Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 1. Lí do chọn đề tài .....................................................................................................1 2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................................4 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ........................................................................4 4. Giả thuyết khoa học ................................................................................................5 5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................................5 6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu..................................................................................5 7. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................6 8. Cấu trúc luận văn ....................................................................................................7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CỦA TRƢỞNG BỘ MÔN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN ...................................................................................................8 1.1. Sơ lược tổng quan nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học ..............................8 1.1.1. Trên thế giới ......................................................................................................8 1.1.2. Ở Việt Nam .......................................................................................................9 1.2. Một số khái niệm cơ bản ....................................................................................11 1.2.1. Quản lí.............................................................................................................11 1.2.2. Quản lí giáo dục ..............................................................................................13 1.2.3. Quản lí Trung tâm GDTX ...............................................................................14 1.3. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX .....................................22 1.3.1. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ...................................................................22 1.3.2. Đặc trưng của hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX............23 1.3.3. Bản chất của hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX .............24 1.4. Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX ...............26 1.4.1. Biện pháp quản lí hoạt động dạy học..............................................................26 1.4.2. Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở Trung tâm GDTX......................................................................................................27 Tiểu kết chương 1.....................................................................................................37 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮLuận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 4 VĂN CỦA TRƢỞNG BỘ MÔN Ở MỘT SỐ TRUNG TÂM GDTX TỈNH HẢI DƢƠNG....................................................................................................................38 2.1. Vài nét về Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương ...................................................38 2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của tỉnh Hải Dương............38 2.1.2. Vài nét về Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương ................................................39 2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương.................................................................................................................42 2.2.1. Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương.................................................................................................................42 2.2.2. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương: ......................................................................48 2.3. Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương: ......................................................................49 2.3.1. Thực trạng quản lí hoạt động dạy Ngữ văn của trưởng bộ môn. ....................49 2.3.2. Thực trạng quản lí hoạt động học của học sinh. .............................................50 2.3.3. Thực trạng quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Ngữ văn. .........................52 2.4. Thực trạng biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương.....................................................54 2.4.1. Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương ....................54 2.4.2. Kết quả thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương....................................55 2.4.3. So sánh mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện các biện pháp. ..........................................................................................................................65 2.5. Đánh giá thực trạng............................................................................................67 2.5.1. Mặt mạnh và tồn tại.........................................................................................67 2.5.2. Nguyên nhân ...................................................................................................68 Tiểu kết chương 2......................................................................................................70 Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CỦA TRƢỞNG BỘ MÔN Ở MỘT SỐ TRUNG TÂM GDTX TỈNH HẢI DƢƠNG....................................................................................................................71Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 5 3.1. Các nguyên tắc định hướng đề xuất biện pháp quản lí ......................................71 3.1.1. Nguyên tắc quán triệt định hướng phát triển ngành học GDTX tỉnh Hải Dương..71 3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi ....................................................................72 3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn .................................................................72 3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa....................................................................72 3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ ..................................................................72 3.2. Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương.....................................................73 3.2.1. Biện pháp 1: Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên theo yêu cầu đổi mới giáo dục.......................................................73 3.2.2. Biện pháp 2: Đổi mới công tác kế hoạch hóa hoạt động của tổ bộ môn và hoạt động của giáo viên ....................................................................................................75 3.2.3. Biện pháp 3: Tăng cường việc thực hiện quy chế chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn .............................................................................78 3.2.4. Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn phù hợp với đặc trưng bộ môn .............................................................................................................81 3.2.5. Biện pháp 5: Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh ....................................................85 3.2.6. Biện pháp 6: Chỉ đạo sử dụng hiệu quả trang thiết bị dạy học môn Ngữ văn 88 3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp: .......................................................................91 3.4. Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất ...93 3.4.1. Mục đích của khảo nghiệm .............................................................................93 3.4.2. Đối tượng khảo nghiệm: .................................................................................94 3.4.3. Nội dung, kết quả khảo nghiệm ......................................................................94 Tiểu kết chương 3......................................................................................................99 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.......................................................................100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................103 PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 1a. Kết quả hai mặt giáo dục của học viên ( năm học 2012-2013) .................40 Bảng 1b. Xếp loại học viên giỏi môn Ngữ văn và Toán (năm học 2012-2013).......40 Bảng 1.c. Tổng số giáo viên theo các môn học.........................................................41Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 6 Bảng 1.d. Số liệu đội ngũ giáo viên Văn ..................................................................41 Bảng 2.1. Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của môn Ngữ văn...........42 Bảng 2.2. Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của môn Ngữ văn.................43 Bảng 2.3. Kết quả xếp loại Hội giảng tỉnh hai môn Ngữ văn và Toán (2012-2013) của các Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương ......................................................44 Bảng 2.4. Thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên...........................................46 Bảng 2.5. Thực trạng sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học. .....................47 Bảng 2.6. Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn .................49 Bảng 2.7. Quản lí hoạt động học Ngữ văn của học sinh...........................................51 Bảng 2.8. Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Ngữ văn ....................................53 Bảng 2.9. Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn......................................................................54 Bảng 2.10. Mức độ thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn.....................................................................................55 Bảng 2.11. Hiệu quả thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn.....................................................................................56 Bảng 2.12. Biện pháp quản lí thực hiện quy chế chuyên môn..................................57 Bảng 2.13. Biện pháp quản lí việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. ..........59 Bảng 2.14. Biện pháp quản lí việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn của giáo viên ...................................................................................................................60 Bảng 2.15. Biện pháp quản lí việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. ...............................................................................................61 Bảng 2.16. Biện pháp quản lí đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của giáo viên. ..................................................................................................................63 Bảng 2.17. Biện pháp quản lí đổi mới tổ chức các hoạt động ngoại khóa................64 Bảng 2.18. So sánh mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện các biện pháp ..........................................................................................................65 Bảng 3.1. Nội dung, kết quả khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất .......................95 Bảng 3.2. So sánh tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ..........................97 Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Luận văn Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương
Trang 1Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới cô giáo PGS
TS Đỗ Thị Hạnh Phúc, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình chỉ bảo
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập ở trường
Xin cảm ơn Ban Giám đốc, các tổ chuyên môn, cán bộ, giáo viên và học sinh của các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã nhiệt tình cung cấp
số liệu, đóng góp ý kiến và tư vấn khoa học cho tôi trong việc thực hiện luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo và các đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Trịnh Thị Kim Dung
Trang 2BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo CBQL Cán bộ quản lí
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa CSVC Cơ sở vật chất
TBM Trưởng bộ môn TBDH Thiết bị dạy học TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
TCM Tổ chuyên môn THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông
Trang 3
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CỦA TRƯỞNG BỘ MÔN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 8
1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học 8
1.1.1 Trên thế giới 8
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lí 11
1.2.2 Quản lí giáo dục 13
1.2.3 Quản lí Trung tâm GDTX 14
1.3 Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX 22
1.3.1 Hoạt động dạy học môn Ngữ văn 22
1.3.2 Đặc trưng của hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX 23
1.3.3 Bản chất của hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX 24
1.4 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX 26
1.4.1 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học 26
1.4.2 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở Trung tâm GDTX 27
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ THỰC
Trang 4DƯƠNG 38
2.1 Vài nét về Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 38
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của tỉnh Hải Dương 38
2.1.2 Vài nét về Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 39
2.2 Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 42
2.2.1 Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 42
2.2.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương: 48
2.3 Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương: 49
2.3.1 Thực trạng quản lí hoạt động dạy Ngữ văn của trưởng bộ môn 49
2.3.2 Thực trạng quản lí hoạt động học của học sinh 50
2.3.3 Thực trạng quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Ngữ văn 52
2.4 Thực trạng biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 54
2.4.1 Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 54
2.4.2 Kết quả thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 55
2.4.3 So sánh mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện các biện pháp 65
2.5 Đánh giá thực trạng 67
2.5.1 Mặt mạnh và tồn tại 67
2.5.2 Nguyên nhân 68
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CỦA TRƯỞNG BỘ MÔN Ở MỘT SỐ TRUNG TÂM GDTX TỈNH HẢI DƯƠNG 71
Trang 53.1.1 Nguyên tắc quán triệt định hướng phát triển ngành học GDTX tỉnh Hải Dương 71
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 72
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 72
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 72
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 73
3.2.1 Biện pháp 1: Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên theo yêu cầu đổi mới giáo dục 73
3.2.2 Biện pháp 2: Đổi mới công tác kế hoạch hóa hoạt động của tổ bộ môn và hoạt động của giáo viên 75
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường việc thực hiện quy chế chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn 78
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn phù hợp với đặc trưng bộ môn 81
3.2.5 Biện pháp 5: Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh 85
3.2.6 Biện pháp 6: Chỉ đạo sử dụng hiệu quả trang thiết bị dạy học môn Ngữ văn 88 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp: 91
3.4 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất 93
3.4.1 Mục đích của khảo nghiệm 93
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm: 94
3.4.3 Nội dung, kết quả khảo nghiệm 94
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 1a Kết quả hai mặt giáo dục của học viên ( năm học 2012-2013) 40
Bảng 1b Xếp loại học viên giỏi môn Ngữ văn và Toán (năm học 2012-2013) 40
Bảng 1.c Tổng số giáo viên theo các môn học 41
Trang 6Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của môn Ngữ văn 42
Bảng 2.2 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của môn Ngữ văn 43
Bảng 2.3 Kết quả xếp loại Hội giảng tỉnh hai môn Ngữ văn và Toán (2012-2013) của các Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 44
Bảng 2.4 Thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên 46
Bảng 2.5 Thực trạng sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học 47
Bảng 2.6 Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn 49
Bảng 2.7 Quản lí hoạt động học Ngữ văn của học sinh 51
Bảng 2.8 Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Ngữ văn 53
Bảng 2.9 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn 54
Bảng 2.10 Mức độ thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn 55
Bảng 2.11 Hiệu quả thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn 56
Bảng 2.12 Biện pháp quản lí thực hiện quy chế chuyên môn 57
Bảng 2.13 Biện pháp quản lí việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học 59
Bảng 2.14 Biện pháp quản lí việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn của giáo viên 60
Bảng 2.15 Biện pháp quản lí việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 61
Bảng 2.16 Biện pháp quản lí đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của giáo viên 63
Bảng 2.17 Biện pháp quản lí đổi mới tổ chức các hoạt động ngoại khóa 64
Bảng 2.18 So sánh mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện các biện pháp 65
Bảng 3.1 Nội dung, kết quả khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất 95
Bảng 3.2 So sánh tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 97
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ 2.1 So sánh mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện 66
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91
Biểu đồ 3.1 So sánh tính cần thiết và tính khả thi giữa các biện pháp 98
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ cơ sở lí luận
Đất nước ta đang tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Điều đó đặt nền kinh tế xã hội nói chung, sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng trước những thời cơ và thách thức mới Nhận thức sâu sắc chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của Đảng ta trong thời kì đổi mới: "Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội"
Thực tế phát triển đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi tri thức ngày càng cao, khi đó đào tạo chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân là hết sức cần thiết Tuy nhiên, sẽ là không đủ để cho con người sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi và biến động của xã hội nếu thiếu đi vai trò của giáo dục không chính quy về việc đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo liên tục, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của
xã hội theo xu thế hiện nay Và nơi thực hiện các nhiệm vụ đó là các Trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) Trung tâm GDTX có vai trò quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực con người Điều này đã được cụ thể hóa trong điều 44, mục
5 của Luật Giáo dục 2005: ''Trung tâm Giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội hiện nay"
Nghị quyết lần thứ IV của Ban chấp hành TW Đảng khóa VII đã khẳng định:
''Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân '' Trong GDTX, chương trình bổ túc
trung học là một bộ phận của hệ thống giáo dục phổ thông nhằm góp phần nâng cao dân trí và tạo nguồn nhân lực cho xã hội Tổ chức hoạt động của Trung tâm GDTX
đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo về thời gian, chương trình, nội dung phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, đáp ứng nhu cầu, điều kiện của người học
Trang 8Chính vì vậy các Trung tâm GDTX đã và đang là bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay, là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân được học thường xuyên, học suốt đời Cùng với giáo dục chính quy, GDTX đã tự khẳng định vị trí, vai trò của mình trong việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, giúp mọi người có cơ hội học tập nhằm cập nhật kiến thức, kĩ năng, chuyển giao công nghệ, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
1.2 Xuất phát từ cơ sở thực tiễn
Ở Trung tâm GDTX, bên cạnh các nhiệm vụ khác, dạy học bổ túc trung học phổ thông là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Muốn hoạt động này đạt kết quả tốt cần có những biện pháp quản lí phù hợp, đó chính là những vấn đề mà các nhà quản lí có tâm huyết quan tâm
Tỉnh Hải Dương có 12 Trung tâm GDTX cấp huyện và 1 Trung tâm cấp tỉnh Hàng năm, các Trung tâm GDTX huyện, thị xã, thành phố đã duy trì sĩ số với khoảng 5527 học viên THPT, trong đó 460 học viên là người lao động, chiếm tỷ lệ 2,3 % Các Trung tâm GDTX đã tổ chức đa dạng các loại hình học tập: tổ chức các lớp học ngoại ngữ, tin học cho 7272 học viên, phối hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo trung cấp, đào tạo nghề tại địa phương và các tỉnh lân cận mở lớp vừa đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), dạy nghề, vừa dạy bổ túc văn hóa cho người học, tổ chức bồi dưỡng giáo viên cho các trường trực thuộc huyện, thị xã, thành phố quản lí Kết quả đã thu hút được đông đảo học viên tham gia Toàn tỉnh mở được 23 lớp với 365 học viên Đây là một hướng đi mới, tạo bước đột phá về mở rộng quy
mô đào tạo trong năm học 2012-2013 Với giải pháp này, GDTX Hải Dương đã tạo
sự chuyển biến tích cực trong phân luồng học sinh (HS) sau THCS, thực hiện mục tiêu phổ cập bậc trung học, đồng thời góp phần gia tăng tỷ lệ người lao động được đào tạo, khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đào tạo hiện nay
Hiện nay, tại các Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương công tác quản lí hoạt động dạy học đã có nhiều đổi mới, bước đầu đã mang lại một số thành quả đáng ghi nhận
về chất lượng giáo dục, có nhiều cố gắng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển
Trang 9quy mô, củng cố, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Tuy nhiên, có nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh, chất lượng tuyển sinh thấp, kết quả đầu ra còn chưa cao, không mang tính ổn định ở một vài Trung tâm, vẫn còn những bất cập trong quản lí Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ quản lí ở một vài Trung tâm còn hạn chế, đội ngũ giáo viên cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Cơ sở vật chất tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng còn rất chậm, chưa đồng
bộ và chưa hoàn chỉnh, phương tiện dạy học còn hạn chế, chưa thực sự phát huy tối
đa sự năng động, sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên (GV) và học tập của học viên Việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục học viên chưa được mọi cán
bộ, GV nhận thức đầy đủ và áp dụng thành công Đối tượng người học đa dạng, tình trạng lười học, ý thức tổ chức kỉ luật thấp, chất lượng giáo dục ở Trung tâm chuyển biến chậm, các giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả thực hiện chưa cao, sản phẩm giáo dục đơn điệu, nghèo nàn, chưa đáp ứng kịp thời sự đòi hỏi của xã hội và nhu cầu của người học
Hoạt động chủ yếu trong Trung tâm là hoạt động chuyên môn Tổ chuyên môn (TCM) là tổ chức quan trọng và là nòng cốt trong các nhà trường, tổ chuyên môn cũng là đơn vị cơ sở gắn bó gần gũi với GV Ở đây diễn ra hoạt động có liên quan đến toàn bộ hoạt động nghề nghiệp Hoạt động của TCM là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng dạy học của các Trung tâm hiện nay Do đó, quản lí hoạt động chuyên môn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người quản lí Chất lượng hoạt động của TCM phụ thuộc vào quá trình quản lí của trưởng bộ môn (TBM) Qua những năm công tác ở Trung tâm GDTX, tôi thấy rõ vai trò công tác quản lí của TBM trong việc nâng cao chất lượng dạy học
Với vị trí quan trọng và thế mạnh riêng trong chương trình GDTX, môn Ngữ văn giúp người học tiếp xúc với sự phong phú của tiếng mẹ đẻ, tiếp xúc với kho tàng văn hóa của dân tộc và văn hóa nhân loại kết tinh trong tác phẩm văn học, đồng thời góp phần bồi dưỡng tâm hồn, hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS
Trang 10Học sinh Trung tâm GDTX có đặc thù riêng: chất lượng đầu vào thấp, hạn chế
cả về học lực lẫn ý thức đạo đức, một số đối tượng người lao động tham gia học Bổ túc THPT là người lớn tuổi, đã lâu không đi học, hoặc vừa đi học, vừa đi làm Mục đích học tập của HS tại Trung tâm cũng có nhiều điểm khác Do vậy, đối tượng người học tại Trung tâm khác so với THPT về yêu cầu về kiến thức, bài giảng và cách truyền thụ, điều đó dẫn đến cách quản lí cũng phải hoàn toàn khác
Yêu cầu đó đòi hỏi người GV phải đầu tư thời gian, trí tuệ, phải nghiên cứu, sáng tạo ra những phương pháp giảng dạy sao cho thật phù hợp với từng đối tượng
HS, phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp, giúp các em khám phá cái hay cái đẹp về nội dung, về nghệ thuật của tác phẩm, nâng cao kiến thức, kĩ năng và chất lượng học tập, đáp ứng yêu cầu người học, phù hợp với từng điều kiện học tập
Vì vậy, quản lí hoạt động dạy học (HĐDH) môn Ngữ văn của TBM có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong Trung tâm Hiện nay, công tác quản lí dạy và học môn Ngữ văn còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, HS thiếu hứng thú học, ngày càng lạnh nhạt với những giá trị văn hóa dân tộc
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động dạy học và các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX Từ đó đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một
số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
Trang 113.3 Khách thể khảo sát
10 cán bộ quản lí (trong đó 5 phó Giám đốc phụ trách chuyên môn, 5 Trưởng
bộ môn) ở Trung tâm GDTX Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Thanh Miện, Gia Lộc tỉnh Hải Dương
30 giáo viên (25 GV trực tiếp giảng dạy Ngữ văn và 5 giáo viên khác) ở Trung tâm GDTX Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Thanh Miện, Gia Lộc tỉnh Hải Dương
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác quản lí HĐDH của TBM Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương đã đạt những kết quả nhất định, nhưng trong quá trình quản
lí, vẫn còn một số điều chưa phù hợp và bất cập Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp quản lí phù hợp, khả thi thì sẽ nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn, nhờ đó nâng cao được chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở các Trung tâm
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về quản lí hoạt động dạy học của trưởng bộ môn ở Trung tâm GDTX
5.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng
bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí HĐDH môn Ngữ văn của TBM ở một
số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương nhằm nâng cao chất lượng dạy học
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn phạm vi đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương Chủ thể quản lí: Trưởng bộ môn
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Trung tâm GDTX Chí Linh, GDTX Nam Sách, GDTX Kinh Môn, GDTX Thanh Miện, GDTX Gia Lộc tỉnh Hải Dương 6.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu về lí luận có liên quan đến quản lí hoạt động dạy học, quản lí hoạt động dạy học của trưởng bộ môn
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến đánh giá của khách thể khảo sát về các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của trưởng bộ môn Ngữ văn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương và kiểm chứng tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất một cách khách quan
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về công tác quản lí HĐDH của TBM
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết, đánh giá thực trạng công tác quản lí hoạt động dạy học của TBM
x: giá trị biến lượng y: tần số
n: tổng số khách thể điều tra
Trang 13- Công thức tính hệ số tương quan thứ bậc Spearman :
2 2
Trong đó: rs: hệ số tương quan
X: thứ bậc của các đơn vị thuộc nhóm thứ nhất Y: thứ bậc của các đơn vị thuộc nhóm thứ hai N: số đơn vị được nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và khuyến nghị, Danh mục các tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của
trưởng bộ môn ở Trung tâm GDTX
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ
môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ
môn ở một số Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CỦA TRƯỞNG BỘ MÔN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học
1.1.1 Trên thế giới
Trong xã hội loài người, quản lí là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống
Nó ra đời khi xã hội cần có sự chỉ huy, điều hành, phân công, hợp tác, kiểm tra, chỉnh lý trong lao động tập thể trên một quy mô nào đó để đạt năng suất cao hơn, hiệu quả tốt hơn, đó là vai trò của người đứng đầu Như vậy, quản lí là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau, đã trải qua nhiều hình thức quản lí khác nhau Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lí trong sự ổn định và phát triển của xã hội Khái niệm quản lí đã được phát hiện cách đây hơn 7000 năm Lúc đó quản lí gắn liền với triết học, chưa tách ra trở thành một khoa học độc lập
Ở phương Đông cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ đã sớm xuất hiện những tư tưởng về quản lí nói chung và quản lí hoạt động dạy học nói riêng Khổng
Tử (551-479 TCN) cho rằng dạy học là phải "Dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa,
từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải luyện tập, phải hình thành về nề nếp, thói quen trong học tập" và phải "Học không biết chán, dạy không biết mỏi"
Ở phương Tây, nhà triết học nổi tiếng Xôcrat cho rằng những người nào biết cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc
Tư tưởng về quản lí con người và những yêu cầu về người đứng đầu cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của các nhà triết học như Platon, Rober Owen (1771-1858), F.TayLo (1856-1915) Đặc biệt đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lí: Tính khoa học và
Trang 15nghệ thuật quản lí, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển, làm thế nào
để việc ra quyết định quản lí đạt hiệu quả cao
Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và chất Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hướng cho hoạt động giáo dục như các qui luật "Sự hình thành cá nhân con người" về "Tính qui
định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục" Các qui luật này đặt ra yêu cầu đối với
quản lí giáo dục và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục Trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục đã có những thành tựu khoa học đáng trân trọng về quản lí giáo dục và quản lí dạy học
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, một số quan điểm, tư tưởng về giáo dục đã được bàn luận đến
từ lâu trong những công trình nghiên cứu của các sử gia như Ngô Sĩ Liên (thế kỉ XV), Lê Quý Đôn (thế kỉ XVIII) Hoạt động dạy học ở nước ta xuất hiện rất sớm Thời nhà Lê, người anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hoá lớn Nguyễn Trãi (1380-1442) đã đưa ra thuyết trị nước: lấy dân làm gốc Ông đã khuyên nhà vua phải chăm dân thì mới giữ được nước và xây dựng được đất nước Theo ông quản lí đất nước là "Lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ" Rõ ràng, từ xưa cha ông ta đã biết làm thế nào để quản lí đất nước, quản lí việc học tốt nhất
Ở thế kỷ XX Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) đã để lại những nền tảng quý báu về vai trò của quản lí và cán bộ quản lí giáo dục, phương pháp lãnh đạo
Trang 16luận quản lí giáo dục đại cương; tác giả Trần Quốc Thành với bài giảng Đại cương
về quản lí giáo dục; tác giả Trần Kiểm - Bùi Minh Hiền với giáo trình Quản lí và lãnh đạo nhà trường… Bằng sự tổng hoà các tri thức về giáo dục học, tâm lí học, xã hội học, kinh tế học các tác giả đã thể hiện trong công trình nghiên cứu của mình một cách khoa học về khái niệm quản lí, nguyên tắc và phương pháp quản lí, nghệ thuật quản lí nói chung và quản lí giáo dục, quản lí trường học nói riêng
Mục đích của giáo dục ngày nay không đơn thuần là truyền thụ cho HS những tri thức mà loài người đã tích luỹ được qua nhiều thế hệ, mà còn phải bồi dưỡng, trang bị những năng lực cần thiết của người lao động mới - lao động có trí tuệ: năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh, năng lực giao tiếp, khả năng sáng tạo…Để làm được việc này các nhà quản lí giáo dục đã tích cực tìm kiếm những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng Và một trong những giải pháp đó chính là đổi mới cơ chế quản lí giáo dục từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô là các nhà trường
Quản lí hoạt động giáo dục trong nhà trường, đặc biệt quản lí hoạt động của
GV có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục Trong Trung tâm GDTX, đội ngũ
GV được sắp xếp theo từng tổ chuyên môn (TCM), công việc của người quản lí chính là quản lí hoạt động của TCM Mục đích nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị nâng cao chất lượng dạy và học Điều này đã được khẳng định trong Luật Giáo dục năm 2005: "Tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy và học, nhưng cán
bộ quản lí giáo dục bằng những hoạt động quản lí của mình tác động vào quá trình giáo dục nhằm hướng cho hoạt động dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của giáo dục và bảo đảm chất lượng giáo dục".[9;33]
Một số tác giả đã tìm hiểu Quản lí hoạt động dạy học của trưởng bộ môn (TBM) trong trường học như: "Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của trưởng bộ môn ở trường Cao đẳng nghề Vinashin" tác giả Đoàn Ngọc Sơn năm 2013; "Biện pháp quản lí của tổ trưởng chuyên môn đối với công tác xây dựng
hồ sơ môn học của giáo viên trường Trung học phổ thông" tác giả Nông Thị Hảo năm 2009; “Biện pháp quản lí việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn của
Trang 17hiệu trưởng trường THCS huyện Từ Liêm, Hà Nội” của tác giả Đỗ Thị Ánh Tuyết năm 2008
Các đề tài trên đã tìm hiểu biện pháp quản lí hoạt động dạy học nói chung của TBM các trường THPT, trường Cao đẳng Nhưng công tác quản lí hoạt động dạy và học của TBM ở Trung tâm GDTX ít được đề cập đến Chúng tôi mong muốn từ thực trạng hoạt động dạy và học, thực trạng quản lí hoạt động dạy học của TBM ở Trung tâm GDTX để tìm ra các biện pháp cụ thể, phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học môn Ngữ văn nói riêng, chất lượng dạy học nói chung, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương theo yêu cầu phát triển và hội nhập
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lí
Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội Quản lí là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển Lí luận về quản lí được hình thành và phát triển qua các thời kì cùng với tiến trình phát triển đi lên của xã hội Từ khi F.W.Taylor phát biểu nguyên
lí về quản lí thì quản lí nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lí tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu
và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị
Theo Harold Koontz, quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của
cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn kiến thức
có tổ chức về quản lí là một khoa học [10;33]
Theo Afanaxev: "Quản lí con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội lẫn
cá nhân".[1;27]
Trang 18Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt được mục đích nhất định” [14;5]
Tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lí là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí qua con đường tổ chức, là sự tác động có điều khiển, điều chỉnh tâm lí và hành động của các đối tượng quản lí, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [6;55]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí trường học có thể là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [8;21]
Các phân tích trên cho thấy, mặc dù mỗi tác giả có những quan niệm khác nhau về
quản lí nhưng họ đều có những điểm thống nhất Đó là: Quản lí luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lí, khách thể quản lí, mục tiêu chung của công tác quản lí do chủ thể quản lí áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội, hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí Từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí
Bản chất của hoạt động quản lí là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra Như vậy, quản lí là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lí và khách thể quản lí luôn có mối quan hệ tác động qua lại, chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lí vì thế quản lí vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật
Quản lí là khoa học vì các hoạt động quản lí luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lí khác nhau thì tác động của quản lí mới có kết quả
Trang 19Quản lí là một nghệ thuật vì hoạt động quản lí là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lí phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công trong mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người
Từ những phân tích trên, chúng tôi hiểu: Quản lí là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu nhất định
1.2.2 Quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục (QLGD) là một khoa học quản lí chuyên ngành, người ta nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lí nói chung, cũng giống như khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm QLGD trong phạm vi quản lí một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở trường học Về khái niệm QLGD, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm sau:
QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GDTX, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân Quản lí giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội [5;86]
Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lí giáo dục, sự phát triển tâm lí, thể lực của trẻ em” [16]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ
Trang 20vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên một trạng thái mới về chất” [15;19]
Những khái niệm về QLGD trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng
có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lí ở các cấp lên đối tượng quản lí nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định
Trong QLGD, chủ thể quản lí ở các cấp chính là bộ máy quản lí giáo dục từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lí chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo Hiểu
một cách cụ thể: QLGD là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí Quản lí giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định
Trên cơ sở lí luận chung, chúng tôi nhận thấy thực chất của nội dung QLGD là quản lí hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng: Quản lí giáo dục là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lí vào lĩnh vực giáo dục Quản lí giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
1.2.3 Quản lí Trung tâm GDTX
Trang 21tâm và hưởng ứng khá sôi nổi với nhiều hình thức, nội dung phong phú phù hợp với
vị trí, hoàn cảnh công tác của từng đối tượng Từ khi ra đời đến nay, mô hình Trung tâm GDTX ngày càng trở nên phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, trở thành một loại hình cơ sở giáo dục chủ yếu của giáo dục không chính quy và đã được khẳng định trong Luật Giáo dục
Trung tâm GDTX là cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Mỗi tỉnh gồm có một Trung tâm cấp tỉnh và các Trung tâm cấp huyện Trung tâm GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống
xã hội Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi
người, xây dựng xã hội học tâp “…Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lí giáo dục, thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành xã hội học tập, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã hội” (Trích Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX) [17]
Trong hệ thống GDTX, vấn đề lứa tuổi, thời gian học không được đặt ra Hình thức học tập phong phú, đa dạng Đối tượng theo học GDTX gồm học sinh trong độ tuổi THPT, người lao động đã đi làm, những thanh thiếu niên không có điều kiện học tập ở các trường THPT khác Mục đích cơ bản của hệ thống GDTX là
tổ chức tốt việc học tập suốt đời, cho mọi người nhằm tiến tới xây dựng một "xã hội học tập"
1.2.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm GDTX
Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX được quy định tại Quyết định số 01/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ
Trang 22GD&ĐT Trung tâm GDTX có chức năng thực hiện các chương trình GDTX nhằm nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, người lao động trong mọi thành phần kinh tế và đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của cộng đồng trên địa bàn theo quy định
Trung tâm GDTX có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kĩ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin, truyền thông, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ
Chương trình GDTX cấp THCS và THPT Tổ chức các lớp học theo các chương trình GDTX cấp THCS và THPT Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
1.2.3.3 Quản lí hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX
a Hoạt động dạy học
Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân
Hoạt động dạy học (HĐDH) là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong Trung tâm Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp học sinh lĩnh hội tri thức của loài người HĐDH giúp HS nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống, giúp các em có thể phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động, hình thành ở người học thế giới quan khoa học, lòng yêu quê hương đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội HĐDH được thực hiện thông qua các thành tố: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp giảng dạy, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kết quả dạy học
Trang 23HĐDH luôn bị chi phối bởi các yếu tố môi trường, các thành tố cấu trúc của hoạt động dạy học tương tác lẫn nhau, bổ sung, phối hợp với nhau trong tác động của môi trường tự nhiên và xã hội Mối quan hệ giữa các thành tố, cấu trúc của hoạt động dạy học được phản ánh trong quá trình dạy học, với vai trò điều khiển của thầy và tự điều khiển của trò Có thể nói HĐDH trong Trung tâm GDTX mang đậm chức năng xã hội và là hoạt động trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác
b Quản lí hoạt động dạy học
Quản lí HĐDH là quản lí một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù,
nó tồn tại như là một hệ thống, gồm nhiều thành tố cấu trúc như: mục đích và nhiệm
vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập, kết quả dạy học
Quản lí HĐDH là một trong những yếu tố chủ yếu được quan tâm hàng đầu trong quản lí dạy học ở trường phổ thông nói chung, Trung tâm GDTX nói riêng Quản lí HĐDH bao gồm:
* Quản lí việc thực hiện chương trình giảng dạy: đó là công việc quản lí GV
soạn, giảng theo đúng phân phối chương trình, thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác đúng tiến độ, theo sát kế hoạch giảng dạy và chương trình giảm tải của Bộ Giáo dục Quản lí giờ lên lớp và việc thiết kế bài dạy phù hợp với đối tượng HS, đổi mới phương pháp, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học
* Quản lí việc đánh giá kết quả học tập của học sinh: cần xác định rõ trọng
tâm kiến thức bài học, kiến thức đạt được, phương pháp truyền thụ có phù hợp với đối tượng người học, lượng kiến thức nặng hay nhẹ để có kế hoạch điều chỉnh kịp thời Việc đổi mới kiểm tra đánh giá cũng cần gắn với đổi mới hệ thống câu hỏi, mang tính chất mở, gắn với thực tiễn đời sống nhằm phát huy sức sáng tạo của HS, tránh thói quen học vẹt, sáo rỗng khi làm văn, giúp cho HS tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức
Đánh giá kết quả học tập của HS là yêu cầu cần thiết trong quản lí hoạt động dạy học Điểm số của HS phải được cập nhật, đối với bộ môn Ngữ văn bài kiểm tra
Trang 24có hệ số từ một tiết trở lên được quy định thành một tiết học trong phân phối chương trình GV phải soạn giảng một giờ trả bài, bài kiểm tra phải được trả cho
HS đúng thời hạn quy định GV chấm kỹ, có nhận xét, phát hiện những lỗi HS thường hay mắc phải, chữa tại lớp để HS cùng rút kinh nghiệm Căn cứ vào số điểm, dự giờ thăm lớp, sổ đầu bài, tổ trưởng phân tích, đánh giá kết quả học tập của
HS thường xuyên trong tháng
Hoạt động học tập của HS diễn ra ở trên lớp và ở nhà Vì vậy, người quản lí cần phải chỉ đạo phối hợp tốt giữa GV chủ nhiệm, Đoàn thanh niên và gia đình nhằm đưa hoạt động học tập của HS vào nền nếp chặt chẽ từ trong trường lớp đến gia đình Trong sự phối hợp này đặc biệt chú ý đến vai trò của Đoàn thanh niên Thông qua các hoạt động tập thể giúp các em phát huy tinh thần tích cực, tự giác, tự quản bản thân, đồng thời động viên khích lệ kịp thời tinh thần học tập và sự tiến bộ của các em nhằm nâng cao chất lượng học tập theo yêu cầu, mục tiêu Phải thống nhất được hai môi trường giáo dục nhà trường, gia đình trong các biện pháp giáo dục, thông tin qua lại kịp thời về tình hình học tập và rèn luyện đạo đức của HS Quản lí việc học tập của học trò là yêu cầu không thể thiếu và rất quan trọng trong quản lí dạy học Nếu quản lí tốt đối tượng này thì sẽ tạo được cho HS ý thức
tự giác trong học tập, rèn luyện, có thái độ, động cơ học tập đúng đắn, từ đó góp phần và quyết định hiệu quả của các HĐDH nói riêng, thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung
* Quản lí hồ sơ chuyên môn của giáo viên Trung tâm GDTX: Đây là cách thức
giúp người quản lí nắm được việc thực hiện quy chế chuyên môn của từng GV trong
tổ, là căn cứ để đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn, đánh giá thi đua Hồ sơ chuyên môn của GV Trung tâm GDTX theo quy định tại Công văn số 68/BGDĐT-
GDTrH ngày 7 tháng 01 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [1;3] bao gồm: Giáo
án (bài soạn) lên lớp viết tay hoặc đánh máy; Sổ ghi kế hoạch giảng dạy và ghi chép sinh hoạt chuyên, dự giờ, thăm lớp; Sổ điểm cá nhân; Sổ chủ nhiệm
Ngoài ra, tại các Trung tâm còn có các hồ sơ chuyên môn sau: Sổ ghi đầu bài;
Kế hoạch giảng dạy môn học; Phân phối chương trình; Sổ tự học, tự bồi dưỡng
Trang 25c Quản lí hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX
Quản lí HĐDH ở Trung tâm GDTX là hoạt động của chủ thể quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục Quản lí HĐDH ở Trung tâm là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lí, đồng thời có những nét đặc thù riêng Quản lí HĐDH khác với các loại quản lí xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của Trung tâm vừa là đối tượng quản lí vừa là chủ thể tự hoạt động của bản thân Sản phẩm tạo ra của Trung tâm là nhân cách người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận Quản lí HĐDH ở Trung tâm GDTX là quản lí toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới, nâng cao hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào điều kiện
cụ thể của từng Trung tâm Vì vậy, muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lí phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của Trung tâm, chú trọng tới việc cải tiến công tác quản lí giáo dục để quản lí có hiệu quả các hoạt động
Như vậy, quản lí hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX thực chất là tác động
có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên tất cả các nguồn lực, nhằm đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm theo nguyên lí giáo dục, tiến tới mục tiêu giáo dục
mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất
Mục tiêu của GDTX là nâng cao dân trí góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho
xã hội Do vậy quản lí GDTX có những đặc điểm riêng như sau: Quản lí HĐDH ở GDTX là một bộ phận của quản lí giáo dục, quản lí xã hội Cũng như quản lí giáo dục nói chung, quản lí con người là yếu tố trung tâm của công tác GDTX GDTX là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa học, vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm phù hợp với đời sống xã hội
Trang 26Như vậy, GDTX là hoạt động giáo dục có tổ chức, có mục tiêu, có chương trình giáo dục chính quy, nhưng cách dạy, học thì không giống hoàn toàn như chính quy mà cách tổ chức thực hiện hết sức mềm dẻo, linh hoạt, có thời gian đào tạo, chương trình nội dung phù hợp với đối tượng học tập Ở các Trung tâm GDTX, căn
cứ vào chức năng nhiệm vụ riêng của ngành học, bên cạnh chương trình đào tạo ngắn hạn, liên kết đào tạo nghề, các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, hoạt động dạy học theo chương trình GDTX luôn được chú trọng
Mục tiêu dạy học ở Trung tâm GDTX theo chương trình GDTX phải đảm bảo cung cấp được những kiến thức phổ thông theo từng chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức khoa học công nghệ, hình thành những kỹ năng cơ bản cho người học, đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH, hướng tới nền kinh tế tri thức, người học ứng dụng được những kiến thức, kỹ năng nói trên vào lao động sản xuất và hoạt động học tập Nội dung dạy học ở Trung tâm GDTX nhằm giúp học viên hiểu được một cách tương đối hệ thống các khái niệm cơ bản, những nguyên lý, quy trình, kỹ năng ứng dụng, tự nghiên cứu, hình thành kỹ năng độc lập sáng tạo, học tập suốt đời Các nội dung chương trình đưa vào giảng dạy (không kể các môn bắt buộc đối với chương trình bổ túc văn hoá THCS, THPT) không bắt buộc phân hoá với tất cả mọi học viên ở tất cả các chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức kĩ năng, chuyển giao công nghệ Các Trung tâm GDTX có thể linh hoạt lựa chọn các nội dung, hình thức học tập phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị nhằm đáp ứng tốt nhu cầu người học và tình hình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
Việc giảng dạy tại Trung tâm GDTX cho học viên theo học các chương trình
bổ túc văn hoá THCS, THPT, lao động hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông, tin học ngoại ngữ và các chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức đều phải đảm bảo nguyên tắc chung của việc đổi mới chương trình giáo dục nói chung và đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói riêng Cụ thể là:
Quán triệt mục tiêu giáo dục: Việc giảng dạy tại các Trung tâm GDTX phải đảm
bảo thể hiện sự cụ thể hoá mục tiêu giáo dục được quy định trong Luật Giáo dục với
Trang 27những phẩm chất, năng lực được hình thành và phát triển trên nền tảng kiến thức, kỹ năng chắc chắn với mức độ phù hợp từng đối tượng người học, cấp học, bậc học
Đảm bảo tính khoa học và sư phạm: Việc giảng dạy tại các Trung tâm GDTX
cấp huyện phải đặt trong hệ thống chính thể của chương trình giáo dục Do vậy, việc giảng dạy phải được tổ chức một cách khoa học và đảm bảo tính sư phạm, trong đó phải lựa chọn được các nội dung cơ bản, phổ thông, cập nhật kịp thời những tiến bộ của khoa học và công nghệ đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương Ngoài ra, phải thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy
và áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đối với tất cả các chương trình giáo dục đào tạo bồi dưỡng tại Trung tâm
Đảm bảo tính thống nhất: Việc giảng dạy tại các Trung tâm GDTX cấp huyện
phải đảm bảo tính chỉnh thể qua việc xác định mục tiêu, nội dung chương trình, định hướng phương pháp và hình thức dạy học Tính thống nhất thể hiện ở: mục tiêu dạy học phải đảm bảo được tính thống nhất với mục tiêu giáo dục của từng cấp học, hoàn thiện và đáp ứng mục tiêu giáo dục
Quan điểm khoa học và tính sư phạm phải dựa trên nền của các môn học, các cấp bậc học, các chương trình giáo dục đào tạo bồi dưỡng, chuyển giao công nghệ tại Trung tâm Chương trình học phải đảm bảo tính vừa sức, tâm lí lứa tuổi, phải thống nhất các biện pháp kiểm tra nhằm đánh giá chính xác trình độ của học viên Cần điều chỉnh chương trình cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học công nghệ đồng thời đảm bảo sự tiếp thu của đa số học viên
Đảm bảo đáp ứng yêu cầu của từng đối tượng người học: Các chương trình
giáo dục đào tạo bồi dưỡng tại Trung tâm phải đáp ứng yêu cầu phát triển của từng đối tượng học viên, đó là: Nâng cao kiến thức, phát triển những kỹ năng cơ bản, tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước, đủ khả năng hội nhập quốc
tế, phát triển năng lực cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Theo nguyên tắc này, các chương trình giáo dục đào tạo bồi dưỡng phải giúp cho mỗi học viên với sự cố gắng đúng mức của mình có thể đạt được kết
quả trong học tập để có thể phát triển năng lực và sở trường của bản thân
Trang 281.3 Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX
1.3.1 Hoạt động dạy học môn Ngữ văn
Theo “Từ điển Tiếng Việt thông dụng” thì "Ngữ văn là môn khoa học nghệ thuật được xây dựng bằng hình tượng, ngôn từ và trí tưởng tượng của bạn đọc Giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp, cái chân, thiện, mĩ và biết được những cái xấu, cái ác của cuộc sống, hình thành những phẩm chất nhân văn ở con người".[12]
Ngữ văn là một trong những bộ môn chính trong chương trình giáo dục nói chung và trong Trung tâm nói riêng, đó là một trong hai môn phải thi tốt nghiệp, tính điểm hệ số nhân đôi (khi tính điểm trung bình trong năm học) Hơn thế nữa, với đặc thù riêng về sự chính xác tương đối, sự phụ thuộc vào cảm xúc của người dạy
và người học mà vấn đề dạy và học Ngữ văn luôn được quan tâm đặc biệt “Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS, bồi dưỡng thêm một bước năng lực Ngữ văn cho HS, bao gồm năng lực đọc hiểu các văn bản (văn, thơ, truyện), năng lực viết một số văn bản thông dụng…đồng thời cung cấp một hệ thống tri thức về văn học dân tộc và văn học thế giới” [13;78]
Ngữ văn là môn học công cụ khoa học, nghệ thuật Môn học được xây dựng bằng trí tưởng tượng phong phú, những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, ngôn từ giàu hình ảnh, cảm xúc Ngữ văn là môn học có tính nhân văn, nhân ái, cung cấp cho người học những kiến thức về văn học, lịch sử và kiến thức của xã hội và kỹ năng làm văn cùng với những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống, là hạt nhân cho các môn học khác trong nhà trường Vì vậy, Ngữ văn là một thành phần không thể thiếu của nền văn hóa phổ thông trong thời kỳ đổi mới
Cùng với tri thức, môn Ngữ văn cung cấp cho HS kiến thức, ngôn ngữ văn chương và văn hóa nghệ thuật Những kiến thức về văn phạm, khả năng giao tiếp và biết viết các loại văn bản thông dụng của đời sống, xã hội Giúp HS có khả năng cảm thụ và đánh giá các tác phẩm nghệ thuật Môn Ngữ văn còn giúp HS hình thành và phát triển những phương pháp phân tích, bình giảng, bình luận, nhận xét,
Trang 29đánh giá… các tác phẩm văn học nghệ thuật, những tình huống diễn ra trong thực
tế cuộc sống Những kỹ năng quan trọng rất cần thiết cho người lao động trong thời
kì đổi mới
Môn Ngữ văn không chỉ cung cấp kiến thức khoa học thuần túy như những môn học khác mà còn góp phần định hướng, hình thành nhân cách cho HS Giúp người học hiểu và thêm trân trọng những giá trị của cuộc sống
1.3.2 Đặc trưng của hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX
Văn học từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người Macxim Gorki - nhà văn Nga nổi tiếng đã khẳng định: "Văn học từ hàng ngàn năm trước đã không đơn giản là nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn " Văn học giúp con người được vui, buồn, yêu ghét nhiều hơn, làm cho tâm hồn phong phú hơn Đến với văn học là đến với niềm an ủi, sự khích lệ, động viên, đến với những ước mơ, hi vọng Văn học không chỉ là một nguồn tri thức xã hội, nhân văn quý giá mà còn là nguồn năng lượng tinh thần lớn lao, có ý nghĩa cổ vũ, tiếp sức cho con người trong cuộc sống
Để cảm thụ được tác phẩm văn chương sâu sắc cần phải cảm thụ trên ba phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, đó là những chức năng chủ yếu của văn học Để HS nắm được toàn bộ những chức năng văn học và biết cảm thụ văn học một cách có hiệu quả, người thầy phải biết sử dụng hoạt động dạy học phù hợp để giúp trò chiếm lĩnh tri thức Muốn thực hiện được điều đó, người quản lí phải có trách nhiệm định hướng, giúp đỡ, chỉ đạo GV hiểu được những kiến thức lí luận về hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học Ngữ văn nói riêng
Quản lí HĐDH bộ môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX phải phù hợp với đặc trưng bộ môn và chức năng của môn học, phù hợp với từng đối tượng HS mới có hiệu quả cao trong quản lí và giảng dạy
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 30(Điều 2 – Luật Giáo dục) [9;125] Xuất phát từ mục tiêu của nhà trường Việt Nam,
từ đặc điểm và vị trí môn Ngữ văn, việc dạy học Ngữ văn có những mục đích sau: Truyền thụ tri thức, kỹ năng, năng lực thẩm thấu văn học và áp dụng vào thực tiễn cuộc đời; Phát triển năng lực trí tuệ của thế hệ trẻ Việt Nam; Giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và thẩm mỹ của con người trong công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước; Đảm bảo chất lượng phổ cập giáo dục, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu Văn học
Các mục đích trên hoàn toàn không tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết nhau, hỗ trợ và bổ sung nhằm hình thành ở HS thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, năng lực nhận thức và hành động, động cơ đúng đắn cũng như lòng mê say học tập, nghiên cứu, lao động và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Điều đó thống nhất trong việc dạy học, dạy chữ và rèn người, giữa dạy học và phát triển; đồng thời cũng thể hiện tính toàn diện của mục đích, vai trò cơ sở của tri thức, vị trí của kỹ năng và hành động nhằm hình thành các năng lực của người học
1.3.3 Bản chất của hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX
Trung tâm GDTX nằm trong hệ thống giáo dục bậc học THPT, là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, gồm ba năm Hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX
có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện, với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ: Hoàn chỉnh học vấn phổ thông nhằm phát huy nhân cách con người lao động mới: năng động, sáng tạo, tích cực chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động, sản xuất, làm nghĩa vụ công dân, xây dựng bảo vệ tổ quốc Chuẩn bị cho một bộ phận tiếp tục học cao hơn đáp ứng yêu cầu tạo nguồn đội ngũ cán bộ, công nhân, kỹ thuật lành nghề và tri thức xã hội chủ nghĩa Tiếp tục phát hiện bồi dưỡng HS có năng khiếu góp phần đào tạo nhân lực cho đất nước Đảm bảo số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo HS THPT phù hợp với nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế ở điạ phương Phát huy tác dụng về mặt văn hóa tư tưởng, khoa học kỹ thuật ở địa phương
Quá trình đổi mới với sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, kinh tế thị trường làm thay đổi quan điểm về giá trị, ảnh hưởng đến động cơ học tập, việc lựa chọn các
Trang 31ngành nghề tác động đến các quan hệ trong nhà trường và ngoài xã hội Hầu hết các phụ huynh đều có nhận thức đúng đắn về yêu cầu nhân lực trong thời kỳ đổi mới Trước sự phát triển phong phú, đa dạng của nền kinh tế tri thức, sự phân hóa trong
xã hội đã hình thành hai xu hướng: thứ nhất, những em có điều kiện, có nguyện vọng học lên tiếp hoàn chỉnh học vấn theo ngành nghề; thứ hai, một số em không có điều kiện, do năng lực bản thân hoặc do không thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, TCCN, sau khi tốt nghiệp THPT bước vào thị trường lao động, chờ đón cơ hội có thể học thêm
Như vậy, bậc học GDTX nói riêng, giáo dục THPT nói chung có “ mục tiêu kép” vừa chuẩn bị cho HS vào Đại học, Cao đẳng, vừa chuẩn bị cho HS vào đời Từ
đó, ngoài việc trang bị kiến thức nhà trường cần phải hình thành cho HS một số năng lực chủ yếu Năng lực thích ứng với sự thay đổi của thực tiễn, chủ động, tự chủ trong lao động, trong cuộc sống và hòa nhập với môi trường lao động
Môn Ngữ văn là một môn học vừa có tính nghệ thuật ngôn từ vừa mang tính chất một môn học Đây là điểm phân biệt môn Ngữ văn với các môn khoa học nhân văn khác Hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn phải tính đến những tác động về tâm hồn, tình cảm thẩm mĩ Môn Ngữ văn cung cấp cho HS những hiểu biết, những kĩ năng nhất định Dạy văn không chỉ nhằm gây rung động cảm xúc mà còn có nhiệm
vụ cung cấp cho HS những hiểu biết về thế giới bên ngoài, xã hội và loài người Dạy văn còn hướng tới sự phát triển cân đối, toàn diện về tâm hồn, trí tuệ, về thẩm
mĩ và hiểu biết để xây dựng nhân cách cho HS Quá trình dạy học văn bao gồm mục đích, nội dung, lí luận về phương pháp và hoạt động dạy học của GV và HS Đây là quá trình sư phạm mang tính chất và đặc điểm xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mối quan hệ qua lại nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho HS bằng phương tiện văn chương
Bản chất của quá trình dạy học văn trước hết phụ thuộc vào quá trình nhận thức sáng tỏ và đầy đủ mối quan hệ giữa tính khoa học và tính nghệ thuật của môn Ngữ văn và giữ vững mối quan hệ ấy trong quá trình dạy học văn Tri thức khoa học văn học sẽ bổ trợ cho việc tiếp thu văn học một cách có ý thức chủ động hơn Nhờ lí
Trang 32luận văn học và lịch sử văn học giúp các em HS biết phân biệt cuộc đời và nghệ thuật, nguyên mẫu và hình tượng nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ, quan điểm nghệ thuật của nhà văn thể hiện trong phương thức trình bày nghệ thuật, trong phong cách và văn phong
GV là người tổ chức và điều khiển quá trình dạy học văn sao cho quá trình đó diễn ra phù hợp với đặc điểm nhận thức bộ môn và điều kiện sư phạm Tính chất phức tạp của quá trình nhận thức văn học đòi hỏi người GV không những có các tri thức khác nhau về quá trình tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và đánh giá các hiện tượng văn học mà khả năng nhìn thấy ở HS những cảm xúc tinh tế còn ẩn kín, khả năng quan sát và phản ứng nhạy bén về nhiều mặt đối với những biểu hiện tản mạn
và lệch lạc trong cảm thụ và tư duy văn học của HS
1.4 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở Trung tâm GDTX
1.4.1 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học
Biện pháp: Là cách thức, con đường, một phương tiện mang tính điều kiện, do
con người sáng tạo ra, nó có thể được sử dụng tiến hành một hoạt động hướng đích
nào đó nhằm đem lại hiệu quả cho người sử dụng
Biện pháp quản lí: Là tổ hợp các phương pháp tiến hành của chủ thể quản lí,
nhằm tác động đến đối tượng quản lí để các hoạt động đạt được hiệu quả cao nhất Các biện pháp quản lí phải có mục tiêu xác định rõ ràng, cụ thể, có cơ sở khoa học
và tính thực tiễn, biện pháp có tính khả thi và đạt được mục tiêu đề ra
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học là các phương pháp hoặc nhóm các phương pháp của chủ thể quản lí tác động đến đối tượng quản lí nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
Các biện pháp quản lí phải giúp cho HS chủ động, tích cực, tự giác trong học tập, kết hợp tự học nhằm lĩnh hội và làm chủ tri thức của mình Biện pháp quản lí hoạt động dạy học cần phải cụ thể, được sử dụng linh hoạt tùy thuộc và từng hoàn cảnh, đối tượng khác nhau nhằm đạt được hiệu quả cao trong quản lí
Trang 331.4.2 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở Trung tâm GDTX
1.4.2.1 Trưởng bộ môn
Theo Điều lệ Trường phổ thông ban hành theo Quyết định số BGD&ĐT ngày 2 tháng 4 năm 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [2;4], TBM là người giúp Giám đốc (Hiệu trưởng) điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến dạy và học, trực tiếp quản lí giáo viên trong tổ theo nhiêm vụ quy định
07/2007/QĐ-TBM phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch, điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của Trung tâm, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho
GV, đánh giá xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỉ luật GV thuộc tổ mình quản lí Do
đó, TBM phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín đối với đồng nghiệp TBM phải là người có khả năng tập hợp GV trong tổ, biết lắng nghe, tạo sự đoàn kết, gương mẫu, công bằng, khéo léo trong giao tiếp, ứng xử
1.4.2.2 Quản lí hoạt động dạy học của trưởng bộ môn
Là những cách thức cụ thể của trưởng bộ môn tiến hành để tác động đến đội ngũ giáo viên nhằm mục tiêu quản lí hoạt động dạy học đã đề ra TBM có vai trò rất quan trọng trong quản lí hoạt đông dạy học Cụ thể:
* Quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên
Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, học kì và cả năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt động khác theo kế hoạch dạy học và các hoạt động khác theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của Trung tâm
Hướng dẫn xây dựng và quản lí việc thực hiện kế hoạch cá nhân của tổ viên
(kế hoạch dạy chuyên đề, ôn thi tốt nghiệp, phụ đạo HS yếu kém, sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học đúng, đủ theo các tiết trong phân phối chương trình, soạn giáo án theo phân phối chương trình, theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, thảo luận các bài soạn khó, viết sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy
Trang 34học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi )
Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV trong tổ, GV mới tuyển dụng (đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học, sáng tạo tự làm
đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học )
Điều hành hoạt động của tổ (tổ chức các cuộc họp tổ theo định kì quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và các hoạt động giáo dục khác, lưu trữ hồ sơ của
tổ, thực hiện báo cáo cho Giám đốc theo quy định)
Quản lí, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên (thực hiện
hồ sơ chuyên môn; soạn giảng theo kế hoạch dạy học và phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng, ra đề kiểm tra, thực hiện việc cho điểm theo quy định; kế hoạch dự giờ của các thành viên trong tổ )
Dự giờ giáo viên trong tổ theo quy định (4 tiết/giáo viên/năm học)
Các hoạt động khác (đánh giá, xếp loại giáo viên, đề xuất khen thưởng, kỉ luật giáo viên Việc này đỏi hỏi TBM phải nắm thật rõ về tổ viên của mình về ưu điểm hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy được phân công)
* Quản lí hoạt động học tập của học sinh
Nắm được kết quả học tập của HS thuộc bộ môn quản lí để có biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục Đề xuất, xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động ngoại khóa để thực hiện mục tiêu giáo dục Thực hiện các hoạt động khác (theo sự phân công của Giám đốc)
1.4.3 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở Trung tâm GDTX
1.4.3.1 Nội dung quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn
ở Trung tâm GDTX
* Quản lí hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của giáo viên
Nhiệm vụ của GV ở Trung tâm GDTX nói riêng, ở các nhà trường nói chung
là giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho HS, thông qua đó nhằm giáo dục đạo đức,
Trang 35hình thành nhân cách cho các em Nhiệm vụ của TBM trong TCM là quản lí đội ngũ GV trong tổ để tạo điều kiện giúp GV hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy Có thể nêu lên một số biện pháp quản lí để nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên:
* Nội dung quản lí dạy học môn Ngữ văn
- Phân công công tác giảng dạy của giáo viên:
Năng lực giảng dạy của từng GV chính là căn cứ quan trọng nhất để phân công giảng dạy Bởi vậy, khi phân công GV giảng dạy, thừa ủy quyền của Giám đốc Trung tâm, TBM cần căn cứ, xem xét năng lực thực tế cũng như triển vọng phát triển của từng GV, những hạn chế, yếu kém của họ để chọn lựa những phương án tối ưu
Khi phân công giảng dạy, làm sao để tất cả GV ngoài số giờ giảng dạy có thể tham gia các hoạt động khác để gắn kết họ với tập thể sư phạm và có điều kiện tiếp xúc với HS và phụ huynh Ngoài căn cứ chính là năng lực của người dạy, người quản lí cần quan tâm, chú ý tới tâm tư, nguyện vọng của từng GV, sở trường, năng khiếu của từng người, hoàn cảnh hiện tại …Có như thế thì việc phân công đúng khả năng, đúng nguyện vọng với cá nhân mới tạo điều kiện cho họ phát huy hết năng lực, khắc phục những mặt yếu kém, làm tốt công tác giảng dạy đã được phân công
Vì thế TBM cũng như các nhà quản lí khác cần cân nhắc thận trọng giữa yêu cầu công tác của Trung tâm và khả năng công việc của từng GV Luôn lắng nghe ý kiến, xin ý kiến của Ban giám đốc, các tổ trưởng chuyên môn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng
Hoạt động giảng dạy của GV cũng như các hoạt động khác trong tập thể sư phạm phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lí của TBM trong việc bố trí, sắp xếp các thành viên trong tổ chuyên môn đúng việc, đúng người, phân công nhiệm vụ cho hợp lý Phải biết gắn kết, yêu thương để Hội đồng sư phạm thành một gia đình đoàn kết tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm tạo thương hiệu, uy tín và quảng bá về Trung tâm
- Hướng dẫn giáo viên xây dựng Kế hoạch giảng dạy:
Kế hoạch giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói riêng, của mỗi GV trong Trung tâm phải dựa trên việc xác định mục tiêu công tác giảng dạy trong năm Cụ thể là chỉ
Trang 36tiêu của từng lớp mà họ được giao trách nhiệm giảng dạy Điều này cần bám sát, dựa trên năng lực giảng dạy của GV và kết quả khảo sát chất lượng lớp học mà họ được phân công từ đầu năm TBM giúp GV xác định đúng chất lượng đầu năm (đầu vào), cùng xây dựng chỉ tiêu năm học cho từng lớp, từng khối họ phụ trách, chỉ tiêu lên lớp, chất lượng bộ môn, chất lượng HS giỏi, bồi dưỡng HS yếu kém, chất lượng cuối năm (kết quả đầu ra) TBM định hướng giúp GV tìm ra những biện pháp thích hợp để đạt được mục tiêu đề ra đối với từng lớp, từng khối trong năm học Sau đó thông qua trước Hội nghị viên chức để trở thành mục tiêu chung và có tính pháp quy để mọi cán bộ, GV trong Trung tâm phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu
Trong quản lí, TBM phải lấy việc thực hiện Kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn, chỉ tiêu năm học của từng GV, khối lớp học là quan trọng để đảm bảo chỉ tiêu năm học của Trung tâm đã đề ra đạt được Đó cũng là căn cứ để xây dựng kế hoạch chung cho các bộ môn khác và cho toàn Trung tâm Bởi vậy, TBM phải biết sử dụng nhiều biện pháp thích hợp với tình hình thực tế của đội ngũ GV, HS, đặc trưng
bộ môn Ngữ văn, vị trí của môn trong các môn học và tình hình kinh tế xã hội của địa phương Có những điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế để giúp GV hoàn thành kế hoạch
- Quản lí giáo viên thực hiện chương trình dạy học:
Hiện nay, nội dung dạy học môn Ngữ văn ở các Trung tâm GDTX đã được thực hiện thống nhất theo khung chương trình Tài liệu dạy học môn học này được thực hiện theo chương trình khung phân phối chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành [18;19;20]
Môn Ngữ văn cũng như các môn học khác ở Trung tâm GDTX thực hiện giảm
số tuần hơn so với THPT: THPT là 37 tuần, GDTX là 34 tuần Thời lượng dạy học của môn Ngữ văn ở Trung tâm giữa các khối lớp cũng có sự phân bố khác nhau, so với chương trình THPT, tỷ lệ tiết học trên tuần và tổng số tiết học trên cả năm cũng
có nhiều điểm khác nhau Chương trình GDTX theo chương trình chuẩn: Lớp 10: 3 tiết/tuần, 102 tiết/ năm học Lớp 11: 3 tiết/tuần/học kì I, 4 tiết/tuần/học kì II, 119 tiết/ năm học Lớp 12: 3 tiết/tuần, 102 tiết/năm học
Trang 37Chương trình môn Ngữ văn có những quy định về nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, thời gian, khối lượng kiến thức mà người thầy phải truyền thụ cho HS nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Chương trình dạy học môn Ngữ văn GDTX là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành có tính pháp quy được thực hiện trong các Trung tâm Tuy nhiên, do đặc thù ngành học, hệ thống GDTX chỉ học 7 môn văn hóa bắt buộc Do vậy phân phối chương trình môn Ngữ văn GDTX có nhiều điểm khác
so với THPT Chương trình Ngữ văn GDTX có nhiều bài đã được giảm tải, có bài chương trình THPT là chính khóa, còn GDTX là bài đọc thêm
TBM và từng GV phải thực hiện nghiêm túc, không tự ý tuỳ tiện thay đổi, tuyệt đối không được cắt xén hoặc làm sai lệch chương trình TBM phải nắm vững, hiểu sâu và tổ chức cho GV nghiên cứu và nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của từng môn học, khối lớp học và cấp học
Để quản lí chặt chẽ và có hiệu quả hoạt động của GV dạy Văn, TBM có biện pháp quản lí toàn bộ hoạt động: soạn bài, giảng bài, ôn tập, kiểm tra và tổ chức các hình thức học tập ngoài lớp học Trong đó khâu quan trọng là quản lí GV thực hiện đúng phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT TBM cần thực hiện công việc sau:
+ Thứ nhất: Kiểm tra việc xây dựng chương trình dạy học môn Ngữ văn Trong
đó gồm tiến trình thực hiện chương trình, những khó khăn gặp phải khi thực hiện chương trình nhất là những tiết học thực hành (Làm văn, Tiếng Việt), ngoại khoá, ôn tập, kiểm tra Giúp GV có biện pháp khắc phục kịp thời để họ có thể thực hiện tốt, hiệu quả chương trình dạy học của môn Ngữ văn mà Bộ GD&ĐT đã ấn hành
+ Thứ hai: Sử dụng các hồ sơ: sổ ghi đầu bài, sổ dự giờ, sổ nghị quyết của tổ,
nhóm chuyên môn, tổ chức kiểm tra chéo hồ sơ chuyên môn, kiểm tra chuyên đề,
dự giờ đột xuất các giờ lên lớp của GV nhằm giúp TBM có được những thông tin xác thực về tiến độ, tình hình thực hiện chương trình dạy học
- Quản lí giáo viên soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp:
Để chuẩn bị cho một tiết lên lớp có hiệu quả GV phải làm tốt từ khâu chuẩn bị lên kế hoạch giảng dạy bộ môn mình phụ trách cho suốt năm học, học kỳ, tháng, tuần, từng phân môn cụ thể Người thầy phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ chương trình dạy học của Bộ GD&ĐT ấn hành, SGK, tài liệu tham khảo, trình độ thực tế
Trang 38của HS qua khảo sát đầu năm học Trong quá trình xây dựng Kế hoạch giảng dạy cần đến điều kiện cơ sở vật chất của Trung tâm phục vụ cho hoạt động dạy học như: Phòng thí nghiệm, thực hành, thư viện, nguồn kinh phí cho hoạt động ngoại khoá, giáo dục ngoài giờ lên lớp và khả năng tự đóng góp của bản thân như: cải thiện đồ dùng dạy học, lựa chọn phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp, biện pháp tổ chức quản lí tiết học sao cho đạt hiệu quả cao nhất Yêu cầu thống nhất trong tổ nhóm chuyên môn, mục đích yêu cầu, nội dung cơ bản, trọng tâm bài dạy, phương pháp dạy học chính cho từng bài dạy cụ thể qua các buổi sinh hoạt chuyên môn Điều này có vai trò rất quan trọng cho việc trao đổi, giao lưu, học hỏi lẫn nhau của các GV cùng môn dạy, bồi dưỡng tay nghề cho lớp trẻ và bổ sung kiến thức mới cập nhật cho lớp GV có tuổi
Tổ chức các buổi hội thảo theo chuyên đề cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn, phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học, cải tiến và làm mới đồ dùng dạy học TBM có biện pháp tổ chức mạng lưới cho các trưởng nhóm chuyên môn phụ trách môn Ngữ văn khối 10, 11, 12, có kế hoạch theo dõi và nắm bắt tình hình của GV qua hệ thống thông tin: thảo luận tổ, kiểm tra giáo án, biên bản sinh hoạt,
tổ, nhóm chuyên môn, số liệu báo cáo thống kê của tổ, nhóm TBM phải tổng hợp đánh giá theo tháng, học kỳ và năm học, đồng thời đưa ra các quyết định cần thiết
- Quản lí giờ lên lớp của giáo viên:
HĐDH hiện nay ở Trung tâm GDTX tập trung chủ yếu vào các tiết lên lớp Chất lượng của giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học của người thầy Vậy sau khâu soạn bài, khâu lên lớp thể hiện kết quả soạn bài công phu của người thầy TBM phải có biện pháp quản lí thích hợp, tạo điều kiện cho GV thể hiện tốt nhất, sinh động nhất nội dung bài soạn Có như vậy thì hiệu quả tiết dạy trên lớp mới đạt hiệu suất cao Khi lên lớp GV phải thể hiện một cách trung thành bài soạn mình đã chuẩn bị Phải hết sức linh hoạt, khéo léo xử lí tình huống xảy ra trong giờ dạy sao cho hoạt động giáo dục giữa thầy và trò trở nên nhịp nhàng, ăn khớp nhau, thể hiện rõ vai trò chủ đạo của thầy và trò chủ động, tích cực lĩnh hội kiến thức bài giảng mà thầy dẫn dắt vươn tới
Trang 39- Xây dựng tiêu chuẩn xếp loại giờ lên lớp và phương pháp đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên:
Các tiêu chí để xếp loại giờ dạy đã được các chuyên gia giáo dục từ Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT đưa ra và có rất nhiều tài liệu hướng dẫn cụ thể của các cấp quản lí giáo dục Tuy nhiên, TBM phải biết vận dụng vào trường mình sao cho phù hợp, động viên, khích lệ GV thi đua dạy tốt, hăng say cải tiến phương pháp giảng dạy Tiết dạy phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, hệ thống của hệ thống kiến thức truyền đạt cho học trò, tức là người thầy không được giảng dạy sai kiến thức của SGK Đảm bảo tính tư tưởng của bài dạy, bồi dưỡng phương pháp tư duy cho HS Trên cơ sở đã có tiêu chí xếp loại giờ dạy, TBM phải tổ chức các hình thức dự giờ, đánh giá, xếp loại sao cho thật linh hoạt, đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau để có thể động viên thi đua dạy tốt Tổ chức bài dạy thông qua những giờ giảng mẫu để rút kinh nghiệm trong tổ theo các chuyên đề và cải tiến phương pháp dạy học, cải tiến và làm mới đồ dùng dạy học Trên cơ sở đó TBM có đầy đủ thông tin đánh giá, xếp loại giờ dạy của GV
Để đánh giá được chất lượng giảng dạy của GV nhất là GV dạy môn Ngữ văn GDTX là rất khó Không chỉ đơn thuần là dự vài giờ trên lớp là có thể đánh giá chất lượng giảng dạy, năng lực chuyên môn Giờ dạy trên lớp là một tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá công việc dạy học của GV Theo chúng tôi, để đánh giá chất lượng giảng dạy cần có sự hỗ trợ của các thông tin sau: Sự chuẩn bị giáo án giảng dạy, phương pháp giảng dạy phù hợp đối tượng, hệ thống câu hỏi phù hợp, câu hỏi
mở khuyến khích HS sáng tạo, chủ động trong lĩnh hội tri thức
Khi TBM đánh giá chung về chất lượng giảng dạy của từng GV trong tổ Ngữ văn trong học kỳ, năm học cần phải hết sức thận trọng, có sự cân nhắc kỹ lưỡng và
có sự bàn bạc thống nhất của Ban giám đốc, các tổ trưởng chuyên môn Do đó việc đánh giá đúng chất lượng dạy học của từng GV môn Ngữ văn và đội ngũ GV trong Trung tâm là thể hiện năng lực lãnh đạo, năng lực quản lí của TBM
- Quản lí việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Kiểm tra là khâu cuối của hoạt động dạy học Đánh giá mức độ học lực, kỹ năng, kỹ xảo của người học là khâu then chốt trong quá trình dạy học của người
Trang 40thầy Hiện nay, theo quy chế cho điểm của Bộ GD&ĐT vẫn dựa trên việc cho điểm theo thang điểm 10 bậc cho tất cả các môn học Việc vận dụng thang điểm này ở từng môn học và từng GV cụ thể còn có sự chênh lệch nhau, chưa tạo dược sự công bằng cho HS, ngay cả những GV dạy cùng một môn học, ở cùng một khối lớp nên TBM phải có biện pháp quản lí tốt ở khâu này Có như vậy, việc cho điểm, đánh giá, xếp loại HS của GV mới có ý nghĩa động viên HS vươn lên trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện, có tác dụng điều chỉnh việc giảng dạy sao cho phù hợp với đối tượng HS Vì thế, TBM phải có những biện pháp quản lí để GV môn Ngữ văn: + Có ý thức nghiêm túc thực hiện, đúng chế độ kiểm tra, thông qua kiểm tra, dồn
ép học sinh, chấm trả bài đúng kì hạn theo quy định Khi trả bài có lời phê cho từng bài học sinh, cũng như những lời nhận xét chung, riêng cho từng bài làm của học sinh, để các em biết được những ưu, nhược điểm để rút kinh nghiệm cho bản thân
+ Giáo viên phải biết vận dụng một cách chính xác, linh hoạt thang điểm được quy định cho môn học Việc vận dụng có sự thống nhất trong tổ, nhóm chuyên môn
về đề bài kiểm tra từ 45 phút trở lên, kèm theo đó là đáp án, thang điểm, biểu điểm + Người dạy phải có trách nhiệm báo cáo kết quả hàng tháng, báo cáo tổng hợp cuối kì, cuối năm cho nhóm, tổ trưởng chuyên môn về tiến độ thực hiện chương trình, kiểm tra, cho điểm bộ môn lớp dạy Để có đầy đủ những thông tin kịp thời về tình hình thực hiện chế độ kiểm tra, đánh giá, cho điểm xếp loại học tập của HS, TBM phải có biện pháp tổ chức mạng lưới theo dõi, thu thập, tổng hợp thông tin đó
là vai trò của những tổ viên phụ trách khối theo các mẫu, biểu cần thiết mà TBM lập
ra theo tuần, tháng, học kỳ và năm học
Kết hợp với chuyên môn, TBM kiểm tra Sổ gọi tên ghi điểm, sổ ghi đầu bài, hay kiểm tra HS ở một vài lớp học Từ những thông tin đã thu thập được, TBM cần có phân tích, đánh giá việc thực hiện chế độ cho điểm, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
HS qua GV giảng dạy ở từng khối, từng lớp để có những điều chỉnh, uốn nắn kịp thời
Đó cũng là một kênh phản ánh trung thực chất lượng giáo dục của Trung tâm
Những phân tích trên chính là những cơ sở lí luận của việc xác định các biện pháp quản lí nâng cao chất lượng quản lí HĐDH Các biện pháp cụ thể của TBM sẽ được xác định trên cơ sở thực tiễn của Trung tâm, của địa phương và thực trạng của