cảm xúc, tình cảm của người sử dụng trong quá trình giao tiếpbằng ngôn ngữ Nó được thể hiện rõ hơn khi được kết hợp với ngữ điệu củangười nó Ví dụ: Ôi trời đẹp quá! Ôi cô ấy xinh quá!
Vốn từ biểu danh, biểu niệm, biểm cảm có mối quan hệ biện chứng với nhau.Vốn từ biểu niệm được hình thành trên vốn từ biểu danh giàu có và phong phú.Vốn từ biểu danh và biểu niệm là cơ sở để hình thành thái độ, tình cảm cho trẻ
Do đó, trong trường MN chúng ta cần tích cực dạy trẻ vốn từ biểu niệmđơn giản, gần gũi với cuộc sống xung quanh của trẻ qua ngôn ngữ - hành vi của
Trang 17người lớn, qua nhân vật trong truyện Qua đó, hình thành thái độ, tư tưởng, tìnhcảm cho trẻ và cách sử dụng ngôn ngữ để biểu lộ tình cảm.
1.1.3 Thực từ
Thực từ có nhiều cách định nghĩa khác nhau như:
Trong tác phẩm "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại" của Nguyễn Văn Tu thìđịnh nghĩa: Người ta gọi những từ có ý nghĩa chân thực như từ "nhà" là thực từ.Nhưng thực từ có giá trị đầy đủ và có vị trí độc lập, rõ ràng, không cần bàn cãi
Theo Nguyễn Kim Thản trong "Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt" thìnhững từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành phần câu gọi là thực từ
Trong bài viết "Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt" củaHồng Dân thì: Thực từ là những từ có khả năng một mình tạo thành câu, mộtmình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời có chứcnăng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính sự vật
Trong cuốn sách"Ngữ pháp tiếng Việt" của Nguyễn Tài Cẩn thì: Tiếngđộc lập, thực, chính là những yếu tố xưa nay ta thường quen gọi là thực từ
Trong bài viết "Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt" củaĐinh Văn Đức cho rằng: Trong bản thân ý nghĩa của mỗi từ loại, thực từ bao giờcũng chứa đựng sự thống nhất của các nhân tố "từ vựng" và nhân tố "ngữ pháp"
Thực từ là từ có "nghĩa thực" (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng,loại nghĩa mà nhờ nó có thể làm được sự liên hệ giữa các từ với sự vật, hiệntượng nhất định Ví dụ: cơm, bánh, ăn, sản xuất, ngon, giỏi, tích cực Thực từ
có thể dùng làm phần đề và phần thuyết trong một nòng cốt câu Với hai thực từ
đã có thể cấu tạo được một nòng cốt câu đơn theo "Ngữ pháp tiếng Việt" của Ủyban Khoa học xã hội Việt Nam
Giáo trình “Tiếng Việt và tiếng Việt thực hành” của nhóm tác giả: Lã ThịBắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga đã phân chia từ loại tiếng Việtgồm: thực từ, hư từ và lớp từ trung gian Đề tài của chúng tôi chỉ quan tâm tới lớpthực từ
Thực từ gồm các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ
Trang 18- Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật ( sự vật được hiểu theo nghĩakhái quát nhất: đồ vật, động vật, cây cối, con người )
Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và từ chỉđịnh ở sau để tạo nên cụm danh từ mà nó là thành tố trung gian
Danh từ có khả năng đảm nhiệm thành phần chính và thành phần phụtrong câu
Danh từ được chia thành các tiểu loại như sau : danh từ riêng, danh từchung
- Động từ là những từ ngữ chỉ hiện tượng, trạng thái ( trạng thái vật lí,sinh lí, tâm lí)
Động từ có khả năng làm thành tố trung tâm trong cụm từ chính phụ, màcác thành tố phụ tiêu biểu là các phụ từ, trong đó có các phụ từ chỉ mệnh đề
Động từ đảm nhiệm được chức năng của các thành phần chính và thànhphần phụ trong câu
Động từ được chia thành các tiểu loại sau: động từ độc lập và động từkhông độc lập
- Tính từ là những từ ngữ chỉ tính chất; đặc điểm của sự vật, của hỏa động,
Tính từ được chia thành các tiểu loại sau: tính từ có ý nghĩa tính chất tự thân có
mức độ (đỏ au, trắng toát ); tính từ có ý nghĩa tính chất tự thân không cómức độ ( đỏ, trắng ) Ngoài ra căn cứ vào ý nghĩa khái quát, có thể phânbiệt hai loại tính từ: các tính từ biểu hiện chỉ đặc điểm về chất và các tính
từ chỉ đặc điểm về lượng
- Số từ có ý nghĩa khái quát chỉ số lượng hay thứ tự sự vật
Trang 19Số từ có khả năng kết hợp với danh từ làm thành tố phụ chỉ số lượng sjw vật
hoặc chỉ thứ tự sự vật
Trong câu, số từ cũng có khả năng độc lập thực hiện chức vụ của các thành phần
câu như làm vị ngữ nhưng rất hạn chế
1.2 Vốn từ
1.2.1 Khái niệm vốn từ
Vốn từ là số lượng từ hay còn gọi là từ vựng Đó là tập hợp các từ và cụm
từ cố định Vốn từ vựng của ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từkhông đồng nhất và có chất lượng khác nhau Vốn từ bao gồm các cơ cấu từ loạinhư: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ Trong vốn từ vựng của một sốngôn ngữ đều có những từ cũ và mới, những từ phổ biến, từ địa phương, từchuẩn mực và những từ vạy mượn, từ chuyên môn
Số lượng từ trong Tiếng Việt vô cùng lớn Vốn từ của một ngôn ngữ là tổng số
và hệ thống hóa toàn bộ từ và cụm từ cố định của ngôn ngữ đó Vốn từ vựng củamột ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có chấtlượng khác nhau Vốn từ bao gồm từ mới, từ cũ, từ phổ thông, từ địa phương, từchuẩn mực, từ vay mượn, từ chuyên môn
Đối với mỗi cá nhân khác nhau thì có Vốn từ khác nhau, vốn từ này phụthuộc vào độ tuổi, sự phát triển trí tuệ, nhận thức và văn hóa của từng cá nhân.Vốn từ của trẻ 4 tuổi có khoảng 1035 từ, trẻ 5 tuổi có 1204 từ, trẻ 6 tuổi 1423 từ.Vốn từ của người có trình độ văn hóa cao khoảng 6000-9000 từ, nhà thiên tàixấp xỉ 20.000 từ
Dựa vào tần xuất sử dụng từ trong đời sống xã hội, người ta phân chia vốn
Trang 20Ngoài ra, việc tích cực hóa vốn từ tức là chuyển từ từ thụ động sang từtích cực là một nội dung quan trọng của giáo dục ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt là trẻ
ở trường mầm non song ngữ Việt – Lào Phát triển vốn từ được hiểu như mộtquá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã tiếp thu được tronglịch sử Nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lượng và tích cực hóa vốn từ từ việclĩnh hội dần dần những kinh nghiệm lịch sử xã hội thể hiện phù hợp trong hoàncảnh giao tiếp
Như vạy, nhiệm vụ nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ đặc biệt là trẻ em
ở trường mầm non song ngữ không chỉ là giúp trẻ mở rộng vốn từ, làm giàu vốn
từ về mặt số lượng mà còn góp phần tích cực hóa vốn từ trong giao tiếp Từvựng thể hiện một cách đầy đủ, toàn diện mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cuộcsống xã hội
1.2.2 Đặc điểm về vốn từ của trẻ và mức độ nắm vững ý nghĩa từ vựng
Trẻ mẫu giáo lĩnh hội vốn từ ngữ chỉ là bước đầu nên không phải các từđều được trẻ sử dụng và tiếp nhận ngay Vốn từ của trẻ tăng dần lên theo lứatuổi, song không đồng đều mà có lúc nhanh, lúc chậm và có sự chênh lệch về sốlượng từ giữa trẻ cùng độ tuổi, thậm chí có những trẻ ít tháng tuổi lại có nhiều từhơn so với trẻ nhiều tháng tuổi do những nguyên nhân tâm lý xã hội Từ 12tháng trở đi, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên Ở 18tháng tuổi, số từ bình quân là 11 từ Từ 19 – 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh.Đến 21 tháng trẻ đạt tới 220 từ Giai đoạn 21 – 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt
234 từ vào tháng 24, sau đó lại tăng tốc 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ.Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ,tính từ và các loại khác rất ít danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các convật gần gũi như: chó, mèo, chim… Động từ chỉ hoạt động gần gũi của trẻ vànhững người xung quanh như: ăn, uống, ngủ, đi… Trẻ 4 tuổi có thể nắm đượckhoảng 1.035 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh từ và động từ Trẻ 5 tuổi vốn từ tăngbình quân đến 1.204 từ; tính từ và các loại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn.Trẻ 6 tuổi có 1.423 từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ
Trang 21Những trẻ có số lượng từ nhiều thường là những trẻ có điều kiện sống tốt hơn,được kết hợp bởi các yếu tố như: bố mẹ có trình độ văn hóa, trẻ thường xuyênđược tiếp xúc bằng ngôn ngữ với mọi người xung quanh Sự chênh lệch về sốlượng từ của trẻ trong cùng một năm ở trẻ dưới 3 tuổi lớn hơn nhiều so với trẻ từ5– 6 tuổi Do vậy, ở trẻ 5 – 6 tuổi sự khác biệt trong vốn từ của trẻ về cơ bản đó
là khả năng và trình độ sử dụng vốn từ vào các nội dung và hoàn cảnh khácnhau Điều này liên quan đến khả năng hiểu nghĩa từ cũng như trình độ nhânthức, trình độ tư duy của trẻ
Về khả năng hiểu nghĩa của từ ở trẻ diễn ra với nhiều mức độ khác nhau,
nó phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức của trẻ, nhất là khả năng kháiquát hóa Trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng hiểu nghĩa của nhiều từ loại khác nhau,không chỉ là những từ biểu thị các sự vật, hành động, tính chất cụ thể mà cònhiểu được những từ mang tính chất trừu tượng, biểu cảm Do vậy, trẻ có khảnăng sử dụng đúng từ ngữ với nghĩa mà từ biểu thị trong những hoản cảnh cụthể Tuy nhiên, trẻ 5 – 6 tuổi là thời kỳ tiếp thu và sử dụng từ Đôi khi có trườnghợp trẻ nhớ được từ nhưng chưa hiểu được nghĩa của từ trong các hoản cảnhgiao tiếp nên sử dụng chưa đúng với nghĩa của nó trong câu
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm được một số vốn từ cần thiết đủ để chochúng giao tiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trongtrường MN, chuẩn bị học tập ở trường phổ thông hay xem các chương trìnhtruyền hình, truyền thanh, tham gia các sinh hoạt xã hội gần gũi với đời sống củatrẻ Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là một nhiệm vụquan trọng trong nội dung giáo dục trẻ Phát triển vốn từ là một quá trình lâu dàicủa việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử Tronghoàn cảnh khác nhau, điều kiện khác nhau thì sự tiếp xúc của trẻ với con người
và sự vật, hiện tượng xung quanh khác nhau sẽ dẫn đến mức độ và khả năng sửdụng từ của trẻ là khác nhau Những trẻ được giáo dục chu đáo, được tiếp xúcvới nhiều từ ngữ nghệ thuật giàu âm thanh, giàu hình ảnh, được tiếp xúc với môitrường xung quanh phong phú, cộng với tính tích cực trong nhận thức và giao
Trang 22tiếp của trẻ thì khả năng sử dụng từ ngữ của trẻ sẽ càng được nâng cao Trẻkhông những biết sử dụng chính xác mà còn mang tính gợi cảm.
Sự hình thành vốn từ kết hợp chặt chẽ với quá trình phát triển tư duy vàhoạt động nhận thức tích cực của trẻ Vì thế chúng ta cần mở rộng môi trườngcho trẻ được tiếp xúc, được giao lưu học hỏi để nâng cao nhận thức, đồng thờilàm phát triển vốn từ cho trẻ Ngoài ra, trong quá trình hình thành và phát triểnvốn từ cho trẻ cần chú ý sao cho có đủ các loại từ tiếng Việt với tỷ lệ thích hợp
Số lượng từ lớn mà cơ cấu từ loại không hợp lý hoặc thiếu một số từ loại nào đóthì sẽ khó khăn khi trẻ diễn đạt Đây chính là trách nhiệm của cô giáo MN nóiriêng và của ngành giáo dục MN nói chung để nâng cao hiệu quả phát triển ngônngữ cho trẻ
1.2.3 Ý nghĩa của việc phát triển vốn từ cho trẻ MGL
Phát triển vốn từ cho trẻ bao gồm ba nhiệm vụ chính: làm giàu vốn từ, củng cốvốn từ; tích cực hóa vốn từ Ba nhiệm vụ này luôn gắn liền với nhau và gắn liềnvới quá trình nhận thức của con người
Theo quan điểm duy vật biện chứng: “Phát triển là một phạm trù triết họcdùng để chỉ quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từkém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng” thì sự phát triển diễn
ra không phải theo một đường thẳng mà quanh co, phức tạp theo đường xoắn ốc
Nó là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
Quan điểm “Phát triển vốn từ cho trẻ MGL là quá trình tác động và có ýthức của các nhà sư phạm nhằm khơi dậy, phát huy ở trẻ những năng lực về sựlĩnh hội và sử dụng vốn từ trong giao tiếp” đề cập đến việc phát triển vốn từ phảibao hàm sự phát triển cả về lượng và chất, trong đó đề cao sự phát triển về chất.Quá trình phát triển về chất là một quá trình lâu dài và không dễ dàng phát hiện,nhất là sự hình thành và phát hiện tư duy con người Do vậy, khi ta tiến hìnhnhững tác động sư phạm ở giai đoạn 5 – 6 tuổi không thể đòi hỏi trông thấyngay được sự phát triển về chất trong việc trẻ lĩnh hội, sử dụng vốn từ nói riêng
và tiếp thu ngôn ngữ nói chung mà chúng ta phải tiến hành một cách từ từ, kiên
Trang 23trì tránh gây cho trẻ những căng thẳng, áp lực Mặt khác, trẻ từ 1 – 6 tuổi là thời
kỳ đang hình thành và phát triển ngôn ngữ với các bước phát triển về mặt ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp Ở độ tuổi này trẻ có một số lượng từ nhất định và nóđược tăng lên theo độ tuổi Trong quá trình dạy trẻ có thể dựa vào đặc điểm tưduy, nhận thức và vốn từ hiểu biết của trẻ để làm giàu vốn từ cho trẻ thông quacác hoạt động khác nhau Để phát triển vốn từ cho trẻ thì chúng ta chỉ nên dừnglại ở việc tạo hứng thú, yêu thích việc nghe – nói để từ đó trẻ có ý thức sử dụngngày càng nhiều vốn từ của mình
Vốn từ là điều kiện, phương tiện quan trọng để phục vụ cho hoạt độnggiao tiếp của trẻ Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ nhưmột phương tiện giao tiếp Nó thể hiện ở chỗ người nói có thể diễn đạt, miêu tảmột cách sinh động, cụ thể, chính xác, logic các sự vật, hiện tượng làm chongười nghe cảm thấy bị lôi cuốn và dễ dàng hiểu được ý của người nói Mọi sựvật, hiện tượng trở nên có hồn hơn dưới tác dụng tích cực của ngôn ngữ, bởi khivốn từ phong phú người nói có thể dễ dàng lựa chọn và sử dụng từ ngữ một cáchphù hợp, linh hoạt và sáng tạo trong hoạt động giao tiếp làm cho lời nói củamình thêm sinh động, biểu cảm và sắc bén hơn Ngược lại, nếu vốm từ nghèonàn thì người nói sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn từ ngữ phù hợp với hoàncảnh giao tiếp Sự linh hoạt, sáng tạo và biểu cảm trong lời nói cũng khó có thểđạt tới một cách dễ dàng Cho nên vốn từ nghèo nàn có ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả của hoạt động giao tiếp, không gây được ấn tượng cũng như sự chú ýđặc biệt đối với người nghe, đôi khi còn mang cảm giác khó hiểu cho ngườinghe hoặc cũng có thể làm cho người nghe hiểu nhầm ý của người nói
Khả năng hiểu nghĩa của từ có liên quan chặt chẽ đến quá trình nhận thứccủa trẻ Từ là tên gọi của các sự vật, hiện tượng mà con người nhận thức đượctrong thế giới hiện thực xung quanh mình Từ vựng thể hiện một cách toàn diệnmối quan hệ giữa ngôn ngữ và cuộc sống xã hội Do đó, phát triển vốn từ cho trẻkhông những giúp trẻ phát triển nhận thức, củng cố được các biểu tượng mà còngiúp trẻ nắm vững được tiếng mẹ đẻ và phát triển nhân cách toàn diện
Trang 24Hơn nữa, nếu nhà giáo dục thực sự quan tâm đến sự phát triển vốn từ chotrẻ thì việc hiểu nghĩa của từ và sử dụng từ trong lời nói của trẻ cũng trở nênchính xác và rõ nghĩa hơn Vì vậy, giáo viên MN cần có một cách dạy dỗ đúngđắn giúp trẻ có đủ vốn ngôn ngữ để tham gia vào hoạt động giao tiếp hàng ngày,chuẩn bị tâm thế bước vào lớp một, đồng thời rèn luyện văn hóa nói cho trẻ.
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ em Lào 5 – 6 tuổi
Trẻ em Lào cũng gần như trẻ em Việt Nam và các nước trên thế giới đếngiai đoạn tuổi mẫu giáo thường có khuynh hướng muốn độc lập, trưởng thành.Trẻ bắt đầu biết khám phá và rất tò mò Sự phát triển tâm lý ở giai đoạn này cónhiều thay đổi, vì trẻ bắt đầu được hòa mình vào môi trường tập thể, đó là môitrường lớp học
Sự phát triển tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi được chi phối bởi các yếu tố sau:
- Ảnh hưởng của nền văn hóa
- Ảnh hưởng của các hoạt động
- Ảnh hưởng của điều kiện sinh học (di truyền)
- Ảnh hưởng của giáo dục
Trẻ em bắt đầu có sự tiếp xúc với bên ngoài, giao tiếp với “người lạ” khicác em bước vào độ tuổi đi mẫu giáo, bạn bè ở trường mẫu giáo là một thế giới
vô cùng rộng lớn đối với trẻ thơ Có rất nhiều em hứng thú với việc tới lớp vàomỗi sáng, nhưng trái lại cũng có rất nhiều em có tâm lý sợ tới trường Mặc dù ở
đó có bạn bè để chơi, có thầy cô, nhưng với các em, vẫn luôn sợ tới lớp Thậmtrí có những em nhỏ thường kêu với bố mẹ đau bụng vào sáng thứ 2, tuy nhiêntriệu chứng này của các em cũng nhanh biến mất nếu như cha mẹ cho phép nghỉhọc ở nhà buổi hôm đó Rõ ràng đó là những dấu hiệu tâm lý của trẻ em sợ đihọc Nguyên nhân chính đó là các em chưa tìm thấy hứng thú trong việc đi học,hoặc cảm thấy sợ cô giáo, sợ bị bạn bắt nạt….Những em nhỏ nào có hứng thú
Trang 25với việc đi học ở trường mầm non thì trong kí ức của các em sau này, trườngmầm non là một thế giới tuyệt vời, và rất nhiều kỉ niệm đẹp.
Cũng trong giai đoạn này trẻ em có hứng thú với việc khám phá thế giớixung quanh, tò mò và liên tục thắc mắc các vấn đề với cha mẹ Nếu cha mẹ hiểuđược tâm lý của con, và định hướng sẽ có thể đem lại nhiều hiệu quả tích cực
Ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi, trí tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh vàphần lớn thời gian của trẻ là chơi đùa Trẻ chơi mà học và học mà chơi.Chúng tự nghĩ ra những trò chơi và chơi mãi không chán, đôi khi quên cả đi
vệ sinh Trẻ con ở lứa tuổi này không thích những trò chơi phức tạp, nhiềuquy tắc Những trò chơi ngắn sẽ thích hợp với trẻ ở lứa tuổi này vì khoảngthời gian chú ý, tập trung của trẻ không kéo dài Trẻ thường bắt chước theocác nhân vật trên phim, kịch Nhiều lúc cha mẹ sẽ cảm thấy vui vui vì nghechúng lặp lại nguyên văn lời thoại các nhân vật mà chúng yêu thích Chúng cahát, múa, uốn éo thân hình như các ca sĩ, người mẫu trên ti vi trông rất ngộnghĩnh và đáng yêu làm sao
Trẻ mẫu giáo ở Lào luôn muốn là trung tâm chú ý của người lớn Khi trẻlàm được việc gì mà trẻ cho là rất “xuất sắc” nhưng với người lớn thì họ chorằng rất bình thường, trẻ thường cáu giận, quấy khóc cho đến khi được ngườikhác công nhận.Trẻ không thích bị chê trong tuổi này và rất dễ tủi thân, hayvùng vằng, làm mình mẩy để được dỗ dành Hiểu được tâm lý của trẻ giai đoạnnày, cha mẹ sẽ biết cách dạy dỗ trẻ tốt hơn
1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ (từ) Lào
Tiếng Lào (tên gốc: phát âm: phasa lao là một ngôn ngữ chính thức củaLào Đây là một ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai, chịu những ảnh hưởngcủa tiếng Phạn Tiếng Lào cũng là ngôn ngữ truyền thống của Hoàng gia Lào,truyền đạt tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo
Tiếng Lào có ảnh hưởng ít nhiều đến những sinh ngữ khác trong vùng đốivới các lân bang như tiếng Thái, tiếng Khmer, tiếng Việt Lào ngữ được coi làmột ngôn ngữ hỗn hợp ở bán đảo Đông Nam Á
Trang 26Tiếng Lào có những thanh điệu và phát âm giống tiếng Thái, phần tươngđồng lên đến hơn 80% Vì vậy đối thoại giữa người Lào và người Thái Lan cóthể hiểu nhau được Ở Đông Bắc Thái Lan dân địa phương có thể nói chuyệnvới người Lào dễ dàng.
Thực chất, theo Lịch sử Biên giới giữa Lào và Thái Lan thì trước kia biêngiới nước Lào từng kéo dài xuống cả phía Tây Nam sông Mekong nên ở đó cómột tộc người được gọi là người Lào Isản (được gọi tục là Lào mọi hay Tháimọi vì da của họ rất đen giống người Châu Phi) mà đặc điểm của người Lào Isảntuy có làn da xấu nhưng họ rất có năng khiếu về thơ phú và âm nhạc nên họthường sáng tác rất nhiều bài hát Lào và Thái rất nổi tiếng
Về sau do nhiều cuộc giao tranh mà Thái lan giành được phía Tây NamMekong mà hợp thành đất Thái lan nên trở thành Đông Bắc Thái lan và ngườiLào I-sản ở đây vẫn có truyền thống sáng tác nhiều bài hát mà vì thế rất nhiềubài hát Thái lan nhưng lại mang 'hợp ngữ Lào - Thái' và cũng vì thế người ĐôngBắc Thái lan gần như sử chung ngôn ngữ bình thường với người Lào nhưng sâuhơn vào nội địa của Thái lan thì người ta sử dụng tiếng thuần Thái nên có thểkhi sử dụng tiếng Lào sẽ khiến người Thái ở Bangkok không thể hiểu được
Hiện nay tiếng Lào được 2 'trường phái' khác nhau phiên âm, một là docác Hiệp hội Văn hóa Hữu nghị Lào - Việt thực hiện thì họ phiên sang âm tiếngViệt vì tiếng Việt gần như có khá đầy đủ các bộ âm chuẩn mà không thể phát âmsai được
Một trường phái khác là phiên âm sang hệ ngữ Latinh nhưng rất lungtung, cũng giống như tiếng Thái khi phiên âm sang hệ ngữ Latinh thì người ta dễnhầm lẫn giữa các Phụ âm như 'p' có thể bị đọc thành 'f' mà cũng có thể bị đọcthành 'ph', 't' thì cũng có thể bị đọc thành 't' mà cũng có thể thành 'th' ngoài ra
sự hợp ngữ giữa các Nguyên âm cũng bị phiên rất lung tung nên khó mà đọcchuẩn xác nếu căn cứ theo phiên âm Quốc tế
Vì vậy, phiên âm theo tiếng Việt là cách phiên âm chuẩn nhất đối vớitiếng Lào và tiếng Thái nói chung (mặc dù có nhiều bộ âm của Lào và Thái
Trang 27không thể phiên âm sang tiếng Việt được nhưng vẫn đạt được khoảng 85-90%
so với tiếng Lào và khoảng 70-75% so với tiếng Thái thì dù sao vẫn tin cậy hơn
là phiên sang các Hệ ngữ Quốc tế khác)
Chính vì vậy, nếu học tiếng Lào và tiếng Thái qua các Ngôn ngữ khác thì
sẽ cực kỳ khó khăn bởi các ngôn ngữ khác không có thanh điệu và âm ngữ củacác nước khác thường bị biến đổi khó phù hợp với các quy tắc của tiếng Thái vàtiếng Lào
1.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt
Ngoại ngữ, hay ngôn ngữ thứ hai là thứ tiếng được phát triển có thể sau,
có thể đồng thời với ngôn ngữ được nói nhiều nhất trong gia đình hay cộng đồngchúng ta đang sống Học Tiếng Việt hay bất cứ ngoại ngữ nào với trẻ nhỏ là làmquen với ngôn ngữ thứ hai qua nhiều hình thức, hoạt động phù hợp với nhậnthức, cảm xúc, kỹ năng, nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của từng lứa tuổi để ngônngữ có thể vào một cách tự nhiên, chuẩn xác và với một lộ trình phù hợp nhất
Song ngữ là khả năng hiểu và làm người khác hiểu mình bằng hai thứtiếng Chương trình song ngữ là chương trình mà hơn một thứ tiếng được sửdụng trong ngày Chương trình song ngữ khuyến khích trẻ em sử dụng ngôn ngữthứ nhất trong trường (ngôn ngữ mẹ đẻ hay ngôn ngữ sử dụng nhiều nhất ở nhà)
và giới thiệu Tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai Trẻ em sẽ liên hệ ngôn ngữ vớinhững người cụ thể nói thứ tiếng đó và với địa điểm, môi trường nơi hai ngônngữ được sử dụng một cách có hệ thống
Tầm quan trọng của việc học ngôn ngữ thứ hai cũng như các điều kiện tốtnhất để học ngôn ngữ thứ hai đã được chứng minh và khẳng định:
Song ngữ thịnh hành hơn là những người chỉ nói một thứ tiếng nghĩ Hơn70% dân số thế giới nói hơn một thứ tiếng Vậy nên việc lớn lên nói hơn một thứtiếng cũng tự nhiên như việc nói một thứ tiếng vậy Nghiên cứu chỉ ra rằng 6năm đầu đời là giai đoạn quan trọng nhất cho phát triển ngôn ngữ và trẻ con có
Trang 28thể học hơn một thứ tiếng từ khi mới sinh ra và đây là hiện tượng bình thường ởnhiều nước trên thế giới.
Ngôn ngữ được thực hiện và nắm bắt với các thành phần sau: âm củangôn ngữ, vốn từ vựng, ngữ pháp, cái cách các từ được sắp đặt và xếp vào vớinhau, cách các câu được ghép lại với nhau và các luật lệ sử dụng ngôn ngữ Trẻ
em được xem là sử dụng ngôn ngữ thành thạo khi chúng nắm bắt được các mảnhghép đó
Tuy nhiên, ngôn ngữ không chỉ là từ và ngữ pháp, ngôn ngữ liên quan đếnviệc học cách sử dụng nó trong cái cách chấp nhận được về mặt giao tiếp xã hội.Trong những năm đầu đời, giao tiếp với người lớn và trẻ em là chìa khóa để họcngôn ngữ
Lợi ích của việc học ngôn ngữ thứ hai không chỉ nằm trong ngôn ngữ.Những lợi ích phi ngôn ngữ đó là: nâng cao tính tự trọng của trẻ, suy nghĩ tíchcực và tự tin với việc học ngôn ngữ, sự linh hoạt trong tư duy và nhận thức, tăngkhả năng giải quyết vấn đề, dám nghĩ dám làm trong việc học, dám đổi mớitrong khi học (bao gồm các môn học khác)
Một chương trình mầm non tốt có thể đẩy mạnh khả năng giao tiếp ngônngữ của trẻ và nó cũng có thể củng cố và gìn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ (ngôn ngữ ởnhà) cho trẻ song ngữ Vì vậy, điều quan trọng khi cho trẻ em học Tiếng Việtnhư ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ phải được làm quen trong một chương trìnhmầm non hơn là dạy một cách trực tiếp Tiếng Việt Trong thời gian đầu họcTiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, những đứa trẻ nói thứ tiếng khác ở nhà họccách kết nối các từ với những khái niệm chúng được học với ngôn ngữ đầu tiên.Những đứa trẻ này sẽ có cơ hội trở thành "song ngữ" nếu chúng được phép sửdụng ngôn ngữ ở nhà trong môi trường mới ở trường cũng như được học bằngngôn ngữ thứ hai các từ mới, đồ vật mới, hành động mới đã được học qua ngônngữ đầu tiên của chúng Các nghiên cứu khoa học khẳng định tầm quan trọngcủa việc trẻ em phải được tiếp tục học thứ tiếng đầu tiên của chúng vì có nhiều
Trang 29bằng chứng cho thấy rằng việc học ngôn ngữ thứ hai sẽ tốt hơn nhiều nếu ngôn
ngữ thứ nhất là nền tảng vững chắc cho ngôn ngữ thứ hai
1.4 Hoạt động cho trẻ khám phá môi trường xung quanh
1.4.1 Khái niệm và nội dung của hoạt động khám phá môi trường xung quanh
1.4.1.1 Khái niệm
1.4.1.1.1 Khái niệm “Môi trường xung quanh”
Tác giả Hoàng Thị Phương định nghĩa “Môi trường xung quanh là tất cả những gì bao quanh chúng ta như tự nhiên, con người, các đồ vật Khái niệm này có thể nhìn nhận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp” Theo nghĩa rộng, MTXQ
là tất cả các sự vật, hiện tượng, con người có trong hành tinh mà chúng ta đangsống Theo nghĩa hẹp, MTXQ là những hoàn cảnh cụ thể (các sự vật, hiệntượng, con người ) bao quanh một đối tượng có liên quan mật thiết với nó
MTXQ bao gồm cả môi trường tự nhiên và xã hội Môi trường tự nhiênbao gồm tự nhiên vô sinh và hữu sinh Môi trường xã hội bao gồm mọi người,
đồ vật và xã hội loài người Các môi trường trên có mối liên hệ tác động lẫnnhau
Các tác giả Hoàng Thị Oanh và Nguyễn Thị Xuân đưa ra khái niệm:
“MTXQ bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh trẻ Có quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sự tồn tại và phát triển trẻ em Có thể phân chia MTXQ thành môi trường tự nhiên và môi trường xã hội”
Môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ các sự vật, hiện tượng của giới vôsinh (không khí, ánh sáng, nước, đất, sỏi, đá ) và thế giới hữu sinh (động vật,thực vật, con người) Giới hữu sinh tồn tại, sinh trưởng và sinh sôi nảy nở thôngqua quá trình trao đổi chất Ở giới vô sinh không có trao đổi chất, khi bị tácđộng của các yếu tố môi trường thì các thành phần của giới vô sinh có thể bị pháhủy hoặc chuyển sang một dạng vật chất vô sinh khác Tuy có điểm khác nhau
cơ bản như vậy nhưng giới vô sinh và giới hữu sinh có mối quan hệ với nhau rấtmật thiết Môi trường thiên nhiên là nguồn cung cấp những yếu tố cần thiết cho
Trang 30sự sống của trẻ nói riêng và giới sinh vật nói chung Thiên nhiên với sự đa dạng
về chủng loại, cấu tạo, môi trường sống với các mối quan hệ liên hệ có tínhquy luật, với những thay đổi và phát triển liên tục không ngừng là nguồn cungcấp thông tin, kiến thức phong phú là mục đích của những khám phá ở trẻ
Môi trường xã hội bao gồm môi trường chính trị, môi trường sản xuất racủa cải, vật chất cho xã hội, môi trường sinh hoạt xã hội và môi trường văn hóa.Môi trường xã hội có tầm quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhâncách Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, môi trường xã hội xung quanh trẻ baogồm những đồ vật, những sự kiện xã hội cụ thể, các mối quan hệ qua lại giữangười với người, đặc trưng cho một giai đoạn phát triển của xã hội loài người.Môi trường xã hội cung cấp phong phú và đa dạng
1.4.1.1.2 Khái niệm “ Khám phá MTXQ”
Theo từ điển Tiếng Việt “Khám phá” là tìm ra, phát hiện ra cái mới, cái ẩn dấu.Cho trẻ khám phá môi trường xung quanh cũng chính là việc giáo viên tạo ramôi trường, các tình huống, các điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động đểcho trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện ra những điều thú vị về các sự vật, hiện tượng
tự nhiên xung quanh trẻ, thông qua đó trẻ hiểu biết về tên gọi, đặc điểm, thuộctính, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của các sự vật, hiệntượng tự nhiên Điều quan trọng hơn là thông qua các hoạt động khám phá nàytrẻ học được các kĩ năng quan sát, so sánh, phân tích, đo lường, suy luận, giảiquyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của bản thân và đưa ra kết luận
Như vậy có thể hiểu “Khám phá môi trường xung quanh” là một nội dungmới trong chương trình giáo dục mầm non (ban hành tháng 7/2009) thay cho nộidung “Làm quen với Môi trường xung quanh” trong chương trình trước đó
“Khám phá MTXQ” là một quá trình tiếp xúc, tìm tòi tích cực từ phía trẻ nhằmphát hiện những cái mới, những cái ẩn dấu trong các sự vật, hiện tượng xungquanh So với “Làm quen” thì “Khám phá” bao gồm các hoạt động đa dạng, tíchcực hơn; nội dung khám phá cũng phong phú sâu sắc hơn
Trang 311.4.1.1.3 Khái niệm “Phương pháp hướng dẫn trẻ khám phá với môi trườngxung quanh”:
Theo từ điển Tiếng Việt – Viện Khoa học xã hội nhân văn, “Phươngpháp” được định nghĩa là phương thức hoạt động gắn bó giữa giáo viên và trẻnhằm đạt được kết quả giáo dục và giáo dưỡng nhất định như: lĩnh hội tri thức,rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực trí tuệ, hình thành các phẩm chấtđạo đức và thói quen hành vi
Dựa vào các khái niệm trên, có thể hiểu “Phương pháp hướng dẫn trẻkhám phá với MTXQ” là phương thức hoạt động gắn bó giữa giáo viên và trẻnhằm tạo điều kiện cho trè đuợc tiếp xúc với MTXQ, giúp chúng thích ứng vớimôi trường, có hiểu biêt vê môi trường, từ đó tích cực tham gia “cải tạo’ môitrường nhằm thoà mãn nhu câu phát triển của bản thân
1.4.1.2 Nội dung của hoạt động khám phá môi trường xung quanh
Mục tiêu của khám phá MTXQ là giúp trẻ có những hiểu biết đơn giản,chính xác, cần thiết về các sự vật, hiện tượng xung quanh; phát triển các kỹ năngnhận thức, kỹ năng xã hội và hình thành cho trẻ thái độ sống tích cực trong môitrường, trong đó mục tiêu phát triển kỹ năng là mục tiêu cơ bản Để đạt được cácmục tiêu nêu trên rất cần sự hướng dẫn, giúp đỡ phù hợp từ phía giáo viên.Trong những năm gần đây việc cho trẻ khám phá MTXQ đã có những đổi mớiđáng khích lệ Nhiều trường mầm non đã mạnh dạn lựa chọn những đề tài, nộidung khám phá rất mới so với những đề tài quen thuộc trước đây Đã có sự chútrọng nhất định trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho trẻ Tuy vậy trongquá trình khám phá MTXQ vẫn còn có những hạn chế, thể hiện rõ nhất là việc
ôm đồm quá nhiều nội dung khám phá trong một hình thức tổ chức Điều nàylàm cho các hoạt động khám phá trở nên nặng nề, quá tải, trẻ không được thamgia những trải nghiệm phù hợp với khả năng, vì vậy không có cơ hội phát triển ởtrẻ các kỹ năng nhận thức, khám phá Quy trình khám phá mỗi nội dung thườngchỉ bắt đầu bằng câu hỏi của cô và câu trả lời của trẻ, hoặc chính cô lại là ngườinói, trẻ chỉ nghe một cách thụ động Để khắc phục những hạn chế nêu trên, mỗi
Trang 32nội dung của MTXQ được tiến hành khám phá như thế nào? Dưới đây chúng tôixin đưa ra quy trình khám phá mỗi nội dung trên cơ sở tổng hợp kiến thức, kinhnghiệm từ thực tiễn giảng dạy và hướng dẫn thực hành cho sinh viên ngành Giáodục Mầm non.
Hoạt động cho trẻ mầm non khám phá môi trường xung quanh nhằm giúptrẻ tiếp xúc với môi trường qua đó để hình thành biểu tượng về thế giới xungquanh Dạy trẻ khám phá là giáo viên tổ chức hoạt động học theo nhóm nhằmphát huy năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho trẻ Trong dạy học khám pháđòi hỏi người giáo viên gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thứccủa trẻ Hoạt động của cô bao gồm: định hướng phát triển tư duy cho trẻ, lựachọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với trẻ; tổ chức trao đổi theonhóm; các phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết…Hoạt động chỉ đạo của giáoviên cần hỗ trợ để cho mọi trẻ đều trao đổi, hoạt động tích cực Trong dạy họckhám phá, trẻ tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường hoạt động thựctiễn nhận thức; Giáo viên kết luận, đưa ra nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho trẻ
tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức bản thân
Bước 1: Giáo viên đặt câu hỏi về nội dung mà trẻ cần khám phá
Đây là cách giáo viên giao nhiệm vụ, định hướng khám phá giúp trẻ hiểuđược cái gì trẻ cần khám phá, cần phải biết Ví dụ: Quả dứa có những gì? (hỏi vềcấu tạo); Con thỏ ăn gì? (hỏi về thức ăn); Cây xanh có cần nước không? (hỏi vềmối quan hệ) Câu hỏi cần sát với nội dung khám phá nhưng cũng cần phảingắn gọn, dễ hiểu, rõ ý đối với trẻ Khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì thường cómột trong hai tình huống xảy ra:
Một là: Trẻ không có câu trả lời Điều này khẳng định nội dung khám phá màgiáo viên lựa chọn là vấn đề mới đối với trẻ, trẻ chưa có hiểu biết
Hai là: Một số trẻ trả lời theo kinh nghiệm của bản thân chúng Điều này đángkhích lệ song chưa thể khẳng định là cả lớp đã biết và đã hiểu vấn đề Cần tạo ra
sự hoài nghi bằng câu hỏi “Liệu có đúng như vậy không?” đồng thời khuyến
Trang 33khích trẻ tìm và lựa chọn cách thức khám phá bằng câu hỏi “Làm thế nào đểbiết?” Đây chính là bước để giáo viên dẫn dắt trẻ tới bước tiếp theo.
Bước 2: Trẻ trải nghiệm
Mục đích của bước này là cho trẻ được tham gia vào các hoạt động nhậnthức phù hợp nhằm phát triển các kỹ năng nhận thức, khám phá đồng thời chínhxác hóa, mở rộng hiểu biết cho trẻ, giúp trẻ được cảm nhận các cảm giác tờ mờ,ngạc nhiên, vui sướng Tùy từng nội dung khám phá mà giáo viên có thể lựachọn một trong các nội dung trải nghiệm sau:
+ Quan sát: Đây là cách mà giáo viên có thể lựa chọn trong trường hợpnội dung khám phá là các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng ở bên ngoài (màu sắc,hình dạng, kích thước, cấu tạo ngoài ) của sự vật hiện tượng Khi cho trẻ quansát cần gợi ý, khuyến khích trẻ sử dụng tính tích cực các giác quan Ví dụ: trẻnhìn, sờ, nắn, nhấc, ngửi, xem quả bưởi có những gì, chúng như thế nào?
+ Thí nghiệm: Giáo viên có thể lựa chọn thí nghiệm ngắn hạn (áp dụngcho mọi lứa tuổi), dài hạn (áp dụng cho mẫu giáo lớn), nếu nội dung khám phá
là những đặc điểm, dấu hiệu không rõ nét, các mối quan hệ hoặc sự thay đổi của
sự vật, hiện tượng Chẳng hạn để khám phá về thức ăn của thỏ cô cho trẻ làm thínghiệm “Thỏ ăn gì”; hoặc để khám phá sự ảnh hưởng của nước tới cây xanh cóthể làm thí nghiệm “Không có nước hoặc quá nhiều nước thì cây xanh sẽ nhưthế nào?” Khi tổ chức các thí nghiệm cần để trẻ tự tay làm, giáo viên chỉ hướngdẫn và giúp đỡ trong trường hợp trẻ gặp khó khăn hoặc để đảm bảo cho trẻ trongmột số trường hợp
+ Xem tranh ảnh, băng hình: Cách này áp dụng trong trường hợp nội dungkhám phá là những sự vật, hiện tượng ít gần gũi (các con vật sống trong rừng,các hiện tượng thiên tai, các danh lam thắng cảnh trong nước và trên thế giới);các đặc điểm dấu hiệu ít phổ biến của sự vật hiện tượng xung quanh (Đặc điểmleo trèo của con mèo, quá trình ấp trứng và trứng nở thành con ); sự đa dạngphong phú và sự thay đổi phát triển của sự vật, hiện tượng Giáo viên cần lựa
Trang 34chọn, sưu tầm tranh ảnh, băng hình sao cho sát với nội dung khám phá và đảmbảo tính thẩm mỹ, tính giáo dục.
+ Đọc sách, kể chuyện: Cách này giáo viên có thể sử dụng trong trườnghợp nội dung khám phá là các mối quan hệ mà không thể sử dụng các cách trảinghiệm nêu trên để khám phá, như thể trả lời câu hỏi “Tại sao thỏ, mèo khôngthích tắm?”; “Tại sao lá có gân?”; “Tại sao chuồn chuồn hay bay ở những bờao?” Đọc sách kể chuyện còn có thể sử dụng trong trường hợp mà thí nghiệm
cô tổ chức không mang lại hiệu quả, ví dụ khi làm thí nghiệm “Con cua ăn gì?”;
“Rùa thích ăn gì nhất?” Giáo viên có thể sử dụng các loại sách khám phá thếgiới xung quanh được viết dưới dạng câu hỏi và câu trả lời Khi đọc sách và kểchuyện cho trẻ nghe, giáo viên cần sử dụng những từ ngữ ngắn gọn, dễ hiểu giúptrẻ dễ tiếp thu nhưng không là thay đổi tính đúng đắn của nội dung khám phá
+ Thảo luận, trao đổi, chia sẻ: Là cách trải nghiệm mà phương tiện chính
là ngôn ngữ nói của trẻ Cách trải nghiệm này có thể sử dụng trong trường hợpnội dung khám phá là những vấn đề liên quan đến kinh nghiệm và cảm xúc củatừng cá nhân Chẳng hạn khám phá về các món ăn trong gia đình được chế biến
từ những thực phẩm phổ biến, sở thích của trẻ và của những người thân tronggia đình, những điều làm trẻ buồn, vui, thích hay không thích ;cách gia đình tổchức sinh nhật, ngày nghỉ Giáo viên cần khuyến khích để nhiều trẻ được thamgia thảo luận, được nghe, được chia sẻ những hiểu biết, những kinh nghiệmphong phú đa dạng trong mỗi vấn đề khám phá Để thảo luận cho trẻ đạt hiệuquả cao, giáo viên cần phối hợp chặt chẽ với gia đình trẻ để tích lũy vốn kinhnghiệm, phát triển vốn từ và ngôn ngữ biểu đạt ở trẻ Đồng thời cũng cần cónhững thủ thuật khích lệ và tạo không khí cởi mở khi thảo luận
Bước 3: Trẻ nhận xét
Sau khi đã trải nghiệm giáo viên cho trẻ được đưa ra những ý kiến vềnhững vấn đề chúng phát hiện được Để giúp trẻ được nhận xét dễ dàng, đúngnội dung, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi cho trẻ trả lời Đối với những trẻmẫu giáo nhỡ và lớn nên khuyến khích trẻ mô tả, kể lại những điều chúng phát
Trang 35hiện được dưới dạng một câu chuyện, hoặc thể hiện những điều khám phá bằnghình vẽ, mô hình Trong khi yêu cầu trẻ nhận xét giáo viên cần kết hợp cho trẻtrả lời các câu hỏi cho trẻ phân biệt, so sánh, đối chiếu và các câu hỏi yêu cầu trẻphải suy luận, phán đoán nhằm phát triển tư duy cho trẻ.
Bước 4: Kết luận
Sau khi đã trải nghiệm và nhận xét có thể đưa ra kết luận ngắn gọn đểchốt lại vấn đề khám phá Kết luận có thể do cô hoặc trẻ đưa ra, tùy theo mức độphức tạp của nội dung khám phá dựa trên khả năng của trẻ
Trên đây là bốn bước của quy trình khám phá mỗi nội dung của MTXQ
Để các hình thức cho trẻ khám phá MTXQ được sinh động, hấp dẫn và pháttriển đa dạng các kỹ năng cho trẻ thì mỗi một hình thức giáo viên chỉ lựa chọnmột số nội dung khám phá sao cho phù hợp với hứng thú, trình độ, khả năng củatrẻ ở từng lứa tuổi, với thời gian cho phép và chủ đề khám phá Đồng thời cácnội dung đó phải tổ chức được các hoạt động trải nghiệm đa dạng Chẳng hạntrong giờ học “Con thỏ” ở mẫu giáo nhỡ, giáo viên có thể chọn một số nội dungcho trẻ khám phá như: màu sắc, cấu tạo ngoài, vận động (Hoạt động trải nghiệm
là quan sát con thỏ thật); thức ăn (Thí nghiệm “Thỏ ăn gì?”); mối quan hệ giữathỏ với nước (Đọc sách “Vì sao thỏ không thích tắm”), sự đa dạng của thỏ (chotrẻ xem băng hình một số loại thỏ) Như vậy trong một giờ học trẻ được thamgia vào bốn dạng hoạt động khám phá khác nhau Điều đó giúp cho việc tích lũykinh nghiệm và phát triển kỹ năng của trẻ được hiệu quả lại không tạo ra sựnhàm chán và căng thẳng
Dạy học khám phá có nhiều ưu điểm như:
Phát huy được nội lực của trẻ, tư duy tích cực - độc lập - sáng tạo trong quá trìnhhọc tập
Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ kích thích tính tích cực ham hiểubiết của trẻ
Hợp tác với bạn, tự đánh giá, tự điểu chỉnh bản thân là động lực thúc đẩy sự pháttriển của cá nhân trong cuộc sống
Trang 36Hoạt động khám phá hình thành năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho trẻ,tuy nhiên chưa hoàn thành hoàn chỉnh khả năng tư duy logic.
Tổ chức hoạt động khám phá thường xuyên trong quá trình dạy học là tiền
đề thuận lợi cho phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ Quá trình hoạt độngkhám phá môi trường xung quanh nhằm hình thành và phát triển bản thân củatrẻ, giúp trẻ có lòng ham muốn học tập.Trong quá trình hoạt động tư duy, trẻ nỗlực khám phá lại một vấn đề nào đó, dù đã đạt hiệu quả hay chưa trọn vẹn, đều
là những động cơ trí tuệ kích thích lòng ham muốn hiểu biết cho trẻ Đây là điềucực kì cần thiết để trẻ phát triển một cách toàn diện
1.4.2 Hoạt động cho trẻ khám phá môi trường xung quanh với việc phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt
Hoạt động khám phá môi trường xung quanh có tầm quan trọng đặc biệtđối với việc phát triển ngôn ngữ và phát triển tâm lý cho trẻ mầm non nói chungđặc biệt là độ tuổi 5 – 6 tuổi ở lớp mẫu giáo song ngữ Lào – Việt Trẻ khám phá
về môi trường xung quanh chính là tạo điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạtđộng để trẻ tích cực tìm tòi phát hiện về các hiện tượng sự vật xung quanh Đâythực chất là quá trình tạo ra môi trường hoạt động, tạo ra tình huống và tổ chứccác hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật hiện tượng của môitrường xung quanh Từ đó trẻ có những hiểu biết về đặc điểm, tính chất, các mốiquan hệ, sự thay đổi phát triển của các sự vật hiện tượng xung quanh giúp trẻhọc được các kĩ năng quan sát, phân nhóm, phân loại, đo lường, phán đoán vàgiải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận về các sự vật,hiện tượng đã quan sát tiếp xúc
Hoạt động cho trẻ tiếp xúc, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanhgiúp trẻ được tiếp xúc với môi trường tự nhiên và xã hội, trẻ có khả năng lĩnhhội những kiến thức sơ đẳng, những hiểu biết, từ đó vốn từ của trẻ trở nên phongphú hơn Khi hướng dẫn cho trẻ quan sát, tiếp xúc với bất kỳ một đối tượng nàocủa môi trường xung quanh chúng ta cần cho trẻ quan sát, tiếp xúc vào các hoạtđộng đối tượng nhiều lần bằng nhiều giác quan như: nghe, nhìn, ngửi, sờ, nắn
Trang 37Trên cơ sở đó trẻ mới hiểu đúng đắn về đối tượng, trẻ sẽ tự nói lên nhữnghiểu biết về đối tượng đó, ngôn ngữ của trẻ được phát triển cả về số lượng vàchất lượng
Đặc biệt ở môi trường song ngữ tiếng Lào là tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt làngoại ngữ thứ hai, việc cho trẻ khám phá khoa học về môi trường xung quanh sẽgiúp trẻ phát triển kĩ năng nhận thức, kĩ năng xã hội, đồng thời giáo dục thái độứng xử và thái độ khoa học Từ đó trẻ biết cách sử dụng ngôn ngữ (cả tiếng mẹ
đẻ và ngoại ngữ thứ hai) đúng đắn khi diễn đạt các sự vật hiện tượng ở môitrường xung quanh.Việc tạo ra môi trường có tính kích thích cao rất cần thiếttrong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở lớp MG song ngữ Lào – Việt Trẻ luôncần những kích thích và việc tạo ra cho trẻ cơ hội để chúng nhận ra bản chấtsáng tạo của mình sẽ có tác dụng kích thích chúng nhiều hơn là một bức tranhhay một mô hình đồ chơi Khả năng khám phá và học hỏi từ môi trường xungquanh cũng quan trọng như là những lời đang chờ được trẻ nói ra Việc tìm tòi,
khám phá môi trường xung quanh bằng tiếng Lào sẽ giúp việc học tiếng Việt sẽ
tốt hơn nhiều khi tiếng Lào là nền tảng vững chắc cho tiếng Việt
Một số biện pháp dạy trẻ ôn tập củng cố khả năng nhận biết từ và chữ cáiTiếng Việt thông qua việc tạo môi trường chữ xung quanh trẻ:
Thứ nhất: Tạo môi trường chữ trong lớp học
với trẻ mầm non lớp học chính là mái nhà thứ hai của trẻ Cảm giác đầutiên khi bé bước vào cửa lớp, phản xạ tự nhiên của bé là nhình xung quanh xem
có những gì và có đẹp không, đặc biệt những gì mới lạ Vì vậy, các mảng chínhtrong lớp học đó là mảng chủ điểm, các góc hoạt động là đối tượng đầu tiên khitrẻ bước vào lớp Để trẻ hứng thú với các mảng hoạt động, tôi đã tập trung trẻcùng tham gia thảo luận dưới dạng kê chuyện sáng tạo Cuối cùng cô và trẻ điđến thống nhất chọn tên của từng góc chơi mỗi khi chuyển chủ điểm mới Cáctuýp chữ, có tên gọi ngây thơ, ngộ nghĩnh, gần gũi trẻ, và bắt buộc phải có hìnhảnh minh hoạ cho các tiêu đề ấy Như vậy sẽ thu hút được sự chú ý của trẻ, từ đómục đích ôn luyện chữ đã học, cung cấp vốn từ cho trẻ đạt hiêụ quả tối đa
Trang 38Ví dụ: Chủ điểm ngành nghề, Giáo viên cho trẻ cùng trò chuyện về cácngành nghề, sau đó cô hướng trẻ vào câu chuyện: Tại cửa hàng búp bê có rấtnhiều thứ, nào là đồ dung của cô giáo như: phấn, bảng, bút, vở, nào là đồ dungcủa bác thợ mộc, thợ xây Búp bê rất muốn chúng mình đặt tên cho cửa hàngcủa búp bê đấy, nào chúng mình cùng nghĩ ra một cái tên nhé Trẻ nghe, suynghĩ và đưa ra ý kiến của mình như: cửa hàng của búp bê, siêu thị mini, siêu thịcủa búp bê, búp bê bán hàng với nhiều cái tên ngộ nghĩnh như vậy, và cả quátrình cô đàm thoại với trẻ Chính lúc đó trẻ đã tư duy xem mình đã bao giờ được
đi siêu thị chưa, đã nghe thấy cái tên đó chưa, và ngẫu nhiên cô đã cung cấp vốn
từ cho trẻ
Hay với các góc khác cũng vậy, cô và trẻ cùng đàm thoại, thoải mái traođổi để đặt tên như: kiến trúc sư tí hon, bé tập làm thợ xây, ngôi nhà mơ ước,thành phố tương lai (đối với góc xây dựng)
Từ những tên gọi gần gũi với trẻ mà chính cô và trẻ đặt tên, đã kích thíchtrẻ ghi nhớ từ đó lâu hơn, và trẻ đã phần nào hiểu về từ đó
Khi trang trí tên gọi các góc, giáo viên có thể lựa chọn cỡ chữ cho phùhợp với góc, dán chữ ở độ cao vừa tầm nhìn của trẻ để trẻ dễ nhìn thấy Đặc biệtkiểu chữ phải chuẩn, màu sắc đẹp phù hợp với mảng hoạt động và hình ảnhminh hoạ của góc Còn mảng hoạt động của trẻ giáo viên có thể gài nhựa trong,các chữ rời với mẫu chữ khác nhau như chữ in thường viết thường, chữ in hoa
để trẻ cùng bắt chước cô ghép tên góc Khi chơi giáo viên có thể hỏi chữ cái đầutiên của từ là chữ gì? Chữ cái nào trong từ đã học rồi? Làm như vậy trẻ nhớ các
từ đó rất lâu và lại một lần nữa trẻ được luyện phát âm, đặc biệt có trẻ đã thaotác ghép chữ nhiều lần thành quen và đã tự ghép mà không cần mẫu của cô
Ngoài ra giáo viên có thể thay đổi tên gọi hình ảnh và các góc cho phùhợp với từng chủ điểm và tạo sự mới mẻ khoảng không gian hấp dẫn mỗi khi trẻđến lớp:
Giáo viên có thể phát triển ngôn ngữ và làm giàu vốn từ cho trẻ qua việcgắn tên, gắn ký hiệu vào các đồ dùng đồ chơi trong lớp và các giá góc:
Trang 39Đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là dễ nhớ dễ quên, vì vậy các kiến thứcmới cung cấp cho trẻ nếu không thường xuyên ôn luyện trẻ sẽ nhanh chóng quênngay khi lĩnh hội kiến thức khác.
Mặt khác, khi trẻ hoạt động trẻ thường cất đồ dùng đồ chơi nhanh nhưngkhông ngăn nắp, giáo viên thường mất nhiều thời gian sắp xếp lại đồ chơi chotrẻ sau khi chơi Như vậy rất vất vả cho cô mà trẻ lại không có thói quen laođộng tự phục vụ Đặc biệt không được làm quen với tên gọi các từ, hay các chữcái tiếng Lào và Tiếng Việt ghép thành từ đó
Để khắc phục tình trạng này, giáo viên có thể xếp đồ dùng đồ chơi trêngiá góc gọn, đẹp, khoa học, sao cho trẻ dễ lấy, đễ cất, các đồ dùng trên giá phảituân theo một trật tự nhất định Đối với các ngăn giá góc, giáo viên có thể vẽ kýhiệu đồ dùng đồ chơi kèm theo từ (tên gọi của đồ dùng) bằng cả tiếng Lào vàtiếng Việt và giới thiệu với trẻ
Như vậy, hàng ngày trẻ được chơi được nhìn thấy từ, thứ tự các chữ cáitrong từ, dần dần trẻ thuộc từ đó, có thể tự viết hoặc ghép chữ cái rời thành từ đó
Mỗi một môi trường hoạt động của trẻ, giáo viên có thể tạo môi trường đểtrẻ có cơ hội được luyện phát âm, ôn luyện chữ đã biết, làm quen chữ mới vàlàm quen từ một cách rất tự nhiên thoải mái không gò bó áp đặt trẻ
Trang 40Góc thiên nhiên ngoài trời:
Đây là nơi trẻ được tiếp xúc mọi lúc mọi nơi, mọi thời điểm trong ngày.Với môi trường chữ có kèm hình ảnh không những cho trẻ hiểu về thế giới cácloài cây, loài hoa, biết các giai đoạn phát triển của cây, hiện tượng thử nghiệmkhoa học mà còn có thể ghi chép hiện tượng mà trẻ theo dõi hàng ngày
Ví dụ: Giáo viên có thể gắn tiêu đề cho góc: "vườn ươm cây cảnh" và làmcác biển cắm có chữ ghi tên cây bằng cả hai thứ tiếng có kèm hình ảnh Khi chotrẻ tri giác chữ từ dưới mỗi hình ảnh trong biển cắm tôi đều yêu cầu trẻ tìm đúng
từ " cây hoa cúc" gắn vào cây hoa cúc, và các loại cây khác cũng vậy, trẻ biếttên, chữ, từ, của cây đó, tập "đọc"tên các cây mà trẻ đã tìm đúng
Thứ hai: Thu hút trẻ tham gia tạo môi trường chữ trong góc tạo hình, gócsách, góc thư viện nhằm phát huy tích tích cực hoạt động của trẻ:
Để phát huy tính tích cực của trẻ trong góc chơi, đặc biệt là góc thư viện.Đây là nơi trẻ được tiếp xúc nhiều với chữ cái, và rèn luyện kỹ năng tiền biếtđọc, biết viết của trẻ như: cách lật giở sách, cách đưa mắt từ trái sang phải khiđọc, hoặc các từ mới như: tên truyện, tên các trang bìa, tên các album tựtạo với các mẫu chữ khác nhau
Cô tạo cơ hội cho trẻ được hoạt động với truyện thơ tranh chữ to có sẵn,
tự tạo trẻ được xem tranh, tập kể chuyện, tập "đọc" chữ to trong truyện bằng
cả tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt Như vậy một lần nữa trẻ mở rộng vốn từ, pháttriển ngôn ngữ, trẻ như được hoà nhập với thế giới của người lớn Khi trẻ tiếpxúc với các loại sách, báo, tạp chí có nhiều kiểu chữ khác nhau ở bất kỳ nơinào trẻ cũng rất tự tin và có thể tự mình khám phá nội dung
Để trẻ hứng thú tích cực tham gia vào hoạt động tạo hình giáo viên có thểcho trẻ làm tranh: Cho trẻ sưu tầm các chữ có trong hoạ báo, lịch cũ, trẻ cắt, tômàu và cùng ghép chữ với cô để tạo thành các tuýp chữ, các tiêu đề bằng tiếngViệt và tiếng Lào xung quanh lớp mỗi khi thay đổi chủ điểm Trẻ được tham giahoạt động tích cực như vậy sẽ tạo cho trẻ hứng thú và biết trân trọng những sản