MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được coi là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đưa nước ta trở thành một nước tiên tiến nhanh chóng hoà nhập vào dòng tiến hoá chung của nhân loại, chúng ta chỉ có một con đường là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Đảng ra cũng xác định rằng để thực hiện được những mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, không chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm như trước đây mà cần phải phát huy hoạt động trí tuệ và tài năng sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân. Đội ngũ trí thức là đại biểu tập trung cho trí tuệ dân tộc. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta thì trí thức tham gia trực tiếp và chủ yếu vào nâng cao dân trí, là bộ phận nguồn lực khoa học kỹ thuật, trí thức góp phần lớn lao vào việc phát triển lực lượng sản xuất. Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên không phải mọi cấp, mọi người dân hay một bộ phận không nhỏ trí thức chưa nhận thức được đầy đủ và sâu sắc vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Đây là một thực trạng đã và đang tồn tại ở nước ta. Vì vậy, để làm rõ hơn vai trò của đội ngũ trí thức là một nhân tố cơ bản trong việc thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, em xin chọn đề tài “Đội ngũ trí thức Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được coi
là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủnghĩa của nhân dân ta Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở
ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Để đưa nước ta trở thành một nước tiên tiến nhanh chóng hoànhập vào dòng tiến hoá chung của nhân loại, chúng ta chỉ có một conđường là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa Đảng ra cũng xácđịnh rằng để thực hiện được những mục tiêu của sự nghiệp đổi mới,không chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm như trước đây mà cần phảiphát huy hoạt động trí tuệ và tài năng sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân
Đội ngũ trí thức là đại biểu tập trung cho trí tuệ dân tộc Trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta thì trí thức tham giatrực tiếp và chủ yếu vào nâng cao dân trí, là bộ phận nguồn lực khoahọc kỹ thuật, trí thức góp phần lớn lao vào việc phát triển lực lượng sảnxuất
Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thứctrong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiênkhông phải mọi cấp, mọi người dân hay một bộ phận không nhỏ trí thứcchưa nhận thức được đầy đủ và sâu sắc vai trò của đội ngũ trí thứctrong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Đây là một thực trạng đã vàđang tồn tại ở nước ta
Vì vậy, để làm rõ hơn vai trò của đội ngũ trí thức là một nhân tố
cơ bản trong việc thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nước, em xin chọn đề tài “Đội ngũ trí thức Việt Nam với sự nghiệp
Trang 2công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tầm quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước đã thu hút sự quan tâm của cácnhà khoa học, lý luận, các học giả ở nước ta
Đã có những công trình liên quan đến đề tài này được công bố
- Đỗ Mười, Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và xâydựng đất nước Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995
- Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam tiến và triển vọng, NxbChính trị Quốc gia Hà Nội, 1995
- Phan Thanh Khôi, Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo
ở nước ta hiện nay, Luận án PTS triết học, Hà Nội, 1992
- Nguyễn Thanh Tuấn : Đặc điểm và vai trò của đội ngũ trí thứctrong sự nghiệp đổi mới đất nước, Luận án PTS triết học, Hà Nội, 1995
- Ngô Đình Xây, Những yêu cầu đối với trí thức trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hóa Tạp chí Cộng sản số 27-2002
- Phan Tất Dong, Xu thế phát triển của đội ngũ trí thức, Tạp chíTriết học số 10-1998
-Ngô Thị Phượng, Vai trò của tầng lớp trí thức Việt Nam trong sựnghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước, Luận án Ths Triết học ,
Hà Nội 1997
- Nguyễn Đắc Hưng, Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triểnđất nước, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005
Trang 3-Nguyễn Quốc Bảo, Đảng Cộng sản cầm quyền và vấn đề trí thứctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận án PTS Lịch sử, HàNội, 2005
-Nguyễn Văn Khánh, Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong
sự nghiệp gải phóng và xây dựng đất nước, NXB Thông tấn, Hà Nội,2004
3 Mục đích và nhiệm vụ của khoá luận
+ Mục đích:Xác định rõ vai trò của đội ngũ trí thức Việt Namtrong sự ngiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Từ đó đề xuátmột số giải pháp để đội ngũ này thực hiện rõ vai trò của mình
+ Nhiệm vụ:
-Làm rõ khái niệm trí thức
-Phân tích thực trạng của đội ngũ trí thức Việt Nam
-Làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hóa đất nước
+ Đề xuất một số giải pháp để đội ngũ trí thức nước ta thực hiệntốt vai trò của mình
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
+ Khoá luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Khoá luận đã sử dụng và tham khảo số sách, báo, bài viết, luận
án về vấn đề trí thức
+ Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khoá luận là: phân tíchtổng hợp, quy nạp và diễn dịch, đi từ trừu tượng đến cụ thể
Trang 45 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khoá luận
- Góp phần nhỏ vào nghiên cứu trí thức, vai trò của đội ngũ tríthức Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn, từ những điểm rút ra trong khoá luận có thểgóp phần nhận thức một cách rõ nét hơn vai trò của đội ngũ trí thứctrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
6 Kết cấu
Luận văn ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệutham khảo, nội dung chính gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1.TRÍ THỨC VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM 1.1.Trí thức với sự phát triển của xã hội
1.1.1 Vài nét khái quát về phạm trù trí thức
Tầng lớp trí thức là đại biểu cho trí tuệ của cả dân tộc Trongphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thìnhưng trí thức tiến bộ những nhà lý luận của giai cấp vô sản đã gópphần thức tỉnh quần chúng nhân dân giác ngộ về lý tưởng cách mạng.Trong xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa trí thức thamgia trực tiếp và chủ yếu vào nâng cao dân trí Và quan trọng hơn là tríthức tham gia vào việc phát triển lực lượng sản xuất khoa học côngnghệ Do vậy V.I.Lênin đa từng nói " không có sự chỉ đạo của cácchuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và có kinh nghiệm,thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được vì chủ nghĩa xãhội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đitìm một năng xuất lao dộng cao hơn năng suất lao động của chủ nghĩa
tư bản trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được"[16,
tr 217]
Trong tất cả các chế độ xã hội trí thức đều cơ bản phục vụ chogiai cấp thống trị, chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị TheoV.I.Lênin “Trí thức không hợp thành một giai cấp độc lập về kinh tế”
mà là một tầng lớp xã hội xuất thần từ nhiều giai cấp V.I.Lênin “Tríthức được gọi là trí thức chính nhưng nó phản ánh và thể hiện sự pháttriển của các lợi ích giai cấp và các nhóm phản chính trị trong toàn bộ
xã hội một cách có ý thức hơn cả, kiên quyết hơn cả, chính xác hơn cả”[14,tr 416]
Trang 6Như vậy chúng ta có thể hiểu trí thứ không phải là một giai cấp
mà là một tầng lớp đặc biệt trong xã hội Từ vị trí của mình trong phâncông lao động xã hội, trí thức không có quan hệ riêng với tư liệu sảnxuất -cái dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt giai cấp, do đó không
có thể đại biểu cho phương thức sản xuất nào cả, cũng không cóhệ tưtưởng độc lộc Cho nên trí thức phải luôn gắn bó với một tầng lớp nhấtđịnh Tầng lớp trí thức có thể tự giác hoặc không tự giác phục vụ chochế độ và giai cấp thống trị Quá trình đấu tranh giai cấp tác động vềnhiều mặt về lợi ích đã làm cho tầng lớp trí thức phân hoá thành nhưng
bộ phận khác nhau Nhưng bộ phận khác nhau đó sẽ ngả theo lực lượngnày hay lực lượng khác, giai cấp này hay giai cấp khác Tính giai cấpcủa tầng lớp trí thức phụ thuộc vào giai cấp mà nó phục vụ, giai cấp đãsinh ra nó và truyền sức mạnh cho nó Lênin luôn phê phán những ai coitrí thức là "siêu giai cấp " hoặc đứng trên giai cấp Ngưòi nói "Nếu khôngnhập cục với một giai cấp thì thì giới trí thức chỉ là một con số không màthôi" [12,tr 552]
Như vậy khi phân tích các luận điểm về khái niệm trí thức ở nước
ta, chúng ta cần phải vận dụng định nghĩa của V.I Lênin về giai cấp,
để tiếp cận đúng đắn phạm trù trí thức V.I.Lênin “gọi là các giai cấp,những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họtrong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau
về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họtrong tổ chức lao động xã hội Và như vậy là khác nhau về cách hưởngthụ và về phần của cải xã hội, ít hay nhiều mà họ được hưởng” (17,tr.17-18)
Tầng lớp trí thức khác với những người lao động chân tay trướchết chính là ở chỗ phân công lao động xã hội quy định Sự phân công
Trang 7lao động xã hội quy định sự hình thành và phát triển của tầng lớp tríthức Vì vậy trí thức không chỉ là một phạm trù xã hội mà còn là mộtphạm trù lịch sử Trên cơ sở của sự phân công lao động (phân công laođộng vật chất, phân công lao động tinh thần) đã làm cho sự phân cônglao động trên các lĩnh vực hoạt động sản xuất và tinh thần được tăngcường, năng xuất lao động ngày càng cao hơn, lực lượng sản xuất ngàycàng phát triển, mở rộng việc trao đổi Như vậy trí thức là kết quả vàsản phẩm của quá trình phân công lao động vật chất và tinh thần tức là
sự phân chia lao động trí óc và lao động chân tay Sự phân công laođộng đó như Mác-Anghen đã chỉ rõ sẽ dẫn tới phạm vi hoạt động "độcchuyên" của "mỗi người trong xã hội và người đó phải nhận thấy vàkhông thể thoát được"[25,tr 43]
Như vậy trí thức nói riêng hay tầng lớp trí thức nói chung trongphân công lao động xã hội đó chính là vị trí của những người hoạtđộng trên lĩnh vực "lao động tinh thần " khác với đại đa số quần chúngnhân dân lao động chân tay trên lĩnh vực "sản xuất vật chất " Chínhxuất phát từ vị trí do phân công lao động xã hội quy định mà chức nănglao động xã hội quy định trí thức khác với người lao động chân tay Do
đó cũng đòi hỏi người trí thức phỉ có trình độ học vấn chuyên môn caomới thực hiện được chức năng vai trò của họ trong phân công lao động
xã hội
Ở đây đặc biệt phải chú ý đến tiêu chuẩn đầu tiên là vị trí của mỗigiai cấp, tầng lớp xã hội trong hệ thống sản xuất xã hội Các tính chấtnhư mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất Vai trò trong tổ chức lao động
xã hội và cách thức hưởng thụ đều là tiền đề quy định vị trí của các giaicấp hay tầng lớp xã hội trong nền tảng của xã hội
Trang 8Vai trò của trí thức là sản xuất, truyền bá ứng dụng tri thức khoahọc (chứ không phải là tri thức kinh nghiệm hay tri thức thông thường).
Từ bản chất xã hội đặc thù này mà trí thức luôn tồn tại và phát triểnnhư một tầng lớp xã hội độc lập tương đối trong một chế độ xã hội
Như vậy từ những điều rút ra được từ các quan niệm trên, chúng
ta có thể hiểu về phạm trù trí thức là:
Những người sản xuất, truyền bá ứng dụng tri thức khoa học (chứkhông phải tri thức kinh nghiệm hay tri thức thường ngày) trong hệthống sản xuất xã hội Do khoa học - công nghệ trở thành một yếu tốđộc lập và xuất hiện ở tất cả các yếu tố khác nhau của lực lượng sảnxuất xã hội và do hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm hàng hóa và trongcông tác lãnh đạo, quản lý ngày càng cao cho nên trí thức có quan hệgián tiếp và cả trực tiếp đối với tư liệu sản xuất Quá trình xích lại gầnnhau và phân hóa xã hội trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ không dẫnđến chỗ đồng nhất xã hội thành một bên là những người lao động trí óc,một bên là những người lao động chân tay Quá trình này sẽ càng ngàycàng làm đa dạng hóa cơ cấu xã hội trong đó có đội ngũ trí thức Tínhđặc thù của đội ngũ trí thức là ở chỗ các nhóm xã hội của nó gắn bókhăng khít với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác Bởi vì, ở mọi lĩnhvực sản xuất đều có hoạt động truyền bá, ứng dụng tri thức khoa học.Đội ngũ trí thức có 6 chức năng xã hội là: nhận thức khoa học (lý luận),
dự báo khoa học; ứng dụng tri thức khoa học và triển khai công nghệvào thực tiễn; giáo dục và đào tạo; chăm sóc y tế, chấn hưng văn hóa,tạo lập cơ sở lý luận và giải pháp công nghệ cho công tác lãnh đạo vàquản lý
Do đó có thể hiểu trí thức là một tầng lớp xã hội đặc thù, độc lậptương đối, chuyên làm các nghề lao động trí óc phức tạp và sáng tạo và
Trang 9có học vấn chuyên môn cần thiết cho lĩnh vực lao động đó Nếu hoạtđộng trong lĩnh vực đòi hỏi trình độ cao đẳng hay đại học thì đó khôngphải là đặc trưng duy nhất của tầng lớp này vì trong các giai cấp vàtầng lớp xã hội khác cũng có nhiều người có trình độ học vấn đó Đặctrưng quyết định nhất của tầng lớp trí thức là sáng tạo khoa học vànghệ thuật Trong quá trình lao động họ phải chủ quan hóa khách quan
và khách quan hóa chủ quan để tạo ra sự chuyển hóa tri thức khoa học
từ lượng thành chất và ngược lại nhằm khám phá, nhận thức ngày càngrộng và sâu hơn các quy luật tự nhiên và xã hội và bản thân con người
Do không phải tất cả lao động đều nắm được kiến thức chuyên môn mộtcách có hệ thống, nhất là ở các chuyên ngành khoa học hiện đại, cũngnhư không phải ai cũng nắm được đặc trưng cơ bản của phương phápnghiên cứu khoa học, sáng tạo văn chương, nghệ thuật cho nên trí thức
là một tầng lớp xã hội cần thiết cho mọi chế độ xã hội và độc lập tươngđối trong mọi thời đại
Tóm lại có thể hiểu trí thức là một tầng lớp xã hội đặc thù, độclộc tương đối, chuyên làm các công việc có tính chất lao động trí ócphức tạp và sáng tạo, có trính độ, học vấn chuyên môn cần thiết cholĩnh vực lao động đó Đặc trưng nổi bật của trí thức là sáng tạo truyền
bá khoa học nghệ thuật trên cơ sở quan niệm triết học riêng với kiếnthức có hệ thống và phương pháp lao động sáng tạo
1.1.2 Vai trò của trí thức với sự phát triển của xã hội
Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao vai trò của trí thức đối với sựphát triển của xã hội loài người, thông qua cống hiến sáng tạo của họtrong các lĩnh vực của đời sống xã hội Vai trò của họ thể hiện trước hếtthông qua vai trò của những tư tưởng, đặc biệt là những tư tưởng triếthọc Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, sự thống trị của
Trang 10giai cấp bóc lột không chỉ bằng sự chiếm hữu của cải hàng hoá tiền tệ,
nô lệ mà còn cả sức mạnh tinh thần Giai cấp thống trị độc quyền đã lợidụng chủ nghĩa duy tâm tôn giáo làm công cụ áp bức tinh thần Các nhàtriết học cổ đại đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên, sự cống hiếncủa họ đã góp phần làm cho nền văn minh thế giới thêm rực rỡ và pháttriển Nhiều nhà trí thức đã anh dũng hy sinh trên dàn lửa hoả thiêu,trước toà án giáo hội để đấu tranh cho chân lý, cho tiến bộ xã hội, chokhoa học trong đêm trường trung cổ Họ đã góp phần làm chôn vùi thời
kỳ trung cổ bạo tàn, tạo nên sự đảo lộn tiến bộ mà trước đó nhân loạichưa từng trải qua Ở thời kỳ Khai sáng những nhà triết học duy vật đãchuẩn bị cho tư tưởng, cho cuộc cách mạng Tư sản thế kỷ XVIII Trong
xã hội hiện đại, V.I Lênin đã chỉ rõ: “Công nhân trước đây không có ýthức dân chủ xã hội được ý thức này chỉ có thể từ bên ngoài đưa vào.Lịch sử tất cả các nước chứng thực rằng chỉ do lực lượng của độc bảnthân mình thôi, thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liênchủ nghĩa Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phải sinh ra từ lý luậntriết học lịch sử, kinh tế do những người có học thức trong giai cấp hữusản, những trí thức xây dựng nên” [13,tr 38]
Bản thân những tư tưởng trên, những tư tưởng tiến tiến không thểđánh bại sự thống trị, nhưng nó trở thành vũ khí tinh thần không thểthiếu được của giai cấp vô sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch
sử của mình Trong quá trình vận động cách mạng xã hội, trí thức tiêntiến đã đưa những tư tưởng cách mạng tiên tiến vào phong trào cáchmạng của quần chúng vào tham gia tích cực góp phần tạo nên nhữngthắng lợi của cách mạng xã hội
Vai trò của những người trí thức không chỉ thể hiện ở những việcsáng tạo những tư tưởng nói trên mà còn thể hiện rất rõ trên các lĩnh
Trang 11vực lao động tinh thần nói chung Vai trò của họ được thực hiện trêncác lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật… họ đãgóp phần mở mang trí tuệ, giải phóng loài người khỏi sự áp bức tinhthần mang lại cho con người những tư tưởng tình cảm cao đẹp, làm chođời sống tinh thần của con người thêm phong phú, lành mạnh, thôngqua lao động sáng tạo trên các lĩnh vực hoạt động của họ.
Vị trí của người trí thức, do phân công lao động xã hội hoạt độngtrên lĩnh vực sản xuất tinh thần Nhưng nói như vậy không có nghĩa làtrí thức không có vai trò trên lĩnh vực sản xuất vật chất Đánh giá vaitrò của trí thức trong việc phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tưbản V.I Lênin nói: “ Không có những người này thì sản xuất tư bảnhiện đại là điều không thể có được” [15,tr 162]
Đóng góp rõ nhất của trí thức là thông qua cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật đi kèm với nó là cuộc cách mạng lực lượng sản xuất Vaitrò của các nhà trí thức khoa học kỹ thuật trong việc sáng tạo ra công cụmới ngày càng hoàn thiện hơn để nâng cao năng suất lao động xã hội.Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, vai trò của những trí thức, tổ chức,quản lý, điều khiển cũng không thể phủ nhận được Họ đã góp phần cho
sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và như Mác - Ănghen đã chỉrõ: “do có những lực lượng sản xuất mới loài người đã thay đổi phươngthức sản xuất của mình… loài người thay đổi tất cả các mối quan hệ củamình” [22,tr 380]
Tri thức là một kết quả của tiến bộ xã hội, mặt khác, sự phát triểncủa trí thức đã góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, góp phần giải phóngcon người khỏi sự chi phối của những lực lượng tự phát trong tự nhiên
và trong xã hội Điều kiện đầu tiên và cũng là tiền đề quan trọng đốivới sự xuất hiện của tầng lớp trí thức là sản phẩm của sự phân công lao
Trang 12động trong xã hội do nhu cầu xã hội quyết định Hoạt động của tầng lớptrí thức luôn luôn góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội một cách trực tiếphoặc gián tiếp thông qua 6 chức năng xã hội sau:
"Sản xuất những tri thức khoa học, trong đó phải kể đến những tưtưởng triết học tiên tiến, nhất là triết học duy vật biện chứng, để nhânloại nhận thức ngày càng đúng hơn các quy luật tự nhiên, xã hội, tư duy
và chính con người như một nhân cách Dự báo khoa học Hoạt độngứng dụng tri thức khoa học nhằm biến khoa học thành lực lượng sảnxuất trực tiếp trong quá trình phát triển không ngừng của lực lượng sảnxuất xã hội Hoạt động giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng trí lực, chăm sóc
và bồi dưỡng thế lực cho nhân dân Kế thừa, tích lũy và phát triển cácgiá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật v.v… của dân tộc và nhân loại đểngày càng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Góp phần vào sựlãnh đạo quản lý xã hội, kinh tế bằng tri thức khoa học và côngnghệ"[2,tr 35,36]
Từ khi hình thành nền văn minh loài người cho đến nay phảikhẳng định rằng những tri thức khoa học do những người trí thức sảnxuất cùng với kho tàng rộng lớn những tri thức kinh nghiệm, tri thứcthường ngày của các tầng lớp nhân dân lao động khác nhau đã được vậtchất hóa thành những công cụ sản xuất phục vụ đời sống con người.Công nghệ sản xuất ngày càng hiện đại cùng những công trình kiến trúc
và cơ sở hạ tầng để con người tác động và cải tạo thế giới tự nhiên Nhờ
đó, lực lượng sản xuất phát triển hơn, năng suất lao động cao hơn, sựphân công lao động xã hội sâu sắc hơn Kết quả tất yếu của sự pháttriển ấy là sự chuyển biến của xã hội lên một trình độ cao hơn Song vaitrò của trí thức đối với tiến bộ xã hội không chỉ thể hiện trong lĩnh vựcsáng tạo ra của cải vật chất, mà còn cả trong lĩnh vực đời sống tinh
Trang 13thần Mặc dù trong các xã hội có áp bức, bóc lột, giai cấp thống trịthường lợi dụng khoa học, nghệ thuật để áp bức nhân dân về mặt tinhthần, nhưng cũng không cản được sự phát triển của khoa học kỹ thuật,văn hóa, giáo dục theo hướng dân chủ và nhân đạo Những tri thức nàygóp phần tích cực vào việc xua tan bức màn tăm tối về trí tuệ, khắcphục tình trạng dốt nát và bệnh tật Văn hóa, khoa học và nghệ thuậtthông qua những phương tiện thông tin đại chúng ngày càng hiện đại đãgiúp con người mở mang trí tuệ, giao lưu văn hóa và hấp thụ những tinhhoa của nền văn minh nhân loại Trí thức khoa học và nghệ thuật mangnội dung tiến bộ, tình cảm cao đẹp đã góp phần làm cho đời sống tinhthần của nhân dân ngày càng thêm phong phú Những tư tưởng nhânvăn, tiến bộ không phải là kết quả tư duy tư biện của các trí thức tiêntiến, mà là sự phản ánh khách quan đời sống xã hội hiện thực Chúngtạo ra cơ sở nhận thức mới, những quan điểm mới trong quá trình cảitạo và phát triển không ngừng thế giới tự nhiên, xã hội và cả bản thâncon người Tất cả những cái đó khẳng định vai trò to lớn của trí thức,các đại biểu sáng tạo của loài người đối với tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên trong sự phát triển của xã hội không phải lúc nào tríthức cũng thực hiện được đầy đủ các chức năng xã hội của mình Tầnglớp trí thức thường bị phân hóa và không thể không phụ thuộc vào giaicấp thống trị ở mức độ này hay mức độ khác Trong những trường hợp
ấy, giai cấp thống trị phản động và bảo thủ thường lợi dụng một bộphận trí thức cùng tri thức khoa học, nghệ thuật kìm hãm và chống lại
sự tiến bộ của xã hội Như vậy, tiến bộ xã hội là quá trình phức tạp đầymâu thuẫn Sự tiến bộ xã hội không theo đường thẳng mà là qua đấutranh của các mặt đối lập, đấu tranh của các khuynh hướng khác nhau,trong đó mặt tiến bộ này trải qua quá trình lịch sử lại trở thành thoái bộ,làm tiền đề để cho một xu hướng tiến bộ mới ra đời và phát triển
Trang 14Với quan niệm như vậy về tiến bộ xã hội, thì động lực đấu tranhgiai cấp và sự lôi kéo tầng lớp trí thức về chiến tuyến này hoặc chiếntuyến kia chỉ là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn giữa hai mặt lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa khoa học, nghệ thuật vớichính trị, giưa văn hó và phản văn hóa, v.v… C Mác đã từng lưu ýkhông nên hiểu khái niệm tiến bộ xã hội với một sự trừu tượng hóa tầmthường Do đó, lý giải vai trò của trí thức đối với tiến bộ xã hội phảiđược quan niệm như một quy luật khách quan xuất phát từ tồn tại xãhội, từ sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập của lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất, giữa kinh tế, chính trị, khoa học, tôn giáo, v.v…
Ngày nay, khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
hệ thống các ngành khoa học đã phát triển và càng ngày trở thành mộtchỉnh thể thống nhất, có liên quan hỗ trợ cho nhau thì vai trò của tríthức đều được thể hiện lên một cách gián tiếp hay trực tiếp trong mọilĩnh vực sản xuất vật chất và đời sống xã hội Nhờ đó trí thức góp phầnthúc đẩy xã hội tiến bộ hơn, nhằm đạt tới mục đích cuối cùng của cuộcđấu tranh giai cấp đó là: Thủ tiêu hoàn toàn và vĩnh viễn mọi sự bóc lột
và áp bức.Thực hiện giải phóng giai cấp,giải phóng cá nhân và xã hội,xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
1.2 Thực trạng Đội ngũ trí thức Việt Nam
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam
Đội ngũ trí thức Việt Nam ra đời và phát triển luôn gắn bó vớinhững bước phát triển của dân tộc trong lịch sử Lòng yêu nước, tríthông minh, cần cù ham học hỏi là truyền thống quý báu của dân tộcViệt Nam được gìn giữ từ thế hệ này qua thế hệ khác Truyền thống ấyđược thể hiện rất rõ trong những người trí thức Việt Nam Trong thời
kỳ của chế độ phong kiến, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của một nền
Trang 15giáo dục từ bên ngoài, song một bộ phận không nhỏ trí thức Việt Namkhông hoàn toàn trung thành với giai cấp thống trị, mà đứng về phíanhân dân lao động, đem trí tuệ, tài năng phục vụ cho lợi ích của nhândân và dân tộc Trí thức Việt Nam có truyền thống yêu nước, gắn bóvới sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Đội ngũ trí thức Việt Nam thực sự ra đời là từ triều đại nhàLý(1010-1125) Vào năm 1070 vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựngVăn Miếu, đến năm 1075 đã mở khoa thi đầu tiên ở Thănng Long, đếnnăm 1076 thì cho xây dựng Quốc Tử Giám -trường đại học đầu tiên củanước ta Kể từ đó trí thức Việt nam phát triển nhanh cả về số lượngcũng như chất lượng Đã xuất hiện nhiều nhà trí thức, tài cao học rộng,yêu nước đã biết đem tài năng trí tuệ ra phục vụ cho lợi ích của nhândân và dân tộc như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn, NguyễnDu Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão(1075) đến năm Kỷ Mùi (1919)nền giáo dục khoa bảng của nước ta đã đầo tạo ra gần 3000 người đỗđại khoa (Từ phó bảng, bảng nhãn, thám hoa, trạng nguyên) Con sốnày đã thể hiện truyền thống hiếu học và nguồn trí tuệ của dân tộc ViệtNam
Khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta cùng với chính sáchkhai thác thuộc địa chúng đã thực hiện chính sách giáo dục của mìnhvời mục đích nền giáo dục phục vụ đắc lực cho công cuộc khai tháctriệt để thuộc địa Thực dân Pháp đã cho xây dựng nhiều trường đạihọc, cao đẳng cùng với sự cải cách về giáo dục.mục đích của chúng làmuốn tạo ra được một đội ngũ trí thức tuyệt đối chung thành phục vụcho Pháp để bóc lột nước ta một cách tối đa nhất
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 khi nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời chúng ta đã xây dựng một nền giáo dục mới đó là tích
Trang 16cực thu hút những trí thức yêu nước và bắt đầu đào tạo những trí thứcmới Đã xuất hiện nhiều trí thức được đào tạo baì bản ở nước ngoàigiàu yêu nước trong thời kỳ này như: Trần Đại Nghĩa, Tôn ThấtTùng, Đến năm 1954 sau hiệp định Giơnevơ hoà bình đã được lập lại ởmiền Bắc nước ta trí thức mới có điều kiện được đào tạo rộng rãi, đặcbiệt là được đào tạo ở Liên Xô và các nước Đông Âu Từ đó chúng ta
đã có một đội ngũ trí thức tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng,đáp ứng yêu cầu cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngày nay, khi đất nước đã thống nhất, cả nước bước vào thời kỳhoà bình xây dựng xã hội mới, trí thức Việt Nam tiếp tục kề vai sátcánh với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc Những thành tựu trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong hai mươi năm đổi mới đất nước đãchứng minh sự đóng góp vô cùng to lớn của đội ngũ trí thức nước ta.Đúng như nhận định của nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Đỗ Mười: “Trí thức Việt Nam giàu lòng yêu nước, gắn bó với nhân dân,chịu đựng gian khổ, hy sinh, đã góp phần xứng đáng cùng toàn dângiành thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh lâu dài vì độc lập dântộc,vì tự do hạnh phúc của nhân dân"[29,tr 148] Đội ngũ trí thức nước
ta có tiềm năng trí tụê to lớn, thông minh và ham hiểu biết, rất nhậycảm với cái mới, với xu thế thời cuộc, có khả năng nhanh chóng tiếpcận trình độ tiên tiến của khoa học - công nghệ, và văn hoá thế giới
1.2.2 Thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam
Nguồn đào tạo trí thức nước ta hiện nay rất đa dạng, phong phú:phần lớn trí thức nước ta được đào tạo từ các trường cao đẳng, đại họctrong nước theo nhiều loại hình khác nhau (quốc lập, dân lập, bán công,đại học mở, đại học tại chức…) Ngoài ra, còn một bộ phận trí thức
Trang 17được đào tạo từ nước ngoài Bộ phận này có xu hướng ngày càng tănglên do đường lối mở cửa của Đảng và Nhà nước ta Cùng với sự pháttriển của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, trí thức nước tangày càng tăng lên về số lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xãhội.
Theo con số điều tra, tính đến tháng 12 năm 2000 Việt Nam cókhoảng 1,3 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng, 10.000 thạc sĩ,12.081 tiến sĩ, 610 tiến sĩ khoa học Bình quân ở nước ta có 190 cán bộkhoa học trên 10.000 dân Theo số liệu điều tra dân số năm 1999 chothấy tuổi bình quân của cán bộ có trình độ cao đẳng là 38,2 tuổi, đạihọc là 40,9 tuổi, thạc sĩ là 42,6 tuổi, tiến sĩ là 52,5 tuổi Số cán bộ khoahọc công nghệ ở dưới tuổi 25 chỉ có 9,06% Trong khi đó số cán bộ này
ở tuổi trên 55 chiếm 53,55% Trong số 53 dân tộc thiểu số đến nay vẫncòn có 9 dân tộc chưa có người đạt trình độ Cao đẳng, đại học, 50 dântộc chưa có cán bộ sau đại học[8,tr 140,141] Những năm gần đây xuthế phát triển cán bộ khoa học đang chuyển biến theo hướng tích cựchơn những năm trước vào những năm cuối thế kỷ 20, một số ngànhkhoa học công nghệ được đào tạo nhưng như công nghệ thông tin, bưuchính viễn thông, du lịch, quản trị kinh doanh… Việc mở rộng cácngành đào tạo đã tạo ra sự thay đổi cơ cấu và diện mạo của đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ ở nước ta Trong 23 ngành đào tạo ở nước tathì ngành giáo dục vẫn giữ vị trí số 1, chiếm 34,6%, ngành kinh doanh
và quản lý chiếm 19,3%, ngành kỹ thuật chiếm 8,1%, ngành nông - lâm
- ngư nghiệp chiếm 4,41%, ngành chế tạo, chế biến chiếm 0,53%.[8,tr141]
Trang 18Những con số thống kê trên cho thấy sự mất cân đối về sự phân
bố cán bộ khoa học kỹ thuật trong tổng thể cán bộ khoa học ở cácngành trong nước
Qua điều tra 8965 tiến sĩ trong toàn quốc cho thấy cơ cấu tiến sĩđược phân bố theo các ngành học như sau:
1.Khoa học tự nhiên : 1.424 chiếm 15,9%
2 Kỹ thuật : 1.317 chiếm 14,7%
3 Kinh doanh và quản lý : 922 chiếm 10,3%
4 Nhân viên: 913 chiếm 10,2%
5 Sức khoẻ: 753 chiếm 8,4%
6 Nông, lâm nghiệp, thủy sản: 683 chiếm 7,6%
7 Khoa học sự sống: 631 chiếm 7,0%
8 Khoa học xã hội và hành vi: 538 chiếm 6,0%
9 Toán và thống kê : 516 chiếm 5,8%
10 Xây dựng và kiến trúc: 353 chiếm 3,9%
11 Khoa học giáo dục và đào tạo: 207 chiếm 3,3% [8,tr153]
Trí thức nước ta ngày càng đông đảo về số lượng, nhưng lại có sựmất cân đối về cơ cấu
-Xét theo lĩnh vực lao động thì cơ cấu trí thức có sự mất cân đốigiữa khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hành chính sự nghiệp (tríthức trong khu vực sản xuất kinh doanh chiếm 32,7%; còn trí thức trong
cơ quan hành chính sự nghiệp tổ chức Đảng, đoàn thể, hiệp hội chiếm67,3% [9 , tr.97]
Đáng chú ý nữa là tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học sovới lao động nói chung cũng như có sư bất hợp lý giữa khu vực hànhchính sự nghiệp và đơn vị sản xuất kinh doanh:
Trang 19Khu vực hành chính sự nghiệp là 27,5%
Khu vực sản xuất kinh doanh 3,7%
Các cơ quan kinh tế cá thể 0,5%
Các doanh nghiệp Nhà nước 9,5%
Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài 11,1%
Các doanh nghiệp chỉ có vốn trong nước 8,6% [9, tr.98]
Nếu như xét theo cơ cấu vùng lãnh thổ thì cơ cấu đội ngũ trí thức
có sự mất cân đối giữa thành thị và nông thôn: đại bộ phận trí thức cótrình độ cao tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố HồChí Minh, Hải phòng, … Nơi có nhiều viện nghiên cứu, nhiều trườngĐại học, nhiều doanh nghiệp lớn, nhiều cơ sở liên doanh với nướcngoài, đó là nơi có nhu cầu sử dụng trí thức và có điều kiện làm việc tốthơn, thu nhập cao hơn, có đời sống vật chất và tinh thần phong phúhơn
Nếu xét theo độ tuổi, thì bộ phận trí thức đầu đàn, chuyên gia củanước ta đang có hiện tượng “lão hoá” Xét về lứa tuổi và giới tính, thìhiện nay thì "số cán bộ có học vị Tiến sĩ và Phó tiến sĩ dưới 30 tuổichiếm 2%, dưới 40 tuổi chiếm 20%, từ 41đến 50 tuổi chiếm 70%, trên
50 tuổi chiếm 8,5% Đặc biệt số tiến sĩ ở độ tuổi trên 50 chiếm66%"[8,tr145-148] Với cơ cấu tuổi này đội ngũ cán bộ không có hiệntượng hụt hẫng giữa các thế hệ mà có sự hình thành kế tiếp lẫn nhau
Có thể thấy số cán bộ dưới độ tuổi 30 chiếm tỷ lệ tương đối ít Điều đóphản ánh sự bão hòa việc làm trong các lĩnh vực khoa học, công nghệgiáo dục đào tạo Phụ nữ chiếm hơn 37 % tổng số những người có trình
độ cao đẳng, đại học trở lên Ở đây có thể có sai sót trong tính toán sốliệu, song vấn đề cơ bản là tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trênđại học có dấu hiệu giám sút, tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo các ngành quá
Trang 20thấp, một số ngành có rất đông lao động nữ nhưng tỷ lệ cán bộ khoahọc kỹ thuật lại quá ít, ví dụ như cán bộ kỹ thuật nông - lâm nghiệp, tỷ
lệ nữ chuyên gia có trình độ cao rất thấp khoảng 15% Nguyên nhân là
do chị em còn bị hạn chế nhiều do khó khăn về giới tính, về đời sốnggia đình hàng ngày
Như vậy, việc phân tích đặc điểm lứa tuổi và giới tính cho phépđánh giá đúng được thực trạng của giới trí thức vì các chỉ số đó phảnánh cơ cấu và tính chất tự nhiên của đội ngũ này Ngày nay, sự chuyểnđổi cơ chế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường đã làm biến đổi
cơ cấu tự nhiên của đội ngũ trí thức và không phải gây ra những hụthẫng về thế hệ, sự bất lợi cho nữ giới trong hoạt động khoa học kỹthuật
Như vậy, từ nhiều góc độ khác nhau chúng ta thấy cơ cấu đội ngũtrí thức đều có sự bất cập Điều này đòi hỏi trong những năm tới chúng
ta phải có sự điều chỉnh, khắc phục điều chỉnh hợp lý nhằm làm cho tríthức đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá hiệnđại hoá
Về chất lượng, đội ngũ trí thức nước ta hiện nay còn nhiều hạnchế Cho đến nay, trong đội ngũ trí thức nước ta có rất nhiều gương mặtđiển hình, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước Song nhìn tổngthể, thì trình độ chuyên môn và học vấn của trí thức nước ta còn nhiềuhạn chế Có thể nói đa số trí thức nước ta ngày nay được đào tạo theo
cơ chế tập trung, bao cấp, phục vụ cho nên kinh tế kế hoạch hoá tậptrung, nên trình độ chuyên môn rất hẹp, thiếu trình độ kiến thức chung.Trình độ ngoại ngữ và tin học của trí thức còn hạn chế, không đáp ứngyêu cầu mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế Trí thức nước ta chưa cónhiều cơ hội và điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của các
Trang 21nước phát triển, nên thiếu kiến thức sâu ở nhiều lĩnh vực khoa học vàcông nghệ hiện đại.
Chúng ta đang thiếu những người có chuyên môn và học vấn cao,đặc biệt chuyên gia về công nghệ, đội ngũ trí thức nước ta chỉ có 1,2%người có trình độ sau đại học (trong khi đó ở nhiều nước phát triển tỷ lệnày là 25 đến 30%) Điều này gây khó khăn lớn đối với việc thực hiệnnhiệm vụ của trí thức trong giai đoạn cách mạng mới Nhiều trí thức vàcác cơ quan khoa học đã nhanh chóng thích ứng được với bước chuyểnđổi của đất nước sang một nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trườngcũng như sự nghiệp đổi mới nói chung, nhưng vẫn còn một số chưathoát khỏi được ỷ lại, vẫn thiếu năng động, chậm đổi mới về tổ chức,…mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng đến một bộ phận trí thức,đưa đến các biểu hiện tiêu cực, thực dụng tiếp tay cho các hiện tượngsản xuất phi pháp (làm hàng giả, trốn thuế, cạnh tranh thiếu lànhmạnh…), lãng phí và cả tham nhũng
Hiện nay, đội ngũ chuyên gia của nước ta trên nhiều lĩnh vực cònthiếu và yếu, trong một số lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản lý kinh
tế vĩ mô, mộ số lĩnh vực khoa học công nghệ cao chưa có cán bộ đầungành tầm cỡ khu vực Vì vậy, trong thời gian tới cần tập trung đào tạomột số chuyên gia trên một số lĩnh vực công nghệ cao Trước mắt,chuẩn bị đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có nhiều triển vọng để đào tạo,bồi dưỡng trở thành những chuyên gia ở một số lĩnh vực khoa học côngnghệ mũi nhọn mang tính chiến lược lâu dài, như: công nghệ thông tin,công nghệ sinh học, công nghệ nanô, công nghệ vật liệu mới, tự độnghóa, nghiên cứu hải dương học, hóa dầu…
Ở nước ta hiện nay, hiện tượng “lãng phí chất xám” diễn ra khánghiêm trọng, nó được thể hiện qua nhiều hiện tượng trí thức bỏ nghề,
Trang 22làm trái ngành nghề được đào tạo, không có đủ hoặc không đủ việc làm,sinh viên ra trường không có việc làm Sự lãng phí này không chỉ làlãng phí trong đào tạo một người trí thức mà còn là lãng phí trình độhọc vấn, chuyên môn, kinh nghiệm đã tích lũy trong công tác Sự lãngphí chất xám còn thể hiện ở sử dụng sản phẩm trí tuệ Nhiều đề tàinghiên cứu không thành công đã gây thiệt hại rất lớn cho đất nước.
Hiện tượng “chảy máu chất xám” cũng rất đáng lo ngại, đó làhiện tượng chuyển dịch địa điểm lao động của trí thức, thay đổi vị tríđầu tư chất xám một cách tự phát gây cản trở cho sự phát triển và kếhoạch chung của toàn bộ xã hội Ở Việt Nam hiện tượng "chảy máuchất xám" diễn ra ở khu vực kinh tế quốc doanh đến tổ chức sản xuất tưnhân từ các trường đại học, cao đẳng đến các đơn vị kinh tế tư nhân, từnông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi Trong đó chảy máuchất xám đáng lo ngại hơn cả là chảy ra nước ngoài, có thể bằng conđường hợp pháp hoặc không hợp pháp dưới nhiều hình thức
Như vậy, những hạn chế về số lượng cơ cấu trình độ hoặc nhữngmặt trái của trí thức là những cản trở trong việc thực hiện vai trò của tríthức nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.Chính sách đối với trí thức trong thời gian qua cũng chưa hợp lý Việcthực hiện chủ trương chính sách đối với trí thức cũng chưa hợp lý, cònnhiều thiếu sót và khuyết điểm làm hạn chế tài năng, sáng tạo của tríthức nước ta
Do vậy, để bước vào thời kỳ mới: công nghiệp hoá, hiện đại hóađất nước, đẩy mạnh nền kinh tế trí thức, Đảng và Nhà nước cần cónhững biện pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế và thiếu sót củađội ngũ trí thức, tạo điều kiện để trí thức phát huy những khả năng sángtạo của mình để phục vụ cho Tổ quốc
Trang 23CHƯƠNG 2.VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
ĐẤT NƯỚC 2.1 Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam và những yêu cầu đặt ra cho đội ngũ trí thức
2.1.1 Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội,Đảng vàNhà nước ta luôn xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụtrung tâm của thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtcho chủ nghĩa xã hội.Vậy công nghiệp hoá hiện đại hoá là gì?
Công nghiệp hoá là quá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp
dựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công mang tính hiện vật, tự cấp tự túcthành nền kinh tế công nghiệp thị trường Đây chính là một quá trìnhxây dựng một xã hội dựa trên một nền văn minh công nghiệp Cải biến
kỹ thuật, tạo dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại ( khía cạnh vậtchất kỹ thuật ) và khía cạnh phát triển nền kinh tế thị trường (khía cạnh
cơ chế thể chế) là hai mặt của một quá trình công nghiệp duy nhất
Công nghiệp hoá còn là quá trình chuyển biến căn bản trình độ kỹ
thuật của nền kinh tế từ trình độ thủ công chuyển sang trình độ cơ khí,biến nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp Côngnghiệp hoá chính là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại tạolập nền tảng vật chất kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của phương thức sảnxuất mới
Như vậy xét tổng thể Công nghiệp hoá là một quá trình cải biến
toàn diện nền kinh tế Một mặt đây là quá trình thay thế phương thúcsản xuất dựa vào kỹ tuật thủ công, mặt khác còn là quá trình cải biến
Trang 24các phương thức sản xuất tiền tư bản thay thế bằng các phương thức sảnxuất dựa trên nguyên tắc thể chế mới - nguyên tắc thị trường.
Hiện đại hoá là đưa những yếu tố, những công nghệ mới hiện đại
vào sản xuất Hoặc có thể hiểu là quá trình công nghiệp sử dụng nhữngyếu tố của công nghệ thuộc thế hệ mới nhất hoặc không xa thế hệ mớinhất là bao nhiêu vào quá trình sản xuất
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế từ một nền kinh tế trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷtrọng ngày càng lớn Riêng trong công nghiệp thì chuyển từ côngnghiệp khai thác sang chế biến Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là mộtchiến lược phát triển nền kinh tế xã hội trong một thời gian dài Côngnghiệp hoá, hiện đại hoá phải được hiểu như một chiến lược phát triển
có phương hướng mục đích của nền kinh tế
Công nghiệp hoá còn là quá trình cải biến lao động thủ công lạchậu thành lao động sử dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để đạt đượcnăng xuất lao động cao Như vậy mục tiêu chính của công nghiệp hoá,hiện đại hoá là tăng năng xuất lao động xã hội-cái quyết định cho sự tồntại xã hội Bàn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Hội nghị lần thứ bảyBan Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã khẳng định:"Côngnghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện cáchoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sửdụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sứclao động cùng với công nghệ, phương tiện cùng với phương pháp tiêntiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoahọc công nghệ, tạo ra năng xuất lao động cao"[4,tr65] Như vậy thựcchất công nghiệp hoá là sự phát triển công nghệ, là quá trình chuyểnnền sản xuất xã hội (công nghiệp , nông nghiệp dịch vụ ) từ trình độ
Trang 25công nghệ thấp lên trình độ công nghệ cao, hiện đại Lực lượng laođộng sẽ chuyển dịch thích ứng về cơ cấu ngành nghề, và trình độ taynghề học vấn
2.1.2 Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Đối với nước ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa xãhội Đảng ta đã xác định "đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xâydựng nềnkinh tế độc lộc tự chủ, đưa nuớc ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên pháttriển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo địnhướng xã hội chủ nghĩa " [ 7,tr 24]
Hệ thống quan điểm chỉ đạo việc triển khai công nghiệp hoá, hiệnđại hóa đất nước được xác định như sau:
-Công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa.-Công nghiệp hoá, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, củamọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước là chủ đạo, được vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
-Khoa học, công nghệ là nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đạihóa Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ
đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định
-Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh vàbền vững Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước Tăngcường kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóagiáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
Trong toàn bộ sự nghiệp công nghiệp hoá, khái niệm trung tâm làcông nghệ mới Do vậy, bàn đến công nghiệp hoá, trước hết, người tahiểu rằng, công nghiệp hoá là quá trình trang bị hoặc trang bị lại côngnghệ mới cho các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là đối với cácngành then chốt Yêu cầu làm chủ công nghệ mới, nhất là công nghệ
Trang 26cao, là hết sức bức thiết Việc nhập công nghệ mới, làm chủ nó là biếncông nghệ mới thành của mình đòi hỏi cần đến trình độ trí tuuệ cao củangười lao động Do vậy, lực lượng đi đầu trong việc tiếp cận với côngnghệ mới nắm chắc nó, sử dụng nó phải là những nhà khoa học côngnghệ - những trí thức Khi khoa học và công nghệ trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp thì trí thức là lực lượng sản xuất có vai trò nòng cốttrước yêu cầu nhập công nghệ mới, chuyển giao công nghệ đó chocông, nông.
Công nghiệp hoá là quá trình làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế của
xã hội Tỷ trọng GDP trong nông nghiệp sẽ giảm xuống, tỷ trọng trongcông nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên Sự chuyển đổi này sẽ dẫn theo hiệntượng cấu trúc lại lực lượng lao động trong xã hội Sẽ có hàng chụctriệu nông dân chuyển sang lao động công nghiệp; số nông dân còn lại
sẽ trở thành những công nhân nông nghiệp hoặc những lao động nôngnghiệp được đào tạo chuyên môn cao dần, nắm trong tay những côngnghệ mới Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là một quá trình đẩymạnh sự phát triển trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, chứ nó không chỉđơn thuần bao hàm quá trình kinh tế - kỹ thuật Sự phát triển các lĩnhvực kinh tế - xã hội ở đây chủ yếu là quá trình đẩy mạnh các hoạt độngnhằm nâng cao chất lượng dân số và cải thiện đời sống nhân dân, mởrộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài trên cơ sởkhông ngừng nâng cao dân trí, nâng dần mức hưởng thụ văn hoá chongười lao động v.v… Công nghiệp hoá là một quá trình mở cửa để chủđộng hội nhập với thế giới hiện đại, giao lưu với các nền văn minh trênthế giới, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại Đó là quá trìnhnâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân Ban chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam lần thứ hai (khoá VIII) đã ra Nghị quyết số02-NQ/HNTW “về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công
Trang 27nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm2000” Nghị quyết đã khẳng định đến năm 2020 phải phấn đấu xâydựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Để đạt mục tiêu này,cần phải quán triệt những quan điểm sau đây:
-Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vàokhoa học, công nghệ Đảng và Nhà nước có chính sách đầu tư khuyếnkhích, hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ
-Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải phát huynăng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hớp với tiếp thu thànhtựu khoa học và công nghệ thế giới
-Xây dựng đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xãhội, có ý chí và hoài bão lớn, quyết tâm đưa Việt Nam trở thành nướccông nghiệp như mục tiêu về công nghiệp hoá, hiện đại hóa mà Đảng đãnêu trong Nghị quyết
Về mô hình công nghiệp hoá ở nước ta, quan điểm của Đảng nhưsau: Đảng ta chủ trương không lặp lại những mô hình công nghiệp hoá
cổ điển, mà tự tìm lấy một mô hình phù hợp với hoàn cảnh đất nước vàđiều kiện thế giới ngày nay Để làm được việc ấy, giáo dục và khoa họcphải tạo ra những con người đủ kiến thức và năng lực lựa chọn, thíchnghi và sáng tạo công nghệ mới và hiện đại hoá những công nghệtruyền thống, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiềusản phẩm với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầutrong nước và xuất khẩu
2.1.3 Đặc điểm của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta trong thời kỳ hiện nay
Trong thời kỳ hiện nay đặc điểm của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là "Tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị
Trang 28trường định hưóng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá gắn liền với kinh tế tri thức "[ 1,tr 4-5]
Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa điều cần thiết trước hết là phải nắm vững định hướng xã hội chủnghĩa trong nền kinh tế của nước ta Đó là mục tiêu thực hiện "dân giàunước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh"giải phóng sức xảnxuất, năng cao đời sống nhân dân Phát triển nền kinh tế nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước nắmvai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể trở thành nềntảng vững chức của nền kinh tế quốc dân Thực hiện tiến bộ công bằng
xã hội, hoàn thiện chế đọ phân phối theo lao động, hiệu quả kinh tếđồng thời theo mức đóng góp vốn Phát huy vai trò làm chủ xã hội củanhân dân, đảm bảo vai trò quản lý điều tiết của nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Đảng và nhà nước ta đã xác định phải tiến hành đồng thời cả bamặt:
+Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước Nhà nướclàm tốt các vai trò chức năng định hướng bằng các chiến lược và sáchlược, quy hoạch và chính ách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc củanền kinh tế thị trường Tạo môi trường pháp lý lành mạnh để phát huycác nguồn lực của xã hội cho sự phát triển Bảo đảm tính tích cực tínhbền vững của nền kinh tế tránh tói đa sự can thiệp hành chính vào hoạtđộng của thị trường và doanh nghiệp
+Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loạithị trưòng cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh cung với sự pháttriển mạnh thị trường hàng hoá, dịch vụ và thị trường lao động, cần
Trang 29phát triển vững chắc thị trường tài chính, phát triển thị trưòng khoa học
và công nghệ
+Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chứcsản xuất và kinh doanh Các thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tậpthể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài đều là bộ phận hợp thành của nền kinh tế định hướng xãhôi chủ nghĩa
Trong cả ba mặt này vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam phảiđóng vai trò là động lực, đi đầu trong nghiên cứu ứng dụng các tiến bộkhoa học công nghệ cũng như tham mưu cho Đảng trong việc xây dựng
hệ thống lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xẫ hội
Đẩy mạnh công nghiệp hoá gắn liền với kinh tế tri thức Chúng taphải tranh thủ các cơ hộ thuận lợi do bối cảnh quôc tế tạo ra và tiềmnăng và lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với nềnkinh tế tri thức Phát triển kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nềnkinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá Phát triển mạnh các ngành kinh
tế, các sản phảm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa vào tri thức
Đảng và nhà nước đã chủ trương"đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nôngnghiệp, nông thôn và nông dân "[1,tr 4]chúng ta phải phát triển toàndiện nông nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tếnông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn liềnvới công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khíhoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệsinh học vào sản xuất, nâng cao năng xuát chất lượng và sức cạnhtranh Chúng ta phải khẩn trương xâydựng các quy hoạch phát triển
Trang 30nông thôn, thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới Phát huy dânchủ ở nông thôn đi dôi với với nâng cao dân trí, chuyển dịch cơ cấu laođộng ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ lệ lao động làm nôngnghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ.
Trong việc "phát triển công nghiệp xây dựng và dịch vụ" Đảng
và Nhà nước ta khuyến khích phát triển các nghành công nghệ cao,công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mền và công nghiệp bổ trợ cólợi thế cạnh tranh tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút niều laođộng Phát triển và mở rộng các khu công nghiệp và chế xuất Khuyếnkhích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia các nganh côngnghiệp sản xuấ hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Sản xút tư liệu sảnxuất theo hương hiện đại, ưu tiên th hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế
và các công ty đa quốc gia Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoàinước đâù tư và phát triển một số dư án quan trọng tạo tiền đề xây dựngkết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
Chúng ta chủ trương " phát triển kinh tế vùng"[ 1,tr 5] thông quacác chính sách phù hợp tạo điều kiện cho các vùng trong cả nước cùngphát triển đồng thời tạo ra sự liên kết trong các vùng miền,"phát triểnkinh tế biển"[1,tr 5] theo chiến lược toàn diện."Phát triển khoa học vàcông nghệ "ở nước ta phải phù hợp với xu hướng phát triển nhảy vọtcủa cách mạng khoa học công nghệ thế giới Cố gắng đi ngay vào côngnghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và tưng bước mở rộng
ra toàn bộ nền kinh tế Việc tìm kiếm mô hình đã khó, nhưng việc giảiquyết những vấn đề chung cho các mô hình công nghiệp hoá lại càngkhó, đòi hỏi phải có trình độ trí tuệ của thời đại mới có thể giải quyếtđược
Trang 312.1.4 Những yêu cầu đặt ra cho đội ngũ trí thức
Ở nước ta, trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc vôcùng quan trọng, là lượng cơ bản hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệphoá hiện đại hoá đất nước Để đáp ứng nhưng nhu cầu của công nghiệphoá hiện đại hoá, đội ngũ trí thức Việt Nam cần có những năng lực vàphẩm chất chủ yếu sau: nghiên cứu và nắm vững chủ nghĩa Mác -Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận, kim chỉ nam cho hoạt độngcủa mình Người trí thức rất cần có thế giới quan và phương pháp luậnđúng đắn khoa học, cách mạng Chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng HồChí Minh là hệ thống khoa học định hướng chuẩn xác cho quá trình tưduy, hoạt động khoa học sáng tạo của người trí thức Hơn nữa chúng tađang xây dựng đất nước theo con người đường xã hội chủ nghĩa Độingũ trí thức nước ta cũng như những giai cấp tầng lớp khác hoạt độngtheo sự chi phối của cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nghiên cứu khoa học cũng phải làm luân cứ cho việc hoạch địnhchính sách của Đảng và Nhà nước Nghiên cứu phải hướng vào nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn dự báo các xu thế phát triển,cung cấp luân
cứ cho việc hoạch định đường lối, chính sách, chủ trương phát triểnkinh nghiệm tế xã hội
Đội ngũ các nhà khoa học ở nước ta còn thiếu và chưa đủ sứcvươn tới toàn bộ hệ tri thứcc của nhân loại Điều kiện vật chất -kinh tế
xã hội nhất là trình độ tổ chức khoa học ở nước ta còn hạn hẹp chưatạo ra môi trường đồng đều cho các hướng nghiên cứu khoa học Chính
vì vậy chúng ta phải đi thẳng vào công nghệ hiên đại đối với các ngànhmũi nhọn
Trí thức phải là người có trình độ chuyên môn giỏi kết hợp vớikhả năng tổ chức, quản lý sử dụng nhưng kết quả nghiên cứu vào thực