Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) Luận văn Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX)
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 9
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 9
6 Giả thuyết khoa học của đề tài 10
7 Đóng góp của đề tài 10
8 Ý nghĩa của đề tài 10
9 Cấu trúc đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương I: VẤN ĐỀ KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRUNG HỌC CƠ SỞ: LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông 12
1.1.2 Đặc trưng của bộ môn lịch sử 13
1.1.3 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS 14
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lý 14
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức 15
1.1.4 Yêu cầu đổi mới trong biên soạn sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông 16 1.1.5 Quan niệm về kênh hình trong SGK 19
1.1.5.1 Cấu tạo sách giáo khoa sách lịch sử THCS 19
1.1.5.2 Phân loại kênh hình 21
1.1.5.3 Ý nghĩa của sử dụng kênh hình 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Ở Việt Nam 33
1.2.1.1 Đối với giáo viên 35
1.2.1.2 Đối với học sinh 39
Trang 21.2.2 Nghiên cứu, học tập kinh nghiệm biên soạn sách giáo khoa một số nước 40
Tiểu kết chương 1 47
Chương II: ĐỀ XUẤT KÊNH HÌNH TRONG VIỆC BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRUNG HỌC CƠ SỞ SAU NĂM 2015 PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI (THẾ KỈ XVI – GIỮA THẾ KỈ XIX) THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 49
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử các nước Âu – Mỹ (thế kỉ XVI - giữa thế kỉ XIX) 49
2.1.1 Vị trí 49
2.1.2 Mục tiêu 50
2.1.3 Nội dung cơ bản 52
2.2 Đề xuất xây dựng cấu tạo sách giáo khoa lịch sử Trung học cơ sở sau năm 2015 55
2.2.1 Định hướng cấu trúc biên soạn sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ sở 55 2.3.2 Đề xuất biên soạn cấu tạo sách giáo khoa sau 2015 58
2.4 Đề xuất cách tiếp cận kênh hình trong sách giáo khoa THCS sau năm 2015 84
2.4.1.Cách mạng Anh 84
2.4.2 Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ 88
2.4.3 Cách mạng tư sản Pháp 93
2.5 Thực nghiệm sư phạm 107
2.5.1 Mục đích thực nghiệm 107
2.5.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 107
2.5.3 Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm 107
2.5.4 Kết quả thực nghiệm 108
2.5.4.1 Khảo sát trước khi thực nghiệm 109
2.5.4.2 Kết quả thực nghiệm về kết quả học tập 110
KẾT LUẬN 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển như vũ bão, đạt nhiều thành tựu lớn lao trong mọi lĩnh vực, đặt ra vấn đề đầu tư phát triển giáo dục làm giàu đất nước càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Bởi phát triển giáo dục
đào tạo chính là “ Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bền vững” [4,3] Mục tiêu của nền giáo dục đào tạo nước ta là “Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ
là những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ" [77, 27, 28] Với những mục tiêu đó đòi hỏi ngành giáo dục, đặc
biệt giáo dục phổ thông phải không ngừng nâng cao chất lượng dạy học nhằm đào tạo ra những thế hệ thanh niên có trình độ, chuyên môn cao đáp ứng nhu cầu xã hội, đưa đất nước phát triển
Song hạn chế cố hữu của nền giáo dục nước ta là lý thuyết nhiều hơn thực hành, gây trở ngại lớn cho việc đào tạo những lớp người đáp ứng được yêu cầu hiện nay của
xã hội Học sinh chúng ta hiện nay chưa có một phong cách hoạt động độc lập, tự tin, sáng tạo trong học tập Những năm gần đây chương trình sách giáo khoa các môn học
ở trường phổ thông đã được đổi mới Điều này đặt ra sự cần thiết phải đổi mới phương
pháp dạy học, trong đó cần “Coi trọng thực hành, thực nghiệm ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, dạy chay”[78, 201] Hay nói khác đi, quá trình dạy
học là học và học dưới sự điều khiển của người thầy và dạy là dạy để mà học Đây là
yêu cầu quan trọng nhất, là "chìa khoá" giúp nâng cao chất lượng dạy học
Trang 4Lịch sử là một trong những môn học có ưu thế với việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho thế hệ trẻ Giáo dục lịch sử ở trường phổ thông nói chung giúp học sinh nắm được bức tranh lịch sử quá khứ của dân tộc, thế giới, khiến các em thêm yêu mến quê hương, đất nước mình, trân trọng những thành quả của cha ông, từ đó hình thành lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, định hướng tốt cho tương lai, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Vì vậy lịch sử phải góp phần vào việc đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu của đất nước
Hiện nay chương trình sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông nói chung,
đã có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp biên soạn Việc tăng lên đáng kể các loại kênh hình trong bài viết đã là một cố gắng lớn Kênh hình cũng là một phần kiến thức quan trọng của nội dung bài học Những sự thay đổi cơ bản này đặt ra một vấn đề quan trọng trong phương pháp dạy học của giáo viên là phải biết khai thác
và sử dụng các kênh hình, tổ chức cho học sinh làm việc với hệ thống kênh hình để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức nhẹ nhàng, sinh động mà sâu sắc, vững chắc
Nhưng thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông trước đây cũng như hiện nay, nhiều giáo viên và học sinh vẫn chưa hiểu hết nội dung kênh hình và tìm ra những biện pháp sử dụng thích hợp để góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Hơn nữa, sau 2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện đổi mới toàn diện nền giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực học sinh: năng lực nhận thức, năng lực xã hội và năng lực thực hành Để giúp giáo viên và học sinh thuận lợi trong việc khai thác và sử dụng kênh hình theo hướng phát triển năng lực học sinh
và phục vụ cho việc dạy học của bản thân Tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất hệ thống kênh hình để biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX)”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Kênh hình trong sách giáo khoa là một phương tiện trực quan trong dạy học lịch
sử Vì vậy khi tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, tôi tiếp cận các tài liệu nước ngoài dựa vào tài liệu dịch, tài liệu trong nước theo 2 hướng: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan và phương pháp sử dụng sách giáo khoa
Trang 52.1.1 Tài liệu giáo dục học
Jang Jac Rút Xô nhà giáo dục vĩ đại người pháp cho rằng “Sự kiện! sự kiện! Tôi không bao giờ mệt mỏi nhắc lại rằng chúng ta gán cho lời nói ý nghĩa quá lớn; bằng sự giáo dục ba hoa của chúng ta, chúng ta sẽ chỉ đào tạo ra những chàng ba hoa” [13, 31] Theo Rút xô, người thầy cần sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy
học nhằm giúp học sinh tự giác, tích cực tư duy và khi học sinh đã lĩnh hội kiến thức thông qua các hoạt động thực hành, thực nghiệm khẳng định những tri thức đúng từ đồ dùng trực quan thì nhất định sẽ bộc lộ nhân cách sáng tạo của mình Nhà giáo dục Johan Henric Pextalozi (1746-1827) nhìn thấy chỗ dựa cho quá
trình nhận thức của học sinh chính là sự trực quan “Nếu anh càng dùng nhiều giác quan để nhận thức bản chất một hiện tượng hay một sự vật nào đó, thì những hiểu biết của anh về nó lại càng đúng đắn”[13,40]
Nhà giáo dục người Nga K.Đ.Usinxki (1824-1870) khẳng định “Tính trực quan phải là cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học”[13,52] Usinxki đánh giá và
đề cao đồ dùng trực quan, là cái ban đầu và nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác, cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người
B.P.Êxipop trong các công trình của mình đã khẳng định ý nghĩa của việc đọc
sách ngoài giờ lên lớp, ý nghĩa của làm việc với tranh minh hoạ trong sách “Giúp học sinh hiểu sâu hơn và lĩnh hội rành mạch, vững chắc nội dung của lời văn, vì tranh minh hoạ tạo ra ở học sinh những biểu tượng nhất định”[ 13,180]
A.P.Primacopxki trong cuốn “Phương pháp đọc sách” nêu ra một số kinh nghiệm đọc sách, tự nghiên cứu của nhiều nhà hoạt động xã hội lỗi lạc và nhà khoa học xuất sắc, giúp giáo viên biết cách khai thác hợp lý kiến thức trong sách giáo khoa
Không dừng ở đó, T.A.Ilina đã khái quát quá trình làm việc của học sinh với sách giáo khoa thành qui tắc cơ bản
Ở một khía cạnh quan trọng khác, tiến sĩ giáo dục Liên Xô I.F.Khalamop trong
cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”, nhấn mạnh vai trò
của đồ dùng trực quan trong giảng dạy ở trường phổ thông
J.A.Comenxki (1592 - 1670) nhà giáo dục Tiệp Khắc, coi nguyên tắc trực quan
là “nguyên tắc vàng ngọc” và được ông xếp lên hàng đầu trong các nguyên tắc dạy
Trang 6học cơ bản
2.1.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
Do đặc trưng bộ môn, các nhà giáo dục lịch sử càng đề cao vai trò sách giáo khoa, gắn chặt đồ dùng trực quan với quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông,
họ đều có chung quan điểm nhận thức rằng, không thể thiếu đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
Tiến sĩ giáo dục Xô viết N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” cho rằng “Bài giảng trên lớp không cần giống hệt như bài học trong sách giáo khoa Thế nhưng mặt khác nó lại phải bao gồm một phần nào đó của tài liệu trong sách”[22,18] Do vậy ông nêu ra sơ đồ sử dụng sách giáo khoa, khai thác
sách giáo khoa nhằm giải quyết mối tương quan giữa nội dung bài giảng của giáo viên và nội dung của sách giáo khoa trong giờ học lịch sử Ông đề cập tới 14 yêu
cầu quan trọng của một giờ học lịch sử, trong đó không thể thiếu yêu cầu “Trang bị cho giờ học tất cả những phương tiện dạy học cần thiết; sử dụng tài liệu trực quan như một nguồn nhận thức”[22,9] Ông cho rằng “giáo dục, chứ không phải học thuộc lòng”[22,30] Muốn vậy, quá trình dạy học lịch sử phải qua các khâu gắn liền với
nhau: tài liệu thực (trong đó có đồ dùng trực quan)- hình tượng - ảnh hưởng giáo dục
Ông nói tới vai trò của tài liệu thực “Nếu chúng ta lìa bỏ tài liệu thực thì điều đó sẽ đưa tới kết quả là cố gắng vun xới một vụ thu hoạch dồi dào trên một mảnh ruộng không có phân bón”[22,32] bởi hình tượng được nảy sinh trên tài liệu thực mang lại
kết quả giáo dục cho học sinh
A.A.Vaghin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”
trình bày các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong đó có ý nghĩa của việc sử dụng sách giáo khoa và tài liệu lịch sử
Trong cuốn “Chuẩn bị cho học sinh lĩnh hội kiến thức”, Phedorenko luôn cho
rằng, muốn học sinh lĩnh hội kiến thức tốt thì bắt buộc phải sử dụng đồ dùng trực quan
và ông đề ra nhữg phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan phù hợp, có hiệu quả
Cụ thể hơn, V.X.Muazaep trong cuốn “Dạy học bằng bản đồ lịch sử ở trường phổ thông 8 năm”, đã trình bày vai trò, ý nghĩa, phương pháp sử dụng bản đồ lịch
Trang 72.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu giáo dục học
Thống nhất với các quan điểm lý luận trên, rất nhiều tài liệu của các nhà giáo dục học Việt Nam đã chỉ rõ vai trò, phương pháp sử dụng sách giáo khoa và đồ dùng trực quan trong dạy học
Tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” nêu một cách
khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan, các loại đồ dùng trực quan cơ bản được sử dụng trong dạy học, ưu nhược điểm
và biện pháp khắc phục nhược điểm của từng loại đồ dùng
Trong cuốn “Giáo dục học tập I” của tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (NXB Đại
học Sư phạm, 2007) đã đưa ra và phân biệt giữa các khái niệm: chương trình, SGK
và các tài liệu học tập khác dùng trong các trường học do Nhà nước quy định Đồng thời, trình bày cụ thể về chức năng của SGK đối với quá trình dạy học và đưa ra những yêu cầu cơ bản đối với một cuốn SGK
PGS.TS Thái Duy Tuyên cho rằng phương pháp dạy học trực quan có ưu điểm
rõ nét là “ Nâng cao hiệu quả bài học nhờ có những biểu tượng rõ ràng, phát triển
tư duy trục quan hình tượng, trí nhớ”[76,233]
Trần Bá Hoành trong “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình sách giáo khoa” rất đề cao vai trò của sử dụng đồ dùng trực quan khi thực hiện dạy học tích cực
“Muốn thực hiện dạy học tích cực cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện”[26,56] Qua tác phẩm “Dạy học hiện đại: lý luận - biện pháp - kỹ thuật”, Đặng Thành
Hưng đã nêu lên kỹ thuật sử dụng và khai thác các phương tiện dạy học trên lớp trong đó có đồ dùng trực quan
Các nhà giáo dục lịch sử càng khẳng định rõ vai trò quan trọng đặc biệt của sách giáo khoa cũng như kênh hình trong sách giáo khoa đối với việc nâng cao chất lượng môn học
2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
Trong các giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” xuất bản 1976, 1992 (do
Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên) được tái bản trong các năm 1998, 1999,
2001 đặc biệt là cuốn giáo trình xuất bản năm 2002, tập 1 đã đề cập cụ thể vị trí, ý
Trang 8nghĩa của sách giáo khoa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, cấu tạo sách giáo khoa cũng như cấu tạo bài viết nhằm giúp giáo viên biết cách sử dụng sách giáo khoa một cách hiệu quả Bên cạnh đó các tác giả cũng khẳng định vai trò của
đồ dùng trực quan “Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật không hạ thấp vai trò của thầy giáo mà vẫn tăng hiệu quả bài học ở các mặt: thu nhận thông tin, tư duy, ghi nhớ và vận dụng kiến thức”[41,61], đồ dùng trực quan còn là “Chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng nhất, làm cho học sinh nắm vững các quy luật của
sự phát triển xã hội”[42,142]
Vấn đề này còn được công bố trên nhiều chuyên khảo, các tác giả đã khẳng định vai trò của kênh hình trong sách giáo khoa, hướng dẫn cụ thể nội dung từng kênh hình và nêu lên phương pháp sử dụng Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá trong tác
phẩm “Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” cho rằng để
phù hợp với mức độ nhận thức lứa tuổi, đồ dùng trực quan cần thiết phải sử dụng để dạy học cấp 2 nói riêng, dạy học cho học sinh phổ thông nói chung Tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng trình bày cụ thể những biện pháp sử dụng sách giáo
khoa nhằm phát triển tư duy cho học sinh trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS” Trong cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, tập 1, trên cơ sở khẳng định vai trò của việc sử
dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường THPT GS.TS Nguyễn Thị Côi nêu rất chi tiết nội dung từng kênh hình của phần lịch sử Việt Nam trong sách giáo khoa THPT và đề xuất cụ thể khoa học các phương pháp sử dụng chúng
Các chuyên khảo “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử THCS” do PGS.TS Trịnh Đình Tùng, GS.TS Nguyễn Thị Côi viết, các tác giả đã
nêu cụ thể nội dung kênh hình phần lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong sách giáo khoa lịch sử THCS Đồng thời các tác giả định hướng phương pháp khai thác kênh hình nhằm đạt hiệu quả cao trong giờ nội khoá
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về dạy - học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam tại Đà Nẵng, tháng 8/2012 Kỷ yếu gồm ba phần: phần thứ nhất là
Trang 9trí ý nghĩa của SGK, nhận xét về chương trình SGK chỉ rõ các ưu và khuyết điểm của SGK, đề xuất định hướng đổi mới chương trình, SGK sau năm 2015 Phần hai
là các bài viết tập trung phân tích những giải pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông trên cơ sở học tập kinh nghiệm các nước trên thế giới Phần ba là các bài viết tập trung vào các vấn đề đào tạo giáo viên
Ngoài ra vấn đề trên còn được đề cập đến trong các bài báo, đăng trên tạp trí
giáo dục, như bài viết của GS.TS Nguyễn Thị Côi “Kênh hình - một nguồn kiến thức quan trọng”, Nguyễn Thanh Nhàn “Sử dụng tranh ảnh trong dạy học lịch sử”
Mỗi bài viết tuy chỉ nghiên cứu sâu một khía cạnh của vấn đề, nhưng đều khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng sách giáo khoa cũng như kênh hình trong sách giáo khoa nhằm nâng cao chất lượng môn học
“Kinh nghiệm Đairi với việc dạy học môn sử” của hai tác giả Lương Ninh và
Nguyễn Thị Côi đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 8, 1988
“Về SGK Lịch sử ở trường phổ thông Trung học” (Chương trình cải cách) của tác
giả Nguyễn Thị Côi đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1993
“Về cấu trúc và yêu cầu biên soạn SGK môn Lịch sử THCS” của tác giả
Nguyễn Hữu Chí đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4, 2000
“Một số vấn đề lí luận và thực tiễn biên soạn SGK lịch sử THCS” của tác giả
Nghiêm Đình Vỳ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 98, 2004
“Một vài kinh nghiệm về đổi mới biên soạn SGK Lịch sử” của tác giả Phan
Ngọc Liên đăng trên tạp chí Giáo dục, số 7, 2004
“Một số yêu cầu về xây dựng chương trình và biên soạn SGK Lịch sử” của tác
giả Phan Ngọc Liên đăng trên tạp chí Giáo dục, số 126, 2005
Các luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên cũng đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vấn đề qua các đề tài:
Luận án “SGK lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam từ 1954 đến nay”, Phạm
Thị Kim Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1999
Luận văn “Sử dụng SGK nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông tỉnh Lào Cai”, Lê Quý Toàn, Đại
học Sư phạm Hà Nội, 2003
Trang 10Luận văn “Chương trình SGK lịch sử bậc Trung học phổ thông của cộng hòa Pháp và khả năng vận dụng vào Việt Nam qua nội dung: Các quốc gia cổ đại phương Tây – Hi Lạp và Rôma”, Trần Quỳnh Chi, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013
Luận văn “Mô hình bài viết SGK lịch sử ở trường THCS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và khả năng vận dụng vào Việt Nam”, Lương Thị Phương Liên, Đại
học sư phạm Hà Nội, 2013
Vấn đề này cũng được một số luận án của nghiên cứu sinh, luận văn cao học,
khoá luận tốt nghiệp của sinh viên đề cập tới như: Dương Quỳnh Lưu “Khai thác nội dung và phương pháp sử dụng kênh hình phần lịch sử thế giới lớp 11 PTTH”, luận văn cao học, 1995 Bùi Thị Thu Huyền “Tìm hiểu nội dung và phương pháp sử dụng hệ thống kênh hình trong giảng dạy phần lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT”,
luận văn 1996
Các tài liệu giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử đã nêu ở trên là những gợi
mở quí báu về lý luận cũng như các biện pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa cho tác giả khi nghiên cứu đề tài Song việc đúc kết thành hệ thống kênh hình để phục
vụ cho việc biên soạn sách giáo khoa sau 2015 theo hướng phát triển toàn diện năng lực học sinh thì chưa có công trình nào đề cập tới Do vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn vấn
đề trên làm đề tài nghiên cứu của mình
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Chương trình SGK, hệ thống kênh hình và
đề xuất trong biên soạn SGK lịch sử THCS sau năm 2015 phần lịch sử thế giới (thế
kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chương trình SGK và đề xuất hệ thống kênh hình phục vụ công tác biên soạn SGK lịch sử THCS sau năm 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX) với các nội dung là các cuộc cách mạng xã hội (cách
Trang 11Trên cơ sở chương trình SGK hiện nay, định hướng chương trình SGK, học tập kinh nghiệm trong biên soạn SGK Lịch sử nước ngoài đề tài đề xuất chương trình mới trong biên soạn SGK Lịch sử THCS sau năm 2015 và tiến hành thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của đề tài
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1 Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận về sách giáo khoa, đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình trong sách giáo khoa nói riêng để khẳng định vai trò - ý nghĩa của hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa với việc phát triển toàn diện năng lực học sinh, đề tài đi sâu vào tìm hiểu các loại hình kênh hình, đề xuất kênh hình phục
vụ trong biên soạn sách giáo khoa THCS theo hướng phát triển toàn diện năng lực học sinh THCS
4.2 Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:
- Tìm hiểu lý luận của các nhà giáo dục học và giáo dục lịch sử về vai trò, ý nghĩa của dụng đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình nói riêng trong các tài liệu giáo dục, giáo dục lịch sử và các tài liệu lịch sử có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu thực tiễn việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa tại các trường phổ thông hiện nay, chất lượng giảng dạy bộ môn, tình hình hứng thú học tập lịch sử của học sinh phổ thông
- Tìm hiểu chương trình, nội dung sách giáo khoa THCS để đề xuất kênh hình cho việc biên soạn sách giáo khoa
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đưa ra
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhận thức, giáo dục và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về giáo dục
Lý luận về tâm lý, giáo dục học, PPDH lịch sử của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử liên quan tới vấn đề
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu giáo dục - giáo dục lịch sử, tài liệu lịch sử liên quan tới đề tài và nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa lịch sử THCS
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Tiến hành điều tra thực tế để đánh giá mức độ, thực trạng sử dụng kênh hình trong dạy học chương trình sách giáo khoa lịch sử ở trường THCS thông qua các phiếu điều tra giáo viên, học sinh một số trường THCS
+ Soạn bài thực nghiệm theo những dự kiến về biện pháp mà luận văn đưa ra, tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đó
6 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu việc đề xuất biên soạn kênh hình cho sách giáo khoa sau 2015, vận dụng hợp lý các biện pháp sử dụng hệ thống kênh hình theo hướng phát triển toàn diện năng lực của học sinh như luận văn đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
7 Đóng góp của đề tài
- Đề tài khẳng định rõ vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử theo hướng phát triển toàn diện năng lực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
- Đề tài góp phần đánh giá đúng thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông
về nhận thức và phương pháp khai thác, sử dụng kênh hình theo hướng phát triển toàn diện năng lực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
8 Ý nghĩa của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về PPDH lịch sử nói chung, về loại hình kênh hình, biện pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử nói riêng theo hướng phát triển toàn diện năng lực của học sinh để nâng cao hiệu quả dạy học của bộ môn
Trang 13Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp các nhà biên soạn, giáo viên giảng dạy lịch sử trường phổ thông có thêm tài liệu tham khảo hệ thống, nội dung kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử và có những định hướng cơ bản, khoa học về biện pháp sử dụng chúng trong các giờ nội khóa
Chương II: Đề xuất kênh hình trong việc biên soạn sách giáo khoa lịch sử
THCS sau 2015 phần lịch sử thế giới ( thế kỷ XVI- giữa thế kỷ XIX) Thực nghiệm
sư phạm
Trang 14NỘI DUNG Chương I VẤN ĐỀ KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ
TRUNG HỌC CƠ SỞ: LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
Đảng, nhà nước và toàn xã hội ta ngày càng có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò của bộ môn lịch sử đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Lịch sử cũng như các môn
khoa học khác ở trường phổ thông, góp phần “Hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”[77,81] Để giáo dục con
người toàn diện, chỉ có kiến thức Toán học, Vật lý, Hóa học, Văn học thôi thì chưa
đủ, mà còn phải hình thành cho học sinh bản lĩnh sống cơ bản, có tinh thần dân tộc,
để dù cho trong bất kì hoàn cảnh nào, mọi hoạt động, lao động, sáng tạo của họ luôn luôn vì mục tiêu, lý tưởng trong sáng, phục vụ lợi ích Tổ quốc Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông Học tốt lịch sử sẽ giúp thế hệ trẻ biết nhìn nhận quá khứ để đánh giá hiện tại và định hướng tương lai, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng , Nhà nước
Mục tiêu của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông thể hiện qua ba nhiệm
vụ cơ bản: Kiến thức, thái độ, kỹ năng
- Kiến thức: Học sinh phải biết, hiểu được:
+ Những sự kiện lịch sử quan trọng, những nội dung chính của lịch sử loài người từ nguồn gốc đến nay, đặc biệt là những nội dung lịch sử có liên quan đến lịch sử nước ta
+ Những nét chính về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc trên cơ sở hiểu biết về những sự kiện nổi bật nhất của từng thời kỳ, hiểu được nội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nước ta
+ Những hiểu biết về quan điểm lý luận đơn giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh
Trang 15+ Lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, trân trọng với những di sản lịch sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, thiết tha gắn bó với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
+ Trân trọng đối với các dân tộc, các nền văn hóa thế giới, có tinh thần quốc tế đúng đắn
+ Có niềm tin về sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc
+ Có thái độ và phẩm chất công dân: tích cực vì cộng đồng, yêu lao động, sẵn sàng đi vào khoa học kỹ thuật, sống nhân ái, có kỷ luật tuân theo pháp luật
- Kỹ năng: Dạy lịch sử ở trường THCS cần:
+ Bước đầu hình thành các kỹ năng cần thiết trong học tập bộ môn: kỹ năng sử dụng SGK và làm việc với các nguồn tư liệu lịch sử, kỹ năng trình bày nói và viết,
sử dụng đồ dùng trực quan nhất là khai thác và sử dụng kênh hình trong SGK từ đó phát triển được năng lực hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh
+ Rèn luyện kỹ năng hợp tác, thảo luận nhóm và bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống
Như vậy, dạy học lịch sử ở trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh
về kiến thức, mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm đúng đắn, và phát triển toàn diện cho các em Điều này phụ thuộc phần lớn vào công tác dạy học của người giáo viên lịch sử, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị đổi mới toàn diện nền giáo dục nước ta sau
2015 Việc biên soạn, khai thác và sử dụng kênh hình cho SGK sau 2015 sẽ góp phần thực hiện tốt mục tiêu môn học
1.1.2 Đặc trưng của bộ môn lịch sử
Lịch sử mang tính quá khứ, bao gồm những sự kiện, hiện tượng đều đã xảy ra,
nó tuân theo tiến trình thời gian Tất cả những sự kiện mà chúng ta nhắc đến là những chuyện đã xảy ra và nó mang tính quá khứ Do đó, con người không thể quan sát trực tiếp được các hiện tượng lịch sử mà chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua tài liệu được lưu lại Để khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó diễn ra, học sinh cần có phương pháp học tập khoa học, phát triển năng lực độc lập suy nghĩ từ đó biết, hiểu, tự đánh giá, nhận xét, khái quát các sự kiện hiện tượng lịch sử
Trang 16Mặt khác, kiến thức kịch sử mang tính cụ thể: lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân tộc đều có nét riêng do những điều kiện về thời gian, không gian, điều kiện tự nhiên… quy định Hơn nữa, tri thức lịch sử mang tính không lặp lại cả về thời gian và không gian Học sinh muốn nắm vững được các sự kiện hiện tượng lịch sử, khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách cụ thể chân thực đòi hỏi các em phải tư duy, phải rèn các kỹ năng quan sát, thu thập tư liệu, phân tích, so sánh, đánh giá… để chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động, tích cực
Khoa học lịch sử bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh
xã hội… Nội dung lịch sử như vậy phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống như kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kĩ thuật… Kiến thức lịch sử mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với nhau Kiến thức lịch sử bao gồm phần “sử” và “luận” Phần “sử” là kiến thức về lịch sử đã xảy ra trong xã hội loại người: sự kiện, thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến , kết quả… Phần
“luận” là giải thích, đánh giá về sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử đó Do đó trong quá trình học tập, giáo viên cần rèn cho học sinh các kỹ năng tri giác tài liệu, phân tích, so sánh, đánh giá sự kiện hiện tượng
1.1.3 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lý
Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11-15 tuổi, các em được vào học ở trường THCS (từ lớp 6-9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kì phát triển của trẻ em, vì nó là thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như “thời kì quá độ”,
“tuổi khó bảo” “tuổi bất trị”…Đây là bước có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành), tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… Trong thời kì này những cơ sở phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được phát triển trong tuổi thanh niên
Trang 17Tuy nhiên, quá trình hình thành cái mới thường kéo dài về thời gian và phụ thuộc điều kiện sống, hoạt động của các em Nên sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này diễn ra không đồng đều về mọi mặt Vì thế thái độ học tập của học sinh THCS cũng khác nhau Tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhưng thái độ biểu hiện không giống nhau
Tuổi thiếu niên là giai đoạn bản lề cho việc học tập cao nhất Đối với các em ý nghĩa của hoạt động học tập dần dần được xem như là hoạt động độc lập hướng vào
sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức Do đó việc biên soạn hệ thống kênh hình phong phú, đẹp, chất lượng, phù hợp, biết khai thác, hướng dẫn học sinh sử dụng kênh hình sẽ để lại ấn tượng khó quên trong các em, tạo hứng thú học tập bộ môn
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức
Nhận thức lịch sử là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ nhận thức lí tính qua kiểm nghiệm thực tiễn và cuối cùng là nhận thức chân
lí khách quan Trong đó giai đoạn nhận thức cảm tình là điều kiện xây dựng lên lâu đài nhận thức, bởi tất cả những hiểu biết của con người đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, cảm giác, tri giác
Trong học tập lịch sử, nhận thức của các em đi từ cơ sở ban đầu là nắm vững các hiện tượng lịch sử, nhưng do dặc trưng của bộ môn học sinh không thể trực tiếp quan sát các sự kiện hiên tượng lịch sử được Vì vậy, nhận thức lịch sử không thể bắt đầu từ cảm giác mà từ tri giác các tài liệu sự kiện Thực tiễn cho thấy tài liệu cảm tính càng chân thực, đa dạng, phong phú bao nhiêu thì càng tạo cơ sở thuận lợi bấy nhiêu cho nhận thức lí tính Ở lứa tuổi thiếu niên, các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiện tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở lên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn Đặc biệt, trí nhớ của các em cũng được thay đổi về chất Trong thời kì này năng lực ghi nhớ có chủ đích của các em được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ được nâng cao
Trên cơ sở tri giác ghi nhớ tài liệu, học sinh bắt đầu xử lí những gì đã tri giác
và ghi nhớ bằng việc phân tích và so sánh, qua đó học sinh nắm được bản chất của
sự kiện hiện tượng, từ đó hình thành khái niệm lịch sử, rút ra bài học, nêu quy luật
Trang 18đây chính là mục đích hình thành kiến thức trong dạy học lịch sử cho học sinh Ở tuổi thiếu niên, thành phần của tư duy hình tượng- vẫn chiếm ưu thế lớn trong cấu trúc của tư duy và tiếp tục được phát triển Lúc này các em đã hiểu bản chất của đối tượng, nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những tan vỡ những dấu hiệu
đó trong mọi trường hợp Ở tuổi này tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ,
đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm của riêng mình để hiểu, minh họa kiến thức Việc có hệ thống kênh hình đẹp, chất lượng, đúng, phù hợp trong sách giáo khoa, không chỉ giúp học sinh
có biểu tượng lịch sử mà còn là cơ sở các em phân tích, so sánh, đối chiếu nhằm phát triển năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, óc thẩm mỹ…Nếu giáo viên
có phương pháp khai thác sử dụng kênh hình hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường phổ thông
1.1.4 Yêu cầu đổi mới trong biên soạn sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông
Từ những thập niên gần đây, sự thay đổi nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, của khung cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa đã tác động mạnh đến giáo dục Các cuộc cải cách giáo dục được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới Ước tính hiện nay
cứ sau 10 đến 12 năm khối lượng tri thức lại tăng lên gấp đôi Khoa học và công nghệ là động lực chính cho sự tăng trưởng này Các tri thức ngày càng xâm nhập vào mọi mặt của cuộc sống Sự nhào luyện, hợp nhất tri thức và việc ứng dụng tri thức cho phép sản sinh nhiều trí thức hơn, nhiều ứng dụng hơn Các bước ngoặt lớn trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người được đánh dấu bằng những tri thức mới Những bước phát triển có tính cách mạng trong vài thập niên vừa qua đã làm xuất hiện các xã hội dựa vào tri thức Sự giàu có và thịnh vượng của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào tri thức và kỹ năng Thế giới tràn ngập những sản phẩm và dịch vụ mới dựa trên sức mạnh chất xám và sự sáng tạo của loài người Nước ta đang phải đối mặt với thách thức tìm ra con đường để tiếp cận với xu thế của cách mạng tri thức Giáo dục đòi hỏi phải có những bước nhảy vọt để phát triển con người, tạo ra con người có tư duy sáng tạo, có năng lực nắm bắt và vận dụng khoa
Trang 19Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, những nhu cầu về nguồn lực lao động có trình độ cao đòi hỏi và thúc đẩy giáo dục phải thay đổi Mặt khác nền kinh tế của từng quốc gia đang chịu ảnh hưởng sâu sắc của quá trình toàn cầu hóa qua sự chia sẻ sản xuất mang tính quốc tế, qua sự phân bố lại lao động và các nghành công nghiệp trên quy mô toàn cầu, qua sự thông tin liên lạc tức thời ở mọi thời điểm trên thế giới Giáo dục phải chuẩn bị hành trang cho con người của tương lai tham gia vào quá trình toàn cầu hóa này, sẵn sàng thích nghi với sự thay đổi mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Hơn nữa giáo dục phải tập trung vào con người và phát triển cuả con người Đổi mới giáo dục không phải chỉ nhằm thực hiện những mục tiêu do xã hội đặt ra mà phải chú ý tới nhu cầu của cá nhân người học Điều này đòi hỏi một cách nhìn tổng thể về quá trình giáo dục và sự biến đổi định tính của giáo dục liên quan đến nội dung, phương pháp và kết quả cần đạt được Vấn đề chủ yếu trong quá trình biến đổi định tính đó là việc do người học làm chủ, chủ yếu tính sáng tạo trong quá trình học, tới việc hình thành các giá trị cần thiết cho con người thích ứng với xã hội đương đại
Đối mặt với những thay đổi của xã hội , nhiều nước trên thế giới tiến hành cải cách giáo dục hướng tới sự phát triển một nền giáo dục nhân văn, phát triển khả năng công nghệ, tinh thần công dân, tinh thần dân tộc và hướng tới sự phát triển một tương lai bền vững Chương trình giáo dục phải được thiết kế sao cho người học vừa có vốn kiến thức chắc chắn, biết xem xét và thực hiện sự lựa chọn, biết cách giải quyết vấn đề, vừa biết nhận thức sâu sắc về tương lai và hành động một cách phù hợp Những vấn đề đặt ra của xã hội yêu cầu cải cách chương trình giáo dục phải đảm bảo giúp học sinh thích nghi với xã hội, xác định được vai trò của mình trong quá trình biến đổi đó; giúp học sinh chuyển hóa những điều kiện học tập
ở nhà trường thành trách nhiệm trong tương lai Nội dung học vấn trong nhà trường bao gồm cả tri thức, kỹ thuật, thái độ Nhưng môn học mới được tạo lập với đầy đủ quan niệm về tương lai, phương pháp dạy học thích hợp được phát triển và ứng dụng nhằm giúp học sinh thích ứng với xã hội đương đại và được chuẩn bị cho xã hội tương lai Các nội dung và phương pháp dạy học sẽ nhằm vào các mục tiêu như: bồi
dưỡng tư duy mạch lạc (logic, phương pháp dự đoán, tư duy sáng tạo ) bồi dưỡng
Trang 20những kỹ năng thông báo có hiệu quả gồm trình bày trước đông người, sử dụng ngôn ngữ thuần thục , tìm hiểu con người và môi trường sống, tìm hiểu con người và xã
hội , hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực (ý thức trách nhiệm, tính tích cực, chủ động, năng lực sáng tạo, phát triển cá tính, bản sắc của người học)
Xuất phát từ một chương trình giáo dục phù hợp với kinh tế- xã hội, khoa học, văn hóa đương đại thì đặc điểm của chương trình giáo dục ấy phải hướng vào việc học suốt đời, giáo dục nhằm hình thành năng lực phát triển và học thông qua các hoạt động Trên cơ sở đó Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định:
“Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”[71] Từ đó xác định mục tiêu đến năm 2020
nền giáo dục nước ta đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực nhất
là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và
cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập Trong khi đó, mặc dù nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra đánh giá đã được đổi mới nhưng vẫn chậm Nội dung chương trình còn nặng nề về lý thuyết, phương pháp dạy học lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù vùng miền và đối tượng người học, chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành cho học sinh Sách giáo khoa lịch sử và phương pháp giảng dạy lịch sử vẫn còn nhiều bất cập; kiến thức mang tính hàn lâm, nặng về số liệu, kênh hình và nguồn sử liệu chưa phong phú Phương pháp giảng dạy chưa linh hoạt, nặng vể cung cấp sự kiện mà chưa kích thích tư duy độc lập của học sinh, sự
Trang 21Tất cả những vấn đề nêu trên khẳng định việc đổi mới chương trình giáo dục nói chung, biên soạn sách giáo khoa lịch sử, phương pháp giảng dạy lịch sử nói riêng là cần thiết
1.1.5 Quan niệm về kênh hình trong SGK
1.1.5.1 Cấu tạo sách giáo khoa sách lịch sử THCS
Hiện nay vấn đề SGK sau 2015 được viết như thế nào, đã và đang được bàn luận rất sôi nổi Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này, tuy nhiên một
số chuyên gia về SGK khẳng định: SGK sau 2015 sẽ được thiết kế theo hướng phát triển năng lực người học, không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày của học sinh Chỉ lựa chọn một số nội dung cơ bản, thiết thực, gần gũi với học sinh thay vì nặng kiến thức hàn lâm Các chuyên gia cũng khẳng định tri thức khoa học làm tâm, kỹ năng người học làm tham chiếu trong việc biên soạn nội dung SGK, không lấy logic môn học mà lấy logic phát triển năng lực học sinh làm chính, hai cái này có giao thoa nhưng không chồng khít Đó
là những ý kiến xoay quanh vấn đề SGK sau 2015 sẽ được biên soạn thế nào, quan niệm nào đi chăng nữa thì nội dung SGK phải thể hiện sự tích hợp giữa khoa học cơ bản và khoa học giáo dục SGK nói chung, SGK lịch sử nói riêng là tài liệu học tập
cơ bản để học sinh tự học có hướng dẫn Khi giảng dạy giáo viên không được lặp lại bài viết trong sách , nhưng cũng không thoát ly hoàn toàn sách Do vậy, SGK phải được biên soạn theo yêu cầu sư phạm: ngắn gọn, rõ ràng, phong phú, đẹp giúp học sinh tích cực học tập dưới sự tổ chức hợp lý của giáo viên Hiện nay tồn tại 2 quan niệm cơ bản về cấu tạo SGK:
Quan niệm thứ nhất: Từ lâu, nhiều nhà giáo dục lịch sử nước ta cũng như nước ngoài thường phân chia nội dung SGK ra 2 phần “kênh chữ” và “kênh hình”
“Kênh chữ”, chỉ tất cả những phần có chữ viết, bao gồm bài viết chính cho tiết
học và những phần khác như câu hỏi, tóm tắt mở đầu, tư liệu tham khảo, chú thích… là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong SGK để trình bày nội dung tri thức của môn học, chỉ dẫn về phương pháp học tập, đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của học sinh
Trang 22"Kênh hình" bao gồm các ảnh chụp, tranh vẽ, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị,… theo
chức năng hoặc mục đích sử dụng Kênh hình được chia ra làm 5 loại: minh họa, cung cấp thông tin, vừa minh họa vừa cung cấp thông tin, rèn kỹ năng thực hành, kiểm tra kiến thức
Cách phân chia cấu tạo SGK theo quan niệm này mới chỉ nhấn mạnh ý nghĩa
về mặt thông tin để học sinh nhận thức nội dung bài học chứ chưa làm rõ chức năng nhiệm vụ mỗi phần trong SGK lịch sử
Quan niệm thứ hai: quan niệm này được các nhà giáo dục lịch sử tán thành, SGK phải có hai phần: “bài viết” và “cơ chế sư phạm”
Bài viết là nội dung cơ bản của chương trình, được trình bày ngắn gọn trong một số trang cho mỗi tiết học Đây là bộ phận chủ yếu của SGK mà học sinh phải nghiên cứu, nắm vững các kiến thức cơ bản, được lựa chọn phù hợp với yêu cầu
học tập SGK chia “bài viết” thành các phần, chương, bài, tiết Thông thường mỗi
phần gồm một số chương, mỗi chương gồm một số bài, mỗi bài gồm từ 1 đến 3 tiết
Cơ chế sư phạm: là chỉ tất cả những thành tố trong SGK, trừ bài viết, dành cho một tiết học, bao gồm các câu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, bài đọc thêm, phần
minh họa dùng đồ dùng trực quan quy ước khác như (sơ đồ, biểu đồ, đồ thị…) Nội hàm cơ chế sư phạm rộng hơn “kênh hình” Cơ chế sư phạm là một nội dung đặc biệt
quan trọng của SGK, không chỉ dùng để minh họa, hỗ trợ cho bài học mà còn là nguồn kiến thức cung cấp cho học sinh trong học tập
Kênh hình là một bộ phận của cơ chế sư phạm, có vị trí vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, phát triển toàn diện học sinh Kênh hình biên soạn trong SGK lịch sử rất đa dạng, phong phú, tùy theo chức năng và mục đích sử dụng được chia làm 5 loại: loại minh họa để cụ thể hóa nội dung 1 sự kiện quan trọng, loại cung cấp thông tin, loại vừa cung cấp thông tin vừa minh họa
cho kênh chữ, loại dùng để rèn luyện năng lực thực hành, kiểm tra kiến thức (loại bài tập, thực hành) Điều đó có nghĩa việc biên soạn kênh hình trong SGK khai
thác, sử dụng kênh hình trong giờ giảng là điều không thể thiếu Giáo viên có nhiệm
vụ sử dụng cả hai thành phần này (kênh chữ và kênh hình) để làm rõ nội dung kiến
Trang 23rèn luyện kỹ năng bộ môn, phát triển các thao tác tư duy thông qua quá trình lĩnh hội sáng tạo kiến thức của học sinh
Như vậy phần cơ chế sư phạm không phải là phần phụ mà là một thành tố quan trọng của nội dung SGK lịch sử và luôn luôn gắn với bài viết Do đó, khi biên soạn SGK cần chú ý đến mối quan hệ gắn bó mật thiết này
Trên thực tế cách phân chia bài viết và cơ chế sư phạm tỏ ra dễ tiếp nhận vì nó
thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần cơ bản của SGK với nhau “Bài viết”
là bộ phận chủ yếu mà học sinh nắm vững , còn “cơ chế sư phạm” giúp học sinh
hiểu sâu sắc bài viết, kiểm tra nhận thức , kết quả học tập của mình, phát triển năng lực tư duy độc lập, thông minh sáng tạo
1.1.5.2 Phân loại kênh hình
Kênh hình bao gồm: ảnh chụp, hình vẽ, bản đồ, sơ đồ, đồ thị , kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử có tác dụng tạo hình ảnh giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sinh động Kênh hình còn có thể thay thế cho kênh chữ, cụ thể hóa, minh họa cho nội dung kênh chữ , gây hứng thú học tập cho học sinh Nó còn góp phần làm nội dung sách giáo khoa thêm sinh động, hấp dẫn Thực tế giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cho thấy, nếu giáo viên chỉ giúp học sinh khai thác nội dung kênh chữ một cách đơn thuần thì tiết học trở nên nặng nề, kém hấp dẫn, không tạo được hiệu quả của bài học Tuy nhiên đối với các loại kênh hình : tranh vẽ, hình ảnh, bản đồ, sơ đồ, đồ thị…nếu học sinh được hướng dẫn khai thác thì các em hoàn toàn chủ động trong quá trình học tập, phát triển năng lực tư duy độc lập, trí tưởng tượng phong phú, hình thành và phát triển những kĩ năng quan sát, miêu tả, tường thuật, phân tích, giải thích , so sánh…
Hình ảnh, tranh ảnh lịch sử (bao gồm: tranh ảnh minh họa đương thời,
tranh ảnh mi nh họa hiện thời và ảnh tư liệu) Ảnh lịch sử là ảnh chụp lại những
sự kiện, biến cố lịch sử…ngay ở thời điểm diễn ra, nên có tính chân xác cao và
có giá trị rất lớn
Hình ảnh lịch sử khôi phục lại sự kiện hiện tượng, biến cố lịch sử khi nó đã xảy ra Tuy không được vẽ lại ngay tại thời điểm diễn ra sự kiện, hiện tượng nhưng nếu tách bỏ yếu tố nghệ thuật, hình vẽ vẫn có giá trị lịch sử rất lớn Tranh ảnh lịch
Trang 24sử có tác dụng tạo biểu tượng rất cao trong quá trình dạy học, nó phản ánh được các lĩnh vực của lịch sử (kinh tế, chính trị, quân sự) đặc biệt những bức ảnh, hình vẽ chân dung những nhân vật lịch sử Loại tranh ảnh để đề xuất biên soạn sách giáo khoa phải là tranh ảnh khắc họa kiến thức theo nội dung bài học, phải là tranh ảnh trực tiếp (tư liệu sao chép từ bản gốc, hoặc minh họa vào thời điểm gần với việc xảy
ra sự kiện ) Tùy vào nội dung bài mà sử dụng tranh ảnh để giới thiệu, khai thác nội dung hoặc củng cố bài, tùy theo mục đích sử dụng mà giới thiệu các vấn đề để học sinh hiểu rõ
Bản đồ lịch sử, đồ thị, sơ đồ, niên biểu là những kênh hình được xếp vào loại
đồ dùng trực quan quy ước Loại đồ dùng trực quan này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng, khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính trị-xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện mà còn là cơ sở hình thành khái niệm cho học sinh
Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định Đồng thời bản đồ lịch sử giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học Bản đồ lịch sử không cần có nhiều chi tiết về điều kiện thiên nhiên mà cần những ký hiệu về biên giới các quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố, địa điểm xảy ra biến cố quan trọng nên thường được gọi là “lược đồ”
Lược đồ có thể chia làm hai loại chính: lược đồ tổng hợp và lược đồ chuyên
đề Lược đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện tự nhiên nhất định Lược đồ chuyên đề nhằm diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay một mặt của quá trình lịch sử, như diễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của một nước trong một giai đoạn lịch sử
Trong biên soạn sách giáo khoa và dạy học lịch sử rất cần thiết sử dụng hai loại lược đồ bởi nó đem lại kết quả giáo dưỡng, giáo dục và phát triển rất cao
Niên biểu: Hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian, đồng
Trang 25Niên biểu chuyên đề đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bật nào đấy của một thời kỳ lịch sử nhất định, nhờ đó mà học sinh hiểu được bản chất
sự kiện một cách toàn diện
Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một lúc trong lịch sử, nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc để rút ra một kết luận khái quát có tính chất nguyên lí
Bảng so sánh là một dạng của niên biểu so sánh, nhưng có thể dùng số liệu và tài liệu sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện cùng loại hay khác loại
Đồ thị: dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện lịch
sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học Đồ thị có thể biểu diễn bằng một mũi tên để minh họa sự vận động đi lên, sự phát triển của một hiện tượng lịch sử, hoặc được biểu diễn trên các trục hoành (ghi thời gian) và trục tung (ghi sự kiện)
Sơ đồ: nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng những hình học dơn giản, diễn
tả tổ chức một cơ cấu xã hội, một chế độ chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử
Như vậy có thể nói, việc phân loại kênh hình là rất rõ ràng, mỗi loại kênh hình
có đặc trưng riêng qua đó nó phù hợp với từng sự kiện hiện tượng lịch sử Là đồ dùng trực quan có tính tạo biểu tượng rất cao Nó không chỉ có ý nghĩa về mặt kiến thức, giáo dục tư tưởng, thái độ mà còn phát triển kỹ năng cơ bản cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử Với loại hình phong phú, ý nghĩa toàn diện như vậy,
Trang 26rất cần thiết cho việc biên soạn kênh hình cho sách giáo khoa sau năm 2015 Tùy vào từng loại hình cuả kênh hình mà có thể biên soạn ở từng nội dung của bài học lịch sử Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ có thể đề xuất những kênh hình đặc trưng nhất cho từng loại trên cơ sở nghiên cứu và sưu tầm được để có thể phục vụ cho việc biên soạn sách giáo khoa lịch sử sau năm 2015
1.1.5.3 Ý nghĩa của sử dụng kênh hình
Như chúng ta đã biết, quá trình nhận thức lịch sử của học sinh bao gồm ba giai đoạn, trong đó giai đoạn khởi đầu là giai đoạn trực quan Để giai đoạn trực quan diễn ra sinh động, giàu hình ảnh, đảm bảo quy luật nhận thức, giáo viên phải sự dụng kênh hình Trong quá trình dạy học lịch sử, đây là yêu cầu có tính nguyên tắc Mặt khác, với tính quá khứ, tính cụ thể, tính không lặp lại, mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử
đã diễn ra đều gắn với tên đất, tên người Trong khi đó kênh hình có ưu thế rất lớn trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập; đặc biệt học tập với kênh hình sẽ làm học sinh hứng thú, tích cực hơn, từ đó hiệu quả bài học được nâng cao
Từ những cơ sở trên đây, việc đề xuất hệ thống kênh hình cho biên soạn sách giáo khoa lịch sử sau 2015 có vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy cũng như đổi mới toàn diện giáo dục, đặc biệt trong việc phát triển tư duy, nhận thức của học sinh
1.1.5.3.1 Đối với học sinh
* Về kiến thức:
Chúng ta đã biết, cùng với việc cung cấp sự kiện, biểu tượng lịch sử là đơn vị kiến thức không thể thiếu, khởi đầu cho còn đường hình thành kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, trong các loại biểu tượng lịch sử cần hình thành cho học sinh thì biểu tượng về thời gian, địa lý, con người và sự vật hiện tượng cụ thể là phổ biến Bởi vì, mỗi sự kiện lịch sử luôn gắn với địa danh cụ thể, con người, sự vật
cụ thể nên sử dụng kênh hình là biện pháp có ưu thế rất lớn trong việc hình thành các biểu tượng lịch sử Mặt khác, qua nghiên cứu các nhà giáo dục học trên thế giới
và Việt Nam đã khẳng định ưu thế số một của đồ dùng trực quan – kênh hình trong
Trang 27Theo số liệu khoa học mà UNESCO đã công bố thì khi nghe, học sinh chỉ nhớ 15% thông tin (nhiều kiến thức lại không phải là kiến thức cơ bản, chủ yếu) Khi nhìn, các em nhớ 25% thông tin và việc nghe nhìn đem lại kết quả cao hơn: 65% thông tin Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, kết hợp với sử dụng kênh hình sẽ tạo trong bộ não học sinh những biểu tượng lịch sử sinh động, sâu sắc Trên cơ sở đó thu hút sự tập trung chú ý cao độ của học sinh
Trên cơ sở tạo biểu tượng, sử dụng hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa còn giúp học sinh hiểu được bản chất những mối liên hệ giữa các sự kiện, là phương tiện hiệu quả góp phần hình thành khái niệm quan trọng, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội Nhận thực lịch sử khó hơn các môn khoa học khác ở điểm, có hệ thống khái niệm riêng biệt Các khái niệm lịch
sử chính là đặc trưng, tính chất của sự kiện, nó có tính khái quát và trừu tượng hóa rất cao Tạo biểu tượng lịch sử chân thực giúp học sinh dễ dàng đi đến nắm khái niệm và rút ra các quy luật về sự phát triển xã hội, qua đó học sinh sẽ khắc sâu được những kiến thức đã học
Sử dụng kênh hình có vai trò lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử bởi đó là những hình ảnh thu nhận được
từ trực quan
Ví dụ, khi đề cập đến các cuộc phát kiến địa lý, học sinh sẽ khó nắm bắt được bản chất cũng như mục đích các cuộc phát kiến của thương nhân châu Âu tại các lục địa xa xôi mà họ vừa khám phá Giáo viên cần kết hợp khai thác kiến thức ở phần
bài viết, nguồn sử liệu và bức hình “Crixtop Colombo tìm ra châu Mỹ”, tổ chức học
sinh học tập, nêu câu hỏi gợi mở để học sinh tự tìm hiểu nội dung kiến thức
Trang 28(?) Những người trong bức tranh đang làm gì? Họ là ai?
(?) Theo em toàn cảnh bức tranh nhằm diễn tả vấn đề gì?
(?) Từ bức tranh em hãy rút ra nhận xét về mục đích tiến hành phát kiến của các thương nhân châu Âu
Qua quá trình tích cực học tập, học sinh không chỉ có được biểu tượng về đoàn thám hiểm của Colombo khi lần đầu tiên đặt chân đến châu Mỹ, mà với sự chủ động quan sát, tìm hiểu nội dung kênh hình thông qua sự hướng dẫn của giáo viên, các
em sẽ nhận thức được rằng thực chất mục đích phát kiến địa lý của thương nhân châu Âu là quá trình xâm lược châu lục khác bằng vũ lực với hình ảnh ba tên lính đang hống hách đứng cầm vũ khí đe dọa, còn thổ dân đang sợ hãi dâng lên cho chúng vàng bạc, châu báu Với danh nghĩa tôn giáo, chúng còn chiếm cả đất đai của
họ, ban đầu là những vùng đất ven biển Trên cơ sở đó các em sẽ hiểu rõ hơn khái niệm phát kiến địa lý Từ đó học sinh không thể quên được hậu quả của các cuộc phát kiến địa lý Việc sử dụng kênh hình như vậy sẽ giúp học sinh ít tốn công sức
mà lại thu nhận có hiệu quả kiến thức lịch sử, những hình ảnh trực quan giúp học sinh xích lại gần với hiện thực quá khứ hơn và có cảm giác như đang tham gia, hay chứng kiến tận mắt các sự kiện lịch sử vậy
* Về thái độ:
Trang 29thông rất có lợi thế nhằm thực hiện mục tiêu của Đảng và nhà nước đề ra, đào tạo những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có ý chí góp phần xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Khi quan sát, làm việc độc lập với kênh hình, các em sẽ hiểu sâu sắc sự kiện, hiện tượng lịch sử, từ đó các em nảy sinh nhiều nhiều trạng thái, cảm xúc, điều này tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức một cách đúng đắn cho các
em Sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử giúp giáo viên định hướng tốt lập trường, tư tưởng chính trị cho học sinh, nhận thức được chính nghĩa – phi nghĩa rõ ràng trước những vấn đề lịch sử quá khứ và cả hiện tại
Tất cả kiến thức lịch sử, những biểu tượng về quần chúng nhân dân, nhân vật, vĩ nhân, nó tác động không những lên trí tuệ mà vào cả tâm hồn và tình cảm Không phải ngẫu nhiên mà Sác- đa- cốp xem hiện tượng nói chung, biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng đã góp phần phát triển hứng thú, lý tưởng, niềm tin… hình thành xu hướng cộng sản trong cá nhân học sinh
Qua những bài học lịch sử, những hành động đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, của những người anh hùng, sự lao động sáng tạo của những người thợ thủ công, những nghiên cứu của những nhà bác học, có sức lôi cuốn mãnh liệt đối với học sinh, gây cho các em những cảm xúc lịch sử sâu đậm Từ những xúc cảm lịch sử đó góp phần hình thành ở các em sự kính phục, lòng tự hào và trong hoàn cảnh nhất định, nó thổi những ngọn lửa cách mạng vào tuổi trẻ
Ví dụ: Khi đề cập đến “Cách mạng Pháp 1789” có sự kiện 14/7/1789 quần chúng phá ngục Baxti
Trang 30Giáo viên và học sinh khai thác bức hình với việc miêu tả và tường thuật, lý giải các câu hỏi định hướng
(?) Quan sát bức hình hãy miêu tả ngục Baxti
(?) Quần chúng nhân dân Pari đã nổi dậy tấn công ngục Baxti như thế nào? (?) Hãy nhận xét về cuộc tấn công ngục Baxti của quần chúng nhân dân Pari
Cùng với phương pháp dạy học mới, hình thức tổ chức dạy học hiệu quả của giáo viên, sự chủ động học tập của mình,
học sinh hiểu được tinh thần đoàn kết, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, triệt để, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân Pa-ri, biểu tượng của chế độ phong kiến uy quyền Pháp bị san phẳng, khẳng định nếu biết phát huy sức mạnh của quần chúng thì ắt sẽ đưa cách mạng đi xa Qua đó học sinh kính phục quần chúng nhân dân tham gia cách mạng và tin tưởng vào sức mạnh quần chúng khi tham gia cách mạng Bên cạnh những kênh hình phản ánh sự kiện, hiện tượng, nhân vật có tác dụng giáo dục: yêu, kính phục, tin tưởng… thì những kênh hình phản ánh những nhân vật đại diện cho giai cấp thống trị đã hết vai trò tiến bộ, trở thành phản động,
đi ngược lại quyền lợi của quần chúng lao động, hành động của họ nếu không là nguyên nhân gây ra thảm cảnh cho nhân dân lao động thì cũng ảnh hưởng tiêu cực đến xu thế phát triển của xã hội, sẽ gây phản ứng ngược lại từ phía học sinh, sẽ khơi dậy ở các em sự căm ghét hành vi hung bạo, độc ác của nhân vật đó:
Trang 31Ví dụ: Với hình ảnh “Sự hai mặt của vua Lui XVI”
(?)Em có hiểu biết gì về vua Lui XVI của Pháp?
(?) Tại sao nhà vua được minh hoạ bằng hình ảnh hai mặt?
(?) Hình ảnh hai mặt của nhà vua thể hiện điều gì?
(?) Vì sao nhà vua bị xử tử?
Với việc quan sát, chủ động tìm hiểu của học sinh và nêu đặc điểm của giáo viên về Lui XVI đã giúp học sinh có biểu tượng về một ông vua ăn chơi xa hoa, không có khả năng lãnh đạo đất nước, thiếu quyết đoán, hai mặt, bán rẻ đất nước vì lợi ích bản thân, dòng tộc
Là ông vua điển hình trong những ông vua của chế độ phong kiến Vì vậy, cần phải xử tử, xóa bỏ tận gốc tàn tích phong kiến, mở đường cho phương thức sản xuất tiến bộ với thể chế dân chủ hơn ra đời
Thông qua việc nắm bắt sự kiện, hiểu bản chất của sự kiện Học sinh có thái độ căm ghét hành vi độc ác, phản bội của vua Lui XVI, đồng thời học sinh cũng ủng hộ
sự kiện quyết của chính quyền và quần chúng nhân dân trong việc thủ tiêu chế độ phong kiến
Như vậy, có thể nói việc quan sát kênh hình đã tác động vào trí óc học sinh, làm nảy nở nhu cầu nhận thức lịch sử ở các em Từ đó, các em tích cực, chủ động tìm hiểu kiến thức qua tài liệu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo Cộng với được sự
tổ chức hoạt động, định hướng của giáo viên (giáo viên bổ sung kiến thức) học sinh
Trang 32có biểu tượng về sự kiện, hiện tượng, trên cơ sở đó hình thành các khái niệm lịch
sử Đồng thời, nó cũng tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của các em, các
em có thể yêu, ủng hộ, cảm phục, tin tưởng, có thể ghét, căm phẫn, lên án… Trên
cơ sở đó hình thành đạo đức, hành vi của học sinh
*Về kĩ năng
Việc biên soạn và sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử là một trong những biện pháp cơ bản thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh đạt kết quả cao theo con đường biện chứng từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn Nhìn vào bất cứ loại đồ dùng trực quan nào, học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử được minh họa, phản ánh như thế nào rồi suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua
Kênh hình thực ra có thể xem là “những mảnh ghép của quá khứ” Mỗi kênh
hình biểu đạt sự kiện hiện tượng của lịch sử Để nắm được nội dung kênh hình, dựng lên trong tâm trí một hiện thực lịch sử từ những dấu vết của quá khứ, học sinh cần chủ động quan sát và phải phát huy trí tưởng tượng, phán đoán, hình dung quá khứ, kết hợp với tìm hiểu những kiến thức lịch sử có liên quan dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên Khi học sinh tích cực độc lập hoạt động nhận thức nói chung, tư duy nói riêng để làm rõ kiến thức cũng là lúc các em được phát triển các khả năng nhận thức trong học tập lịch sử Bên cạnh đó, hiển nhiên khi “đọc mã” được kênh hình, học sinh cũng hình thành những kĩ năng sử dụng bản đổ, sơ đồ, hình ảnh
và ngày càng thuần thục hơn
Ví dụ: Khi đề cập bài Chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ Giáo viên sử dụng lược đồ 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ để làm rõ vị trí của 13 bang thuộc địa có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển kinh tế của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lược đồ và đặt câu hỏi gợi mở để học sinh tìm hiểu và trình bày hiểu biết của mình
Trang 33(?) Em hãy xác định vị trí của 13 thuộc địa trên lược đồ
(?) Quan sát lược đồ kết hợp kiến thức trong sách giáo khoa lí giải tại sao kinh tế tư bản chủ nghĩa lại phát triển mạnh mẽ ở 13 thuộc địa?
Học sinh phải quan sát lược đồ xác định vị trí của 13 thuộc địa nằm ở ven Đại Tây Dương Với ưu thế cạnh biển, với những cảng nước sâu rất thuận lợi cho việc
ra vào của tàu bè nên hoạt động thương mại rất phát triển Cộng với điều kiện tự nhiên ở miền Bắc, miền Trung phù hợp phát triển công, thương nghiệp, miền Nam phát triển kinh tế đồn điền… Như vậy, khi hoàn thành nhiệm vụ học tập, các em phát triển được khả năng quan sát, trí tưởng tượng, kĩ năng phân tích của mình, biết
“đọc” lược đồ chính xác
Đặc biệt, sử dụng kênh hình sẽ góp phần phát triển các thao tác tư duy cho học sinh Bởi vì để hiểu sâu sắc các vấn đề lịch sử, phát hiện ra quy luật vận động của chúng khi quan sát, nghiên cứu kênh hình, học sinh bắt buộc phải phân tích, phán đoán, so sánh đối chiếu những sự kiện, hiện tượng lịch sử nhằm hiểu được bản chất của vấn đề, học sinh sẽ trình bày lại những vấn đề lịch sử mà học sinh tìm hiểu Để bài trình bày thuyết phục, các em bên cạnh hiểu bản chất sự kiện, còn phải lựa chọn ngôn ngữ chính xác, rõ ràng, giàu hình ảnh Qua những hoạt động học tập với kênh hình như vậy nhất định các em sẽ dần biết cách nhận xét, đánh giá, phát triển lập
Trang 34luận lô-gic, sử dụng thuần thục ngôn ngữ…Bằng sự tích cực tư duy, chủ động trong hoạt động học tập sáng tạo qua sử dụng kênh hình, kiến thức trong bài học, tư liệu gốc và hệ thống câu hỏi gợi mở, các em sẽ trở nên năng động hơn, tự tin, linh hoạt trước tập thể và ngày càng làm chủ được kiến thức của mình
1.1.5.3.2 Đối với giáo viên
Sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông là chỗ dựa quan trọng của giáo viên trong quá trình giảng dạy Nói cách khác sách giáo khoa là tài liệu chính để giáo viên có thể sử dụng trong việc chuẩn bị và tiến hành quá trình giảng dạy Tuy nhiên,
có một thực tế là sách giáo khoa thường tĩnh hơn sự phát triển nhanh chóng của khoa học lịch sử Nội dung cơ bản của sách giáo khoa có tính chất ổn định trong khoảng thời gian nhất định, do đó bao giờ cũng lạc hậu hơn so với sự phát triển của khoa học lịch sử, dù có viết đầy đủ đến đâu sách giáo khoa cũng không thể phản ánh một cách toàn diện và kịp thời những thành tựu của khoa học kỹ thuật, nhất là
sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng học tập của học sinh Vì vậy việc đổi mới biên soạn sách giáo khoa sau mười năm, hơn mười năm là hoàn toàn phù hợp với nền giáo dục nước ta cũng như những nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới Điều này cũng đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, tham khảo tài liệu mới để mở rộng, nâng cao trình độ khoa học của mình nhằm làm cho bài giảng phong phú, sâu sắc, đảm bảo tính hiện đại, cập nhật những kiến thức lịch sử cần truyền thụ cho học sinh
Việc đề xuất biên soạn kênh hình cho sách giáo khoa sau 2015 giúp giáo viên định hướng phương pháp dạy học, hình thức tổ chức học tập, quá trình nghiên cứu tìm tòi, sử dụng nguồn sử liệu phục vụ cho quá trình dạy học
Thông qua hệ thống kênh hình, giáo viên phát huy hiệu quả các phương pháp dạy học truyền thống cũng như những phương pháp dạy học mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Với hệ thống kênh hình đó, giáo viên sẽ thành thạo các kỹ thuật dạy học như dùng hình ảnh để mở bài tạo tình huống có vấn đề cho học sinh, kỹ thuật kết hợp hình ảnh để trình bày, giải thích thông qua các bài miêu tả, tường thuật, kể chuyện Thông qua trao đổi đàm thoại để tạo tình huống có vấn đề và
Trang 35nhuyễn như vậy sẽ nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là phương pháp giảng dạy của giáo viên, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu giảng dạy trong thời đại mới
Bên cạnh đó, đề xuất biên soạn kênh hình cũng định hướng cho giáo viên hình thức tổ chức dạy học trên lớp Ngoài việc tổ chức học tập cả lớp, cá nhân thì dạy học nhóm, nhóm đôi được tăng cường Qua hình thức tổ chức dạy học đó giáo viên nắm bắt rõ hơn về trình độ nhận thức, tâm lý của học sinh Từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp Hơn nữa, với phương châm tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn sẽ làm cho học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Đồng thời lớp học trở thành môi trường cộng tác giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh Qua đó giúp giáo viên khắc phục được tình trạng truyền thụ tri thức một chiều, linh hoạt hơn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới, xử lý tình huống sư phạm để giáo viên luôn là người tổ chức chủ đạo của quá trình dạy học
Việc đề xuất biên soạn kênh hình cho sách giáo khoa sau 2015 còn cung cấp cho giáo viên nguồn sử liệu phong phú, thúc đẩy giáo viên tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, lựa chọn những nguồn sử liệu giá trị, đắt, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Như vậy đã gián tiếp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của giáo viên
Như vậy, có thể thấy việc đề xuất biên soạn kênh hình cho sách giáo khoa lịch
sử sau năm 2015 có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp học sinh nắm vững, mở rộng, đào sâu kiến thức, hình thành những phẩm chất cần thiết, đó là ý thức vươn lên trong học tập, độc lập, sáng tạo, tự tin Đồng thời phát huy được năng lực nhận thức và năng lực thực hành cho các em Bên cạnh đó giúp cho giáo viên không ngừng trau dồi kiến thức lịch sử, đổi mới phương pháp dạy học, linh hoạt trong tổ chức dạy học trên lớp Đó cũng là vấn đề cấp thiết đã, đang và sẽ đặt ra để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Ở Việt Nam
Trang 36Kênh hình là một bộ phận trong “cơ chế sư phạm” cấu thành bài học lịch sử
trong sách giáo khoa ở phổ thông phục vụ cho quá trình dạy học Để tìm hiểu thực tiễn việc biên soạn, sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi tiến hành điều tra thực tế ở 6 trường trung học cơ sở: Trung học cơ sở thị trấn Thịnh Long; Trung học cơ sở A Hải Đường (Nam Định); Phổ thông dân tộc nội trú Quỳnh Nhai; Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, Trung học cơ sở Tô Hiệu (Thành phố Sơn La)
Trong phiếu điều tra dành cho giáo viên, chúng tôi sử dụng 10 câu hỏi, có
22 giáo viên tham gia; phiếu điều tra học sinh có 8 câu hỏi với 210 học sinh được điều tra
* Mục đích khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông để tìm hiểu thực tế việc nhận thức tầm quan trọng của kênh hình đối với hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, những ưu điểm, tồn tại trong việc khai thác kênh hình của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, một
số giả thiết về việc biên soạn kênh hình trong sách giáo khoa sau năm 2015 để tham khảo ý kiến của giáo viên, học sinh
* Nội dung khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế việc dạy – học ở trường phổ thông theo các nội dung sau:
- Nhận thức của giáo viên, học sinh về vai trò, ý nghĩa của kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở
- Thực trạng về sử dụng, cách khai thác của giáo viên, học sinh, những ưu điểm, hạn chế của hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa hiện nay
- Một số đề xuất trong việc biên soạn kênh hình cho sách giáo khoa sau năm 2015
Trang 37* Đối tượng khảo sát
Để hiển rõ thực tiễn việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử ở trường trung học cơ sở, chúng tôi tiến hành điều tra 22 giáo viên, 210 học sinh ở các trường trung học cơ sở ở Nam Định và Sơn La
* Phương pháp tiến hành khảo sát
Tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với giáo viên (Phụ lục 1) học sinh (Phụ lục 2) Sau khi tiến hành khảo sát và xử lí số liệu, chúng tôi thu được kết quả:
1.2.1.1 Đối với giáo viên
Để biết được nhận thức của giáo viên về vị trí, ý nghĩa và thực tế sử dụng kênh hình trong sách khoa lịch sử, chúng tôi tiến hành khảo sát theo các nội dung được thống kê cụ thể trong bảng tổng kết điều tra thực tế sử dụng kênh hình của giáo viên
ở trường trung học cơ sở
Qua bảng số liệu, có thể thấy một số vấn đề sau đây về kênh hình
Trước hết, nhận thức của giáo viên về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở Đa số các giáo viên khi được hỏi đều đồng ý với ý kiến “rất cần” sử dụng kênh hình và “thường xuyên” sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử Qua số liệu thống kê (Phụ lục 3) ta thấy, hấu hết giáo viên đều nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của việc sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử
Thứ hai, về mục đích sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử, hầu hết giáo viên đề lựa chọn cả bốn phương án mà chúng tôi đưa ra Như vậy, giáo viên đã xác định đúng mục đích của việc sử dụng kênh hình trong giảng dạy, không chỉ
để cụ thể hóa nội dung bài học, để giải thích sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch
sử, đề ra câu hỏi, bài tập, bài kiểm tra mà còn để gây hứng thú học tập cho học sinh Để xác định đúng mục đích sử dụng kênh hình trong giảng dạy lịch sử như vậy sẽ phát huy tối đa vai trò, ý nghĩa của kênh hình, đồng thời cũng sẽ định hình được phương pháp giảng dạy của giáo viên và rèn những kĩ năng cần thiết trong quá trình học tập của học sinh như tìm tòi, nghiên cứu, phân tích, đánh giá
Trang 38sự kiện, hiện tượng lịch sử và khả năng tư duy độc lập, trình bày hiểu biết cá nhân về sự kiện, hiện tượng lịch sử
Thứ ba, về sử dụng kênh hình như thế nào cho hiệu quả, có 90,9% giáo viên được điều tra đồng ý với phương án để minh họa, dẫn chứng cho bài học, 63,63% giáo viên cho rằng sử dụng kênh hình hiệu quả là hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức “ẩn” trong kênh hình, 45,45% giáo viên cho rằng để học sinh tự tìm hiểu kiến thức “ẩn” trong kênh hình, 54,54% giáo viên cho rằng để củng cố, kiểm tra Qua những số liệu trên, chúng tôi thấy, phần lớn giáo viên mới biết cách khai thác kênh hình để minh họa, dẫn chứng cho bài học, mà chưa chú trọng đến việc hình thành, phát triển những kĩ năng học tập cơ bản cho học sinh, đặc biệt trong việc tạo cơ hội
và phát huy sự chủ động trong học tập của học sinh Vấn đề này đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức dạy học hiện nay, học sinh phải được chủ động trong quá trình học tập, chủ động bày tỏ ý kiến, hiểu biết của mình về kiến thức trên cơ sở định hướng, gợi ý của giáo viên
Thứ tư, về những khó khăn của giáo viên khi sử dụng kênh hình chủ yếu giáo viên cho rằng, giáo viên gặp khó khăn vì ít tư liệu để khai thác kênh hình và không
có thời gian trong tiết dạy dành cho việc khai thác kênh hình Không có giáo viên cho rằng khai thác kênh hình mà học sinh không hứng thú và ý kiến khác Số liệu trên phản ánh rất đúng thực tế những khó khăn mà giáo viên đang gặp phải khi sử dụng kênh hình Bởi việc biên soạn kênh hình trong sách giáo khoa hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc có kênh hình, mà chưa thật chú trọng tới việc đưa tư liệu, câu hỏi nhận thức xung quanh kênh hình vào biên soạn sách giáo khoa Hơn nữa, nguồn tài liệu mà giáo viên được tiếp cận chủ yếu chủ có sách giáo khoa và giáo trình, rất ít những tài liệu mang tính chuyên đề, chuyên khảo về vấn đề lịch sử mà kênh hình muốn đề cập đến Còn khó khăn nữa mà giáo viên thường hay gặp đó là trong tiết học 45 phút bao gồm tất cả các bước lên lớp như quy định, giáo viên có rất ít thời gian cho việc khai thác kênh hình Gặp khó khăn trên một phần do những quy định cứng nhắc về các bước lên lớp ở các địa phương, một phần cũng do phần trình bày kiến thức ở bài viết nặng nề, mang tính hàn lâm, với dung lượng kiến thức ấy, giáo
Trang 39trình bày để không phải “cháy giáo án” Như vậy, thật khó mở rộng, phân tích nội dung bài học qua kênh hình để học sinh hiểu sâu kiến thức và hình thành những kĩ năng cơ bản khi làm việc với kênh hình
Thứ năm, về mối quan hệ giữa “bài viết” và “cơ chế sư phạm” thì có đến 95,45% giáo viên cho rằng các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau Việc xác định đúng mối quan hệ của các yếu tố trong một bài học lịch sử như vậy giúp giáo viên định hình được phương pháp giảng dạy, tạo nên một tiết học hoàn chỉnh
Thứ sáu, về đánh giá chất lượng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử trung học cơ sở, có 86,36% giáo viên cho rằng kênh hình phản ánh nội dung khoa học, phù hợp với kênh chữ, 45,45% giáo viên cho rằng hình ảnh phong phú, phản ánh nội dung đa dạng của bài Không có giáo viên nào cho rằng màu sắc hài hòa, tươi sáng, gần gũi với thiên nhiên và ý kiến khác Những con số trên phản ánh thực tế chất lượng kênh hình trong sách giáo khoa hiện nay, đặc biệt màu sắc kênh hình đơn điệu, chưa hấp dẫn học sinh
Thứ bảy, về một số đề xuất như nên biên soạn tỉ lệ kênh hình, kênh chữ như thế nào cho phù hợp, có cần thiết đưa câu hỏi gợi mở để định hướng khai thác phần kênh hình, tư liệu gốc không, phần lớn giáo viên lựa chọn tỉ lệ kênh chữ - kênh hình
là 60% - 40%, và “rất cần thiết” đưa câu hỏi gợi mở định hướng khai thác kênh hình
và tư liệu gốc Việc lựa chọn tỉ lệ kênh chữ - kênh hình 60% - 40% là rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức của học sinh trung học cơ sở, đồng thời
nó cũng phản ánh đúng việc học tập lịch sử qua hình ảnh giúp học sinh hiểu sâu sắc, nhớ lâu kiến thức, biểu tượng lịch sử đọng lại trong đầu óc học sinh qua hình ảnh sẽ
có độ bền vững lâu hơn Việc đưa câu hỏi định hướng khai thác kênh hình, tư liệu gốc được đa số giáo viên cho là “rất cần thiết” bởi việc đưa câu hỏi định hướng khai thác kênh hình và tư liệu gốc đã gián tiếp gợi ý phương pháp giảng dạy cho giáo viên, hướng giáo viên đi sâu tìm hiểu những vấn đề mà câu hỏi đặt ra đối với kênh hình và tư liệu gốc, qua đó xác định được kiến thức trọng tâm của bài giảng Đối với học sinh, những câu hỏi định hướng đó gợi ý, hướng tìm tòi, nghiên cứu kiến
Trang 40thức liên quan đến kênh hình và tư liệu gốc, qua đó kích thích hoạt động tư duy độc lập, học sinh phát huy được sự chủ động trong quá trình học tập
Thứ tám, về tác dụng của sử dụng kênh hình, 95,45% giáo viên lựa chọn tác dụng của kênh hình giúp học sinh nắm vững vàng kiến thức , giáo dục tư tưởng tình cảm và phát triển óc quan sát Qua những giáo viên được điều tra, chúng tôi thấy,
họ cũng đã thấy được kênh hình có tác dụng rất lớn trong quá trình dạy học lịch sử Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên nhấn mạnh rằng kênh hình chỉ có tác dụng giúp học sinh nắm vững kiến thức và phát triển óc quan sát
Như vậy với việc điều tra đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử ở trường trung học cơ sở, chúng tôi phát hiện về mặt cơ sở thực tiễn của việc đề xuất kênh hình cho biên soạn sách giáo khoa 2015 như sau:
Ưu điểm: Biên soạn kênh hình và sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử là
rất quan trọng, nó góp phần không nhỏ vào việc tạo nên một tiết dạy thành công, hay của giáo viên đứng lớp Việc sử dụng kênh hình trong giảng dạy lịch sử không chỉ giúp học sinh hiểu sâu kiến thức mà còn góp phần không nhỏ vào việc giáo dục đạo đức, tư tưởng tình cảm, phát triển những kĩ năng cần thiết trong quá trình học tập Việc được trực quan cộng với quá trình chủ động tìm hiểu, nghiên cứu, sự định hướng của giáo viên sẽ làm cho kiến thức trong đầu học sinh có độ bền vững rất cao
Hạn chế: Hiện nay với xu thế phát triển như vũ bão của kinh tế tri thức, các
nước trên thế giới đang đẩy mạnh đổi mới, cải cách giáo dục, nước ta cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó Nhận thấy những hạn chế trong giáo dục, đặc biệt
từ khâu biên soạn sách giáo khoa, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá còn nhiều hạn chế như “bài viết” còn nặng nề, hàn lâm, cơ chế sư phạm, kênh hình thì nghèo nàn về số lượng, màu sắc đơn điệu, chủ yếu dùng để minh họa cho bài học, ít tư liệu gốc, câu hỏi định hướng khai thác kênh hình và tư liệu gốc không
có nên rất khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, không tạo ra sự thống nhất cần thiết trong giảng dạy và học tập lịch sử Những hạn chế đó là rào cản cho sự sáng tạo trong việc dạy và học lịch sử, sự thiếu chủ động, tư duy độc lập trong hoạt