Thực tiễn ở một số nướctrên thế giới và Việt Nam đã chứng minh, sự phát triển đúng hướng của ngànhcông nghiệp hỗ trợ là tiền đề quan trọng đóng góp vào quá trình phát triển nềnkinh tế qu
Trang 1HÀ THỊ HƯƠNG LAN
C¤NG NGHIÖP Hç TRî TRONG MéT Sè NGµNH C¤NG NGHIÖP ë VIÖT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2HÀ THỊ HƯƠNG LAN
C¤NG NGHIÖP Hç TRî TRONG MéT Sè NGµNH C¤NG NGHIÖP ë VIÖT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã s ố : 62 31 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định.
Nghiên cứu sinh
Hà Thị Hương Lan
Trang 41.1 Những công trình khoa học đã được nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.2 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 26
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG NGHIỆP
2.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ 29
2.2 Vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ đối với nền kinh tế quốc dân
nói chung và ngành công nghiệp nói riêng 49
2.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển công nghiệp hỗ trợ
trong một số ngành công nghiệp và bài học cho Việt Nam 64
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TRONG MỘT
SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2013 78
3.1 Những thuận lợi, khó khăn và nhân tố mới ảnh hưởng đến phát triển
công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam 78
3.2 Thực trạng công nghiệp hỗ trợ trong ngành công nghiệp xe máy, dệt
3.3 Đánh giá chung về công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TRONG MỘT SỐ NGÀNH CÔNG
4.1 Quan điểm cơ bản nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong một số
4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong một số
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN The Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁAPEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
BOI Ủy ban đầu tư Thái Lan
DNNVV (SMEs) Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
MITI (METI) Bộ Kinh tế công nghiệp và Thương Mại Nhật Bản
MNCs Công ty đa quốc gia
JETRO The Japan External Trade Organization
Cơ quan xúc tiến ngoại thương Nhật BảnJICA Japan International Cooperation Agency
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
UNIDO The United Nations Industrial Development Organization
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp QuốcVCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt NamVDF Việt Nam Development Forum
Diễn đàn phát triển Việt Nam
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: GTSX công nghiệp lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng 88Bảng 3.2: Lao động trong lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng 89
Bảng 3.7: Doanh thu của các doanh nghiệp CN dệt may từ 2000 - 2012 98Bảng 3.8: Tình hình nhập khẩu của ngành dệt may từ năm 2006 - 2012 99Bảng 3.9: Số lượng doanh nghiệp CNHT ngành Điện tử 2006 - 2013 103Bảng 3.10: Tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thông tin từ
Bảng 3.11: Đánh giá SWOT về công nghiệp hỗ trợ Việt Nam 117Bảng 4.1: Nhóm chỉ tiêu phấn đấu của ngành công nghiệp 120
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1: Số lượng doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng 87Biểu đồ 3.2: Giá trị sản xuất công nghiệp một số ngành công nghiệp 88Biểu đồ 3.3: Lao động trong công nghiệp chế biến, chế tạo 89Biểu đồ 3.4: Doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng xe máy 93Biểu đồ 3.5: Trị giá hàng dệt may xuất khẩu từ 2000 - 2013 95Biểu đồ 3.6: Số lượng các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may năm 2012 95Biểu đồ 3.7: Vốn đầu tư của doanh nghiệp sản xuất sợi và dệt vải 96Biểu đồ 3.8: Tổng doanh thu công nghiệp điện tử Việt Nam 102Biểu đồ 3.9: Vốn kinh doanh bình quân của doanh nghiệp sản xuất sản
Biểu đồ 3.10: Kim ngạch nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử &
DANH MỤC CÁC HỘP
Trang
Hộp 2.1: Ngành chế tạo ôtô: sau động đất, sóng thần 11/3/2011 tại Nhật Bản 53
Sơ đồ 2.4: Chuỗi giá trị trong một ngành công nghiệp 51
Sơ đồ 2.5: Cấu trúc chuỗi giá trị giữa linh kiện và lao động 57
Sơ đồ 4.1: Mô hình Cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ quốc gia 138
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - côngnghệ và quá trình toàn cầu hoá kinh tế mở rộng hiện nay, các nền kinh tế quốcgia, khu vực đang có xu hướng hợp nhất và trở thành một bộ phận, một hệ thốngquan trọng trong mạng lưới hợp tác phân công lao động toàn cầu Mọi quốc giamuốn phát triển phải gắn phân công lao động quốc gia vào hệ thống phân cônglao động quốc tế Khi trình độ phân công lao động quốc tế và phân chia quá trìnhsản xuất đạt đến mức độ cao, không một sản phẩm công nghiệp nào được sảnxuất tại một không gian, địa điểm hay một công ty duy nhất của một quốc gia;chúng được phân chia thành nhiều công đoạn ở các công ty cắm nhánh tại cácđịa phương, quốc gia, châu lục khác nhau Ngành công nghiệp hỗ trợ ra đời nhưmột tất yếu xuất phát từ đòi hỏi của nền sản xuất công nghiệp mới với nội dung
cơ bản là chuyên môn hóa sâu sắc các công đoạn của quá trình sản xuất
Việt Nam, là một nước đang phát triển, đang trong tiến trình đẩy nhanh
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển công nghiệp hỗ trợ cóvai trò quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước Thực tiễn ở một số nướctrên thế giới và Việt Nam đã chứng minh, sự phát triển đúng hướng của ngànhcông nghiệp hỗ trợ là tiền đề quan trọng đóng góp vào quá trình phát triển nềnkinh tế quốc dân; phát triển công nghiệp hỗ trợ trở là nhân tố đóng vai trò quyếtđịnh sự phát triển của các ngành công nghiệp Công nghiệp hỗ trợ phát triển gópphần làm tăng tỷ lệ nội địa hoá, giảm nhập khẩu, giảm giá thành sản phẩm, giảm
sự phụ thuộc vào “bên ngoài”, đảm bảo tính chủ động cho nền kinh tế Côngnghiệp hỗ trợ phát triển góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, phát huy cao độ các yếu tố nội lực, phát triển nguồn nhân lực, mốiliên kết công nghiệp và sử dụng công nghệ cao, tăng giá trị gia tăng của sản phẩmcông nghiệp Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, nó đáp ứngmột cách linh hoạt, kịp thời trước nhu cầu phải thay đổi tính năng, kiểu dáng, mẫu
Trang 9mã, dây chuyền, công nghệ của nhà sản xuất công nghiệp do thị hiếu tiêu dùngngày càng cao và cạnh tranh ngày càng khốc liệt Ngoài ra, phát triển công nghiệp
hỗ trợ sẽ góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức hút đầu tư vào nhữnglĩnh vực công nghiệp mà công nghiệp hỗ trợ đó đi trước một bước để “mởđường” Chính vì vậy, công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ nâng cao sức cạnh tranhcủa sản phẩm công nghiệp, ngành công nghiệp nói riêng cũng như của cả nền kinh
tế quốc dân nói chung đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bền vững
Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay, hệ thống Luật pháp và chính sách chưa đủmạnh để tạo điều kiện về môi trường pháp lý, định hướng và khuyến khích đầu
tư, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Hiện ngành công nghiệp hỗ trợ còn khánon trẻ, quy mô nhỏ, tính cạnh tranh thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của cácngành công nghiệp chế tạo và lắp ráp Phát triển công nghiệp hỗ trợ là vấn đềmới, phạm vi rộng và nội dung phức tạp liên quan đến các lĩnh vực sản xuất vàdịch vụ công nghiệp Việt Nam, với nguồn lực hạn hẹp, quy mô các ngành kinh
tế hạn chế, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi nguồn vốn lớn, côngnghệ cao, lao động chất lượng, đây là khó khăn lớn Để phát huy lợi thế so sánh,đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói riêng, quá trình hội nhập quốc tếnói chung, phù hợp với thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì lựa chọnphát triển công nghiệp hỗ trợ trở thành một vấn đề mang tính khách quan và thiếtthực Đây là một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, với ý nghĩa đó tác
giả chọn đề tài: “Công nghi ệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt
Nam” làm luận án tiến sỹ, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1.M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CNHT, đặc biệt làm
rõ vai trò và những tiêu chí đánh giá mức độ phát triển CNHT; Luận án phân tích,đánh giá thực trạng CNHT trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam, chỉ ranhững kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong pháttriển CNHT Từ đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnCNHT trong một số ngành công nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Trang 102.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Luận án chủ yếu tập trung vào những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Luận giải những vấn đề lý luận chung về CNHT Đặc biệt làm rõ vaitrò của CNHT
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển CNHT của một số quốc gia Từ đórút ra một số bài học có giá trị tham khảo đối với Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng CNHT trong một số ngành công nghiệp ởViệt Nam từ năm 2006 đến năm 2013 Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạnchế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối với phát triển CNHT trong một sốngành công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển CNHTtrong một số ngành công nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là CNHT trong một số ngành côngnghiệp ở Việt Nam, cụ thể là tập trung nghiên cứu CNHT ở 03 ngành chủ yếu là xemáy, dệt may và điện tử dưới góc độ kinh tế chính trị
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
- Về không gian: Luận án nghiên cứu CNHT trong một số ngành côngnghiệp Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu CNHT của 03 ngành xe máy, dệtmay, điện tử trên phạm vi cả nước
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu CNHT trong một số ngành côngnghiệp ở Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2013
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
- Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làmnền tảng cơ sở phương pháp luận
- Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phươngpháp cụ thể như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic -lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Làm rõ nội hàm và các nhân tố ảnh hưởng tới CNHT
- Những tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của CNHT
- Luận giải rõ vai trò mang tính hai mặt của phát triển CNHT đối với nềnkinh tế quốc dân nói chung và ngành công nghiệp nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng CNHT ngành xe máy, dệt may và điện tửgiai đoạn 2006 - 2013
- Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnCNHT trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận án bao gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
CNHT không phải là một vấn đề mới trên thế giới, rất nhiều nước nhậnthức rõ vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội và sớm quan tâm, xâydựng hệ thống lý thuyết, chính sách phát triển cho ngành CNHT như: Nhật Bản,Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia Hiện nay, có một số công trình khoa học củacác nước nghiên cứu về CNHT dưới các khía cạnh khác nhau mà tác giả đượcbiết, cụ thể như sau:
1.1.1 Một số công trình khoa học của nước ngoài
1.1.1.1 Nhóm công trình khoa h ọc lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ
và vai trò c ủa công nghiệp hỗ trợ
- Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), (1995), “ Investigation report for industrial development: Supporting industry sector”, Tokyo Tài liệu đã đưa
ra báo cáo điều tra phát triển công nghiệp về: “ngành Công nghiệp hỗ trợ”, báo
cáo đã đánh giá vai trò quan trọng và thực trạng CNHT trong các ngành côngnghiệp Nhật Bản; và kết luận về mối liên hệ, tính liên kết trong sản xuất sảnphẩm cũng như những yêu cầu và điều kiện thúc đẩy CNHT Nhật Bản phát triểnphục vụ cho ngành công nghiệp nói riêng, nền kinh tế Nhật Bản nói chung.[26]
- Prema-Chandra Athukorala, (2002), “Đầu tư nước ngoài trực tiếp và xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo: cơ hội và chiến lược”, Đề án Khoa kinh tế
Trường Nghiên cứu Châu Á Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Australia Đề
án phân tích về vai trò và mối quan hệ của sản phẩm chi tiết, công nghiệp chế tạo
hỗ trợ cho quá trình sản xuất sản phẩm chính đối với việc thu hút FDI Từ đó, tácgiả chỉ ra những cơ hội, thách thức trong thu hút FDI và để thu hút FDI hiệu quả,cần quan tâm phát triển công nghiệp chế tạo, đó là chìa khóa cho việc thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.[58]
Trang 13- Do Manh Hong, (2008), “Promotion of Supporting Industries - The key for attracting FDI in developing countries” (Xúc tiến CNHT - chìa khóa cho thu
hút FDI ở các nước đang phát triển) Tác giả đã chỉ ra vai trò ngày càng quantrọng của CNHT trong quá trình phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển Đểthúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, các nước đang phát triển cần tạo mọiđiều kiện để thu hút FDI, song để thu hút được nhiều vốn FDI và sử dụng cóhiệu quả nguồn FDI, các nước đang phát triển chỉ có một con đường duy nhất làthúc đẩy và xây dựng một nền CNHT đủ mạnh để thu hút và thẩm thấu đượcnguồn vốn FDI đem lại hiệu quả và sự phát triển bền vững cho nền kinh tế củacác nước đang phát triển.[129]
1.1.1.2 Nhóm công trình khoa h ọc nghiên cứu về phát triển các ngành
công nghi ệp hỗ trợ
- Bộ Công thương Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và
Thương mại, METI), (1985), “White paper on Industry and Trade” (Sách trắng
về hợp tác kinh tế), Tokyo Trong cuốn sách này, thuật ngữ CNHT lần đầu tiênđược nhắc đến để chỉ các DNNVV có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạtầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung và dài hạn hay đó chính là cáccông ty sản xuất linh phụ kiện Trong tài liệu, các tác giả đã đánh giá vai tròcủa các công ty sản xuất linh phụ kiện trong quá trình CNH, HĐH và phát triểncác DNNVV ở các nước ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4 (gồm bốn nước:Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan) Việc thúc đẩy phát triển hệ thốngcác DNNVV chính là việc thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ trongquá trình CNH, HĐH.[141]
- Goh Ban Lee, (1998), “Linkage between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries” (Liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các
ngành CNHT nội địa), Đại học Sains, Malaysia Tác giả phân tích mối quan hệ chặtchẽ trong hợp tác, phân công lao động với các tập đoàn đa quốc gia trong việc thúcđẩy nền kinh tế Malaysia phát triển Đó chính là việc liên kết, hợp tác trong quá
Trang 14trình sản xuất sản phẩm công nghiệp Tác giả chỉ rõ tầm quan trọng của chính sáchphát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của Chính phủ Malaysiađối với các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địatrong sản xuất linh kiện cho ngành điện tử tại Malaysia.[136]
Cục xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), (2003), “Japanese Affiliated Manufactures in Asia” (Các nhà sản xuất Nhật Bản tại Châu Á) báo
-cáo phân tích tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng sản phẩm hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản ở Châu Á (ASEAN và Ấn Độ) Từ đó, chỉ
ra những cơ hội thách thức, những thuận lợi khó khăn của các nhà sản xuất NhậtBản tại Châu Á.[133]
- Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), (2004), Tổng hợp, xây
dựng báo cáo điều tra, khảo sát: “Survey report on overseas business operations
by Japanese manufacturing companies” (Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước
ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản) Báo cáo phân tích thực tế quá trìnhsản xuất của chi nhánh thuộc các tập đoàn Nhật Bản ở Châu Á, đặc biệt là TháiLan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vaitrò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ NhậtBản Đó chính là các doanh nghiệp CNHT Hệ thống thầu phụ này cung cấpcác nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho các nhà sản xuất, lắp ráp tại các nướcChâu Á như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, giúp cho các nước này hoàn chỉnhquá trình sản xuất sản phẩm.[132]
- D McNamara, (2004), “ Integrayting Supporting Industries - APEC next Challege”, Trung tâm nghiên cứu Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương (APEC) Tác giả đã luận giải những vấn đề: làm thế nào đểcác thành viên APEC cùng nhau thúc đẩy mạng lưới SMEs hiệu quả hơnnhằm hỗ trợ của các công ty sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài Dù đã cónhiều chính sách được đưa ra nhưng vấn đề cung cấp sản phẩm CNHT được
đề cập đến như là mô hình kịp thời để giải quyết mối quan hệ lợi ích và khắc
Trang 15phục những hạn chế của APEC trong quá trình chuyển đổi sang suy giảmhoặc tăng trưởng nhanh chóng Bởi các nhà sản xuất thành phần chính sẽtham gia vào đối thoại và đại diện phần nào cho mạng lưới nhà cung cấp vừa
và nhỏ mà họ phối hợp và do đó cần xây dựng mạng lưới được phân biệt rõgiữa nhà cung cấp lớn hơn và nhỏ hơn, sau đó tìm cách để kết hợp lại các ýkiến về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực chính.[127]
1.1.1.3 Nhóm công trình khoa h ọc nghiên cứu về giải pháp phát triển
công nghi ệp hỗ trợ
- GS Porter E Michael (1990), “The competitive advantage of nations, Harvard business review” (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia), Trường Đại học
Havard - New York Mỹ Tác giả là nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của Mỹ,
trong bài viết tác giả đã phân tích, giải thích thuật ngữ “Công nghiệp liên quan và
hỗ trợ” Tác giả phân tích khá sâu sắc thuật ngữ này thông qua việc đưa ra lý
thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia qua mô hình “viên kim cương” Trong đó,công nghiệp liên quan và hỗ trợ được coi là một trong bốn yếu tố quyết định đến
lợi thế cạnh tranh của một quốc gia “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được coi là
sự tồn tại của ngành cung cấp và ngành công nghiệp liên quan có năng lực cạnhtranh quốc tế Tác giả đã chia yếu tố này thành hai phần là CNHT và công nghiệpliên quan Theo đó, sự phát triển của một ngành công nghiệp đạt được phải dựa trênkhả năng sáng tạo, đổi mới và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư thông qua mốiquan hệ tác động qua lại và sự liên kết bền vững như cấu trúc tinh thể của kimcương giữa bốn nhóm yếu tố, trong đó có nhấn mạnh vai trò của CNHT.[146]
- Ryuichiro, Inoue, (1999) “Future prospects of Supporting Industries in ThaiLand and Malaysia” (Tương lai của ngành CNHT Thái Lan và Malaysia).
Các tác giả đã khảo sát tình hình phát triển CNHT ở Thái Lan và Malaysia saucuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 Từ đó, chỉ ra sự cần thiết phải điều chỉnhchiến lược phát triển các ngành công nghiệp cho phù hợp sau khủng hoảng Cáctác giả đã đưa ra một loạt giải pháp nhằm điều chỉnh chính sách công nghiệp sau
Trang 16khủng hoảng như: tăng cường phát triển các ngành CNHT ô tô, điện tử đẩymạnh mô hình liên kết công nghiệp, xây dựng các khu, cụm công nghiệp , trong
đó nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng một hệ thống CNHT hoàn chỉnh.[148]
- Ratana E, (1999), “The role of small and medium supporting industries in Japan and Thailand” (Vai trò của CNHT vừa và nhỏ ở Nhật Bản và Thái Lan),
Trung tâm nghiên cứu IDE APEC, Working Paper Series 98/99 Tokyo Tác giả đã
đi sâu phân tích mối quan hệ giữa DNNVV với CNHT tại hai quốc gia là Nhật Bản
và Thái Lan, từ đó chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa DNNVV với CNHT Nghiêncứu chỉ rõ, CNHT chủ yếu do DNNVV thực hiện, do đó muốn CNHT phát triển,phải tạo điều kiện thúc đẩy DNNVV phát triển Nghiên cứu khẳng định vai trò quantrọng của CNHT trong thúc đẩy hệ thống các DNNVV phát triển.[147]
- Halim Mohd Noor, Roger Clarke, Nigel Driffield (2002), “Multinational cooperation and technological effort by local firm: a case study of the Malaysia Electronics and Electrical Industry” (Tập đoàn đa quốc gia và các nỗ lực công
nghệ của doanh nghiệp địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệpđiện và điện tử Malaysia) Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những giải pháp phát triểnCNHT cho ngành công nghiệp điện tử và đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng từphía Chính phủ trong việc hỗ trợ đổi mới và phát huy sáng tạo của các doanhnghiệp nội địa nhằm cung ứng hỗ trợ cho ngành điện tử phát triển.[137]
- Tổ chức năng suất Châu Á (Asian productivtity Orgnisation), (2002),
“Strengthening of supporting Industries: Asian Experiences” (Đẩy mạnh CNHT:
các kinh nghiệm của Châu Á) Đây là tài liệu quan trọng và bổ ích cho cácnước đang phát triển, tài liệu đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT, tậptrung phân tích chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, HànQuốc và Đài Loan; đặc biệt, thông qua việc phân tích tình hình phát triểnCNHT và các chính sách thúc đẩy CNHT phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc vàĐài Loan các tác giả đã chỉ rõ vai trò quan trọng của các chính sách bằng việctập trung vào phân tích vai trò thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT,
Trang 17cũng như những quy định về tỷ lệ nội địa hoá và các chính sách hỗ trợ mạnh
mẽ có hiệu quả từ phía Chính phủ dành cho quá trình liên kết doanh nghiệp, tất
cả các chính sách này được coi như là điều kiện tiên quyết để phát triển CNHT
ở các nước Châu Á [125]
1.1.1.4 Nhóm công trình khoa h ọc nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ
v ới phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung
- Peter Larkin, the President and CEO of the National Grocers Association(NGA), (2011), “Comprehensive Supporting Industries” ThaiLand Board ofInvestment North America”, Supporting industries in Thailand Khẳng định ngànhCNHT phát triển toàn diện của Thái Lan cho phép các nhà đầu tư, các nhà sản xuất,lắp ráp giảm thời gian, giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất thông qua việc tìmnguồn cung ứng đầu vào ngay tại Thái Lan Bài viết khẳng định một ngành CNHTsôi động, hoạt động hiệu quả đã thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng ổn định,lâu dài và bền vững Đây cũng chính là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh nhằmthu hút FDI của Thái Lan so với các nước Chính vì thế, từ lâu Thái Lan đã đượccoi là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của các nhà đầu tư trên thế giới.[146]
- Goodwill Consultant JSC và diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF), (2011),
“Survey on comparision of backgrounds, polycy measuares and outcomes fordevelopment of supporting industries in ASEAN (Malaysia and Thailand incomparion with VietNam)” (Điều tra so sánh bối cảnh, biện pháp, chính sách vàkết quả phát triển CNHT ở ASEAN), Publishing House of Communication andTransport, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải Trong tài liệu này, các tác giả đisâu vào phân tích Malaysia và Thái Lan, là hai trong số các nước ở ASEAN đã
có rất nhiều chương trình dành cho CNHT từ những năm 1980 Thông qua việcphân tích các vấn đề về: bối cảnh; tổ chức chính sách và các bên liên quan; địnhnghĩa và phạm vi của CNHT; các biện pháp chính sách; ảnh hưởng chính sách vàkết quả đạt được các tác giả đưa ra những so sánh với Việt Nam trên cơ sởnghiên cứu hiện trạng CNHT Việt Nam, những thành tựu và bất cập về khung
Trang 18chính sách Từ đó, đưa ra 07 phát hiện chính từ kết quả so sánh, đó là: khủnghoảng - chất xúc tác cho chính sách; tác động qua lại giữa lợi ích quốc gia và lợiích nước ngoài thời kỳ toàn cầu hóa; xúc tiến mở và xúc tiến bắt buộc; áp dụng
có điều chỉnh; sự quan tâm đến xúc tiến CNHT; các biện pháp chính sách và việc
tổ chức thực hiện Từ những phân tích đó, các tác giả chỉ ra nét tương đồng và sựkhác biệt rất lớn về chính sách của hai quốc gia này, song dù bằng cách nào, mỗiquốc gia đều thiết lập cho mình một phương thức hoạch định chính sách côngnghiệp tiên tiến và Việt Nam có thể học hỏi một cách có chọn lọc từ những kinhnghiệm khác nhau nhưng vô cùng sâu sắc của hai quốc gia này.[130]
- Thomas Brandt, (2012), “Industries in Malaysia EngineeringSupporting Industry”, (CNHT cơ khí tại Malaysia), Malaysian InvestmentDevelopment Authority (MIDA) Bài viết đã phân tích thực trạng ngànhCNHT cơ khí tại Malaysia, trên các tiêu chí về khuôn mẫu và khuôn chết, giacông, công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp cán kim loại, công nghiệp đúc,công nghiệp xử lý nhiệt, công nghiệp xử lý bề mặt…, từ đó khẳng định máymóc đã phát triển nhanh chóng trong vòng 3 thập kỷ qua song song với sựphát triển tổng thể của ngành công nghiệp sản xuất quốc gia Malaysia đãđược quốc tế công nhận về khả năng và chất lượng sản xuất trong rất nhiềulĩnh vực của ngành cơ khí Từ đó đưa ra kết luận về sự đóng góp vô cùng tolớn của ngành CNHT cơ khí cho quá trình phát triển ngành công nghiệp nóiriêng và nền kinh tế quốc dân nói chung Do đó, để phát CNHT cơ khí đòi hỏiphải duy trì lợi thế cạnh tranh thông qua kỹ năng học tập tiên tiến, chuyênmôn, kỹ năng và kinh nghiệm bao trùm những hoạt động phức tạp này, bằngcách: Giảm tổng chi phí; giảm thời gian đưa ra thị trường; theo dõi và quản lýcác sản phẩm phức tạp và giới thiệu hiệu quả hơn các sản phẩm mới; quản lýhoạt động toàn cầu; dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách hàng và nhà cung cấpnhanh chóng; thiết lập trung tâm dịch vụ giá trị cao có khả năng phát triển với
sự tăng trưởng của doanh nghiệp.[150]
Trang 191.1.2 Một số công trình khoa học nghiên cứu trong nước
Hiện nay, ở Việt Nam CNHT là vấn đề mới, là chủ đề có tính thời sự cao,bước đầu cũng đã có một số công trình nghiên cứu về CNHT dưới nhiều khíacạnh, góc độ, phạm vi khác nhau được nghiên cứu và trình bày trong rất nhiều đềtài, chuyên đề, bài báo, hội thảo của các tác giả Việt Nam và các tác giả ngườinước ngoài viết về CNHT ở Việt Nam Tác giả đã sưu tầm, tham khảo cụ thể ởmột số nhóm vấn đề sau:
1.1.2.1 Nhóm công trình khoa h ọc lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ
và vai trò c ủa công nghiệp hỗ trợ
- Kyoshiro Ichikawa, Tư vấn đầu tư cao cấp, Cục Xúc tiến Ngoại thương
Nhật Bản tại Hà Nội (JETRO), (2004), “Xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam” Báo cáo này được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá
về thực trạng ngành CNPT ở Việt Nam Tác giả đã khẳng định CNPT ở ViệtNam đã bắt đầu hình thành Mặc dù CNPT có vai trò rất quan trọng nhưng nhậnthức của các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp về CNPT còn rất thấp và chưađầy đủ, các doanh nghiệp tư nhân và khối doanh nghiệp FDI đang vươn lên vàkhá chủ động trong việc nắm bắt các cơ hội để thúc đẩy CNPT phát triển đónggóp vào thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và đảm bảo nền kinh tế tăngtrưởng ổn định, bền vững.[138]
- GS Trần Văn Thọ, Đại học Waseda Nhật Bản, (2005), “Biến động kinh
tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam” và “Công nghiệp phụ trợ mũi đột phá chiến lược”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Tác giả đã phân tích
con đường phát triển công nghiệp ở Việt Nam theo hướng toàn cầu hoá, thôngqua phát triển CNPT như là lĩnh vực của hệ thống DNNVV; đồng thời, chỉ rõ vaitrò quan trọng của phát triển CNPT ở Việt Nam hiện nay Coi CNPT như là mộtmũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bảncủa công nghiệp Việt Nam và Việt Nam cần tập trung tất cả các năng lực vềchính sách cho mũi đột phá chiến lược đó.[75]
Trang 20- PGS, TS Phan Đăng Tuất, (2005), “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản - Con đường nào cho Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp, ký 1,
tháng 12 Thông qua bài viết, tác giả đã khẳng định những vai trò quan trọng củaCNHT đối với nền kinh tế, đồng thời chỉ ra những yêu cầu về phát triển DNNVV,trên cơ sở đó phân tích con đường phát triển CNHT của Việt Nam cần thúc đẩyquan hệ hợp tác với Nhật Bản thông qua việc trở thành vệ tinh hay nhà cung cấp cácsản phẩm đầu vào phục vụ cho ngành lắp ráp Nhật Bản thúc đẩy CNHT ở Việt Namphát triển Từ sự phân tích, tác giả khẳng định, đối với Việt Nam cần quan tâm đầu
tư cho CNHT phát triển ngay, nếu không “muốn quá muộn” Tác giả đã đưa ra 10
đề xuất, gợi ý cho quá trình phát triển CNHT ở Việt Nam [92]
- Nguyễn Đức Hải, (2005), “Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Thông tin số 6: Những vấn đề kinh tế - chính trị học,
Viện Kinh tế chính trị học, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.Bài viết đã chỉ rõ vai trò và tầm quan trọng của vấn đề phát triển CNPT ở Việt Namhiện nay Từ đó, đưa ra một số gợi ý cho phát triển CNPT ở Việt Nam.[38]
- Lê Thị Thanh Huyền, (2006), “Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ”, Tạp
chí Tài chính số 3 (tháng 3) Trong bài viết, tác giả nêu rõ vai trò của CNHT, đánhgiá khái quát hiện trạng CNHT của các ngành lắp ráp, đúc nhựa và ngành dệt may.Trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển CNHT,trong đó nhấn mạnh giải pháp về vốn cho phát triển CNHT.[39]
- PGS, TS Nguyễn Văn Thanh, (2006), “Xây dựng Khu công nghiệp và khu chế xuất theo hướng phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, Tạp
chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 12 Tác giả đã phân tíchdiễn biến của dòng FDI trên thế giới và chỉ ra những cơ hội cho Việt Namtrong quá trình phát triển Tác giả đã phân tích sự cần thiết và những nhân tốảnh hưởng đến quá trình phát triển ngành CNHT Trên cơ sở đó, đưa ra nhữnggiải pháp thúc đẩy các khu công nghiệp, khu chế xuất phát triển tạo điều kiệnphục vụ cho CNHT phát triển.[68]
Trang 21- Diễn đàn phát triển Việt Nam - VDF, (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam”, GS Kenichi Ohno chủ biên, Nhà xuất bản Lao động Xã hội.
Cuốn sách đã đưa ra kết quả khảo sát về thực trạng các ngành CNHT; trong
Chương 1 “Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”, với 11 nội dung đánh giá tổng quan về thực trạng và vấn đề phát triển CNHT hiện nay ở Việt Nam; Chương 2 “Công nghiệp hỗ trợ: Tổng quan về khái niệm và sự phát triển”, đã tổng kết lịch sử ra đời và năm khái niệm liên
quan đến CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam Đặc biệt trong Chương IV:
“Thiết kế và quản lý cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ”, tác giả Junichi Mori
đã đề xuất việc xây dựng cơ sở dữ liệu về CNHT, tác giả đã đưa ra nhữngnguyên nhân đòi hỏi cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu trong quá trình phát triểnCNHT và chỉ ra những yêu cầu, đặc điểm của cơ sở dữ liệu Thông qua đó, tác giả
chứng minh việc xây dựng cơ sở dữ liệu là yêu cầu cấp bách, là “dầu bôi trơn” cần
thiết trong chiến lược phát triển CNHT do FDI dẫn dắt và mang lại lợi ích cho cácdoanh nghiệp trong nước.[27]
- PGS, TS Vũ Chí Lộc, (2010), “Vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ tại các quốc gia đang phát triển”, Tạp chí Thương Mại (số 19) Tác giả đã phân tích một số nhân tố
ảnh hưởng đến phát triển các ngành CNHT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các công ty xuyên quốc gia Theo tác
giả, chính các công ty xuyên quốc gia sẽ là “diễn viên” chính trong “vở kịch”:
“Chuyên môn hóa sản xuất quốc tế”, còn CNHT chỉ là “diễn viên quần chúng”
nhưng không thể thiếu được trong nền kinh tế toàn cầu Thông qua bài viết, tácgiả muốn khẳng định vai trò không ngừng tăng lên của ngành CNHT Việt Namtrong quá trình phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế [47]
- Trương Đình Tuyển - nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, (2011), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ Kiến nghị cách tiếp cận và chính sách cho Việt Nam”.
Trang 22Bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Chính sách tài chính phát triển công nghiệp hỗ trợ” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) và Viện
Nghiên cứu Chiến lược chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) tổ chức Bàiviết đã phân tích và làm rõ khái niệm CNHT và vị trí của CNHT trong chuỗigiá trị, từ đó chỉ ra việc lựa chọn sản phẩm CNHT cho Việt Nam Đặc biệt,trong giải pháp tổ chức sản xuất các sản phẩm CNHT và những ưu đãi choCNHT, tác giả đưa ra mô hình tổ chức sản phẩm CNHT theo sơ đồ hình thangvới bốn giai đoạn, thông qua đó chỉ ra Việt Nam mới ở giai đoạn III và IV, sảnxuất phần lớn những sản phẩm chi tiết có độ phức tạp không cao Do đó, ViệtNam cần tạo mọi điều kiện cho CNHT phát triển lên đỉnh hình thang thông quaviệc làm trước mắt là xây dựng và ban hành Nghị định, Luật về CNHT cũngnhư chương trình hành động quốc gia về CNHT và lập Cục Công nghiệp hỗ trợthuộc Bộ Công thương để quản lý và phát triển CNHT.[96]
1.1.2.2 Nhóm công trình khoa h ọc nghiên cứu về phát triển các ngành
ô tô và xe máy thông qua việc nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm hỗ trợ và thựctrạng cung cấp sản phẩm hỗ trợ trong hai ngành này Trên cơ sở đó đưa ra một loạtcác giải pháp phát triển cho hai ngành ô tô và xe máy, đặc biệt là quan tâm, xâydựng một hệ thống CNHT đảm bảo phục vụ ngành công nghiệp ô tô, xe máy nóiriêng, cũng như toàn ngành kinh tế nói chung.[112]
- Đại học Ngoại thương, (2008), “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam” Đề tài khoa học
cấp Bộ, TS Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trong
Trang 23chiến lược phát triển các ngành công nghiệp, Việt Nam nên lựa chọn, định hướngphát triển ngành công nghiệp điện tử trở thành ngành mũi nhọn, mang tính đột pháchiến lược vì có nhiều ưu thế và lợi thế cạnh tranh Đặc biệt, trong giai đoạn hiệnnay và sắp tới, trong chuỗi giá trị toàn cầu Việt Nam nên tập trung vào công đoạnsản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các tập đoàn điện tử quốc
tế, chứ chưa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối của chuỗi giá trị Trongquá trình đó, ở công đoạn sản xuất Việt Nam cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa
hệ thống các sản phẩm hỗ trợ cho phát triển ngành công nghiệp điện tử.[5]
- Nguyễn Ngọc Sơn, (2008), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp số 359 Bài viết đưa ra các quan điểm về
CNHT và CNHT ngành dệt may trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trên cơ sở
đó phân tích thực trạng ngành dệt may Việt Nam ở các tiêu chí như: lĩnh vực sảnxuất xơ sợi tổng hợp, công nghiệp cơ khí ngành dệt may, công nghiệp hóa chấtphục vụ ngành dệt may, tình hình sản xuất phụ liệu ngành dệt may Trên cơ sở
đó, tác giả đã đánh giá chung những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế vàchỉ ra nguyên nhân yếu kém của ngành dệt may và đưa ra giải pháp thúc đẩyCNHT ngành dệt may phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.[64]
- Trương Thị Chí Bình, (2010), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”; Luận án tiến sĩ kinh tế, Khoa Quản trị
kinh doanh, Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Tácgiả đã phân tích các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về cách thức phát triển CNHTngành điện tử gia dụng Làm rõ bản chất, thành phần, các nhân tố ảnh hưởng đếnphát triển CNHT, từ đó khẳng định quan điểm “hợp lý” về phát triển CNHT choViệt Nam là dựa trên mạng lưới của “lý thuyết trò chơi”, với vai trò tích cực củacác TĐĐQG và các nhà cung ứng quốc tế Tác giả còn phân tích quy trình sảnxuất các sản phẩm điện tử gia dụng, xác định phạm vi của CNHT ngành điện tửgia dụng bao gồm quá trình sản xuất 3 nhóm sản phẩm chính: linh kiện điện vàđiện tử, linh kiện kim loại, linh kiện nhựa và cao su Nghiên cứu lý do CNHT
Trang 24ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam chưa phát triển và khẳng định, CNHT ngànhđiện tử gia dụng có thể phát triển, khi Việt Nam tham gia được vào các lớp cungứng trong mạng lưới sản xuất của các TĐĐQG Trên cơ sở các luận cứ này,Luận án kiến nghị một số giải pháp chính để phát triển CNHT ngành điện tử giadụng: Xây dựng định hướng phát triển CNHT ngành ĐTGD Việt Nam với việctập trung cung ứng các linh kiện kim loại và nhựa cho các lớp cung ứng trongmạng lưới sản xuất của các TĐĐQG, từ đó đề xuất chương trình phát triểnCNHT ngành điện tử gia dụng; kiến nghị điều chỉnh Quy hoạch phát triển CNHTViệt Nam: xác định CNHT theo các ngành cung ứng; thu hẹp khái niệm CNHT;lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và xây dựng chương trình hành động; xây dựng môhình phát triển CNHT ngành ĐTGD theo 03 mức: Khu CNHT, Cụm liên kếtngành và Vườn ươm doanh nghiệp CNHT.[7]
- Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp - Bộ Công
thương, (2011), “Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam”, đề tài khoa học
cấp Bộ Đề tài đã đánh giá tổng quan thực trạng phát triển CNHT của ngành dệtmay Đề tài được chia làm ba phần nghiên cứu, trong Phần I, nhóm tác giả đisâu phân tích năng lực của các doanh nghiệp CNHT trong ngành dệt may ViệtNam trên các mặt như: năng lực tài chính, năng lực công nghệ, năng lực thịtrường và nguồn nhân lực Từ đó, đánh giá những tiềm năng, lợi thế trongphát triển ngành dệt may Việt Nam Trong Phần II, các tác giả đã tập trungnghiên cứu mối liên kết trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay, đồng thờicũng nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng và vận hành mô hình liên kếtphù hợp với bối cảnh phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam trong thờigian tới Trên cơ sở đó, trong Phần III, nhóm tác giả đã đưa ra những giải phápthúc đẩy CNHT ngành dệt may phát triển, trong đó đặc biệt nhấn mạnh hai giảipháp: nâng cao năng lực các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may và vận hành
có hiệu quả các mô hình liên kết.[103]
- Nguyễn Thị Dung Huệ, (2012), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ
Trang 25kinh tế, chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế, Đại họcNgoại thương Hà Nội Tác giả luận án đã luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thựctiễn về phát triển CNHT ngành dệt may như: khái niệm CNHT ngành dệt may,mối quan hệ giữa ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may, vai tròcủa ngành CNHT dệt may với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may Từ
đó tác giả đưa ra những tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành dệt may, trên
cơ sở những tiêu chí đánh giá thực trạng ngành công nghiệp dệt may và CNHTngành dệt may Tác giả đã đưa ra những giải pháp ở cả tầm vĩ mô và vi mô đểthúc đẩy CNHT ngành dệt may Việt Nam phát triển.[43]
- Đỗ Minh Thụy, (2012), “Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”, Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý
kinh tế, Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận
và thực tiễn về CNHT, các chỉ tiêu đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến phát triểnCNHT ngành giày dép ở Việt Nam, từ đó xác định điểm mạnh, yếu, cơ hội vàthách thức trong phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam Đồng thời,nghiên cứu thực trạng và nhu cầu về CNHT tại các doanh nghiệp giày dép ở HảiPhòng, từ đó xác định quan điểm, phương hướng, đề xuất 04 nhóm giải phápphát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam trong thời gian tới.[81]
- PGS, TS Nguyễn Đình Tài, (2013), “Mô hình nào cho cụm liên kết ngành ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính số 4 Bài viết đánh giá vai trò quan trọng
của cụm liên kết ngành và coi đó như là một công cụ chính sách quan trọng, bởi
sự lớn mạnh của một cụm liên kết ngành thường kéo theo sự gia tăng và pháttriển của các doanh nghiệp trong ngành CNHT Các DNNVV trong hoạt độngCNHT sẽ có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn đầu tư, thị trường đầu tư và dâychuyền công nghệ hiện đại Bài viết khẳng định sự phát triển cụm liên kết ngành
sẽ là điều kiện cần thiết cho sự phát triển ngành CNHT Mặt khác, CNHT cũng
là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển công nghiệp bởi quá trình phát triển cụmliên kết ngành thực sự sẽ phải dựa vào sự phát triển của nhóm ngành CNHT
Trang 26Cụm liên kết ngành sẽ dễ dàng chinh phục được những thị trường mà cácDNNVV không thể thâm nhập nếu hoạt động riêng lẻ Việc gắn kết phát triểncác khu công nghiệp, cụm công nghiệp với phát triển CNHT được nhìn nhận nhưmột giải pháp tích cực và hiệu quả trong quá trình hội nhập và nỗ lực tham giavào chuỗi giá trị toàn cầu [66]
1.1.2.3 Nhóm công trình khoa h ọc nghiên cứu về giải pháp phát triển
công nghi ệp hỗ trợ
- PGS, TS Trần Quang Lâm, Ths Đinh Trung Thành, (2007), “Phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam trước làn sóng đầu tư mới của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương số 21 - 22 Các
tác giả đã phân tích thực trạng CNPT Việt Nam, chỉ rõ những yếu kém và tínhtất yếu khách quan phát triển CNPT ở Việt Nam, đảm bảo thu hút đầu tư nướcngoài nói chung và của Nhật Bản nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế Các tác giả đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển CNPT ở Việt Nam hiện nay.[46]
- PGS, TS Lê Thế Giới (chủ nhiệm), (2008), “Các giải pháp phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của thành phố Đà Nẵng” Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Thành phố Đề tài đã tìm hiểu thực trạng và đánh giá tiềm năng của cácngành CNHT thông qua các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố,thông qua việc mô tả một cách tổng hợp thị trường sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ.Đánh giá tiềm năng sử dụng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ của các doanh nghiệpthành phố Đánh giá tiềm năng cung ứng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ của các doanhnghiệp trong thành phố và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia thịtrường các sản phẩm hỗ trợ của các doanh nghiệp Đề tài nghiên cứu cũng đãđưa ra một số định định hướng cho phát triển CNHT của thành phố Đà Nẵngtrong thời gian tới.[37]
- TS Đặng Thu Hương, Th.s Trần Ngọc Thìn, (2009), “Thực trạng công nghiệp hỗ trợ tại Việt nam và một số giải pháp khắc phục”, Tạp chí Kinh tế và
Phát triển, số 139 đã đánh giá thực trạng ngành CNHT ở Việt Nam và chỉ ra
Trang 27nguyên nhân của sự yếu kém đó chủ yếu là do thiếu nguồn nhân lực côngnghiệp chất lượng cao và thiếu hụt thông tin giữa các nhà sản xuất trong nước
và nước ngoài, đồng thời môi trường và chính sách không ổn định cũng như sựlỏng lẻo trong liên kết của các doanh nghiệp nội địa là những nguyên nhân cơbản dẫn đến sự kém phát triển của CNHT tại Việt Nam trong thời gian qua Từ
đó, các tác giả đưa ra 04 nhóm giải pháp thúc đẩy CNHT Việt Nam phát triểnnhư: tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng mạng lưới thông tin,
và tăng cường sự liên kết.[44]
- Trường Đại học Ngoại thương, (2010), “Công nghiệp hỗ trợ - kinh nghiệm từ các nước và giải pháp cho Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Nhà nước
do GS, TS Hoàng Văn Châu làm chủ nhiệm, các tác giả đã đi sâu phân tíchnhững vấn đề chung về CNHT Từ đó làm cơ sở phân tích kinh nghiệm pháttriển CNHT của thế giới, trong đó đặc biệt phân tích phát triển CNHT các nước
ở khu vực Châu Á như: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển CNHT tại Việt Nam.Ngoài ra, đề tài còn đánh giá thực trạng CNHT Việt Nam và đề xuất những giảipháp thúc đẩy CNHT Việt Nam phát triển.[24]
- Trường Đại học Ngoại thương, (2010), “Chính sách phát triển công nghiệp
hỗ trợ của Việt Nam”, GS, TS Hoàng Văn Châu chủ biên, Nhà xuất bản Thông tin
và truyền thông Cuốn sách được kết cấu thành năm chương: Trong Chương I, cáctác giả nêu những vấn đề khái quát chung về CNHT và các mô hình phát triểnCNHT; Chương II, các tác giả đã đi sâu phân tích chính sách phát triển CNHT củamột số nước như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia từ đó rút ra nhữngbài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển CNHT tại Việt Nam Chương III, trên
cơ sở đánh giá thực trạng năm ngành chủ đạo trong công nghiệp là: ô tô, điện tử, dệtmay, da giày, cơ khí chế tạo, thông qua đó các tác giả đã đánh giá khái quát thựctrạng CNHT Việt Nam Trong Chương IV, các tác giả đi vào phân tích chính sáchphát triển CNHT đối với một số ngành Từ đó đánh giá việc thực hiện và hiệu quả
Trang 28của những chính sách theo nhóm doanh nghiệp và nhóm tác giả Đặc biệt, ở chương
V, trên cơ sở dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT của ViệtNam đến năm 2020, nhóm tác giả đã nêu ra quan điểm phát triển CNHT Việt Namđến năm 2020 Từ đó, đề xuất thể chế và chính sách phát triển CNHT cho từngngành công nghiệp nói chung và cả ngành CNHT nói riêng.[25]
- Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp - Bộ Công
thương, (2010), “Nghiên cứu chính sách tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ trong điều kiện hội nhập”, đề tài khoa học cấp Bộ Đề tài đã đưa ra những vấn đề
chung về CNHT như: khái niệm, những nhân tố ảnh hưởng đến phát triểnCNHT, sự cần thiết phải phát triển CNHT ở Việt Nam và các lựa chọn ưu tiêncho phát triển CNHT Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng pháttriển CNHT tại Việt Nam thông qua phân tích thực trạng trong các ngành: cơ khíchế tạo, lắp ráp ô tô, công nghiệp điện tử, dệt may và da giày Từ những đánh giáchung về CNHT, nhóm tác giả đã đề xuất các chính sách và giải pháp phát triểnCNHT Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.[101]
- TS Phạm Tất Thắng, (2013), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: một số vấn
đề đặt ra”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số tháng 10 Bài viết được tác giả phân tích
tương đối sâu về vai trò của CNHT và thực trạng CNHT, trên 04 khía cạnh vàkhẳng định CNHT ở Việt Nam đã tồn tại và đang phát triển một cách tự phát vàđạt được một số kết quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế cả về môi trường thểchế, thông tin thị trường, nguồn nhân lực đến quy mô, trình độ công nghệ củadoanh nghiệp Chính sự yếu kém của CNHT cũng góp phần vào thâm hụt cáncân thương mại của Việt Nam Từ sự phân tích, tác giả chỉ ra 04 khó khăn, yếukém và 04 thách thức đối với quá trình phát triển CNHT ở Việt Nam hiện nay.Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra 06 quan điểm và 06 giải pháp thúc đẩy CNHT trongthời gian tới phát triển đúng hướng.[71]
- Viện Chiến lược và Chính sách tài chính - Bộ Tài chính, (2013), “Giải pháp tài chính phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ”, đề tài khoa học cấp Bộ do
Trang 29TS Vũ Nhữ Thăng chủ nhiệm Đề tài đã đưa ra khái niệm CNHT và sản phẩmCNHT, phân tích các chính sách ưu đãi tài chính phát triển CNHT, phân loại cácchính sách và tác động của các chính sách ưu đãi tài chính đối với phát triểnCNHT, trên cơ sở đó phân tích thực trạng CNHT và thực trạng chính sách tàichính phát triển ngành CNHT, đưa ra quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triểnngành CNHT và đề xuất 02 nhóm giải pháp ưu đãi tài chính cho các ngành côngnghiệp hạ nguồn và cho các ngành CNHT trong thời gian tới.[70]
- Trường Đại học Đà Nẵng, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi,
(2013), “Điều tra, đánh giá thực trạng công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và đề xuất giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2011 -
2015 định hướng 2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh do PGS, TS Nguyễn
Trường Sơn chủ nhiệm Đề tài đã tổng hợp và xây dựng cơ sở lý luận về phát triểnCNHT của tỉnh Quảng Ngãi; Đánh giá đúng thực trạng, xác định đúng nguyênnhân hạn chế sự phát triển CNHT của tỉnh; Đánh giá tiềm năng, dự báo xu thế vàxác định phương hướng phát triển CNHT của tỉnh; Xây dựng hệ thống cơ sở dữliệu về CNHT tỉnh Quảng Ngãi (chủ yếu dữ liệu về Cung - Cầu về CNHT) làmcăn cứ tham chiếu cho các doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược kinhdoanh; Đề xuất các chính sách mang tính hệ thống và khả thi nhằm phát triểnCNHT của tỉnh Quảng Ngãi Với việc phân tích một cách tổng quát sự phát triểncủa CNHT dựa trên nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau như quan điểm vềxây dựng chính sách công nghiệp, lý thuyết về cạnh tranh khu vực, sự phát triểnngành công nghiệp và các lý thuyết kinh doanh hiện đại, đề tài đã đề xuất các giảipháp để thực hiện các mục tiêu trên Muốn vậy, các giải pháp phải đảm bảonguyên tắc về phát triển kinh doanh dựa trên các yếu tố thị trường và chính sách
hỗ trợ của Nhà nước Trên quan điểm đó, đề tài đề xuất hai nhóm giải pháp tổnghợp cho sự phát triển CNHT khu vực tỉnh Quảng Ngãi là: tập trung vào xây dựngcác cơ sở công nghiệp quan trọng nhất của CNHT và các doanh nghiệp hỗ trợ vàhướng vào việc thiết lập các điều kiện và lợi thế cho các liên kết giữa các doanhnghiệp cần hỗ trợ và các doanh nghiệp hỗ trợ.[65]
Trang 30- Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, (2013), “Kế hoạch trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013 - 2020”, Kế hoạch số 131/KH-UBND, ngày 13 tháng 8 năm
2013 Kế hoạch đưa ra 04 quan điểm, 03 định hướng và mục tiêu, nhiệm vụ trợgiúp phát triển DNNVV đến năm 2020, đồng thời đưa ra 02 nhóm giải pháp, đó lànhóm giải pháp liên quan đến chính sách, thể chế cho DNNVV trong lĩnh vựcCNHT, nhóm giải pháp hỗ trợ thông qua các chương trình, dự án trợ giúpDNNVV trong lĩnh vực CNHT, như: phổ biến công nghệ kỹ thuật sản xuất các sảnphẩm CNHT dành cho DNNVV; trợ giúp DNNVV trở thành nhà cung ứng cho cáctập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực chế tạo ở Việt Nam; hỗ trợ DNNVV áp dụngcác hệ thống quản lý trong sản xuất; đào tạo nguồn nhân lực cho DNNVV tronglĩnh vực CNHT Kế hoạch còn đưa ra 06 chương trình, dự án trợ giúp phát triểnDNNVV trong lĩnh vực CNHT trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013 - 2020.[97]
- Ủy ban nhân dân tỉnh Long An, (2013), “Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, Quyết định số 3533/QĐ-UBND ngày 10 tháng 10 năm 2013 Bản Quy
hoạch đã đưa ra quan điểm chủ đạo và quan điểm phát triển của từng ngành, lĩnhvực trọng điểm về CNHT tại tỉnh Long An Trên cơ sở đó, đưa ra mục tiêu chung,mục tiêu cụ thể và định hướng phát triển CNHT ở tỉnh Long An đến năm 2020 Đặcbiệt, quy hoạch đã đưa ra 16 danh mục kêu gọi đầu tư và 12 danh mục dự án ưu tiênđầu tư về CNHT; bản Quy hoạch còn đánh giá tác động môi trường chiến lược củaquy hoạch phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030 và 08 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện quy hoạch.[98]
1.1.2.4 Nhóm công trình khoa h ọc nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ
v ới phát triển nền kinh tế nói chung
- Junichi Mori (2005), “Phát triển CNHT cho quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam: tăng cường tính ngoại hiện tích cực theo chiều dọc thông qua đào tạo liên kết”, Master thesis, Trường Fletcher, Đại học Tufts, Hoa Kỳ Trong
Trang 31phần đầu, tác giả đã phân tích 09 nội dung liên quan đến sự phát triển kinh tếthông qua sự phát triển của CNHT, tác giả chỉ ra sự phát triển của CNHT gặp 02trở ngại: quy mô và thông tin Quy mô nhỏ do thị trường đầu ra nhỏ, không cónhiều liên hệ giữa nhà sản xuất trong nước và các công ty đa quốc gia Tác giả đãphân tích ngành CNHT tại Việt Nam thông qua những tiêu chí: Nhu cầu hạn hẹp
từ các công ty đa quốc gia đối với việc sản xuất phụ tùng trong nước; nguồn cung
bị hạn chế: những rào cản hạn chế sự phát triển của ngành CNHT; làm thế nào đểcác chính sách công loại bỏ các khó khăn trong việc phát triển ngành CNHT; pháttriển công nghệ để cải thiện vấn đề và đề xuất chính sách: khuyến khích cácchương trình hợp tác đào tạo về các đề nghị chính sách cụ thể hơn.[52]
- Chính phủ, (2007) “Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam đến năm
2010, tầm nhìn đến năm 2020”, do Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách
-Bộ Công nghiệp (cũ, nay là -Bộ Công thương) soạn thảo Trong Quy hoạch này,khái niệm CNHT được chính thức hóa ở Việt Nam Bản Quy hoạch được chialàm bốn phần, chủ yếu tập trung vào một số ngành đã và đang định hình mộtcách rõ nét về quy trình sản xuất và sản phẩm như: công nghiệp sản xuất lắp rápthiết bị điện - điện tử; công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô - xe máy; công nghiệpdệt - may, da - giày; công nghiệp cơ khí chế tạo và gia công kim loại và chủ yếu
đi sâu vào lĩnh vực phát triển phần cứng (phần sản xuất và cung cấp vật tư, phụtùng, phụ kiện hỗ trợ) Từ đó, Quy hoạch đưa ra những đánh giá về hàm lượngCNHT của từng ngành quy hoạch và xây dựng phương hướng phát triển CNHTcho những ngành công nghiệp này trong thời gian tới với sáu nhóm giải phápquan trọng nhằm đưa công nghiệp Việt Nam chủ động tham gia vào quá trìnhsản xuất khu vực và thế giới trong phần cao hơn của chuỗi giá trị.[13]
- PGS, TS Trần Đình Thiên (chủ nhiệm) (2007), “Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ - đánh giá thực trạng và hệ quả”, đề tài khoa học cấp Bộ Đề tài đã
tập trung phân tích và làm rõ khái niệm CNHT, xác định vai trò, chức năng vàyêu cầu phát triển CNHT trong việc thực hiện chiến lược CNH, HĐH của Việt
Trang 32Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, đề tài còn phân tích vàđánh giá thực trạng ngành CNHT ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuấtphương hướng và giải pháp phát triển các ngành CNHT trong tổng thể chiếnlược CNH, HĐH của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.[73]
- Ohno, Kenichi (VDF), (2008), “Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, từ quy hoạch đến Kế hoạch hành động thông qua quan hệ đối tác Monozukuri Việt Nam
- Nhật Bản”, Kỷ yếu Hội thảo “Kế hoạch hành động và phát triển công nghiệp phụ trợ” Bài viết phân tích, mở cửa và tiếp nhận FDI có thể giúp một nước đạt
đến mức thu nhập trung bình, nhưng mức thu nhập cao hơn cần có chính sách tốt
và khu vực tư nhân năng động, do đó Việt Nam cần tạo ra giá trị nội địa thay vìchỉ cung cấp lao động giá rẻ và đất xây dựng Bài viết phân tích bài học kinhnghiệm từ Thái Lan và Malaysia, chỉ ra những thách thức đối với Việt Nam Bàiviết chỉ ra thúc đẩy CNHT là bước đi quan trọng trong quan hệ hợp tác ViệtNam - Nhật Bản, do đó trong thời gian tới Việt Nam cần thay đổi cách hoạchđịnh sách công nghiệp, đưa ra mục tiêu và kế hoạch hành động cụ thể, học hỏisản xuất tích hợp, sử dụng vốn ODA hiệu quả, giải quyết các vấn đề xã hội, quản
lý vĩ mô hợp lý để tạo nên 3 trụ cột của sức mạnh công nghiệp bao gồm, CNHT,nguồn nhân lực công nghiệp và dịch vụ hậu cần hiệu quả.[57]
- Nguyễn Thị Kim Thu, (2012), “Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).Tác giả đã phân tích làm rõ bản chất, vai trò và tiêu chí đánh giá sự phát triển củaCNHT Phân tích điều kiện và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHTtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả còn phân tích những cơ hội vàthách thức đối với CNHT mà hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cho Việt Nam Trên
cơ sở đó chỉ ra 04 nội dung nói lên sự cần thiết phát triển CNHT ở Việt Nam trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thông qua việc đánh giá thực trạng CNHTtrong 03 ngành điển hình: ô tô, dệt may, cơ khí chế tạo, tác giả đề xuất 03 quan
Trang 33điểm, phương hướng phát triển ở 03 ngành ô tô, dệt may và cơ khí chế tạo Từ đó,chỉ ra các giải pháp phát triển CNHT nói chung và CNHT của 03 ngành trên nóiriêng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.[76]
Như vậy có thể thấy, CNHT đã và đang là lĩnh vực được quan tâm, nghiêncứu và đầu tư nhiều nhất ở các quốc gia châu Á, phổ biến là ở Nhật Bản, sau này
là Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam
1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC
đó chỉ ra một số kinh nghiệm, gợi ý cho quá trình hoạch định cơ chế, chínhsách phát triển CNHT ở Việt Nam
Một số công trình đã bước đầu nghiên cứu tổng quan thực trạng ngànhCNHT trong quá trình phát triển của một số ngành công nghiệp điển hình như:
Trang 34xe máy, ô tô, điện, điện tử gia dụng , chỉ rõ ưu điểm, thành tựu, hạn chế vànhững nguyên nhân trong phát triển CNHT của các ngành, qua đó đi đến khẳngđịnh sự hạn chế, yếu kém của CNHT không chỉ làm giảm sức cạnh tranh của sảnphẩm công nghiệp nói riêng, nền kinh tế quốc dân nói chung, mà còn tác độnglàm thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong hội nhập quốc tế, ảnhhưởng đến mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội của Việt Nam trong cácgiai đoạn tiếp theo Ngoài ra, các công trình còn đề cập đến phát triển CNHT ởViệt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chỉ rõ những thuận lợi, khó khăntrong phát triển CNHT ở Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý, giải pháp địnhhướng phát triển ngành CNHT trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và chỉ ranhững định hướng phát triển CNHT cho một số ngành công nghiệp ở Việt Namhiện nay Trong đó nhấn mạnh việc phát triển các KCN, CCN, khu chế xuất,DNNVV và vấn đề liên kết doanh nghiệp trong phát triển CNHT là những yếu tốquan trọng thúc đẩy CNHT phát triển trong thời gian tới.
Những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên là tài liệu cógiá trị tham khảo tốt cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
1.2.2 Những vấn đề còn trống cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu, điều tra, khảo sát
về CNHT, song ở tầm vĩ mô, các công trình khoa học nghiên cứu vẫn chưaluận giải rõ và đề cập đến:
- Nội hàm của CNHT dưới góc độ kinh tế chính trị
- Vai trò của CNHT đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và ngànhcông nghiệp Việt Nam nói riêng
- Những thuận lợi, khó khăn và nhân tố mới ảnh hưởng đến phát triểnCNHT hiện nay ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng CNHT trong một số ngành công nghiệp xe máy,dệt may và điện tử,
- Giải pháp nhằm phát triển CNHT ngành xe máy, dệt may và điện tử
Trang 35Trong Luận án, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề: CNHT trong một sốngành công nghiệp ở Việt Nam Bằng nghiên cứu về CNHT, tác giả đi sâu làm
rõ vai trò của phát triển CNHT đối với nền kinh tế quốc dân nói chung vàngành công nghiệp ở Việt Nam nói riêng; đặc biệt là nghiên cứu sâu và làm rõvai trò có tính hai mặt trong điều kiện gia tăng của xu hướng toàn cầu hoá kinh
tế, quá trình phân công lao động quốc tế sâu rộng, liên doanh, liên kết ngàycàng phát triển, sự gia tăng mối quan hệ trong sản xuất các sản phẩm côngnghiệp, theo những tài liệu tác giả tham khảo được thì chưa có công trình nào
đề cập, nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và dưới góc độ kinh tế chínhtrị Trên cơ sở phân tích, khảo cứu đánh giá thực trạng CNHT trong 03 ngànhchủ yếu là xe máy, dệt may và điện tử để thấy được những thành công, hạn chế
và những vấn đề đặt ra trong phát triển CNHT Từ đó, đề xuất cơ sở khoa họccho những giải pháp, cũng như biện pháp triển khai nhằm phát triển CNHTtrong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam thời gian tới
Tác giả xác định đề tài luận án là mang tính thực tiễn cấp thiết cần đượcnghiên cứu và làm sáng tỏ
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
2.1.1 Quan niệm về công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hỗ trợ theo tiếng Anh là Supporting Industry - SI, còn đượcgọi là công nghiệp phụ trợ hay công nghiệp bổ trợ Khái niệm CNHT, bắt đầuxuất hiện ở Nhật Bản và sau này là các nước công nghiệp trẻ ở châu Á như ĐàiLoan, Hàn Quốc, Thái Lan, nơi mà chi tiết các sản phẩm thường được gia công ởmột đơn vị sản xuất khác với nơi chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh cuốicùng Tuy nhiên, theo từng quan điểm, hoàn cảnh, mục đích mà mỗi quốc giađều có cách định nghĩa riêng về CNHT Cụ thể:
Ở Nhật Bản, năm 1985, lần đầu tiên MITI (sau đổi tên thành METI - Bộ
Kinh tế Công nghiệp và Thương mại) sử dụng thuật ngữ này trong “Sách trắng về hợp tác quốc tế năm 1985”; và được dùng để chỉ “các DNNVV góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung và dài hạn hay là các DNNVV sản xuất phụ tùng và linh kiện” [141] Do tăng giá của đồng Yên so
với đồng Đôla sau Hiệp định Plaza vào tháng 9 năm 1985, đã ảnh hưởng rất lớntới các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản, các doanh nghiệp phải chuyểnhoạt động sản xuất sang các nước có nguồn lao động rẻ hơn Nhưng các nhà lắpráp Nhật Bản ở nước ngoài vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các DNNVV ởNhật Bản, vì các doanh nghiệp nội địa các nước sở tại chưa phát triển, không thểđáp ứng việc cung cấp các linh phụ kiện quan trọng Thuật ngữ CNHT lúc nàyđược sử dụng để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện tạicác nước này Năm 1987, MITI sử dụng thuật ngữ này với các nước Châu Átrong kế hoạch phát triển công nghiệp Châu Á mới (New AID plan); với mộtchương trình hợp tác kinh tế toàn diện trên các mặt đầu tư, viện trợ và thương
mại Thời điểm này, thuật ngữ CNHT được định nghĩa là các ngành cung cấp những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hoá, cho các
Trang 37ngành công nghiệp lắp ráp Năm 1993, trong chương trình phát triển CNHT Châu Á, METI đã định nghĩa CNHT là ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và hàng hóa tư bản…cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện tử)… Hiện nay, CNHT ở Nhật Bản được hiểu
là “một nhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian (không phải nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp
hạ nguồn” [144].
Ở Thái Lan, định nghĩa CNHT của một số cơ quan, tổ chức cũng khác nhau
Bộ Công nghiệp Thái Lan (MOI) định nghĩa: CNHT là những nhà sản xuất linh phụ kiện cho ô tô và điện - điện tử, như: gia công kim loại, ép nhựa, khuôn mẫu, đúc, thử nghiệm… Văn phòng phát triển CNHT Thái Lan cho rằng: CNHT là các ngành cung cấp các linh phụ kiện, máy móc, thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như đóng gói, kiểm tra sản phẩm cho các ngành công nghiệp cơ bản [148] Trong khi
đó, Cục Phát triển CNHT Thái Lan: CNHT là các ngành cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản Còn Ủy ban đầu tư Thái Lan (BOI) khẳng định: “CNHT là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp của các ngành công nghiệp ô tô, máy móc và điện tử” [77] Như vậy, các định nghĩa về CNHT của một số cơ quan,
tổ chức Thái Lan đều có điểm chung là hướng đến các nhà chế tạo linh phụ tùng vàcác nhà gia công trong lĩnh vực ô tô, điện, điện tử
Ở Đài Loan, theo Bộ Công nghiệp thay vì sản xuất sản phẩm với tất cảcác bộ phận chi tiết (sản xuất trọn gói), các công đoạn sản phẩm sẽ được chuyênmôn hoá thành từng phần và mỗi ngành công nghiệp chỉ sản xuất một phần củasản phẩm đó Quá trình chuyên môn hoá như vậy được hiểu là CNHT
Mỹ - một nước có nền công nghiệp phát triển bậc nhất thế giới định nghĩa:
“CNHT là các ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thực hiện quá trình
hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu và linh kiện đó nhằm phục vụ việc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng”.[101, tr.3]
Trang 38Các nước châu Âu không sử dụng cụm từ CNHT mà thường gọi lĩnh vựcnày là “các ngành cung ứng” (Supplier Industries), chỉ việc cung cấp sản phẩm
từ các doanh nghiệp bên ngoài Thực chất, tính chất phụ trợ, hỗ trợ thường bị chelấp bởi mối quan hệ trao đổi nội bộ giữa các ngành công nghiệp với nhau, vì thế
sẽ có những quan niệm khác nhau về CNHT Có quan niệm cho rằng: CNHT bao gồm những ngành sản xuất sản phẩm trung gian có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định CNHT không phải là một ngành
kinh tế cụ thể, mà do thúc đẩy của phân công lao động và chuyên môn hóa sảnxuất nên nó bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung gian cungcấp cho ngành công nghiệp lắp ráp Dựa trên mức độ phức tạp của 03 công đoạnsản xuất chính từ chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng, linh kiện tới lắp ráp hoànchỉnh, thì CNHT theo thứ tự này sẽ đứng hàng thứ hai
Trang 39Như vậy, từ phân tích trên cho thấy, đến nay chưa có một cách hiểu thốngnhất đối với thuật ngữ này và việc phân biệt phạm vi CNHT cũng còn nhiều ýkiến khác nhau Thực tế, việc lựa chọn phạm vi CNHT tùy thuộc chủ yếu vào mụcđích chính sách mà Chính phủ đưa ra, chính sách sẽ quyết định phạm vi của
CNHT Thông thường có 03 cách phân biệt phạm vi của CNHT (Sơ đồ 2.1):
(i) Phạm vi chính: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện
và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này
(ii) Phạm vi rộng 1: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh
kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này và các dịch vụ sản xuấtnhư hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm
(iii) Phạm vi rộng 2: những ngành công nghiệp cung cấp toàn bộ hàng hóa
đầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, công cụ máy móc và cả các nguyên vật liệunhư thép, hóa chất cho ngành công nghiệp lắp ráp
Ở Việt Nam, năm 2003, ký kết “Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản” giai đoạn I (2003 - 2005), thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” lần đầu xuất hiện.
Theo đó, Kế hoạch hành động triển khai sáng kiến chung, gồm 44 hạng mục lớn,
là những hạng mục đầu tiên nhằm phát triển CNHT ở Việt Nam Sau này, thuậtngữ CNHT đã xuất hiện trong một số văn bản của Chính phủ Năm 2006, CNHTtrở thành một nội dung chính trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành côngnghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 (Quyếtđịnh 73/2006/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ); nhưng trongvăn bản này, chưa xuất hiện định nghĩa về CNHT, chỉ nêu các ngành CNHT cầntập trung phát triển Năm 2007, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) cóquyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010, tầm nhìn đến
năm 2020; theo đó, CNHT được định nghĩa: “Là hệ thống các cơ sở sản xuất và công nghệ sản xuất các sản phẩm đầu vào là nguyên vật liệu, linh phụ kiện, phụ tùng phục vụ cho khâu lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng” [13, tr.2].
Năm 2011, tại Quyết định 12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, CNHT
được chỉ rõ: “là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ
Trang 40kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”[78].
Mỗi quốc gia đều căn cứ vào yêu cầu phát triển và lợi thế để xác địnhphạm vi CNHT ở từng giai đoạn cho phù hợp Nhật Bản, với lợi thế về công
nghệ, tiếp cận CNHT theo nghĩa phạm vi rộng (1); Mỹ, với lợi thế về dịch vụ sản xuất tiếp cận CNHT theo nghĩa phạm vi rộng (2); các nước đang phát triển như Thái Lan tập trung vào phạm vi chính Việt Nam khái niệm CNHT, giới hạn phạm vi hẹp hơn phạm vi rộng (1), nhưng rộng hơn phạm vi chính.
Theo tác giả, CNHT được hiểu là một ngành kinh tế kỹ thuật, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm trung gian, cung cấp linh, phụ kiện máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã qua chế biến và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất theo các quy trình nhất định để lắp ráp các sản phẩm cuối cùng.
Như vậy, CNHT được ví như “chân núi”, tạo phần cứng để hình thành nênthân núi và “đỉnh núi” chính là ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm
công nghiệp hoặc tiêu dùng (Sơ đồ 2.2).
Sơ đồ 2.2: CNHT theo nghĩa rộng
Nguồn: [142]
Từ phân tích trên có thể hiểu nội hàm của CNHT như sau:
(i) Là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù thuộc ngành công nghiệp, nảysinh từ phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất ở giai đoạn cao, phổ biến
Lắp ráp
Tiền láp ráp Linh kiện
Gia công Máy móc Nguyên liệu và Nguyên liệu thô
Công nghiệp hỗ trợ