1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luận văn triết học: Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

179 863 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận văn tiến sĩ Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm 179 trang, bản đẹp, được chuyển từ word, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo. KHÔNG KHUYẾN KHÍCH COPY TOÀN BỘ. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu khoa học thực sự củacá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS.Trương Giang Long. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu khoa học này.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI XUÂN DŨNG

KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI XUÂN DŨNG

KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Mã số: 62.22.80.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS TRƯƠNG GIANG LONG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu khoa học thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của

GS.TS.Trương Giang Long

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu khoa học này

Người làm luận án

Bùi Xuân Dũng

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận án 1

2 Tình hình nghiên cứu luận án 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án ……… 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 14

6 Đóng góp mới của luận án 14

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 14

8 Kết cấu của luận án 15

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16

1.1 KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC 16

1.1.1 Khái niệm về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc 16

1.1.2 Những nội dung của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam 19

1.2 KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47

1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 47

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 53

1.3 YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 60

1.3.1 Yêu cầu khách quan của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc 60

Trang 5

Kết luận chương 1 68

Chương 2 : THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 70 2.1 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 70 2.1.1 Những thành tựu của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 70 2.1.2 Những hạn chế của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 87 2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 100 2.2.1 Nguyên nhân chủ quan của những thành tựu và hạn chế trong việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt hiện nay 100 2.2.2 Nguyên nhân khách quan của những thành tựu và hạn chế trong việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 106 Kết luận chương 2 111

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 113

Trang 6

NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 113

3.1.1 Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc phải mang tính phê phán, chọn lọc nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay…… 113

3.1.2 Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc gắn với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 114

3.1.3 Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cần phải xuất phát từ thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 117

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 121

3.2.1 Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nguồn nhân lực nhằm đẩy mạnh việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 122

3.2.2 Nâng cao nhận thức về kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 127

3.2.3 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, bộ máy tổ chức, quản lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp nhằm kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 135

3.2.4 Đổi mới phương thức giáo dục kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc nhằm phát triển toàn diện nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 142

Kết luận chương 3 155

PHẦN KẾT LUẬN 157

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 162

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Ở bất cứ thời đại nào trong lịch sử, mọi quốc gia muốn phát triển thì cần phải

có các nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực là quan trọng và có tính chất quyết định Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn

Đảng và Nhà nước ta cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”[54, tr.76] Bởi vì, các nguồn lực

về tài nguyên, kinh tế có thể bị cạn kiệt nhưng nguồn lực của con người là không,

do đó phát triển nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Nguồn nhân lực là nguồn lực chủ yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến bộ của dân tộc Bởi tri thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và luôn được tái sinh với chất lượng ngày càng cao hơn bất cứ một nguồn lực nào khác

Để phát triển toàn diện nguồn nhân lực thì phải giáo dục cả về mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần…, song nhân tố cực kỳ quan trọng nhất của nguồn nhân lực là phẩm chất của họ Phẩm chất của nguồn nhân lực có liên quan mật thiết, bền chặt và khăng khít đến việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc còn là động lực của sự phát triển xã hội, có vai trò quan trọng trong việc phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, đảm bảo mang đậm tính nhân văn và đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ta vững bước vào thế kỷ XXI Đảng đã khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 8

đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải tạo ra những điều kiện cần thiết

về vật chất - kỹ thuật, về con người và khoa học - công nghệ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội Do vậy, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc có ảnh hưởng vô cùng to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực nước ta

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là thước đo đánh giá trình độ phát triển

và đặc tính riêng của mỗi dân tộc Một dân tộc thiếu giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thì chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự của nó

Tuy nhiên, trong sự nghiệp xây dựng đất nước, với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế hiện nay, đòi hỏi nước ta phải mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế và giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới Thông qua đó, chúng ta đã tiếp thu được những thành tựu văn minh của nhân loại, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Nhưng cũng trong quá trình mở cửa hội nhập, sự xâm nhập của văn hóa

và lối sống ngoại lai làm cho nền văn hóa truyền thống dân tộc có nguy cơ bị lãng quên Trong đời sống xã hội, đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, chạy theo thị hiếu không lành mạnh Đặc biệt, tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Không

ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp, buôn lậu và tham nhũng phát triển, ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng[49, tr.46]

Chính vì thế, làm rõ nội dung kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nhân cách, lối sống, phẩm chất nguồn nhân lực Việt Nam trong điều kiện hiện nay là một trong những yêu cầu bức thiết

Trang 9

của sự nghiệp đổi mới, hiện đại hóa đất nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định:

Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên; đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam[53, tr.172]

Một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm trong văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh [Tr 219]

Do vậy, việc nghiên cứu kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay là việc làm

cần thiết và cấp bách Xuất phát từ căn cứ trên, tôi chọn đề tài “Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy

vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của mình

2 Tình hình nghiên cứu của luận án

Với những giá trị khoa học và thực tiễn hết sức sâu sắc của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, trong suốt những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu

về vấn đề này Có thể khái quát kết quả các công trình đó trong những chủ đề chính sau:

Thứ nhất, là các công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc:

Một là, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin do Acnônđốp A.I chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1991; Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội của Cairan

Trang 10

V.I, Mátxcơva, 1977 Và tiêu biểu là tác phẩm Văn hóa học của V.M Rôđin do

Nhà xuất bản Khoa học Mátxcơva, 1998

Hai là, các công trình nghiên cứu ở trong nước về lý luận văn hóa và giá trị

văn hóa truyền thống dân tộc: Tổng tập Khái niệm và quan niệm về văn hóa do Viện Văn hóa ấn hành năm 1986; Văn hóa xã hội chủ nghĩa của tập thể các nhà

khoa học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã biên soạn tập bài

giảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1986; Nhận thức văn hóa Việt Nam của GS,TS Nguyễn Duy Quý, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,

2008, Văn hóa vì phát triển của Phạm Xuân Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,

Hà Nội, xuất bản năm 2005; Văn hóa và phát triển của Đỗ Huy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2005; Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa do Phạm Duy Đức chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bàn năm 2007; Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

tế do Nguyễn Chí Bền (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời cơ và thách thức của GS,TS Trần Văn Bính, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010; Vấn đề phát triển văn hóa (qua văn kiện Đại hội lần thứ XI) do TS Đỗ Ngọc Anh và TS Đỗ Thị Minh Thúy (chủ biên), Nhà văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa, 2013; Phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội của TS Trần Thị Minh, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014

Nhìn chung, các công trình trên đã phát triển việc nghiên cứu văn hóa trên cơ

sở của triết học Mác qua đó luận giải về mặt lý luận những vấn đề: khái niệm, bản chất, đặc điểm của văn hóa và khẳng định văn hóa đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Ba là, các công trình nghiên cứu về giá trị, quá trình hình thành và vai trò của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam với sự nghiệp phát triển của đất

nước Việt Nam: Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay của TS Phạm Thanh Hà, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Đề

Trang 11

cương văn hóa Việt Nam (1943); Báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ II (1948); Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Lối sống và tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, do PGS.TS Doãn Chính (Chủ biên), Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2012; Lê Thanh Bình (Chủ biên) - Đoàn Văn

Dũng - Nguyễn Tuấn Hiệp - Nguyễn Anh Thư với công trình Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Hà Nội ấn hành năm 2012; Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm

2012 với cuốn Giáo trình Lý luận văn hóa của các tác giả Khoa Văn hóa và Phát

triển của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do TS Phạm Ngọc Trung chủ biên Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Triết học với công trình:

Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 với tập thể các tác giả GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn, TS Phạm Văn Đức, TS Hồ Sĩ Quý; Trần Văn Giàu, Triết học và tư tưởng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988; Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, tập 1, tập 2, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Lịch sử

tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Doãn Chính (chủ biên), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam - Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ

XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013; Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng chủ biên), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Nguyễn Thị Hương, Tư tưởng văn hóa truyền thống từ đầu thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội 2007; Nguyễn Hùng Hậu, Đại cương lịch sử triết học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2010; và những công trình khác

Trong các công trình nói trên, các tác giả đi sâu phân tích một cách có hệ

Trang 12

thống về cơ sở và tiền đề hình thành giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, bàn luận

về giá trị tinh thần, giá trị truyền thống của dân tộc Đây là cơ sở cho luận án làm

rõ những khái niệm, quan niệm về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nội dung của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Bốn là, các công trình nghiên cứu về nội dung của giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam: Lê Thanh Bình (Chủ biên) - Đoàn Văn Dũng - Nguyễn Tuấn Hiệp -

Nguyễn Anh Thư với công trình Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành năm 2012; Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1980; Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn, Bàn về khoan dung trong văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, 2, 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; D.Hemery, Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001; Phạm Xuân Nam (chủ biên), Triết lý phát triển Việt Nam - Mấy vấn đề cốt yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; Ban tư tưởng - văn hóa Trung ương, Tài liệu giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; Đinh Trần Dương, Sự chuyển biến phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên), Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Lại Ngọc Hải, Sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin - Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2 - 2003; Trần Thu Hằng, Chủ nghĩa yêu nước - Cơ sở để Hồ Chí Minh tiếp cận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, Tạp chí Thông tin lý luận,

Số 181 - 2003; Trần Hồng Thúy, Một vài suy nghĩ về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Tạp chí Triết học, số 90 – 1995…

Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích các phương diện của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như tình cảm yêu nước, ý thức yêu nước, tinh thần yêu

Trang 13

nước, triết lý yêu nước và hành động yêu nước được thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc

Năm là, các công trình nghiên cứu về lối sống, lối tư duy và việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới hiện nay: GS.TS

Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Ngọc Hàm, Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, 2011; Phạm Xuân Nam, Văn hóa vì phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Nguyễn Thế Nghĩa - Lê Hồng Liên (đồng chủ biên); Trần Ngọc Thêm, Tìm

về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Lê Đức Quý, Mấy vấn đề xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình mở cửa ở nưóc ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1986; Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1994; Nguyễn Thế Nghĩa - Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Di chúc của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Vũ Khiêu, Bàn về văn hóa Việt Nam, tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Huỳnh Khái Vinh, Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, Tạp chí Thông tin lý luận, 1999; GS, TS Trần Văn Bính, Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Tạp

chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 8, 2001; Lê Thanh Bình (Chủ biên) - Đoàn

Văn Dũng - Nguyễn Tuấn Hiệp - Nguyễn Anh Thư, Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; Mai Thị Quý, Tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống cần cù, tiết kiệm của dân tộc Việt Nam, Tạp chí triết học, 2007; TS Phạm Ngọc Trung chủ biên, Giáo trình

Lý luận văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; PGS

Trong các công trình trên, nhiều tác giả đi sâu bàn về khái niệm “văn hóa”,

“giá trị văn hóa nói chung và giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam”; những nội dung cơ bản của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Nhìn chung các tác phẩm đã trình bày một cách có hệ thống những quan điểm

Trang 14

khác nhau về tư duy và lối sống có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của con người và qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội Phân tích sâu sắc một

số đặc điểm cơ bản của tư duy và lối sống truyền thống của người Việt Nam, sự bất cập của các đặc điểm ấy so với yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế Không chỉ có

ý nghĩa góp phần nâng cao nhận thức của con người Việt Nam về con người Việt Nam, mà còn cung cấp căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay:

Một là, các công trình nghiên cứu về nguôn nhân lực:“Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” do

PGS.TS Vũ Văn Phúc và TS Nguyễn Duy Hùng đồng chủ biên; Nguyễn Thế Kiệt

với Luận án phó tiến sỹ của mình với đề tài: Vai trò của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng con người mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1988; Phạm Minh Hạc (Chủ biên), (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội TS Nguyễn Thanh với công trình: “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2005

Công trình trên đã phân tích việc phát triển nguồn nhân lực với tư cách là yếu

tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Trên cơ sở làm rõ thực trạng và định hướng những vấn đề về phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở nước ta hiện nay

Hai là, các công trình phân tích về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cũng như sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống với hiện đại trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, nổi bật

như: Đinh Thế Phong trong bài Công nghệ: con đường duy nhất để công nghiệp

Trang 15

hóa ở thế kỷ 21, Tạp chí Quản lý kinh tế, (11 + 12); Luận án Tiến sĩ của Trương Hoài Phương, Sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng vào quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, Trường Đại học khoa học xã hội nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2013;

Tạ Ngọc Tấn, Trương Giang Long, Trần Văn Lợi, Thực trạng đời sống văn hóa - tinh thần của công nhân ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vấn đề đặt ra, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2015; Phạm Minh Hạc (chủ biên), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Triết học - số 3/1994

Nhìn chung các công trình trên đề cập tới những vấn đề lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực; Thực trạng, kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cả về mặt đời sống vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đồng thời, các tác giả cũng làm

rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, các công trình nghiên cứu sự phát triển nhân cách, lối sống văn hóa đạo đức và văn hóa của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như:

Một là, những công trình nghiên cứu về việc giáo dục đạo đức, lối sống, phẩm

chất trong quá trình phát triển nguồn nhân lực hiện nay: Trương Giang Long, Định hướng giá trị trong giáo dục thanh niên hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 9, 2003; Trương Giang Long, Giáo dục văn hóa về lối sống cho sinh viên, Tạp chí Cộng sản, số 5, 2005; Thái Duy Tuyên: Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường do chủ biên, Hà Nội, 1994; Thái Duy Tuyên: Sự biến đổi định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường của Tạp chí Triết học, số 5-1995; Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay,

Trang 16

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Huỳnh Khái Vinh, Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Cao Thu Hằng, Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo đức đối với nhân cách con người, Tạp chí Triết học, số 158- 2004; Ban tổ chức - cán bộ chính phủ, Viện khoa học - tổ chức nhà nước, Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của cán

bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Phạm Đình Nghiệp, Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình hình mới, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, Đặng Quang Thành, Xây dựng lối sống

có văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ, Học viện chính trị quốc gia Tp, Hồ Chí Minh, 2005; Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Đạo đức xã hội

ở nước ta hiện nay - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Trần Quang Nhiếp - Nguyễn Trọng Chuẩn - Vũ Khắc Liên (chủ biên), Nhân cách văn hóa trong bảng giá trị Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Nguyễn Duy Quý, Văn hóa và sự phát triển con người, Tạp chí Nghiên cứu con

người, 1 (1), 2002,6/2002…

Trong các tác phẩm và bài viết nói trên, các tác giả đã đi sâu phân tích về văn hóa đạo đức và giá trị văn hóa đạo đức, lối sống, văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung, của thanh niên nói riêng, chỉ ra thực trạng mà người lao động Việt Nam đang gặp phải trong quá trình kế thừa và phát huy giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống, lối sống của dân tộc Đồng thời, phê phán “đạo đức giả” của tầng lớp thực dân, phong kiến và lối sống thực dụng “trả tiền ngay, không tình nghĩa”…

Thứ tư, vấn đề xác định phương hướng và luận bàn về các giải pháp kế thừa, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc nhằm phát triển con người Việt Nam hiện nay

Một là, những công trình làm rõ về kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền

thống dân tộc có: Luận án phó tiến sĩ Tính kế thừa trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam (ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội) của Nguyễn Thu Linh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1987); Bùi Thanh Thủy, Kế thừa và phát

Trang 17

huy những giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Lý luận chính trị, 2009, số 8; Nguyễn Văn Lý: Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998; Lương Quỳnh Khuê: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại của, Tạp chí Triết học, số 4-1992; Mai Thị Quý, Kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc ta trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Triết học, số

12 - 2003; Nguyễn Mạnh Tường, Vấn đề kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước

Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 106 - 1998; Nguyễn Văn Lý, Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, Tạp chí Triết học, số 108 - 1999; Đặng Hữu Toàn, Giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội, số l (53) - 2002; Phạm Thanh Hà, Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Lê Thi, Phát huy những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc để xây dựng đạo đức nguời phụ nữ Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, số 3 (250) - 2012

Những công trình trên đã đi sâu phân tích và làm rõ về việc thực hiện kế thừa

và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc ở Việt Nam hiện nay có những thuận lợi và khó khăn gì Đây là cơ sở để luận án trình bày trong chương hai về thực trạng tình hình nghiên cứu hoạt động kế thừa và phát huy giá trị văn hóa dân tộc

Hai là, các công trình đề cập tới những khó khăn và thách thức của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay: GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn và GS TS

Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) với tác phẩm: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); GS

TS Đỗ Huy trong công trình: Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nó

Trang 18

trong thế kỷ XX (nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), trên cơ sở nhìn lại văn hóa Việt Nam trong thế kỷ mới; Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại, công

trình đã được Viện văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin đồng xuất bản tại

Hà Nội năm 2003; Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục, do GS VS Phạm Minh Hạc chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); Nguyễn Ngọc Thu, Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa vì mục tiêu phát triển bền vững, Tạp chí Triết học, số 4 (251) - 2012; Trương Hoài Phương, Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống của con người Việt Nam - Một yêu cầu tất yếu khách quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 5 (26) - 2011; và những công trình khác

Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích những cơ sở xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc phát triển con người Việt Nam

Nhìn chung, các công trình đã tiến hành phân tích hiện thực cuộc sống trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công trình nghiên cứu này đã phác họa một cách trung thực và khá toàn diện toàn cảnh giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam hiện nay trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực, làm hiện rõ thực trạng việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong con người Việt Nam thông qua các hoạt động giao tiếp và đạo đức, hành vi, thói quen, nếp sống, ý thức của người lao động Từ đó, các nhà khoa học

đã đề xuất phương hướng, giải pháp kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam hiện nay

Luận án này kế thừa tất cả những thành tựu và những yếu tố tích cực của các công trình trước Trên cơ sở đó, nghiên cứu có hệ thống và làm sáng tỏ các vấn đề quan trọng sau: Phân tích, hệ thống hóa các giá trị truyền thống Việt Nam; Những vấn đề về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Trang 19

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

3.1 Mục đích của luận án

Mục đích của luận án là làm rõ những lý luận chung về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và phát triển nguồn nhân lực; vai trò của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc phát triển nguồn nhân lực, làm rõ thực trạng của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay; từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực nhằm phát huy hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

3.2 Nhiệm vụ của luận án

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích và làm rõ lý luận chung về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, phân tích và làm rõ thực trạng việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, đề xuất các phương hướng và những giải pháp để kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là: giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay; thực trạng việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án là nội dung giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay; thực trạng và yêu cầu đặt ra của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Trang 20

dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay; phương hướng và giải pháp nhằm kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận án được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay,

Luận án thực hiện cách tiếp cận triết học để tìm ra thực chất việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc tác động tới quá trình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay; đồng thời sử dụng tiếp cận triết học văn hóa, giá trị học để làm rõ hơn nguyên nhân tác động tới việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận án này, tác giả còn kết hợp một số phương pháp cụ thể như: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp thống nhất lôgíc và lịch sử, so sánh và đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa triết học, để nghiên cứu và trình bày luận án

6 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án góp phần xác định rõ tầm quan trọng, mối quan hệ và thực trạng của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai, luận án đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm kế thừa và phát huy tốt giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt nam hiện nay

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học: Từ việc tìm hiểu nội dung của việc kế thừa và phát huy giá

Trang 21

trị văn hóa truyền thống dân tộc và những tài liệu, công trình nghiên cứu về phát triển con người Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, luận án góp phần làm rõ những cơ sở khoa học cho việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, thực trạng việc kế thừa giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, phương hướng và giải pháp của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy về văn hóa, triết học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, quản

lý giáo dục, hành chính công trong các trường Cao đẳng và Đại học ở Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 22

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

1.1.1 Khái niệm về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Để hiểu rõ về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cần phải hiểu rõ về giá trị, truyền thống, văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Khái niệm giá trị: giá trị là phạm trù khoa học được nhiều ngành khoa học

nghiên cứu (triết học, kinh tế học, xã hội học, mỹ học, văn hóa học, đạo đức học, nghệ thuật học, giá trị học, …) Vì vậy, trong mỗi ngành khoa học, phạm trù giá trị

có thể có những nội dung và ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng và mục đích nghiên cứu Trong luận án này, giá trị được tiếp cận dưới góc độ triết học Giá trị được đo bằng thước đo của cộng đồng, dân tộc, xã hội và thời đại Giá trị phải được đánh giá bởi một hệ những chuẩn mực nhất định, phụ thuộc vào thế giới quan, nhân sinh quan, trình độ dân trí, hệ tư tưởng của một giai cấp, một cộng đồng xã hội Chuẩn mực giá trị của mỗi cộng đồng dân tộc, mang tính lịch sử - cụ thể Trong thực tiễn phát triển xã hội, ở những bình diện khác nhau, mỗi dân tộc, mỗi giai cấp có hệ giá trị khác nhau Điều này làm cho giá trị mang tính giai cấp, tính dân tộc, tính lịch sử xã hội Trong các chế độ xã hội khác nhau sẽ có hệ chuẩn mực để đánh giá giá trị khác nhau

Bên cạnh cách tiếp cận trên, thì khái niệm “giá trị” còn được dùng theo nghĩa của triết học văn hóa Tiêu biểu là Clyde Kluckholn với quan niệm: “Giá trị mang trong bản thân nó những quan niệm bộc lộ hay thầm kín về cái ao ước riêng của một cá nhân hay một nhóm người Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục đích khả thi của hành động”[69, tr.54] Còn

Trang 23

Tsunesabura Makjguchi cho rằng, “giá trị là cái thể hiện có tính định hướng về mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tượng của sự đánh giá”[145, tr.115-116] Còn James People và Gamck Bailey lại cho rằng:

Giá trị là cái ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lối sống của một

cá thể, nó được chia sẻ trong một nhóm hay trong toàn xã hội, nó được cá thể, nhóm hoặc toàn xã hội mong muốn hay được coi là có ý nghĩa Đó là phẩm chất cơ bản cần phải có để đảm bảo con đường sống, các chuẩn tối thượng chỉ đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn[145, tr.116]

Giá trị được đo bằng thước đo của dân tộc cộng đồng, xã hội và thời đại Theo C.Mác, khi nói đến giá trị là phải nói đến quan hệ Quan hệ đó nảy sinh từ thực tiễn lao động sản xuất vật chất và đời sống xã hội của con người Như vậy, tuy có yếu

tố chủ quan trong xem xét giá trị, nhưng giá trị hình thành và tồn tại có tính khách quan Nghĩa là, các giá trị vật chất hay giá trị tinh thần không phụ thuộc vào một cá nhân này hay cá nhân khác

Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng:

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta quan niệm giá trị là những thành tựu của con người góp vào sự phát triển của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ xã hội giữa chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người xã hội Giá trị vì thế được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn [74, tr.26]

Như vậy, từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng: giá trị là những thuộc tính, những phẩm chất có ích, có ý nghĩa đối với con người và xã hội, chúng thỏa mãn được các nhu cầu và phục vụ lợi ích của con người, được con người, xã hội thừa nhận

Từ việc hiểu về giá trị, là cơ sở để hiểu rõ hơn về truyền thống trong quá trình nhận thức chung về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Trang 24

Khái niệm truyền thống: Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất: truyền thống là sự kế

thừa di sản xã hội có giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Bản thân truyền thống chính là một cơ chế vừa tích lũy, vừa truyền đạt lại những gì đã được tích lũy, được đúc kết cho các thế hệ nối tiếp nhau của cộng đồng, của dân tộc Do

đó, truyền thống là những tư tưởng, tình cảm, những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí…của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về truyền thống Trong đó, tiêu biểu như theo GS Trần Văn Giàu, truyền thống là “những đức tính hay những tục lệ kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó

có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực”[60, tr.10]

Với cách tiếp cận tổng quát, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng:

Truyền thống đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, là phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài [30, tr.19]

Giáo sư Vũ Khiêu lại quan niệm: truyền thống là “những thói quen lâu đời, đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, một làng xã, một tập đoàn lịch sử”[76, tr.536]

Nhưng cũng cần nhận thấy, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, truyền thống bao giờ cũng bao gồm cả mặt tích cực (những yếu tố góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và thúc đẩy sự phát triển xã hội) và cả mặt tiêu cực (những yếu tố lỗi thời, lạc hậu trở nên bảo thủ, kìm hãm sự phát triển của xã hội)

Như vậy, mỗi tác giả có một cách tiếp cận khác nhau về truyền thống Song theo tôi, truyền thống dù được tiếp cận theo quan điểm nào cũng đều được hiểu là những hiện tượng văn hóa - xã hội (bao gồm các giá trị, các chuẩn mực giao tiếp các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục, nghi thức xã hội, các

Trang 25

thiết chế xã hội ) được bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng xã hội khác nhau và có thể được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác

Do đó, có thể kết luận: Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, tập quán và thói quen, tư duy và lối sống cùng những cách ứng xử của cộng đồng người nhất định trong lịch sử, mang tính ổn định tương đối và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Bên cạnh việc nắm khái niệm về giá trị, truyền thống, thì cũng cần làm rõ về khái niệm văn hóa

Khái niệm về văn hóa: Văn hóa là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có

văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những khái niệm khác nhau về văn hóa Năm 1967, Abraham Moles, nhà văn hóa học Pháp cho rằng, có

250 định nghĩa về văn hóa Nhà nghiên cứu văn hóa Trung Hoa Từ Hồng Hưng cho rằng, có đến “hàng nghìn định nghĩa về văn hóa”[73, tr.30 - 34] Còn A.L

Kroeber và Kluckhohn vào năm 1952 đã xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về

văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau Điều này cho thấy, khái niệm “văn hóa” rất phức tạp

Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[58, tr.13] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người

ví, định nghĩa đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người[29, tr.39] F Boas

Trang 26

định nghĩa:

Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau [59, tr.149]

Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, C.Mác coi văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người [19, tr.136-137] Lao động là hành vi văn hóa đầu tiên của con người Suốt chiều dài lịch sử, văn hóa luôn gắn với quá trình lao động, quá trình hoạt động thực tiễn của con người, C.Mác đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người… lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”[17, tr.641] “Nhờ hoạt động phối hợp của bàn tay, của các khí quan phát âm và của bộ óc, chẳng những mỗi cá nhân mà cả trong xã hội nữa, loài người đã có đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày càng phức tạp hơn, có đủ khả năng để tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càng cao hơn”[22, tr 279] Văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội

Ph.Ăngghen cho rằng:

Con người là một động vật văn hóa bởi bàn tay của nó, không chỉ là khí quan của lao động mà còn là sản phẩm của lao động nữa Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng được với động tác ngày càng mới, nhờ di truyền của

sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng cách đó của các cơ, của các gân, và sau khoảng thời gian dài hơn, cả xương nữa Và cuối cùng nhờ luôn luôn

áp dụng lại sự tinh luyện thừa hưởng được đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn - mà bàn tay con người mới đạt được trình độ

Trang 27

hoàn thiện rất cao khiến nó có thể như một sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, các pho tượng của Tôvanxen và các nhạc điệu của Paganini [17, tr.643]

Khi coi “giới tự nhiên thứ hai” với tư cách là “tác phẩm”, “thực tại” của con người - giới tự nhiên được con người cải biến, nhân hóa, mang ý nghĩa và nội dung con người là văn hóa, C.Mác đã đồng nhất văn hóa với phương thức hoạt động sống đặc thù, phương thức hoạt động sống riêng có của con người Đó là phương thức mà con người sử dụng lao động sáng tạo của mình để biến đổi và cải tạo giới

tự nhiên, “vận dụng bản chất cố hữu của mình” để cải tạo hiện thực khách quan,

“nhào nặn”, “xây dựng” thực tại khách quan cho chính mình “theo các quy luật của cái đẹp”[19, tr.136-137] Như vậy, trong quan niệm của C.Mác, văn hóa là cái phản ánh tính đặc thù của hoạt động con người và sự tồn tại, vận động, phát triển cùng với tính đặc thù như vậy của con người trong thế giới Văn hóa chỉ xuất hiện khi con người ý thức rõ ràng về đời sống xã hội của họ, về hoạt động tự do, hoạt động lao động sáng tạo để không những cải tạo và biến đổi tự nhiên vì sự tồn tại, phát triển của chính mình, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn của, mà còn để “làm cho bản thân hoạt động sinh sống của mình trở thành đối tượng của ý chí và của ý thức của mình”[19, tr.136] Nói cách khác, văn hóa là cái phản ánh việc con người tự ý thức về vai trò độc lập của mình, về khả năng và năng lực sáng tạo của mình trong việc cải tạo và biến đổi tự nhiên

Con người là chủ thể sáng tạo của văn hóa Con người sử dụng văn hóa đó để phát triển năng lực của mình trong quá trình cải tạo và biến đổi tự nhiên, đồng thời cải tạo chính bản thân mình Khi con người ngày càng ý thức một cách rõ ràng hơn sức mạnh xã hội của lao động và ý thức đầy đủ hơn khả năng, năng lực sáng tạo mang bản chất người của mình - sáng tạo văn hóa, tái sản xuất ra giới tự nhiên,

“xây dựng” giới tự nhiên cho chính mình “theo các quy luật của cái đẹp” Bằng hoạt động lao động sáng tạo đó và với chính sự tồn tại, phát triển của mình trong thế giới hiện thực, con người đã tự xác định cho mình cái ranh giới để phân biệt

Trang 28

phương thức hoạt động sống của mình với phương thức hoạt động sinh tồn của loài vật

Do vậy, văn hóa là cái thể hiện sự giải phóng và tự giải phóng con người khỏi

sự ràng buộc, thống trị với một sức mạnh bí ẩn của thế giới tự nhiên và thế giới thần thánh mà con người tưởng tượng ra do sự bất lực của mình trước giới tự nhiên đầy bí ẩn Văn hóa là cái ghi nhận lĩnh vực hiện thực được quy định không phải bởi tính thiết yếu tự nhiên và sự tiên định của thượng đế hay một đấng sáng thế nào đó,

mà bởi hoạt động lao động sáng tạo của con người với tư cách là một thực thể độc lập, có ý thức, có năng lực tư duy và khả năng lao động sáng tạo Cho nên, thế giới văn hóa là thế giới con người, do con người tạo ra cho chính mình - thế giới mà trong đó, “con người nhân đôi mình không chỉ về mặt trí tuệ như xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực”, để rồi

“ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra”[19, tr.137] Con người sáng tạo ra thế giới văn hóa cho mình bằng hoạt động có ý thức và hơn nữa,

đó là hoạt động có ý thức một cách tích cực, sáng tạo Do vậy, khi nói tới văn hóa không phải là nói tới cái thế giới sự vật và các tư tưởng tự nó, mà là nói tới con người đã tạo ra nó Song, sự phát triển của con người lại chính là kết quả của quá trình hoạt động có ý thức, của quá trình lao động sáng tạo của bản thân con người theo quy luật của cái đẹp Cũng do vậy, qua hình thức văn hóa của vật thể, chúng ta

có thể phán xét về con người đã tạo ra các vật thể văn hóa đó, về những đặc trưng, tính chất của thời đại đã sản sinh ra chúng, về trình độ phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ của con người trong một thời đại lịch sử

Không chỉ thế, quan niệm của C.Mác về văn hóa còn cho thấy, văn hóa là cái thể hiện sức mạnh xã hội trong hoạt động lao động sản xuất của con người Hoạt động lao động sản xuất tạo ra toàn bộ sự phong phú, đa dạng cho tồn tại của con người, hình thành mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên xung quanh và quan hệ của con người với con người trong cộng đồng xã hội - chính là cội nguồn của văn hóa Song, nội dung của văn hóa không chỉ thể hiện ở đó, mà còn thể hiện

Trang 29

ở sự phát triển của bản thân con người, ở sự phát triển và hoàn thiện của con người

cả về thể xác lẫn tâm hồn, cả về đạo đức lẫn năng lực trí tuệ và trình độ thẩm mỹ

Do vậy, trong quan niệm của C.Mác về văn hóa với tư cách là phương thức hoạt động sống đặc thù của con người cần được hiểu là, hoạt động đó không chỉ là hoạt động lao động sản xuất nhằm tạo ra những vật phẩm thiết yếu cho cuộc sống con người, mà còn là hoạt động tinh thần, hoạt động giáo dục và khai sáng theo nghĩa rộng nhất của từ này, để tạo nên những sản phẩm tinh thần cho con người Nói cách khác, văn hóa chính là cái làm nên nền tảng tinh thần của xã hội, ghi nhận tầm cao và chiều sâu phát triển của cộng đồng xã hội, tạo ra hệ các giá trị nhân đạo, nhân văn cho một cộng đồng xã hội và kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa con người với con người, với xã hội và với tự nhiên

Bên cạnh đó, C.Mác còn quan niệm: văn hóa là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó, con người sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình với tư cách là một thực thể xã hội Đó là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống giá trị mang tính định hướng cho sự phát triển ý thức con người và cho lối ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội Với hệ thống giá trị định hướng này, mỗi nền văn hóa trở thành một hệ thống biểu tượng bao hàm trong đó các khuôn mẫu ứng xử xã hội của con người Đó còn là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống những thể chế mà qua đó, những giá trị cao đẹp, mang tính định hướng được giữ gìn, lưu truyền và phổ biến trong cộng đồng xã hội, trở thành tài sản của mỗi người, của tất

cả mọi người trong cộng đồng xã hội ấy và làm nên văn hóa truyền thống cho một cộng đồng xã hội

Coi văn hóa là phương thức hoạt động sống đặc thù của con người - hoạt động lao động sản xuất và hoạt động tinh thần, C.Mác còn chỉ rõ, hai phương thức hoạt động nền tảng này của con người tồn tại không tách rời nhau mà gắn bó, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể văn hóa để tạo nên và tái tạo nên con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội Bằng những hoạt động nền tảng này, con người tạo nên nền văn hóa của mình, sống trong nền văn hóa đó và làm cho nền

Trang 30

văn hóa đó ngày một phát triển, hoàn thiện, vì cuộc sống ngày càng cao đẹp của mình, vì một xã hội nhân đạo, nhân văn, công bằng, dân chủ Đồng thời, thông qua kết quả của những hoạt động nền tảng đó, con người phán xét toàn bộ lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại, thẩm định hệ thống những giá trị con người - những giá trị định hướng cho hoạt động con người, xác định cả nội hàm lẫn ngoại diên của hệ thống những giá trị ấy và thể hiện chúng qua nền văn hóa của mình Nhờ đó, kết quả hoạt động của con người trong các lĩnh vực kinh kế, chính trị, khoa học, v.v cũng được phản ánh trong nền văn hóa nhân loại và trở thành yếu tố cấu thành nền văn hóa ấy khi chúng mang ý nghĩa và nội dung con người, thể hiện bản chất con người

Văn hóa không chỉ đóng vai trò là cơ sở, nền tảng tinh thần của xã hội, của lịch sử nhân loại, mà còn là lĩnh vực luôn có ảnh hưởng, tác động đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, đến sự phát triển xã hội Trong sự tác động và ảnh hưởng đó, văn hóa không chỉ tác động, ảnh hưởng đến nguyên nhân sinh ra nó - đến tồn tại xã hội, đến quá trình sản xuất vật chất của con người, mà còn góp phần quyết định phương thức vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người Văn hóa còn đem lại cho con người sự điều chỉnh và định hướng hoạt động của mình và qua đó, điều tiết quá trình sản xuất vật chất, điều tiết sự phát triển xã hội, trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển xã hội bền vững - phát triển vì mục tiêu nhân văn, vì giá trị nhân đạo

Năm 1994, UNESCO nhấn mạnh ý nghĩa rộng rãi của “văn hóa”:

Đó là một phức thể - tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức và tình cảm khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, Quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng [161, tr.47]

Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Trang 31

Theo nghĩa rộng thì “văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[81, tr.47]; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[81, tr.314]…

Từ những quan niệm về văn hóa mà các tác giả đã nêu, có thể thấy, các nhà nghiên cứu đều có những điểm chung trong quan niệm về văn hóa: Thứ nhất, văn hóa bao gồm văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất Thứ hai, văn hóa là sự sáng tạo của con người hướng tới giá trị chân - thiện - mỹ Do vậy, nó trở thành dấu hiệu để phân biệt con người với động vật khác Thứ ba, nói đến văn hóa là nói đến tính hệ thống với chức năng tổ chức xã hội, tính giá trị với chức năng điều tiết xã hội, tính lịch sử với chức năng giáo dục, tính nhân bản với chức năng giao tiếp Thứ tư, văn hóa về bản chất là một quá trình phát triển mang thuộc tính người, nó là cái đặc trưng cho một cộng đồng dân tộc

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh cho rằng:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở

và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[68, tr.431]

Với cách hiểu này, Hồ Chí Minh quan niệm văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra, bao quát cả lĩnh vực sáng tạo vật

Trang 32

chất và sáng tạo tinh thần, và tất cả đều do con người và vì con người, từ những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn ở, mặc… đến ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo,… Người không chỉ đề cập văn hóa theo nghĩa rộng mà còn cho rằng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng Những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi văn hóa mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triển được Do đó, văn hóa mà tác giả bàn ở đây là văn hóa ở mặt tinh thần

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng:

“Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới

từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức

đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[161, tr.22]

Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc

Như vậy, trên cơ sở phân tích, đúc rút những nội dung căn bản, xuyên suốt qua các định nghĩa về văn hóa đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và trên thế giới, xuất phát từ mục đích của luận án, tác giả tán thành với định nghĩa văn hóa

trong từ điển bách khoa Việt Nam, Văn hóa là “toàn bộ những hoạt động sáng tạo

và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước”[123, tr.798]

Với việc tìm hiểu các khái niệm giá trị, truyền thống, văn hóa thì luận án cũng cần làm rõ hơn về giá trị văn hóa

Giá trị văn hóa: Khi đề cập tới giá trị văn hóa là đề cập tới con người trong xã

hội Con người đã sáng tạo ra giá trị văn hóa trong quá trình phát triển lịch sử của

Trang 33

mình Song chính giá trị văn hóa lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy Giá trị văn hóa được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia ) bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau

Cụ thể như giá trị văn hóa của người Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nhưng với người Nhật Bản hay một số dân tộc khác thì có thể chủ nghĩa yêu nước lại được xếp ở các vị trí khác Thường thì nhiều dân tộc đều có chung những giá trị, như yêu nước, cần cù, tính cộng đồng , tuy nhiên, trong từng hệ giá trị của mỗi dân tộc thì việc xếp đặt thứ tự ưu tiên, độ nhấn của từng yếu tố giá trị ấy trong bảng giá trị thì có thể khác nhau Trong giá trị văn hóa thì có giá trị văn hóa chung cho mỗi cộng đồng, quốc gia và khu vực khác nhau Như giá trị văn hóa chung của Châu Á là: hiếu học, cộng đồng, cần cù, huyết thống[112, tr.57]

Bên cạnh những giá trị tổng quát như vậy, trong từng lĩnh vực của đời sống, hoạt động của con người thì người ta lại đúc rút nên các giá trị, có vai trò định hướng trong từng lĩnh vực riêng lẻ như giá trị văn hóa của người Việt Nam Ví dụ như: “Nước, phân, cần, giống” là hệ giá trị trong canh tác nông nghiệp truyền thống của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam hay hệ canh tác “Luân canh, hưu canh, xen canh, gối canh” của cư dân canh tác nương rẫy ở miền núi của Việt Nam “Lấy nhu thắng cương, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy chí nhân thắng cường bạo” là hệ giá trị của sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam…

Mỗi dân tộc trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội cụ thể đều tồn tại giá trị

văn hóa Do vậy, theo tác giả, giá trị văn hóa là giá trị chung nhất, mang tính phổ quát, có vai trò định hướng đối với tư duy và hành động của cả cộng đồng Bên

cạnh đó, cần làm rõ về giá trị văn hóa truyền thống để thấy rõ bản sắc của việc lưu

Trang 34

giữ những giá trị từ đời này sang đời khác

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc: Khi nói tới giá trị văn hóa truyền

thống thì ở đây chỉ nói tới cái tốt đẹp được lưu giữ từ đời này sang đời khác trong quá trình phát triển của quốc gia, dân tộc, hay khu vực, cộng đồng người

Do vậy, có thể hiểu: Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị cơ bản, tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của dân tộc, có ích và có ý nghĩa đối với con người và xã hội, nó mang tính trường tồn trong lịch sử, mà dựa vào đó, các thế hệ mới ra đời

có thể phát huy được giá trị quá khứ, tiếp thu được giá trị hiện đại và định hướng cho tương lai để tự tồn tại và phát triển

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội, từ tư tưởng, tình cảm, quan niệm, biểu tượng, đạo đức, thẩm mỹ, lối sống đến những giá trị tinh thần do con người sáng tạo nên như nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, âm nhạc Những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được hình thành và khẳng định trong quá trình tồn tại, phát triển trong con người và xã hội của một đất nước, một dân tộc cụ thể

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc luôn hiện hữu trong chương trình hành động của dân tộc, nó thể hiện cốt cách của một dân tộc Có thể nói, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là cái tạo nên nét độc đáo, nét truyền thống của dân tộc, do đó

nó tạo nên bản sắc dân tộc Nó là cái có thể căn cứ vào đó để so sánh, nhận định về nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác Trong xã hội có giai cấp, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cũng mang tính giai cấp, vì giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là sản phẩm của các thành viên trong cộng đồng, dân tộc, mà dân tộc đó gắn với một hệ thống chính trị nhất định Trong hệ thống chính trị, quyền lợi giai cấp, vai trò của các giai cấp khác nhau và lý tưởng, tinh thần của các giai cấp khác nhau đã tạo nên giá trị văn hóa truyền thống dân tộc khác nhau Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là cái có ý nghĩa được cá nhân và cộng đồng công nhận, duy trì, bảo vệ và phát triển Bởi vì, tính nhân bản của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là hướng tới sự hoàn thiện của cá nhân và cộng đồng Các giá trị văn hóa truyền

Trang 35

thống dân tộc có chức năng rất quan trọng là nhận thức, định hướng, đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cá nhân và cộng đồng, có vị thế đặc biệt trong tư tưởng, đạo đức, lối sống của cộng đồng dân tộc

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà do các thế hệ nối tiếp nhau hình thành nên Nó vẫn có sự biến đổi trong quá trình phát triển của một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc, tùy vào điều kiện tác động Nhưng nếu giá trị văn hóa truyền thống biến đổi cơ bản về chất thì

sẽ không giữ được giá trị văn hóa truyền thống Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc mặc dù trải qua nhiều thời gian thử thách nhưng bản chất vẫn được lưu giữ lại trong đời sống thường ngày Nói đến giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tương đối ổn định, tốt đẹp, tiêu biểu cho dân tộc, tạo nên bản sắc dân tộc đó

và do đó, mỗi dân tộc cần bảo vệ duy trì và phát triển, làm điểm tựa để sáng tạo các giá trị văn hóa mới và là cơ sở để giao lưu văn hóa quốc tế Chính vì vậy giá trị văn hóa truyền thống luôn có tính bền vững

Tóm lại, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là những chuẩn giá trị tốt đẹp nhất, mà dân tộc đó phải dựa vào để liên kết xã hội, tạo nên sức mạnh nhằm xây dựng và bảo vệ đất nước Nó là chỗ dựa đáng tin cậy và là điểm tựa vững chắc cho một dân tộc trong quá trình vận động lịch sử ở hiện tại cũng như tương lai Chính

vì thế, việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc rất quan trọng trong việc phát triển nền văn hóa của một dân tộc

1.1.2 Những nội dung của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam

Giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam được thử thách qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, được hun đúc trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Vượt qua những những diễn biến phức tạp của chiều dài lịch

sử dựng nước và giữ nước, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc đã khẳng định sức sống mãnh liệt của mình và chúng được sử dụng như là vũ khí sắc bén, tạo ra một sức mạnh vô cùng to lớn đóng góp vào lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Lịch sử cho thấy, qua những lần giao lưu, tiếp biến, hội nhập với các nền văn

Trang 36

hóa Nam Á, Trung Quốc, Pháp, Nga…, qua những cuộc chiến tranh tàn bạo với kẻ thù xâm lược, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam không chỉ được bảo tồn mà còn phát triển phong phú hơn Các giá trị văn hóa truyền thống đã

ăn sâu vào máu thịt con người Việt Nam, tạo nên một sức mạnh phi thường, có khả năng đấu tranh mạnh mẽ chống lại mọi kẻ thù xâm lược qua nhiều thế kỷ

Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam là quốc gia không lớn, nằm ở khu vực Đông Nam Á, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, Campuchia, phía Đông giáp biển Đông Với địa hình phức tạp, có 3/4 diện tích là đồi núi, 1/4 diện tích là đồng bằng và ven biển

Như vậy, từ thuở "khai thiên lập địa", điều kiện địa lý tự nhiên, một mặt đã tạo

ra những điều kiện thuận lợi và tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp của Việt Nam Mặt khác nó tạo ra những khó khăn, thách thức, đòi hỏi con người Việt Nam phải "nhẫn nhục" chịu đựng gian khổ, cần cù, siêng năng, sáng tạo trong lao động, sản xuất và dũng cảm trong các cuộc đấu tranh

"chống thiên tai địch họa"

Nền kinh tế tiểu nông là cơ sở hình thành nên xã hội nông nghiệp truyền thống với đơn vị hạt nhân là "làng" Làng là bộ máy quản lý độc lập, có hương, ước, luật

lệ riêng Làng có sự gắn kết với nhau bằng huyết thống Do đó, hình thành nên tính cách của người Việt Nam là lối sống duy tình, dựa vào kinh nghiệm Đồng thời với điều kiện tự nhiên đã hình thành nên những con người cần cù, chịu khó, nhân ái, khoan dung, yêu làng quê, gia đình đất nước của mình,

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được nhiều nhà khoa học khái quát thành những thang giá trị, hệ giá trị hay bảng giá trị Theo Giáo sư Trần Văn Giàu thì gom lại thành bảy phạm trù mang tính tổng quát nhất của dân tộc Việt Nam đó là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [60, tr.41 - 42] Còn Nghị quyết Trung Ương 5, khóa VIII đã nêu những đức tính nổi bật của bản sắc Việt Nam, cũng có thể hiểu đó là các giá trị của con người Việt Nam:

“Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng

Trang 37

đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”[71, tr 31] Nghị quyết Trung Ương 9 khóa XI, năm 2014 thì lại khẳng định giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam là: Yêu nước, Nhân

ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết, Cần cù, Sáng tạo [167] Dựa vào những nhà khoa học đi trước, quan điểm của Đảng, chúng tôi thấy nổi bật lên những giá trị sau

đây: Đó là Tinh thần yêu nước; ý chí tự lập, tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, tình yêu thương con người, khoan dung, vì nghĩa; đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo; tinh thần hiếu học; tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống

Một là, tinh thần yêu nước Quan niệm về “yêu nước” hiện vẫn đang có

nhiều nhà khoa học và chính trị có nhiều quan điểm khác nhau, với nhiều khái niệm như “tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước…Nhưng đối với giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, quan niệm tinh thần yêu nước hay còn gọi là lòng yêu nước là hợp lý, vì nó thể hiện tình yêu quê hương đất nước và sự thể hiện nghĩa vụ công dân đối với tổ quốc của mọi người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau Còn chủ nghĩa yêu nước là nói tới hệ thống những quan điểm, lý luận, học thuyết về yêu nước Tinh thần yêu nước, yêu quê hương là “sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam”[60, tr.14]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định:

Dân tộc ta có lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của

ta Từ xưa tới nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại trỗi dậy,

nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước[137, tr.171] Tình cảm yêu nước sớm bắt đầu từ lúc các bộ lạc thuộc Lạc Việt hợp nhau lại thành nước Văn Lang Trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử của dân tộc Việt Nam càng làm nổi bật lên tinh thần yêu nước, chống xâm lăng, bảo vệ sự tồn tại của dân tộc Lòng yêu nước của con người Việt Nam đã vượt lên trên tất cả, mang

Trang 38

sắc thái riêng mà theo GS.Trần Văn Giàu thì có hai lý do:

Thứ nhất: nước ta xuất hiện sớm từ thượng cổ tên gọi nước Văn Lang Thứ hai, nhìn đại thể, lịch sử nước ta là một chuỗi dài những cuộc khởi nghĩa và những cuộc đấu tranh chống đô hộ, chống xâm lăng của những nước lớn mạnh hơn nước ta gấp mấy chục lần Hai đặc điểm ấy quyết định sự sinh

nở, sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam[62, tr.334]

Đối với mỗi người Việt Nam, ý thức về đất nước trước hết là ý thức về tình yêu với quê hương (làng xóm) thân thuộc, đó là nơi “chôn nhau, cắt rốn”, mà ở đó

có gia đình, có cha mẹ, anh em, có dòng tộc, có làng xóm cùng sinh sống với nhau

Từ “quê hương” (nhà, làng), rộng hơn là “đất nước” là nơi gắn bó chặt chẽ giữa người với người trong gia đình, trong làng xã, trong đất nước Từ đó, hình thành nên mối quan hệ bền chặt: cá nhân và cộng đồng, giữa nước với dân Và cũng từ

đó, hình thành nên tư tưởng: “dân là gốc của nước” Như vậy có nghĩa là, không có dân thì không có quốc gia dân tộc Vì vậy, trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng, thì mọi người dân Việt Nam từ già tới trẻ, gái hay trai đều tự nguyện đứng lên đánh giặc, bảo vệ đất nước

Đối với giai cấp, tầng lớp lãnh đạo đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử cần thấu hiểu tư tưởng “dân là gốc nước”, “yêu nước là thương dân”, “cứu nước, cứu dân”

Và thực tế trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam cùng chung một ý chí “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước ra sức” đánh giặc giữ nước Khi đánh xong giặc thì dùng “khoan thư sức dân”, nuôi dưỡng và giáo hóa dân… Đó là kế sách lâu bền của các triều đại hùng mạnh trong việc dựng nước và giữ nước

Trong lịch sử của dân tộc, tinh thần yêu nước đã thấm nhuần vào tâm hồn mỗi con người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, … làm cho mọi người thấu hiểu được cảnh “mất nước nhà tan” Lòng yêu nước đã trở thành chuẩn mực đạo đức, thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam Để đánh

Trang 39

được kẻ thù đông hơn, mạnh hơn mình gấp nhiều lần thì phải “biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”, đồng thời phải biết “lấy nhu thắng cương - lấy ít địch nhiều, lấy ít thắng mạnh”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”… Điều này đã trở thành khí phách hào hùng của dân tộc Việt Nam

Lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước, từ thời Văn Lang, Âu Lạc đến nay, không ai có thể phủ nhận tình cảm yêu nước là một tình cảm lớn nhất của dân tộc Việt Nam Với dân tộc Việt Nam, tổ quốc là trên hết, là thiêng liêng nhất Đặc biệt, tình cảm yêu nước đã trở thành thứ “vũ khí” mạnh mẽ trước mọi kẻ thù xâm lược

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, luôn hiện lên những hình ảnh những anh hùng dân tộc: Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp… Đúng như Nguyễn Trãi đã thốt lên: “Anh hùng hào kiệt đời nào cũng có” (Đại cáo Bình Ngô) Tất cả họ đã cùng nhân dân làm nên lịch sử

vẻ vang của dân tộc trong việc giữ yên bờ cõi, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước đã nâng lên tầm cao mới - chủ nghĩa yêu nước Thực tiễn cách mạng Việt Nam với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng tám năm 1945, đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược tàn phá chủ nghĩa thực dân cũ và mới của chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến đất nước Việt Nam thống nhất

và đi lên chủ nghĩa xã hội đã chứng minh cho giá trị cao đẹp của tinh thần yêu nước nồng nàn Những luận điểm: “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ,

“độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là mục tiêu, động lực, là ý chí của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Như vậy, tinh thần yêu nước là tinh thần cao quý nhất của dân tộc Việt Nam

Trang 40

Trong đó có sự thống nhất và hòa quyện giữa tri thức lý luận với tình cảm chân thực, giữa trí tuệ với niềm tin, ý chí dựng nước và giữ nước của cả dân tộc, thể hiện chuẩn mực giá trị và đạo lý sống, tồn tại và phát triển của Việt Nam

Hai là, ý chí tự lập, tự cường dân tộc Ý chí tự lập, tự cường dân tộc thể hiện

trước hết ở việc khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đó là điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm Từ thời cổ đại, người Việt đã thể hiện ý chí tự lập, tự cường dân tộc, thông qua hành động kiên quyết không khuất phục trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, mặc dù bị đô hộ song dân tộc Việt Nam quyết không để mất dân, mất nước, không chịu khuất phục, không bị đồng hóa

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, dân tộc ta là một dân tộc sinh sống trên diện tích nhỏ hẹp, dựa trên nền kinh tế tiểu nông lúa nước, lại phải chống chọi với tự nhiên khắc nghiệt và chống lại kẻ thù xâm lược Trong điều kiện đó, để tồn tại và chống giặc ngoại xâm, con người Việt Nam phải có ý chí tự lực, tự cường, học hỏi

để nắm bắt tri thức về tự nhiên, xã hội Tri thức gắn với niềm tin, khát vọng, niềm

tự hào về dân tộc đã hun đúc nên ý chí tự lập, tự cường dân tộc của con người Việt Nam, nó giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai hạn hán

Ý chí tự cường dân tộc còn thể hiện tầm hiểu biết, tri thức khoa học và tư duy sáng tạo của con người và dân tộc Việt Nam Ý chí tự cường dân tộc còn thể hiện bản lĩnh của con người Việt Nam với tinh thần độc lập, tự chủ, tự giác, và tự quyết của con người, của dân tộc Việt Nam trong việc lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình và không bị lệ thuộc bởi bất kỳ thế lực nào

Lịch sử cho thấy, trên thế giới chưa có nước nào bị xâm lược nhiều lần bởi những nước lớn mạnh nhất thế giới qua các thời đại như Việt Nam: các triều đại phong kiến hùng mạnh của Trung Quốc như: Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và các nước thực dân, phát xít: Pháp, Nhật, Mỹ, nhưng chủ nghĩa yêu nước đã giúp nhân dân ta đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc Lòng yêu nước

Ngày đăng: 02/04/2017, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Acnônđốp A.I (chủ biên) (1991), Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin
Tác giả: Acnônđốp A.I (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1991
2. Ban tư tưởng - văn hóa trung ương(1996), Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội VIII của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng - văn hóa trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Hoàng Chí Bảo (2012), Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam (1986-2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam (1986-2011)
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
4. Hoàng Chí Bảo(2008), “Vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam"”, Tạp chí Lý luận chính tr"ị
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2008
5. Hoàng Chí Bảo (1997), “Văn hóa và sự phát triển nhân cách của thanh niên”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn hóa và sự phát triển nhân cách của thanh niên”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1997
6. Trần Văn Bính (2010), Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
7. Lê Thanh Bình (Chủ biên) ( 2012), Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam , Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
8. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
9. Cairan V.I (1997), Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, Nxb. Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Cairan V.I
Nhà XB: Nxb. Mátxcơva
Năm: 1997
10. C.Mác, Ănghen (1990), Tuyển tập, t.1, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác, Ănghen
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1990
11. C.Mác-Ăngghen(1978), Toàn tập, t.1,Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C."Mác-Ăngghen(1978)", Toàn tập
Tác giả: C.Mác-Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1978
12. C.Mác, Ănghen (1980), Tuyển tập, t.3, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác, Ănghen
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1980
13. C.Mác, Ăngghen (1995), Toàn t ập, t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 14. C.Mác, Ăngghen (1995), Toàn tập, t. 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 14. C.Mác, Ăngghen (1995), "Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen (1995), Toàn t ập, t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 14. C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
15. C.Mác, Ănghen (1980), Tuyển tập, t.6, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác, Ănghen
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1980
16. C.Mác, Ăngghen (1994), Toàn tập, t. 19, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
17. C.Mác, Ăngghen (1994), Toàn tập, t. 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
18. C.Mác, Ăngghen (1995), Toàn tập, t. 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. C.Mác, Ăngghen (1993), Toàn tập, t. 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 20. C.Mác, Ăngghen (1994), Toàn tập, t. 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", t. 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 20. C.Mác, Ăngghen (1994), "Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen (1993), Toàn tập, t. 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 20. C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
21. C.Mác, Ăngghen (1994), Toàn tập, t. 27, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
164. Phong Cầm(2015), 50% doanh nghiệp đang trốn đóng bảo hiểm xã hội, 165. http://www.tienphong.vn/xa-hoi/50-doanh-nghiep-dang-tron-dong-bao-hiem-xa-hoi-909716.tpo Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w