1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Cơ chế điều chỉnh PL mối quan hệ giữa NN và cá nhân ở Việt Nam hiện nay

175 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, cá nhân ngày càng có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ hơn các giá trịriêng khách quan của mình và đòi hỏi xã hội, các chủ thể khác, đặc biệt là nhà nướcphải thừa nhận và tôn trọng.Tuy n

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS LÊ MINH TÂM

Trang 3

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Thị Thanh Mai

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC

VÀ CÁ NHÂN, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 8

1.3 Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 25

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI

2.1 Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân 292.2 Khái niệm, nội dung, đặc điểm của cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan

2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế điều chỉnh pháp

luật mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân 572.4 Những yếu tố cơ bản tác động đến cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan

Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ

ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÁ

3.1 Quá trình phát triển của cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa

nhà nước và cá nhân từ năm 1945 đến nay 743.2 Thực trạng cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa nhà nước và

Chương 4: NHỮNG YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA

NHÀ NƯỚC VÀ CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1184.1 Những yêu cầu cơ bản hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ

4.2 Các quan điểm cơ bản về hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan

4.3 Các giải pháp cơ bản hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ

Trang 5

Nxb : Nhà xuất bản QCD : Quyền công dân QCN : Quyền con người QLNN : Quyền lực nhà nước QPPL : Quy phạm pháp luật XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cá nhân và nhà nước là hai chủ thể đặc biệt có mối quan hệ chặt chẽ tương tác

và phụ thuộc lẫn nhau Trong đó, nhà nước là thiết chế xã hội tổ chức thực hiệnquyền lực công, nhà nước nhân danh xã hội bảo vệ lợi ích chung và các giá trị kháchquan phổ biến của con người Mối quan hệ (MQH) giữa nhà nước và cá nhân đượcthể hiện chủ yếu dưới hình thức quan hệ pháp luật Vì vậy, nghiên cứu về cơ chế điềuchỉnh pháp luật (ĐCPL) MQH giữa nhà nước và cá nhân là vấn đề có ý nghĩa quantrọng trong quá trình hoàn thiện nhà nước và pháp luật nói chung

Ở Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, chủ trương xây dựng nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và mởrộng hợp tác quốc tế, đã mang lại những thay đổi quan trọng trong nhận thức chungcủa xã hội về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân Những thay đổi này đượcthể hiện khá rõ nét trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.Vấn đề con người và phát huy nguồn lực con người luôn được coi là trung tâm củamọi đường lối, chủ trương, chính sách phát triển trong thời kỳ đổi mới Điều đó manglại nhiều thay đổi đáng kể trong các phương tiện pháp luật cơ bản của cơ chế ĐCPLMQH giữa nhà nước và cá nhân Trong hệ thống pháp luật, cá nhân được nhìn nhận

như những thực thể độc lập, mang trong mình những giá trị khách quan mà nhà nước

có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, thể hiện ở các quyền con người (QCN),quyền công dân (QCD) Ý chí, nguyện vọng, lợi ích của cá nhân ngày càng được tôntrọng trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật Quan điểm coi

sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, xã hội và nhà nước là động lực của sự phát triển xãhội, trong đó, lợi ích cá nhân là “động lực trực tiếp nhất”, đã được thể hiện trongnhiều chính sách pháp luật của nhà nước, góp phần khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạocủa xã hội, mang lại những thành tựu đáng kể về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá

xã hội, đưa Việt nam trở thành một nước đang phát triển Nhiều thành tựu về pháttriển con người đã được ghi nhận, Việt Nam là một trong số hơn 40 nước đang pháttriển đạt được những tiến bộ đáng kể về phát triển con người trong những thập kỷ gần

đây Chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã tăng 41% trong vòng hai thập kỷ

Trang 7

qua [18] Đồng thời, quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội và nền kinh tế thị trườngcũng mang lại những thay đổi quan trọng cho mỗi cá nhân trong nhận thức về bảnthân mình Từ đó, cá nhân ngày càng có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ hơn các giá trịriêng khách quan của mình và đòi hỏi xã hội, các chủ thể khác, đặc biệt là nhà nướcphải thừa nhận và tôn trọng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong điều kiện xây dựng nhà

nước pháp quyền XHCN hiện nay, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân còn

tồn tại nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của quá trình đổi mới.Trong nhiều trường hợp, pháp luật còn chưa quan tâm phản ánh đầy đủ ý chí, nguyệnvọng của nhân dân, nhà nước có biểu hiện giành thuận lợi về cho mình, cá nhân gặpnhiều bất lợi trong mối quan hệ với nhà nước Cá nhân và các giá trị khách quan phổbiến của cá nhân còn chưa thực sự được tôn trọng trong quá trình xây dựng pháp luật.Việc thực hiện QCN, QCD gặp nhiều trở ngại do tính thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ

và phù hợp của hệ thống pháp luật Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, cácthiết chế thực thi pháp luật chưa thực sự dễ tiếp cận, còn nhiều biểu hiện mang tính áp

đặt, chưa thực sự coi trọng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, chưa là chỗ dựa để nhân

dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tình trạng khiếu nại, tố cáo diễnbiến phức tạp, có nơi, có lúc đã trở thành những điểm nóng về xung đột giữa nhà

nước và nhân dân Nhiều hành vi tham ô, tham nhũng xâm phạm QCN, QCD chưađược áp dụng chế tài thoả đáng, còn có biểu hiện bao che, xử lý qua loa gây bất bình

trong dư luận, "Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực còn bị

vi phạm Tình trạng quan liêu không thực sự tôn trọng dân chủ và thực hành dân chủ còn khá nặng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức" [29, tr.128] Bên

cạnh đó, trong không ít trường hợp, tình trạng đòi tuyệt đối hóa vai trò của cá nhân,

đề cao tự do cá nhân vô chính phủ, coi nhẹ các giá trị xã hội cũng ảnh hưởng không

nhỏ đến trật tự, kỷ cương xã hội

Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế hiện nay mang lại nhiều cơ hội cho việc

hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, nhưng đồng thời, cũng đặt

ra nhiều thách thức của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá pháp lý, đòi hỏi chúng taphải nâng cao nhận thức về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân Hơn nữa,sau gần 30 năm đổi mới, khi các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội thay đổi,

Trang 8

cá nhân đã có những sự trưởng thành nhất định về năng lực làm chủ bản thân và xã

hội Nhưng nhìn chung, nhận thức về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhâncòn nhiều hạn chế, MQH giữa nhà nước và cá nhân chưa được nghiên cứu một cách

cơ bản và toàn diện Từ đó, các giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập liên quanđến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân còn có biểu hiện lúng túng, bịđộng, thiếu tính tổng thể, khách quan và khoa học

Vì vậy, việc nghiên cứu về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ởViệt Nam hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn Đó

là lý do tác giả chọn nghiên cứu vấn đề"Cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ

gi ữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án Tiến sỹ Luật học

chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhànước và cá nhân ở Việt Nam, luận án đề xuất quan điểm và hệ thống các giải pháp

nhằm hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ khái niệm MQH giữa nhà nước và cá nhân, trên cơ sở phân tích kháiniệm, tư cách, vai trò của cá nhân và nhà nước, các đặc điểm của MQH giữa nhà

nước và cá nhân

- Phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

nước và cá nhân; các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế ĐCPL MQH

giữa nhà nước và cá nhân; các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

nước và cá nhân

- Phân tích qúa trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cánhân ở Việt Nam; đánh giá thành tựu, hạn chế của thực trạng cơ chế ĐCPL MQHgiữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra những nguyên nhân của hạnchế đó

- Phân tích các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa

nhà nước và cá nhân; Phân tích các quan điểm và đề xuất, luận chứng cho hệ thống

các giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cơ chế ĐCPL MQHgiữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam và đề xuất quan điểm giải pháp hoàn thiện,

dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật Để thực hiện

mục đích nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu đối tượng là khái niệm cá nhân,

nhà nước, MQH giữa nhà nước và cá nhân, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá

nhân, trực tiếp là khái niệm, các đặc điểm, các tiêu chí hoàn thiện, các yếu tố tác động

ảnh hưởng đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

Luận án nghiên cứu quá trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

nước và cá nhân từ năm 1945 đến nay và tập trung đánh giá thực trạng cơ chế ĐCPL

MQH giữa nhà nước và cá nhân trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung

năm 2001), làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác

-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước ta về nhà nước, pháp luật, xã hội, vấn đề con người, QCN, QCD

Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết họcMác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp

lôgic, phương pháp thống kê - so sánh, Các phương pháp được sử dụng nhằm làm

rõ nội dung cơ bản của luận án, đảm bảo tính khoa học và lôgic giữa các vấn đề củaluận án trong các chương

- Phương pháp phân tích - tổng hợp, được tác giả sử dụng trong chương 2,3,4nhằm phân tích làm rõ các khái niệm cá nhân, MQH giữa nhà nước và cá nhân, cơchế DCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân; phân tích thực trạng cơ chế ĐCPL MQHgiữa nhà nước và cá nhân; phân tích các yêu cầu, quan điểm để đưa ra giải pháp vềhoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay

- Phương pháp hệ thống được tác giả sử dụng nhằm làm rõ tính hệ thống của

cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân về lý luận và thực tiễn, MQH giữa nhànước và cá nhân, tính thống nhất của cá nhân trong các tư cách khác nhau khi tham

gia vào các quan hệ xã hội

Trang 10

- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng để thiếtlập MQH xuyên suốt chặt chẽ logic giữa các vấn đề và các chương trong luận án.

Theo đó, trong chương 2, trước khi nghiên cứu cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và

cá nhân, tác giả đã tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm cá nhân và MQH giữa nhà

nước và cá nhân Đồng thời, nội dung các chương 2, 3, 4 có MQH xuyên suốt Những

lý giải về mặt lý luận ở chương 2 là cơ sở đánh giá thực trạng quá trình phát triển vàthực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, từ đó đưa ra các yêu cầu,

quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhântrong chương 4

- Phương pháp lịch sử là phương pháp được tác giả sử dụng để làm rõ quátrình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân từ năm 1945 đến

nay, làm cơ sở để đánh giá đúng thực trạng của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và

cá nhân trong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp thống kê - so sánh, được tác giả sử dụng để làm rõ quá trìnhphát triển và thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân qua những

số liệu thống kê từ thực tế về các thành tố của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước

và cá nhân

- Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn là phương pháp được tác giả

sử dụng chủ yếu trong chương 3, 4 nhằm làm rõ thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa

nhà nước và cá nhân trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận Đồng thời, kết hợp

các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn để luận giải một cách thuyết phục cho cácgiải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPl MQH giữa nhà nước và cá nhân trong giai đoạnhiện nay

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu có hệ thống và toàndiện về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam, nên luận án cónhững đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

- Luận án đã xây dựng khái niệm cá nhân dưới góc độ chuyên ngành Lý luận

và lịch sử Nhà nước và pháp luật: Cá nhân vừa là cá thể người được đặc trưng bằng những cá tính, phẩm chất, năng lực, nhu cầu, lợi ích riêng, vừa là một thực

Trang 11

thể xã hội có sở nguyện độc lập và khả năng tự quyết, thể hiện thành ý chí, nguyện vọng riêng, đòi hỏi được tôn trọng và phản ánh Cá nhân tham gia vào MQH với

nhà nước với nhiều tư cách khác nhau: Tư cách cá nhân con người; tư cách công

dân của nhà nước; tư cách thành tố hợp thành nhân dân; tư cách thành viên gia đình,tôn giáo, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Từ đó, Luận án phân tích và xây dựng khái

niệm MQH giữa nhà nước và cá nhân, là mối quan hệ có tính khách quan, có nội dung phong phú, đa dạng thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ của nhà nước và cá nhân; MQH giữa nhà nước và cá nhân phản ánh sự tương tác mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau giữa nhà nước và cá nhân, được xác lập chủ yếu dưới hình thức các quan hệ pháp luật.

Xuất phát từ quan điểm, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân là mộtdạng của cơ chế ĐCPL nói chung, nhưng do những đặc điểm riêng của MQH giữa

nhà nước và cá nhân, Luận án đã xây dựng khái niệm cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

nước và cá nhân là hệ thống các phương tiện pháp luật có MQH mật thiết với nhau

trong một thể thống nhất, được vận hành theo những nguyên tắc, quá trình được pháp luật quy định để điều chỉnh MQH giữa nhà nước và cá nhân với sự bảo đảm của nhà nước nhằm đạt được những mục đích xác định và phân tích làm rõ những

đặc điểm riêng của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

Luận án chỉ ra 4 tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế ĐCPL

MQH giữa nhà nước và cá nhân và 3 yếu tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến cơ chế

ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

- Luận án làm rõ quá trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước

và cá nhân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay và phân tích thực trạng cơ chế ĐCPLMQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay, chỉ ra những kết quả đã đạt được, nhữngtồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của những kết quả, tồn tại trong cơ chế ĐCPLMQH giữa nhà nước và cá nhân

- Luận án phân tích các yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với việchoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân Trên cơ sở đó, chỉ ranhững quan điểm và giải pháp cơ bản hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước

và cá nhân

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án có đóng góp vào hệ thống kiếnthức lý luận chung về nhà nước và pháp luật

Luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu lý luận vàgiảng dạy về nhà nước và pháp luật

- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng trongquá trình hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố

và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ

CÁ NHÂN, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và

cá nhân, luôn là đề tài hấp dẫn các nhà nghiên cứu vì nhu cầu khách quan của nhân loại

về tự do và phát triển Nghiên cứu về các vấn đề trên có quá trình phát triển lâu dài vàliên tục trong lịch sử nhân loại Ở mỗi thời kỳ các kết quả nghiên cứu đều mang lạinhững thành tựu quan trọng cho sự phát triển của cá nhân, nhà nước, đồng thời, phảnánh trình độ phát triển văn hoá, văn minh của xã hội loài người Tuy nhiên, đây lànhững vấn đề rất rộng và phức tạp vì nhận thức hạn hẹp của con người và sự chi phốibởi lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội Ở mỗi quốc gia, khu vực,tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cánhân phản ánh những đặc thù riêng, do ảnh hưởng của truyền thống lịch sử văn hoá và

các điều kiện kinh tế, chính trị xã hội khác

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, tác giả chia các công trình nghiên cứu cóliên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân thành 3 nhóm: Nhóm

công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền (NNPQ), và xã hội công dân; Nhóm

công trình nghiên cứu liên quan đến cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân;Nhóm công trình nghiên cứu về cơ chế ĐCPL

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân (hay xã hội dân sự)

Nhà nước pháp quyền là một trong những vấn đề rất được các học giả trongnước quan tâm nghiên cứu suốt quá trình đổi mới Một mặt, các nghiên cứu tập trung

làm rõ những quan điểm, nhận thức chung về NNPQ, mặt khác, đi sâu vào nghiên cứucác giá trị đặc trưng của NNPQ và NNPQ XHCN, các yêu cầu đặt ra trong quá trìnhxây dựng NNPQ XHCN Việt Nam Điển hình là:

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [149] của Đào

Trí Úc, nghiên cứu về lịch sử tư tưởng NNPQ ở phương Đông và phương Tây Từ đó,làm rõ cơ sở lý luận về NNPQ XHCN Việt Nam, các vấn đề cần hoàn thiện trong xây

Trang 14

dựng NNPQ như dân chủ, nhân quyền, cải cách hành chính, tư pháp và tăng cườngpháp chế XHCN.

- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân [135] của Trần Hậu Thành, về lịch sử tư tưởng NNPQ trên thế

giới và thực tiễn NNPQ ở một số quốc gia trên thế giới Từ đó, tác giả luận giải về cơ

sở lý luận và thực tiễn xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Namhiện nay nhằm giữ vững ổn định chính trị, mục tiêu của cách mạng XHCN

- Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [150] của Đào Trí Úc, nghiên cứu về quá trình phát triển và hoàn thiện tư

tưởng về NNPQ trên thế giới Từ đó làm rõ những đặc trưng về NNPQ nói chung cũngnhư NNPQ XHCN, đề xuất mô hình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam

Bên cạnh đó là các nghiên cứu về các vấn đề cụ thể trong xây dựng NNPQXHCN Việt Nam Trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu về yêu cầu đối với cácthiết chế trong bộ máy nhà nước, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước (QLNN) và môhình các thiết chế nhà nước trong NNPQ, điển hình là:

- Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền [119] của Bùi Ngọc

Sơn, tác giả phân tích các quan điểm về chủ nghĩa Hiến pháp, các vấn đề lý luận về

Hiến pháp Từ đó phân tích các tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức QLNN,ban hành hiến pháp và tổ chức các cơ quan nhà nước Luận giải các vấn đề liên quan

đến bộ máy nhà nước Việt Nam trong NNPQ hiện nay

- Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong NNPQ XHCN Việt Nam [45] của Trần Ngọc Đường, Ngô Đức Mạnh, trên cơ sở phân

tích các yêu cầu về chủ quyền tối cao của nhân dân, tính tối cao của pháp luật, các tácgiả đưa ra mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ đểnâng cao chất lượng hoạt động, tính đại diện nhân dân của Quốc hội, tính trách nhiệmcao của Chính phủ làm cơ sở cho một nhà nước phục vụ nhân dân;

- Kiểm soát quyền lực nhà nước, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay [163] của Trịnh Thị Xuyến Trên cơ sở phân tích các lý thuyết về tổ chức thực

hiện và kiểm soát QLNN, tác giả nghiên cứu và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiệnQLNN ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những hạn chế dẫn đến tình trạng lạm quyền, viphạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tính hiệu quả của QLNN, từ đó, đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện

Trang 15

- Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm

1992 [48] của Trần Ngọc Đường Trên cơ sở các nghiên cứu lý luận về tổ chức thực

hiện QLNN nói chung, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện nguyên tắc phâncông, phối hợp và lý giải về sự cần thiết phải kiểm soát QLNN và đưa ra giải pháphoàn thiện cơ chế kiểm soát QLNN trên cơ sở đặc thù của hệ thống chính trị ở nước ta

Từ đó đề ra các giải pháp tiếp tục hoàn thiện việc phân công, phối hợp và kiểm soátQLNN trong mối quan hệ với các chủ thể cấu thành hệ thống chính trị ở nước ta, gópphần sửa đổi Hiến pháp 1992

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [39] của Nguyễn Minh Đoan, tác giả

làm rõ tính hệ thống, tác động của pháp luật và thực trạng hệ thống văn bản QPPL, từ

đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ

Cùng với các nghiên cứu về NNPQ, vấn đề xã hội dân sự hay xã hội công dâncũng là một chủ đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Dưới nhiều góc độ khácnhau, các nghiên cứu đã hướng tới làm rõ các đặc điểm của xã hội dân sự và nhận diện

xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, từ đó đánh giá về vai trò của xã hội dân sự, mốiquan hệ xã hội dân sự với nhà nước, cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự tồn tại và pháttriển xã hội dân sự ở Việt Nam Tiêu biểu là các công trình:

- Quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự Việt Nam Lịch sử và hiện tại [107]

của Lê Văn Quang và Văn Đức Thành Các tác giả đã bàn về mối quan hệ giữa nhà

nước và xã hội dân sự Việt Nam từ mối quan hệ giữa chức năng xã hội chính trị và

chức năng xã hội dân sự, cho thấy tính khách quan và vai trò của xã hội dân sự;

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các định chế xã hội ở nước ta hiện nay [108] của Lê Văn Quang và Văn Đức Thành Các tác giả làm rõ khái niệm định

chế xã hội và các đặc trưng của NNPQ trong vai trò là một định chế xã hội đặc biệt.Vai trò của các định chế xã hội trong xây dựng NNPQ Từ đó phân tích vai trò củaNNPQ với các định chế xã hội và các vấn đề rút ra từ thực tiễn các mối quan hệ Trên

cơ sở đó các tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện NNPQ và các định chế

xã hội ở nước ta hiện nay

- Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội [106] của

Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương Tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực

tiễn về vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam và một số nước trên thế giới Phân

Trang 16

tích và lý giải một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của các tổchức xã hội ở Việt Nam và xu hướng phát triển.

Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết nghiên cứu về xã hội dân sự, xã hội công

dân, điển hình như:

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền từ sự hình thành xã hội công dân [12,

tr.33-36] của tác giả Nguyễn Thanh Bình, bàn về khái niệm xã hội công dân và mối quan hệgiữa xã hội công dân với nhà nước trong trong xây dựng NNPQ ở Việt Nam

- Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội [75, tr.11-19] của Tương

Lai Tác giả đưa ra quan điểm về phân biệt xã hội dân sự với xã hội công dân, vai tròcủa xã hội dân sự trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng HồChí Minh;

- Xã hội dân sự, tính đặc thù và vấn đề ở Việt Nam [130, tr.8-13] của Hồ Bá

Thâm, lý giải về sự ra đời của xã hội dân sự nói chung và những đặc thù ở Việt Namtrong bối cảnh hiện nay

1.1.2 Nhóm các công trình liên quan đến cá nhân và mối quan hệ giữa nhà

nước và cá nhân

Thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, việc đề cao chủ nghĩa tập thể, chống lạimọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đã làm cho các nghiên cứu khách quan về cá

nhân ít được quan tâm Sau các hiện tượng “khoán chui” và sự thành công của các

chính sách khoán trong nông nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp, ý thức về cá nhân, tínhkhách quan của các lợi ích cá nhân dần được củng cố Nếu các nghiên cứu về cá nhân,quyền con người trước kia được coi là sản phẩm của chế độ tư hữu và chủ nghĩa tư bản,thì trong thời kỳ đổi mới, đã được nhận thức là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người.Vấn đề con người, cá nhân, công dân, quyền con người, chủ quyền nhân dân, chủ nghĩalập hiến,… trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các họcthuyết của các nhà khoa học thời kỳ Khai Sáng ngày càng được quan tâm nghiên cứu,

đã mang lại những thay đổi đáng kể về nhận thức lý luận và thực tiễn, các nghiên cứu

về cá nhân đã dần được tiếp cận khách quan hơn trong bối cảnh cụ thể của đất nước

Dưới góc độ triết học, tiêu biểu là công trình:

- Triết học pháp quyền của Hêghen [18] của Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh

Hợp Qua đó, quan điểm của Heghen về các nhu cầu, giá trị cá nhân và sự phát triểncủa cá nhân trong MQH với XHDS, nhà nước, đã được đánh giá khách quan hơn, cho

Trang 17

thấy những đóng góp của Heghen trong việc nhận thức về cá nhân, đồng thời, nhữnghạn chế ảnh hưởng đến sự nghiệp giải phóng con người và xã hội loài người.

- Ở cách tiếp cận khác, tác giả Đoàn Đức Hiếu với Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [62], đã phân tích các đặc

trưng của cá nhân dưới góc độ triết học Mác - Lênin, để làm rõ vai trò chủ thể của cánhân đối với mọi quá trình xã hội; Nền KTTT mang lại động lực phát triển mạnh mẽ,

toàn diện cho cá nhân nhưng đồng thời, sự phát triển của nền KTTT cũng có nhiều

tác động tiêu cực, đòi hỏi chúng ta phải có những định hướng giá trị cho sự phát triển

cá nhân

Bên cạnh đó là những công trình nghiên cứu liên quan đến cá nhân và mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, tiếp cận từ vấn đề quyền con người, quyền công dân Đây là một lĩnh vực rất được các học giả quan tâm nghiên cứu trong quá trình đổi

mới, có những nghiên cứu về QCN dưới góc độ lý luận chung, lý luận về QCN trongcác giáo trình giảng dạy, các nghiên cứu tiếp cận công ước quốc tế về QCN, nghiêncứu về lịch sử tư tưởng QCN trên thế giới, vấn đề QCN trong Hiến pháp, pháp luậtViệt Nam, các bảo đảm QCN,… Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là:

- Tập chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân [145] của Trung tâm

Nghiên cứu QCN, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, với nhiều bài viết của cáctác giả về các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến QCN, QCD như khái niệm, đặc

trưng của QCN, các nhóm quyền,…

- Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay [86] của Nguyễn Văn Mạnh, luận bàn về các khái

niệm quyền con người và các bảo đảm pháp lý thực hiện QCN ở Việt Nam, đồng thời

phân tích các định hướng, giải pháp hoàn thiện;

Cùng với quá trình mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế, các điều kiện, cơ hộitiếp cận tư tưởng về QCN của các học giả trên thế giới qua các tài liệu, hội thảo, nhậnthức về QCN đã có những bước phát triển mới, đặc biệt là từ sau Văn kiện Đại hội IXcủa Đảng Nhiều nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề lý luận về QCN một cách tương đốitoàn diện, khách quan, đáng kể là các nghiên cứu:

- Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam [8] của Trần Văn Bách, nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý

luận về QCD ở Việt Nam và sự phát triển của các quy định về QCD qua các hiến pháp

Trang 18

Việt Nam Từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định vềQCD trong hiến pháp.

- Bàn về quyền con người quyền công dân [44] của Trần Ngọc Đường Tác giả

phân tích làm rõ khái niệm QCN, QCD; từ đó, đưa ra những đánh giá về QCN, QCDtrong Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam, bất cập trong thực tiễn hiện nay Đồng thời,làm rõ những đảm bảo pháp lý trong việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa

vụ của công dân

- Tăng cường hoạt động lập pháp bảo đảm quyền con người đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam [74, tr.34-41] của Tường Duy Kiên, tác giả

đã làm rõ tính được bảo đảm bằng pháp luật quốc gia trong thực hiện QCN và cách

thức để tăng cường vai trò của lập pháp quốc gia trong thực hiện QCN ở Việt Namhiện nay

- Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân [66] của tác giả Trần Thanh Hương, nghiên cứu các vấn

đề lý luận về các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân và bảo đảm

pháp lý thực hiện Thực trạng bảo đảm pháp lý thực hiện quyền cơ bản của công dântrong lĩnh vực tự do cá nhân Ngoài ra còn một số nghiên cứu về bảo đảm thực hiệnQCN, QCD thông qua hoạt động của các thiết chế nhà nước

- Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người [73] của Khoa Luật

Trường Đại học quốc gia Hà Nội Vấn đề QCN đã được tiếp cận một cách có hệ thống

từ sự phát triển tư tưởng về QCN nói chung đến sự phát triển của các nhóm quyền qua

hệ thống các công ước, nghị định thư, từ đó, cung cấp cho người học một cách nhìnkhá toàn diện lí luận và lịch sử pháp luật quốc tế về QCN

- Quyền con người - Tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học [157] do Võ Khánh

Vinh, công trình đã tập hợp được nhiều nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau

về vấn đề quyền con người nói chung cũng nhưng một số quyền cụ thể của cá nhân,vấn đề thực hiện quyền con người và phát triển con người hay quan hệ biện chứng giữaquyền con người, pháp trị dân chủ và độc lập dân tộc,…

Ngoài ra còn có các nghiên cứu liên quan đến cá nhân và mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân tiếp cận dưới góc độ chủ quyền nhân dân và chủ nghĩa lập hiến Điển

hình là các nghiên cứu:

Trang 19

- Bảo hiếm ở Việt Nam [120] tác giả Bùi Ngọc Sơn, vấn đề bảo hiến ở Việt Nam

đã được tác giả nghiên cứu một cách có hệ thống, từ việc làm rõ cơ chế bảo hiến nói

chung, tác giả phân tích thực trạng bảo hiến ở Việt Nam và sự cần thiết của việc thiếtlập cơ chế bảo hiến trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và đề cao chủ quyềnnhân dân

- Sự phát triển của chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam [151] của Đào Trí

Úc, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và thành tựu của chủ nghĩa lập hiến ở Việt Namvới việc bảo đảm chủ quyền nhân dân Từ đó nhận định về các vấn đề cần tiếp tục hoànthiện trong quá trình phát triển của chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đềcao chủ quyền nhân dân

- Chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam [121, tr.12-24] của tác giả Bùi Ngọc Sơn Tác

giả đã đề cập đến quan niệm chung về cơ chế bảo hiến nói chung với việc đề cao chủquyền nhân dân trong nhà nước pháp quyền Từ đó, phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn

cho cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay;

- Tài phán hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng ở Việt Nam [104] của Nguyễn Như Phát và tập thể các tác giả

(2011), Nxb Khoa học xã hội, các tác giả làm rõ vai trò hiến pháp trong NNPQ, xâydựng nền dân chủ, xu hướng phát triển của các mô hình tài phán và điều kiện vậndụng ở Việt Nam

Hiến pháp với chủ quyền nhân dân [5] của TS Vũ Hồng Anh Tác giả phân tích

làm rõ sự khác biệt của khái niệm chủ quyền nhân dân và chủ quyền quốc gia Trên cơ

sở đó, cho rằng trong nhà nước pháp quyền, chủ quyền nhân dân, trước hết được thểhiện ở vai trò của nhân dân với hiến pháp và ở vai trò của nhân dân với tổ chức QLNN

Chủ quyền nhân dân xuyên suốt và nhất quán trong Hiến pháp sửa đổi [49] của

Trần Ngọc Đường Tác giả đã phân tích những quy định về chủ quyền nhân dân đượcnhất quán trong các nội dung về vai trò của nhân dân với việc ban hành, sửa đổi Hiếnpháp, về quan hệ nhân dân và QLNN, bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 2013

Trong quá trình đổi mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong những phạm vi và mức độ nhất định Điển

hình là các công trình:

- Hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân trong quá trình đổi mới ở Việt Nam [40] của tác giả Nguyễn Văn Động Nghiên cứu đã phân tích một cách khá

Trang 20

toàn diện bản chất, đặc điểm và những nguyên tắc của mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa

nhà nước và công dân Từ đó, phân tích quá trình phát triển, thực trạng MQH pháp lý

cơ bản giữa nhà nước và công dân; đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện MQH

pháp lý giữa nhà nước và công dân trong quá trình đổi mới Tuy nhiên, công trình nàycũng chỉ dừng lại ở MQH giữa nhà nước và công dân

Ngoài ra, còn một số các công trình đã nghiên cứu về QMH giữa nhà nước và

cá nhân, nhà nước và công dân làm cơ sở cho những nghiên cứu về các vấn đề xã hội,nhà nước, pháp luật Điển hình như:

- Quyền lực nhà nước và quyền công dân [91] của Đinh Văn Mậu, ở mức độ

nhất định tác giả đã bước đầu phân tích làm rõ tính khách quan của cá nhân, MQHgiữa nhà nước và cá nhân, từ đó đặt ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật với tínhchất là những bảo đảm thực hiện QCN, QCD trên các lĩnh vực hoạt động của nhà

nước Tuy nhiên, nghiên cứu về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân, mới

chỉ dừng ở những nhận định ban đầu để phục vụ cho nghiên cứu của mình vềQLNN và QCD

- Mối quan hệ giữa xã hội, cá nhân - Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền và vai trò của nó trong việc xác định mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [156, tr.8-14] của Võ Khánh Vinh Dưới góc độ tiếp cận pháp lý, tác

giả đã đề cập các khái niệm cá nhân, xã hội, nội dung, các nguyên tắc cơ bản của mốiquan hệ giữa nhà nước và cá nhân Từ đó, tác giả đưa ra những luận giải về mô hìnhxây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hướng tới thực hiện tốt MQH này Đây là mộttrong những công trình đưa ra những nhận thức khác toàn diện về MQH giữa nhà nước

và cá nhân, nhưng trong khuôn khổ của một bài viết, các vấn đề chỉ được nhận thức ở

mức độ khái quát

- Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước [21] của Nguyễn Đăng Dung, tác giả

phân tích MQH giữa nhà nước và cá nhân, làm rõ tính khách quan của cá nhân, từ đó lýgiải sự cần thiết khách quan của nhà nước đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân

và xã hội, cũng như sự phân định giữa nhà nước, cá nhân và xã hội Từ đó, tác giả lýgiải về tính chịu trách nhiệm của nhà nước như một tất yếu khách quan, mà nhà nướckhông thể chối bỏ Đó là cơ sở cho thấy sự cần thiết phải thiết lập các cơ chế kiểm soátQLNN từ xã hội và cá nhân Đồng thời, phân tích MQH giữa các cơ quan nhà nướctrong tổ chức QLNN, để thiết lập mối quan hệ kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy

Trang 21

nhà nước Tuy nhiên, nghiên cứu về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân của

tác giả mới chỉ dừng ở mức độ làm rõ tính chịu trách nhiệm của nhà nước

- Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật [129] Lê Minh Tâm và

Nguyễn Minh Đoan Nhà nước và cá nhân trở thành một nội dung trong lý luận về nhà

nước và pháp luật được nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn nâng cao nhận

thức khách quan về MQH giữa các chủ thể này phục vụ cho quá trình xây dựng vàhoàn thiện nhà nước và pháp luật trong điều kiện mới Các tác giả đã đưa ra những cơ

sở lý luận khái quát về cá nhân, mối quan hệ nhà nước và cá nhân, cùng với sự pháttriển mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong lịch sử

- Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [46] của Trần Ngọc Đường Tác giả nghiên cứu về cá nhân, bản chất

MQH giữa nhà nước và cá nhân làm cơ sở cho những nhận thức về vấn đề QCN, QCDtrong NNPQ hiện nay Từ đó, đưa ra những phương hướng, giải pháp cho qúa trìnhhoàn thiện hệ thống pháp luật và nhà nước

- Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay [47] của Trần Ngọc Đường Xuất phát từ yêu

cầu thực hiện Cương lĩnh 2011, tác giả đưa ra yêu cầu đổi mới tư duy về MQH giữa

nhà nước và cá nhân làm cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện

QCN, QCD

Tóm lại, các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá

nhân đã được tiếp cận và nghiên cứu một cách khá rộng rãi Nhiều kết quả của các

công trình về NNPQ, quyền con người, tổ chức QLNN, mối quan hệ giữa nhà nước vàcông dân, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân…đã trở thành những định hướng,chiến lược quan trọng trong các văn kiện của Đảng cho thời kỳ đổi mới và được ghinhận trong Hiến pháp cho quá trình phát triển MQH giữa nhà nước và cá nhân Sau gần

30 năm đổi mới, các điều kiện tồn tại của cá nhân và nhà nước đều có những thay đổiđáng kể Một công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về MQH giữa nhà nước và cá

nhân tiếp cận dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là một bổ khuyết về

lý luận cho việc xác định định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước, pháp luật ởViệt Nam hiện nay, đồng thời, là cơ sở để nghiên cứu hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQHgiữa nhà nước và cá nhân

Trang 22

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh pháp luật

Cơ chế ĐCPL là một vấn đề rộng và phức tạp, đề cập đến các phương tiện pháp

lý trong mối quan hệ có tính hệ thống Trên cơ sở kế thừa thành tựu lý luận của các họcgiả Xô Viết, nhiều học giả Việt Nam đã phát triển lý luận về cơ chế ĐCPL trong điềukiện của thời kỳ đổi mới ở nước ta Từ đó, nhiều công trình, tác phẩm nghiên cứu cơchế ĐCPL ở những góc độ khác nhau đã ra đời, bổ sung cho nhận thức lý luận và thựctiễn về vấn đề này Tiêu biểu là:

- Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật [148] của tác giả Đào Trí Úc.

Nghiên cứu chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế ĐCPL, như kháiniệm cơ chế ĐCPL, các giai đoạn của cơ chế ĐCPL, các thành tố của cơ chế ĐCPL

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế ĐCPL, còn được đề cập một cách

có hệ thống trong các luận án tiến sỹ, như Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [138] của tác giả Lê Xuân Thảo; Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam [60] của tác giả Hoàng Phước Hiệp (1997); Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật đất đai ở Việt Nam [116] Nguyễn Cảnh

Quý (2002) Nhìn chung, các nghiên cứu đều xây dựng cơ chế ĐCPL trên các lĩnh vực

cụ thể của đời sống, xuất phát từ những nghiên cứu lý luận chung về cơ chế ĐCPL, baogồm khái niệm, các giai đoạn, các thành tố của cơ chế ĐCPL Tuy nhiên quan niệm vềcác thành tố của cơ chế ĐCPL trong các nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất

- Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế ĐCPL còn được nghiên cứu và khôngngừng hoàn thiện trong các giáo trình lý luận chung về nhà nước pháp luật của các cơ

sở đào tạo luật học, như Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật [72] của

Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

- Cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam [63] của Nguyễn Quốc Hoàn, tác giả

đã kế thừa và phát triển các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đưa ra khái niệmĐCPL, cơ chế ĐCPL, các giai đoạn của ĐCCPL và các thành tố của cơ chế ĐCPL; các

yếu tố tác động đến cơ chế ĐCPL Từ đó, tác giả đánh giá về quá trình phát triển của

cơ chế ĐCPL trong lịch sử và thực trạng cơ chế ĐCPL Việt Nam Trên cơ sở đó đề

xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL hiện nay;

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu toàn diện về từng thành tố của cơchế ĐCPL:

Trang 23

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận

và thực tiễn [126] của Lê Minh Tâm, tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm, bản chất,

vai trò của pháp luật; các tiêu chí để đánh giá sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật;

phân tích và đánh giá quá trình phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam trong lịch

sử và thực trạng Từ đó luận giải các yêu cầu, quan điểm, giải pháp phát triển hệ thốngpháp luật Việt Nam hiện nay;

- Quan hệ pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

[77] của Lê Văn Long (2003) Tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề

lý luận về quan hệ pháp luật, thực trạng và các phương hướng, giải pháp cho việc pháttriển các quan hệ pháp luật hiện nay ở Việt Nam

Qua các nghiên cứu trên, vấn đề cơ chế ĐCPL đã được nghiên cứu một cáchkhá toàn diện, từ khái niệm, các giai đoạn, thành tố của cơ chế ĐCPL Đồng thời, từ

các góc độ khác nhau hoặc từ góc độ chung, các tác giả đã phân tích các yếu tố tácđộng đến cơ chế ĐCPL, vấn đề rất có ý nghĩa cho việc đề xuất các phương hướng giải

pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL Lý luận về cơ chế ĐCPL đã được nhiều tác giả vậndụng trong nghiên cứu về cơ chế ĐCPL trên một số lĩnh vực Tuy nhiên, chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào đề cập đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa nhà

nước và cá nhân

Các công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến MQH giữa nhà nước và

cá nhân, nhất là về dân chủ và pháp luật xuất từ thời kỳ cổ đại trong tư tưởng của cáchọc giả phương Tây như Socrate, 469-399 TrCN, Platon, 423-347 TrCN,… Các tư

tưởng này có quá trình phát triển lâu dài và không ngừng hoàn thiện trong lịch sử xã

hội loài người Qua đó, MQH giữa nhà nước và cá nhân được nghiên cứu và tiếp cận từnhiều góc độ, vấn đề khác nhau, như:

quy ền, xã hội dân sự và chủ nghĩa hợp hiến

Đây là những vấn đề nghiên cứu có một quá trình phát triển và hoàn thiện lâu

dài trong lịch sử Điển hình cho lý thuyết về chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phânquyền là các tác phẩm:

Trang 24

- Bàn về khế ước xã hội [68] của Jean - Jacques Rousseau, Hoàng Thanh Đạm

dịch Theo tác giả, quyền lực của cá nhân là bất khả nhượng, chỉ có thể uỷ quyền hoặc

bị thoán quyền Nhà nước được thành lập trên cơ sở sự đồng thuận xã hội, mỗi cá nhân

tự nguyện chuyển giao một phần quyền lực của mình cho nhà nước trên cơ sở khế ước

xã hội Như vậy, chủ quyền nhân dân là tối cao và là sự đóng góp chủ quyền từ mỗi cánhân, QLNN là quyền lực uỷ quyền

- Bàn về tinh thần pháp luật [99] của Montesquieu, Hoàng Thanh Đạm dịch.

Theo tác giả, sau khi được uỷ quyền, QLNN có xu hướng bị lạm dụng, tách rời chủ thểcủa nó Vì vậy, QLNN cần phải được kiểm soát bằng cách dùng quyền lực để chế ướcquyền lực theo nguyên tắc tam quyền phân lập Tức là QLNN phải được phân chia cho

các cơ quan nhà nước theo chức năng của nó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,các cơ quan nhà nước hoạt động trong cơ chế kiềm chế, đối trọng lẫn nhau, để không

cơ quan nào nắm trọn QLNN và không cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm soát từ cơ quan

nhà nước khác

- Nền dân trị [2] của nhà luật học người Pháp Alexis de Tocquevill, Phạm Toàn

dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính và giới thiệu Theo quan điểm của tác giả thì việckiểm soát QLNN chỉ bằng những thiết chế bên trong là chưa đủ, cần phải thiết lập mộtnền dân trị Ở đó nhân dân vẫn phải duy trì cho mình những quyền lực nhất định vàthiết lập những MQH giữa bộ máy quyền lực với nhân dân Tư tưởng về một nền dântrị là cơ sở thúc đẩy việc hoàn thiện các thể chế đảm bảo quyền làm chủ của nhân dânvới quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, như quyền lập hội, quyền tự

do báo chí,…

Tư tưởng của các học giả thời kỳ cổ và cận đại về chủ quyền nhân dân, các giá

trị nhà nước pháp quyền, tiếp tục được nghiên cứu và phát triển trong các điều kiện xãhội mới Nhất là trong giai đoạn hiện nay, những nghiên cứu này được đặc biệt quantâm trong các quốc gia có nền kinh tế chính trị đang trong quá trình chuyển đổi Tiêubiểu là các công trình:

- Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội [102] của N.M Voskresenskaia và N.B.

Davletshina, Phạm Nguyên Tường dịch Tác giả đã đề cập đến các vấn đề quan trọngcủa một xã hội dân chủ như, khái niệm dân chủ, xã hội và các giá trị dân chủ, QCN,bầu cử, Đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội,…

Trang 25

- Tương lai của nền dân chủ xã hội (Die Zukunft Sozialen Demokratie) 2005

[140] của Thomas Mayer và Nicole Breyer, Trần Danh Tạo và Ngô Lan Anh dịch.Theo các tác giả, dân chủ xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở sự không hoàn thiện củadân chủ tự do Trong nền dân chủ xã hội, các quyền cơ bản về dân sự, chính trị, quyền

xã hội và kinh tế phải được bảo đảm để tạo dựng được những điều kiện sống có nhânphẩm cho tất cả mọi người Đó là xã hội, bao gồm một hệ thống các giá trị cơ bản, các

quan điểm, nguyên tắc và giải pháp cải cách kinh tế, xã hội vì mục tiêu phát triển và lýtưởng tự do, công bằng, bình đẳng và hạnh phúc của con người trong bối cảnh hiện nay

của thế giới

Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là những giá trị tư tưởng được hình

thành và không ngừng hoàn thiện trong quá trình phát triển của nhân loại Đây lànhững vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và đã

dành được rất nhiều thành tựu về mặt lý luận và thực tiễn Trong đó, tư tưởng vềNNPQ đã phát triển không ngừng từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ cận đại, với các học

thuyết về chủ quyền nhân dân, quyền tự nhiên, học thuyết khế ước xã hội, học thuyếttam quyền phân lập Tiêu biểu cho các nghiên cứu đó là các tác phẩm:

- Các nguyên lý của triết học pháp quyền [55] của G.W.F Hêghen (1821), do

dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch, XHDS được hình thành từ nhu cầu của mỗi cá nhân

để thực hiện lợi ích ích kỷ của bản thân mình và nhằm thoả mãn nhu cầu của riêng

mình Heghen cho rằng sở hữu tư nhân là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xãhội dân sự và tự do cá nhân là không thể thiếu sở hữu tư nhân Xã hội dân sự mangtrong mình những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Nhưng nhà nước đã

vượt lên trên tính tự phát của xã hội dân sự, thể hiện là sự thống nhất giữa lợi ích chung

và lợi ích riêng Tuy nhiên, nhận thức của Hêghen về XHDS và MQH giữa nhà nước

và XHDS bị giới hạn bởi quan niệm duy tâm đã thần bí hoá biện chứng MQH giữa nhà

nước và XHDS

- Góp phần phê phán triết học pháp quyền [79] của C.Mác Trong quá trình phê

phán học thuyết của Heghen, C.Mác cho rằng không phải nhà nước sinh ra xã hội, mà

chính gia đình và xã hội dân sự là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là yếu

tố thực sự tích cực Cho nên việc nghiên cứu nhà nước phải dựa vào phân tích xã hội

công dân Đó là kết quả của quá trình tiếp thu có phê phán của C.Mác với tư tưởng về

Triết học pháp quyền của Hêghen, phủ nhận quan điểm có tính tiêu cực đối với công

Trang 26

cuộc đấu tranh giải phóng con người và xã hội loài người Hệ thống lý luận này đã từng

đóng vai trò quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ, trang bị nền tảng lý luận cho các phongtrào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người trên toàn thế giới

- Civil Society and Government (Xã hội dân sự và nhà nước) [170] do Nancy

L.Rosenblum, Robert C.post Các tác giả đã tiếp cận MQH giữa XHDS và nhà nước từnhiều chủ thuyết phát triển khác nhau, như Chủ nghĩa tự do, Học thuyết luật tự nhiên,

đạo Do thái,đạo Khổng,

- Nhà nước pháp quyền, gồm một sổ tiểu luận của các học giả nước ngoài [70]

do Josef Thesing biên tập, Nxb CTQG, Hà Nội năm 2002 Các nghiên cứu được đặt ratrong bối cảnh quốc gia và quốc tế hiện nay đối với vấn đề phát triển, khi “phát triểnchủ yếu được hiểu về mặt phát triển con người, có nghĩa là sự phát triển cá nhân” Từ

đó, nghiên cứu của các tác giả tập trung giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến các giá

trị của nhà nước pháp quyền và chế độ pháp trị, như: nhà nước tồn tại để đem lại lợi íchcho công dân của mình; chế độ pháp trị là một sự bảo vệ dân chủ và QCN, ở đó có sựràng buộc của luật pháp và công lý với QLNN, sự kiểm soát QLNN bằng phân địnhquyền lực, đề cao dân chủ và quyền tài phán hiến pháp Đặc biệt, các nghiên cứu cònquan tâm làm rõ các điều kiện tiên quyết, cũng như các khó khăn thách thức để thực thichế độ pháp trị

- Civil Socialty in Asia (Xã hội dân sự ở Châu Á) [167] do David Chandler với

nhiều bài viết của các tác giả đề cập đến vai trò của các tổ chức xã hội trong các vấn đề

tôn giáo, môi trường, giới tính, và sự cần thiết phải trao quyền cho nhân dân

- Civil Socialty, Globalization and political change in Asia (Xã hội dân sự, toàn

cầu hoá và sự thay đổi về chính trị ở Châu Á) [172] do Robert P Weller, các nghiêncứu cho thấy vai trò của các tổ chức phi chính phủ góp phần thúc đẩy sự điều hành của

nhà nước tốt hơn Nhưng đồng thời cũng chỉ ra nguy cơ mất dân chủ trong chính các tổ

chức này

Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến [24] do PGS TS Nguyễn Đăng Dung,

PGS, TS Phạm Hồng Thái và TS Vũ Công Giao Tài liệu là một tập hợp các tiểu luậncủa các học giả nước ngoài đề cập đến các nguyên lý nền tảng, các yếu tố cấu thành vàmột số vấn đề có thể coi là yêu cầu chung của mọi nền pháp quyền và chủ nghĩa lậphiến như, pháp luật, hiến pháp, QCN, QCD, phân quyền và kiểm soát QLNN, tư pháp

độc lập, tự do báo chí, xã hội dân sự, Mỗi tiểu luận là một nghiên cứu xuất phát từ

Trang 27

những quan điểm về các vấn đề trên của các nhà tư tưởng thời kỳ cổ đại và cận đại, có

sự bổ sung lý luận qua hàng ngàn năm bởi các nhà tư tưởng, học giả từ nhiều quốc gia,khu vực trên thế giới, đáp ứng yêu cầu đời sống chính trị, pháp lý hiện nay, từ đó rút ranhững nhận định và kết luận có giá trị về thực tiễn

Cùng với các nghiên cứu về xã hội dân sự, NNPQ, các nghiên cứu về chủ nghĩahợp hiến hiện đại đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứutrong bối cảnh dân chủ hoá ngày càng được đề cao và lan rộng trên toàn cầu Cácnghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ cơ chế bảo đảm tính tối cao của hiến pháp, thôngqua việc xây dựng cơ chế ban hành hiến pháp, đề cao quyền trưng cầu dân ý với hiếnpháp; hoàn thiện nội dung hiến pháp theo hướng đề cao chủ quyền nhân dân và cơ chếbảo hiến; Mối quan hệ giữa bảo vệ hiến pháp và thực thi công lý

- Constitutionalism: Ancient and Modern (chủ nghĩa hợp hiến: cổ điển và hiện

đại) [166] của Charles Howard Mcalwain, đã đưa ra những khái niệm về chủ nghĩa hợp

hiến trong thời kỳ cổ đại và hiện đại, phân tích chủ nghĩa hợp hiến thời trung cổ, chủnghĩa hợp hiến thời kỳ cổ đại và những ảnh hưởng của nó Từ đó tác giả phân tích chủnghĩa hợp hiến hiện đại và những vấn đề của nó

- The Changing landscape of Modern Constitutionnalism: Transitionnal Perspective (Bối cảnh thay đổi của Chủ nghĩa hợp hiến hiện đại: Quan điểm về sự thay

đổi) [168, tr.143-85] của Jiunn-Rong and Wel-Chen Chang Theo tác giả, sự phát triển

của hiến pháp trong các nền dân chủ mới đã thay đổi hiểu biết của chúng ta về chủnghĩa hợp hiến Trên cơ sở phân tích sự phát triển của chủ nghĩa hợp hiến bằng cách

xác định các quan điểm, chức năng và đặc điểm của chủ nghĩa hợp hiến, tác giả làm rõ

hiểu biết truyền thống của chúng ta về luật hiến pháp hiện đại Cung cấp các giải pháp

có thể để vượt qua thách thức, mở ra sự phát triển của chủ nghĩa hợp hiến và những cơhội mới cho tương lai của luật hiến pháp

- The Endurance of National Constitutions (Sự ổn định của hiến pháp quốc gia)

[174] của Zachary Elkins, Tom Ginsburg, James Melton, các tác giả phân tích sự cầnthiết về tính ổn định của Hiến pháp quốc gia, khái niệm về hiến pháp và giải pháp choviệc xây dựng một hién pháp ổn định

Nhìn chung, các công trình, tác phẩm nghiên cứu ở nước ngoài về xã hội dân

sự, NNPQ và chủ nghĩa lập hiến đã mang lại những nhận thức khá sâu sắc làm cơ sởcho nhận thức về MQH giữa nhà nước và cá nhân Tuy nhiên, đi vào điều kiện cụ thể

Trang 28

của mỗi quốc gia, các nghiên cứu trên chỉ có thể là những tài liệu tham khảo có giá trịcho các nghiên cứu phù hợp với các điều kiện về kinh tế, chính trị, truyền thống lịch sử,

văn hoá của mỗi quốc gia

nước và cá nhân, tiếp cận từ vấn đề cá nhân và các quyền con người, quyền

công dân

Những nghiên cứu về cá nhân, các giá trị khách quan của cá nhân có một quátrình phát triển lâu dài trong lịch sử nhân loại Tuy nhiên, điển hình là những công trìnhnghiên cứu của các học giả thời kỳ khai sáng và các học giả sau này Bắt đầu từ lýthuyết về quyền tự nhiên của các nhà Triết học Hà lan thế kỷ XVI-XVII nhưB.Spinoza, H.Grotius (dựa trên cơ sở lý thuyết về quyền tự nhiên từ thời kỳ cổ đại)

Theo C.Mác, học thuyết pháp quyền tự nhiên, bắt đầu xem xét nhà nước bằng đôi mắt người và rút ra những quy luật tự nhiên của nhà nước từ lý trí và kinh nghiệm, chứ không phải từ khoa thần học.

- Khảo luận thứ hai về chính quyền [69] J.Locke, dịch giả Lê Huy Tuấn dịch.

Với quan niệm mỗi người là một cá nhân riêng lẻ, có những quyền lợi chỉ với tư cách

con người, nên tất cả mọi người phải tôn trọng quyền bình đẳng của nhau Trong trạng

thái tự nhiên, mọi người đều có quyền tự do là quyền tự nhiên, và việc mọi người sống

không có nhà nước là điều có thể, nếu con người cần đến nhà nước thì nhà nước phải

mang lại điều tốt đẹp hơn khi con người không có nhà nước

- Bàn về tự do [71] Jonh Stuart Mill, dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch Tác giả

cho rằng, mỗi cá nhân con người như là một vũ trụ không ai giống ai và mỗi cá nhânphải là chúa tể với chính bản thân mình Tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn củamình trong tự do của người khác Quyền của cá nhân phải được bảo vệ để họ sốnghạnh phúc theo cách của họ, hơn là sống hạnh phúc theo cách của người xung quanh

- Lịch sử cá nhân luận [1] của Alain Laurent (giáo sư triết học trường Cao học

Chính trị và xã hội), dịch giả Phan Ngọc dịch Tác giả đã trình bày một cách đầy đủ, rõnét về quá trình phát triển của cá nhân luận trong nhận thức của một trào lưu tư tưởng

phương Tây Trào lưu tư tưởng này đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình

nhận thức khách quan về cá nhân và các giá trị cá nhân

- Con người, dân tộc và các nền văn hoá: chung sống trong thời đại toàn cầu hoá [51] của GS George F.Mclean GS Phạm Minh Hạc chủ biên bản dịch tiếng Việt.

Trang 29

Tác giả đã có những nghiên cứu khá toàn diện về vấn đề con người, từ những phân tích

có phê phán quan niệm về con người của các học giả thời kỳ Khai sáng, đến nhận thức

về con người trong chủ nghĩa tự do hiện đại; từ con người cá nhân đến dân tộc và cácnền văn hoá trong thời đại toàn cầu

- Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? [11] Nguyễn Cảnh Bình dịch và giới

thiệu, tác giả đã cung cấp những lập luận rất có giá trị của những nhà lập pháp Mỹ về

sự cần thiết của Tuyên ngôn nhân quyền trong một bản hiến pháp Đồng thời, sự ghinhận còn có ý nghĩa để khơi dậy ý thức của cộng đồng chống lại sự đàn áp tiềm tàng và

sẽ “cân bằng được những nhu cầu, lợi ích và tình cảm dân chúng”

Đồng thời, các nghiên cứu về quyền con người ngày càng được mở rộng, QCN

không chỉ gồm các quyền về dân sự, chính trị mà còn có các quyền về kinh tế, văn hoá,

xã hội Với sự ra đời của các điều ước quốc tế và một số lượng lớn các ấn phẩm củaLiên Hiệp quốc giải thích nội dung các quyền và các báo cáo tình hình thực thi cácQCN là nguồn bổ sung quan trọng cho kho tàng lý luận về QCN

Ngoài các nghiên cứu về MQH giữa nhà nước và cá nhân được tiếp cận từ cácvấn đề khác nhau ở trên MQH giữa nhà nước và cá nhân cũng được tiếp cận trực tiếp

trong công trình nghiên cứu của một học giả Liên xô trước đây: Государство и пичность (nhà nước và cá nhân) [177] của В.А Патюлин Mối quan hệ giữa nhà

nước và cá nhân đã được tác giả tiếp cận trong điều kiện của nhà nước XHCN Xô Viết

Nội dung cơ bản của MQH giữa nhà nước và cá nhân là mối quan hệ giữa nhà nướcXHCN với công dân và các thiết chế chính trị xã hội Xuất phát từ việc đề cao ý nghĩa,vai trò của yếu tố quyền lợi của chủ thể các quan hệ xã hội nói chung, tác giả phân tíchtính thống nhất về quyền lợi giữa nhà nước và cá nhân trong chế độ XHCN Trên cơ sở

đó, tác giả tập trung làm rõ MQH giữa nhà nước và cá nhân thể hiện trong pháp luật

XHCN và quá trình phát triển của các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân Tuynhiên, MQH giữa nhà nước và cá nhân được tác giả nghiên cứu trong điều kiện của nhà

nước XHCN Liên Xô, từ năm 1974, vì vậy không tránh khỏi những hạn chế trong nhận

thức về tính khách quan của cá nhân, MQH giữa nhà nước cá nhân

Nhìn chung, các nghiên cứu trên, ở mức độ và các cách tiếp cận khác nhau, đều

đưa ra những quan điểm rất có giá trị góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức của nhân

loại về cá nhân, nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân Quan trọng hơn, đó

là những cơ sở lý luận cho các nghiên cứu về quyền con người, xã hội dân sự, NNPQ,

Trang 30

chủ nghĩa lập hiến nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở các quốc gia Tuy

nhiên, chưa có nghiên cứu nào nhận thức một cách toàn diện, khách quan về cá nhân,

MQH giữa nhà nước dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước pháp luật, làm cơ sở choquá trình hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh pháp luật

Cơ chế ĐCPL là vấn đề chủ yếu được nghiên cứu bởi các luật gia Liên xô,được trình bày trong một số công trình tiêu biểu như:

- Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong Nhà nước XHCN (Механизм Правового

Регулирования В Социалистическом) [175] của Алексеев С С Đây là một công

trình nghiên cứu về cơ chế ĐCPL tương đối toàn diện, theo đó, cơ chế ĐCPL chính là

cơ chế tác động pháp luật, bao gồm tổng thể các phương tiện và các hình thái tác động

của pháp luật lên các quan hệ xã hội

- Проблемы Теории Государства и Права (Những vấn đề lý luận về nhà nước

và pháp luật) [176] của Алексеев С.С Trong đó, có nghiên cứu những vấn đề lý luận

cơ bản về cơ chế ĐCPL, theo các tác giả thì có 3 phương thức ĐCPL chung nhất là bắt

buộc, cấm đoán và cho phép, các phương thức đó được triển khai theo 2 kiểu Kiểu thứnhất dựa vào nguyên tắc: được làm tất cả những gì pháp luật không cấm Kiểu thứ haidựa trên nguyên tắc: là chỉ được làm những gì pháp luật cho phép

- Общая Теория Государства и Права (Lý luận chung về nhà nước và phápluật) [178] của Комаров С.А Nghiên cứu đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về

cơ chế ĐCPL, các tác giả cho rằng cơ chế ĐCPL cần được hiểu theo hai nghĩa rộng và

hẹp, đặc biệt có sự phân biệt khá rõ ĐCPL và tác động pháp luật

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, có thể thấy, cơ chế ĐCPLMQH giữa nhà nước và cá nhân là một vấn đề lớn Trong đó, nhiều vấn đề liên quan

đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân đã rất được quan tâm nghiên cứu,như chủ quyền nhân dân, NNPL, xã hội dân sự, QCN, QCD, Một mặt, do nhu cầu

của quá trình phát triển ngày càng quan tâm đến sự phát triển của con người và cũng là

sự phát triển của cá nhân Mặt khác, đời sống xã hội và mỗi cá nhân không ngừng vận

động và biến đổi đã đặt ra nhu cầu hoàn thiện lý luận về các vấn đề liên quan đến cơ

Trang 31

chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân Các công trình nghiên cứu trên đã thể hiện

rõ sự phát triển trong nhận thức của con người, và là điều kiện cho quá trình hoàn thiện

cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

Với mỗi vấn đề, ở những mức độ khác nhau, các nghiên cứu đã làm rõ vai trò, ýnghĩa, sự cần thiết, bản chất, đặc trưng, những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạnchế, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Từ đó, cơ chế ĐCPL nói chung đãkhông ngừng được hoàn thiện để vượt qua những khó khăn, thách thức đáp ứng cácyêu cầu trên Tuy nhiên, trong điều kiện của một xã hội đang trong quá trình chuyển

đổi, Việt Nam rất cần một nghiên cứu có tính chất toàn diện về MQH và cơ chế ĐCPL

MQH giữa nhà nước và cá nhân làm cơ sở định hướng về nhận thức và tư duy cho quátrình hoàn thiện MQH giữa nhà nước và cá nhân trong điều kiện đổi mới hiện nay

Trong điều kiện đó, để thực hiện mục tiêu của luận án là nghiên cứu về cơ chếĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, dưới góc độ lý luận và lịch sử về nhà nước và

pháp luật, luận án kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoahọc trên, đồng thời, làm rõ các vấn đề cụ thể sau:

1.3.1 Về lý luận

- Các khái niệm cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân là những khái

niệm công cụ quan trọng cần được tiếp cận một cách đầy đủ dưới góc độ lý luận vàlịch sử nhà nước và pháp luật, mà các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đếnhoặc còn chưa làm sáng tỏ Đối với khái niệm cá nhân, nhận thức về cá nhân trongkhoa học pháp lý hiện nay còn khá mờ nhạt, do ảnh hưởng của chế độ chuyên chếphong kiến và thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, cùng với nhận thức về tư tưởngchống chủ nghĩa cá nhân Vì vậy, đây là một trong những khái niệm công cụ mà luận

án quan tâm làm rõ

Đồng thời, trong điều kiện lý luận về MQH giữa nhà nước và cá nhân là vấn đề

khá mới mẻ trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, luận án cũng đặt ra nhiệm vụ cần phảilàm rõ khái niệm, đặc điểm của MQH giữa nhà nước và cá nhân, làm cơ sở cho nghiêncứu về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

- Khái niệm cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân là vấn đề chưa từng

được nghiên cứu trong các công trình khoa học đã liệt kê, luận án có trách nhiệm làm

rõ, như là một trong những nội dung cơ bản đề từ đó phân tích các vấn đề lý luận về cơchế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân Bao gồm đặc điểm, các tiêu chuẩn đánh

Trang 32

giá mức độ hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân; các yếu tố ảnh

hưởng đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

1.3.2 Về thực tiễn

- Luận án nghiên cứu làm rõ quá trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa

nhà nước và cá nhân trong lịch sử Qua đó, nhận thức về những đặc thù trong quá trình

phát triển, những điểm mạnh có thể tiếp tục kế thừa, phát triển trong cơ chế ĐCPLMQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay

- Luận án phân tích đánh giá thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và

cá nhân qua các phương tiện của cơ chế ĐCPL, chỉ rõ những bất cập, hạn chế và

nguyên nhân của thực trạng làm cơ sở cho việc xây dựng phương hướng, giải pháphoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

- Luận án phân tích các định hướng phát triển của đất nước trong giai đoạn tiếp

theo làm cơ sở xác định những yêu cầu đặt ra đối với quá trình hoàn thiện cơ chếĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

Trên cơ sở thực trạng và yêu cầu đặt ra với cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước

và cá nhân, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQHgiữa nhà nước và cá nhân ở Việt nam trong những năm tiếp theo

Tiểu kết chương 1

Cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân là một vấn đề lớn và phức tạp,nhưng có ý nghĩa rất to lớn trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam, vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Các công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước, thường chỉ tiếp cận ở những góc độ nhất định và giải quyếtnhững vấn đề cụ thể trong MQH giữa nhà nước và cá nhân, như chủ quyền nhân dân,các giá trị của NNPQ, chủ nghĩa hợp hiến, QCN, QCD, xã hội dân sự, các vấn đề này

có MQH chặt chẽ và thống nhất Các nghiên cứu về mỗi vấn đề luôn có sự đan xen, hỗtrợ, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển và hướng tới mục tiêu vì sự phát triểncủa cá nhân con người Vì vậy, mỗi công trình nghiên cứu đều là tài liệu có giá trị trongviệc làm rõ cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

Nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và

cá nhân là quá trình kế thừa và phát triển liên tục trong lịch sử nhân loại Kết quả của

Trang 33

những nghiên cứu này mang lại những giá trị to lớn trong quá trình nhận thức và pháttriển cá nhân, nâng cao trình độ văn hoá, văn minh của xã hội Đồng thời, sự vận độngphát triển của cá nhân và xã hội, luôn đặt ra những vấn đề mới liên quan đến cơ chế

ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, đòi hỏi phải được nhận thức và giải quyết kịp

thời, là lý do hấp dẫn các nhà khoa học từ chủ đề này

Trong thời kỳ đổi mới, các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

nước và cá nhân ở Việt Nam đã được tiếp cận và nghiên cứu một cách có hệ thống

Nhiều kết quả của các công trình về NNPQ, chủ quyền nhân dân, QCN, QCD,…đã trởthành những định hướng, chiến lược quan trọng trong các văn kiện của Đảng và Hiếnpháp cho quá trình phát triển MQH giữa nhà nước và cá nhân Sau gần 30 năm đổimới, các điều kiện tồn tại của cá nhân và nhà nước đều có những thay đổi đáng kể Mộtcông trình nghiên cứu mang tính toàn diện về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cánhân tiếp cận dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là một bổ khuyết về

lý luận cho việc xác định định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước, pháp luật ởViệt Nam hiện nay

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÁ NHÂN

Cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân là một dạng của cơ chế ĐCPL

nói chung, vì vậy nó có các dấu hiệu cơ bản của cơ chế ĐCPL đồng thời cũng cónhững đặc điểm, nội dung và yêu cầu riêng khá phong phú, phức tạp, đòi hỏi phải có sựnghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống để làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản baogồm: khái niệm MQH giữa nhà nước và cá nhân; khái niệm, đặc điểm của cơ chế

ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân; các tiêu chí để xác định mức độ hoàn thiện của

cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân và những yếu cơ bản tác động đến cơ

chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÁ NHÂN

2.1.1 Khái niệm mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân

Nghiên cứu về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân trước hết cầnphân tích và làm rõ khái niệm MQH giữa nhà nước và cá nhân Nhà nước và cá nhân làhai hiện tượng, hai chủ thể đặc biệt, mặc dù có sự khác biệt về vị trí, vai trò, chức năng

và trách nhiệm xã hội, nhưng giữa chúng lại có MQH khách quan, gắn bó và quy địnhlẫn nhau MQH giữa nhà nước và cá nhân có nội dung phong phú, phức tạp, vì vậy đểxây dựng khái niệm về MQH giữa nhà nước và cá nhân, thì cần phân tích và làm rõmột số vấn đề về cá nhân và nhà nước: khái niệm, vai trò và tư cách của cá nhân và nhà

nước khi tham gia vào MQH này

Cá nhân là một phạm trù có nội hàm rộng, được bổ sung phong phú thêm

cùng với sự phát triển của nhận thức và sự phát triển của xã hội qua từng thời kỳ cụthể Thời kỳ cổ đại, quan niệm về cá nhân còn hết sức hạn chế Trong xã hội, người

nô lệ bị phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nô, thậm chí còn bị coi là “công cụ biết nói”,trong quan hệ với nhà nước họ dường như chưa có tư cách công dân Trong thời kỳtrung cổ, quan niệm về cá nhân đã có sự biến đổi nhất định, nhưng chủ yếu vẫn làquan niệm phục vụ cho việc bảo vệ chế độ phân biệt đẳng cấp phức tạp, bất công vàbất bình đẳng Trong xã hội phong kiến, người nông dân bị phụ thuộc rất nhiều vào

địa chủ, các tầng lớp trên và các thiết chế cộng đồng làng, xã với các thể chế hà khắc

Trang 35

và trong quan hệ với nhà nước phong kiến, họ vẫn chưa thể có được địa vị pháp lý

đầy đủ của một công dân

Đến thời kỳ Phục hưng, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và văn hóa đã tácđộng mạnh mẽ, làm thay đổi về chất các quan hệ xã hội và vị trí, vai trò của cá nhân

khi tham gia vào các quan hệ xã hội

Từ thế kỷ 18, phong trào Khai sáng xuất hiện, một trào lưu nghiên cứu khámphá về cá nhân, xã hội và nhà nước, phê phán chủ nghĩa quân chủ và sự áp chế quyềnlực của nhà nước phong kiến đã phát triển, nhiều nhà tư tưởng khai sáng đã cho rằng,

có thể áp dụng tư duy có hệ thống cho mọi lĩnh vực của hoạt động con người và đưa nóvào trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật; có thể xóa bỏ sự nghi ngờ, mê tín dị đoan và

độc tài của thời kỳ trung cổ trên cơ sở nhận thức và truyền bá những tư tưởng quanđiểm khoa học về dân chủ, tự do, công bằng, bình đẳng, đề cao quyền con người,

quyền công dân Các nhà tư tưởng như Thomas Hobbes, Jonh Locke, Rousseau…đã có

quan điểm đề cao các giá trị của con người và sức mạnh của cá nhân, cổ vũ cho việcđấu tranh chống lại chế độ chuyên chế; coi giá trị của con người là quan trọng, bất biến,

còn nhà nước, cộng đồng chính trị hạ xuống vai trò một phương tiện để bảo tồn những cái gọi là những quyền của con người đó [80, tr.347] Tuy nhiên, quan niệm này

vẫn còn nhiều hạn chế, chưa giải thích được bản chất thực sự của vấn đề cá nhân, chưathấy được mặt xã hội và sự MQH biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng xã hội

Khác với quan điểm trên, Heghen cho rằng, xã hội mới là điểm khởi đầu củacác hình thức khác nhau như: gia đình, xã hội công dân và nhà nước Heghen đã tiếpcận và giải thích về tự do của con người, tự do của cá nhân Tuy nhiên, ông chưa giải

thích được bản chất MQH giữa nhà nước với cá nhân Heghen cho rằng, nhà nước có

mục đích tự thân, nó tự mình có ý nghĩa bậc nhất tuyệt đối so với lợi ích cá nhân Cho

nên, Nhà nước có “quyền tối cao với những cá nhân riêng biệt mà nghĩa vụ tối cao là

trở thành thành viên của nhà nước” [18, tr.128].

C.Mác và Ph.Ănghen với quan điểm duy vật biện chứng, đặt khái niệm cá nhân

trong quan hệ với khái niệm chung con người, đã phát triển khái niệm cá nhân lên mộttrình độ mới Theo C.Mác, con người có tính xã hội với tất cả những nội dung văn hóa,lịch sử của nó; xem xét bản chất con người phải đặt nó trong MQH với tự nhiên và xãhội Yếu tố xã hội luôn đóng vai trò chủ đạo đối với con người trong quá trình hìnhthành bản chất và hoàn thiện nhân cách; chính con người đóng vai trò quyết định đối

Trang 36

với sự biến đổi xã hội, đồng thời xã hội là môi trường, điều kiện, phương thức để con

người tồn tại, phát triển và có được những giá trị phổ biến

Xã hội do các cá nhân hợp thành, con người tồn tại thông qua những cá nhân

người và thông qua các thiết chế xã hội Theo đó, cá nhân không chỉ là sản phẩm của

xã hội mà còn là chủ thể của sự phát triển xã hội “mỗi người là một chỉnh thể đơn nhất gồm cả một hệ thống những đặc điểm cụ thể, không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về cơ thể, tâm lý, trình độ,… Nhưng đó mới nói sự khác biệt lộ ra bên ngoài

so với những cá nhân khác, còn đi vào chiều sâu bên trong của cá nhân với toàn bộ hoạt động sống của nó người ta sử dụng thêm phạm trù nhân cách” [81, tr.264].

Mỗi cá nhân là một cá thể người tồn tại khách quan, không thể phân chia, cũngkhông thể quy người này về người kia mà là những con người duy nhất cảm giác, hành

động và suy nghĩ thực sự Cá nhân được phân biệt với nhau ở cá tính, cái đơn nhất

không lặp lại trong tâm lý hoặc sinh lý và những phẩm chất, năng lực riêng Những

phẩm chất, năng lực này được hình thành, phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh,

môi trường xã hội cụ thể Nhưng môi trường xã hội không phải là yếu tố quyết định tất

cả, mỗi người với tư cách là cá nhân với cá tính, phẩm chất và năng lực riêng có thể tựmình hành động và tự quyết Do đó, cùng một môi trường xã hội không tạo ra những

cá nhân như nhau về năng lực, phẩm chất, cá tính

Cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội do sự thúc đẩy bởi những lợi ích, nhucầu riêng, trên cơ sở có tính đến sự hài hòa với các giá trị, lợi ích chung, qua đó cá

nhân thể hiện mình như một chủ thể có “khả năng tự quyết định và sở nguyện độc lập”

[1, tr.6] trong thể hiện ý chí, nguyện vọng cụ thể Nếu ý chí, nguyện vọng của cá nhân

được xã hội ghi nhận và phản ánh một cách hợp lý trong các chủ trương, chính sách,

pháp luật thì đó sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để cá nhân phát huy năng lực,phẩm chất, cá tính của mình

Tóm lại, cá nhân vừa là cá thể người được đặc trưng bằng những cá tính, phẩm chất, năng lực, nhu cầu, lợi ích riêng, vừa là một chủ thể xã hội có sở nguyện độc lập

và khả năng tự quyết, thể hiện thành ý chí, nguyện vọng riêng, đòi hỏi được tôn trọng

và phản ánh.

Cùng với sự phát triển của xã hội, những vấn đề về dân chủ, quyền con người,quyền tự do dân chủ của cá nhân cũng được nhận thức và phát triển ngày càng toàndiện cùng với sự phát triển nhận thức về vai trò và giá trị của pháp luật, về vai trò và

Trang 37

trách nhiệm của nhà nước trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền tự dodân chủ của cá nhân, tạo ra không gian và điều kiện cho việc xác định đúng đắn MQHgiữa nhà nước và cá nhân.

Trong xã hội hiện đại, cá nhân tham gia các quan hệ xã hội với nhiều tư cách:

- Cá nhân là một con người có những phẩm chất, năng lực, cá tính với nhữnggiá trị khách quan phổ biến

- Cá nhân là công dân với những quyền và nghĩa vụ pháp lý;

- Cá nhân là thành tố hợp thành Nhân dân - Chủ thể của quyền lực xã hội vàquyền lực nhà nước;

- Cá nhân là thành viên của gia đình, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổchức xã hội, tôn giáo

Với mỗi tư cách đó, cá nhân có vị trí, vai trò, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm xãhội khác nhau Khi tham gia vào các MQH với nhà nước, cá nhân có thể tham gia với

tư cách độc lập, nhưng trong nhiều trường hợp cá nhân có thể tham gia vào MQH vớinhà nước với nhiều tư cách như: tư cách cá nhân con người và tư cách công dân, tư

cách thành viên của một tổ chức xã hội với tư cách công dân Nhưng dù với tư cáchnào, dù trực tiếp hay gián tiếp thì MQH giữa nhà nước và cá nhân đều xuất phát từnhững nhu cầu khách quan, phổ biến và tương tác: cá nhân cần đến sự hiện diện của

nhà nước, mong muốn nhà nước phát huy vai trò quản lý, bảo hộ, bảo vệ các quyền và

lợi ích của mình, cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, đồng thời mỗi cá nhân có nghĩa

vụ tương ứng đối với nhà nước Ngược lại, nhà nước cần đến sự đồng tình, ủng hộ và

sự đóng góp của mỗi cá nhân, có quyền yêu cầu các cá nhân phải phục tùng và chịu sựquản lý của nhà nước, phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đồngthời nhà nước có nghĩa vụ phải phục vụ cá nhân và xã hội Nội hàm của luận điểm nàythể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, vì vậy nhà nước có

sứ mệnh và chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội Mọi chủ thể: cá nhân, tập thể,

tổ chức đều là đối tượng quản lý của nhà nước Vì vậy, cá nhân dù xuất hiện với tưcách nào thì trực tiếp hay gián tiếp cũng đều là đối tượng quản lý của nhà nước Ví dụ,với tư cách là một cá thể người, mỗi cá nhân có những phẩm chất, năng lực, cá tínhriêng và có những quyền thiêng liêng của con người, nhưng để tham gia vào các MQH

xã hội thì mỗi cá nhân đều phải nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, bối cảnh, điều kiện

Trang 38

và yêu cầu của xã hội để có hành vi ứng xử phù hợp trên cơ sở tôn trọng những chuẩnmức chung, được xác định trong các quy phạm xã hội, phong tục, tập quán và phải phùhợp với các nguyên tắc, QPPL do nhà nước ban hành; các quyền con người của cánhân chỉ có tính hiện thực khi nó được nhà nước ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp vàpháp luật Với tư cách là thành viên của một tổ chức xã hội, nghề nghiệp hay một tôngiáo nhất định, mỗi cá nhân phải tôn trọng, thực hiện điều lệ của tổ chức mình, các tín

điều của tôn giáo mình, nhưng trước hết họ phải thể hiện mình là một công dân, thực

hiện quyền và làm nghĩa vụ của một công dân theo quy định của Hiến pháp và phápluật nói chung đồng thời cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật

về hội và pháp luật về tôn giáo Trong tổ chức và hoạt động, các tổ chức xã hội, nghềnghiệp, các tổ chức tôn giáo cũng đều phải chịu sự quản lý của nhà nước và sự điềuchỉnh của pháp luật

Thứ hai, sự ra đời và tồn tại của nhà nước xuất phát từ nhu cầu khách quan của

xã hội, là kết quả của một khế ước xã hội và trở thành công cụ để thực hiện quyền lựccông cộng, để xác lập và bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ những giá trị chung của xã hội

như: an ninh, an toàn, tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng, nhân đạo, phát triển; bảo

vệ quyền và lợi ích của cá nhân, nhà nước và xã hội, bảo đảm QCN, QCD, bảo đảmcho các chủ thể trong xã hội có thể chủ động tham gia vào các quan hệ xã hội và thựchiện được mục đích đặt ra Thực tiễn đã cho thấy, chỉ có nhà nước mới có đủ các điềukiện để thực hiện những chức năng và trách nhiệm xã hội nói trên, vì vị trí, vai trò và vịthế của nhà nước là: nhà nước là đại diện chính thức của toàn bộ dân cư, là tổ chứcrộng lớn nhất trong xã hội được tổ chức theo nguyên tắc lãnh thổ, có thẩm quyền vàtrách nhiệm quản lý tất cả mọi chủ thể trong phạm vi lãnh thổ của mình; nhà nước cóchủ quyền tối cao (chủ quyền quốc gia) trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại, có

bộ máy quyền lực và có sức mạnh hùng hậu để bảo đảm thực hiện quyền lực và bảo vệchế độ nhà nước; nhà nước có pháp luật, công cụ có hiệu lực nhất để thiết lập trật tự kỷ

cương, quản lý mọi mặt đời sống xã hội; nhà nước có đủ điều kiện và sức mạnh vật

chất để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị, quản lý đất nước và xã hội; đồng thời

nhà nước còn có thể bảo trợ cho các tổ chức xã hội để thực hiện các hoạt động của

mình Đó cũng chính là lý do cho sự chính danh của nhà nước, lý do mà các cá nhân, tổchức đều cần đến nhà nước

Trang 39

Tuy nhiên, toàn bộ vị thế, sức mạnh và điều kiện đó của nhà nước đều có nguồngốc từ nhân dân, đều do các chủ thể trong xã hội, trong đó từng cá nhân tạo ra và nuôi

dưỡng, thông qua cơ chế ủy quyền, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình tổ

chức bộ máy nhà nước và nộp thuế để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vì vậy cùng với

sự chính danh, tính hợp pháp, quyền lực mạnh mẽ và sức mạnh vật chất, thì nhà nước

có nghĩa vụ và trách nhiệm phải phục vụ xã hội và cá nhân

Thứ ba, nhà nước là thiết chế duy nhất có quyền ban hành pháp luật, phương

tiện đặc biệt quan trọng để thể hiện ý chí chung của xã hội, phản ánh những nhu cầu

khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công lý, ghi nhận và bảo vệ những giá trị và

các quyền con người, quy định những quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ

xã hội, tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm cho mỗi cá nhân và chủ thể có thể chủ động thamgia vào các quan hệ xã hội một cách tự do, dân chủ, an toàn và bình đẳng Đây là mộttrong những yếu tố quan trọng bảo đảm cho mỗi cá nhân có cơ hội chủ động tham giavào các quan hệ xã hội, thể hiện và phát huy các phẩm chất, năng lực và cá tính củamình một cách toàn diện, tự do, dân chủ, phù hợp với yêu cầu chuẩn mực chung thểhiện trình độ văn minh và văn hóa của xã hội hiện đại

Như vậy, những phân tích trên cho thấy, nhà nước và cá nhân là hai hiện tượng,

hai chủ thể đặc biệt, mặc dù có sự khác biệt về vị trí, vai trò, chức năng và trách nhiệm

xã hội, nhưng giữa chúng lại có MQH khách quan, gắn bó và quy định lẫn nhau Trong

đó, nhà nước là đại diện chính thức của xã hội và cá nhân dù xuất hiện với tư cách nào,

thì trực tiếp hay gián tiếp đều là đối tượng quản lý của nhà nước, làm cho MQH này cónội dung phong phú và đa dạng Khi các tư cách của cá nhân được thừa nhận và tôntrọng, tư cách cá nhân con người, cá nhân công dân được bổ sung bởi chủ quyền tốicao của nhân dân, ý chí chung của các tổ chức, thiết chế xã hội, mỗi cá nhân trở lênbình đẳng hơn trong MQH với nhà nước Nhưng nếu chủ quyền tối cao của nhân dân

không được tôn trọng, các tổ chức, thiết chế xã hội phát triển “đơn điệu”, do những can

thiệp thiếu khách quan từ phía nhà nước, cá nhân sẽ trở nên “yếu thế” trong MQH với

nhà nước

Từ đó, có thể định nghĩa MQH giữa nhà nước và cá nhân là MQH có tính khách quan, có nội dung phong phú, đa dạng thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ của nhà nước và cá nhân; MQH giữa nhà nước và cá nhân phản ánh sự tương tác mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau giữa nhà nước và cá nhân, được xác lập chủ yếu dưới hình thức các quan hệ pháp luật.

Trang 40

2.1.2 Đặc điểm mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân

Từ những phân tích trên cho thấy, MQH giữa nhà nước và cá nhân có những

đặc điểm cơ bản sau:

m ột cách khách quan trong quá trình phát triển của xã hội

Như đã phân tích ở trên, sự phát triển của nhận thức con người về tự nhiên, xã

hội và về bản thân mình là một quá trình; quan niệm về phạm trù cá nhân, về bản chất,

vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội cũng là một quá trình trải qua nhiều giai đoạnkhác nhau từ hạn chế, phiến diện đến ngày càng toàn diện và đầy đủ hơn với nhiều

quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau Việc xác định đúng bản chất, đặc điểm

của MQH giữa nhà nước và cá nhân lại càng là vấn đề khó khăn, phức tạp, thậm chí có

quan điểm cho rằng, "Lịch sử tư tưởng chính trị, pháp lý có thể được coi là lịch sử đấu

tranh tư tưởng giữa các quan niệm bảo thủ, lạc hậu trong việc xác định bản chất MQH giữa cá nhân và nhà nước" [46, tr.42].

Tuy nhiên, cho đến nay về cơ bản các quan điểm ở những mức độ khác nhauđều cho rằng, nhà nước xuất hiện, tồn tại và phát triển theo những quy luật vận động

khách quan của xã hội, dưới sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế, xã hội, giaicấp và văn hóa Lịch sử đã cho thấy, nhu cầu khách quan của mỗi người là được hòanhập vào cộng đồng, tham gia vào các hoạt động, các MQH chung của cộng đồng, vìvậy họ đã tập hợp liên kết với nhau thành những cộng đồng, giai cấp, tầng lớp và nhóm

xã hội khác nhau Do sự khác nhau về tư tưởng, lợi ích, ý chí và mục đích hoạt động,cách nhìn nhận và giải quyết các vấn đề, dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột trong xãhội và đến một giai đoạn nhất định, trở thành mâu thuẫn xã hội gay gắt Nguy cơ mất

an ninh, an toàn của xã hội và tự do của cá nhân ngày càng lớn và trở nên khó kiểm

soát, đòi hỏi xã hội phải được tổ chức ở trình độ cao hơn, phải có một tổ chức có đủ

sức mạnh “một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu sự xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” Và lực lượng đó, nảy sinh từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày càng xa rời xã hội, chính là Nhà nước” [83,

tr.260-261] Tức là, xã hội cần tới quyền lực chung, một thứ quyền lực nhân danh xã

hội để bảo vệ các giá trị gắn liền với sự tồn tại của cá nhân Như vậy, “không phải con người thích quyền lực, mà quyền lực là nhu cầu của con người trong xã hội: nhu cầu

Ngày đăng: 02/04/2017, 17:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm