Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Lãnh thổ Việt Nam có một vị trí chiến lƣợc trên bản đồ khu vực và thế giới. Trong suốt tiến trình lịch sử, đất nƣớc ta luôn giữ vai trò cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, điểm giao nhau giữa hai trung tâm văn minh lớn của nhân loại là Ấn Độ và Trung Quốc, đồng thời án ngữ tuyến giao thông và thƣơng mại quốc tế từ khu vực Đông Bắc Á xuống khu vực Đông Nam Á. Nhờ vị trí đặc biệt thuận lợi đó, quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam với các nƣớc trên thế giới nói chung, với các quốc gia ở khu vực Đông Bắc Á nói riêng sớm đƣợc thiết lập và ngày càng phát triển. Trƣớc khi thực dân Pháp xâm lƣợc và bình định, các quốc và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng truyền thống của Việt Nam thông qua các hoạt động giao lƣu, buôn bán, trao đổi hàng hoá. Cuối thể kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lƣợc nƣớc ta. Việt Nam bị biến thành xứ thuộc địa của đế quốc Pháp, nằm trong chỉnh thể đƣợc lịch sử biết đến với tên gọi là Liên bang Đông Dƣơng, hay xứ Đông Dƣơng thuộc Pháp.. Xã hội Việt Nam chuyển từ tích chất phong kiến sang tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Bắt đầu từ đây, lịch sử Việt Nam nói riêng, ba nƣớc Đông Dƣơng nói chung phải đối mặt với những biến động lịch sử to lớn, trong đó có mối quan hệ thƣơng mại truyền thống với các bạn hàng ở khu vực Đông Bắc Á do hậu quả của chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1913), chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) của thực dân Pháp và 5 năm dƣới ách thống trị Pháp - Nhật (1941-1945)…Do đó, việc nghiên cứu sự chuyển biến của ngoại thƣơng Việt Nam với các quốc gia ở khu vực Đông Bắc Á từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 góp phần quan trọng vào việc làm sáng tỏ tính chất của nền kinh tế Việt Nam thời thuộc địa. Nhà nghiên cứu Ch.Robequain khi nghiên cứu về sự tiến triển của kinh tế Đông Dƣơng đã khẳng định “một cuộc nghiên cứu nhanh về ngoại thƣơng ở Đông Dƣơng đủ để khám phá những tính chất của nền kinh tế Đông Dƣơng” [229; tr.341].Luận văn: Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Thứ hai, trong hơn một thế kỷ qua, đã có nhiều học giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về vấn đề kinh tế của Việt Nam và Đông Dƣơng trong thời kỳ từ khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dƣơng cho đến trƣớc thời điểm phát xít Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm khu vực này ở những khía cạnh, chuyên ngành khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu về ngoại thƣơng, đặc biệt những biến đổi của mối quan hệ truyền thống với Đông Bắc Á khi chuyển từ sự thống trị triều đình phong kiến nhà Nguyễn sang ách đô hộ của thực dân Pháp, thì chƣa có một công trình nào trình bày một cách toàn diện và có hệ thống, thậm chí cả các nguồn sử liệu nƣớc ngoài viết dƣới thời Pháp thuộc. Bức tranh giao thƣơng giữa Việt Nam với Đông Bắc Á vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ. Do đó, việc làm sáng tỏ các vấn đề xoay quanh quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hồng Kông…thời Pháp thuộc có ý nghĩa trong việc lấp đi khoảng trống của nền sử học nƣớc nhà trong những năm qua. Thứ ba, trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nƣớc hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chiến lƣợc phát triển các mối quan hệ song phƣơng và đa phƣơng, trong đó có việc coi các nƣớc ở khu vực Đông Bắc Á là đối tác chiến lƣợc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quan hệ thƣơng mại. Năm 2013, Việt Nam và Nhật Bản kỉ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Cùng thời gian trên, Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra các cuộc họp cấp cao giữa lãnh đạo hai nhà nƣớc, ra tuyên bố chung về vấn đề hợp tác kinh tế và các vấn đề văn hoá, chính trị, biên giới…Vấn đề duy trì và phát triển quan hệ với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á, trong đó có đối ngoại về kinh tế đã và đang trở thành vấn đề then chốt trong quan điểm của lãnh đạo hai các bên. Do vậy, nghiên cứu về quan hệ giao thƣơng với Đông Bắc Á trong lịch sử không những góp phần làm sáng tỏ mạch nối xuyên suốt của truyền thống thƣơng mại mà còn rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm quý báu đóng góp cho sự phát triển của ngành ngoại thƣơng và quá trình hoạch định chiến lƣợc hội nhập kinh tế quốc tế của đất nƣớc trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam từ 1986 đến nay.Luận văn: Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Xuất phát từ những lý do nêu trên, ngƣời viết chọn vấn đề “Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945)” làm đối tƣợng nghiên cứu của luận án. 2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là giao thƣơng (hay có thể hiểu là quan hệ thƣơng mại) giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á từ năm 1897 đến năm 1945. 2.2. Phạm vi nghiên cứu * Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á trong thời gian khoảng gần 50 năm, tính từ khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (năm 1897) cho đến Cách mạng Tháng Tám thành công (năm 1945). Đây là khoảng thời gian chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dƣơng tìm mọi cách để giành đƣợc sự độc quyền thƣơng mại ở Đông Dƣơng và Việt Nam trƣớc sự cạnh tranh quyết liệt của các thế lực kinh tế đến từ bên ngoài, trong đó có Hoa thƣơng, Nhật thƣơng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cho đến tận năm 1938, nhóm Pháp và thuộc địa của Pháp mới chiếm lĩnh đƣợc trên 50% thị phần nhập khẩu hàng hoá ở Đông Dƣơng. Sau đó không lâu thì phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dƣơng, giành quyền kiểm soát thƣơng mại ở Việt Nam trong hầu hết thời gian chiến tranh thế giới II. Điều đó có nghĩa là, mặc dù thống trị Việt Nam, song mƣu đồ độc quyền thƣơng mại của chính quyền và tƣ bản Pháp gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Chìa khoá của vấn đề chủ yếu là do vị thế thƣơng mại của nhóm các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á ở Việt Nam và Đông Dƣơng. * Về không gian nghiên cứu của đề tài cũng có một số điểm cần lƣu ý. Trƣớc hết là chủ thể giao thƣơng là Việt Nam trong những năm 1897 – 1945 tồn tại với tên gọi 3 xứ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam), Nam KỳLuận văn: Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) (Cochinchine), nằm trong một chỉnh thể chung là Liên bang Đông Dƣơng, bao gồm các xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên, vùng đất Quảng Châu Loan. Do các số liệu thƣơng mại đƣợc đặt trong một tổng thể chung là Đông Dƣơng thuộc Pháp nên việc tách các số liệu của Việt Nam là vô cùng khó khăn. Mặt khác, trong thời kỳ thuộc địa, thƣơng mại Đông Dƣơng chủ yếu phát triển tập trung ở Việt Nam, còn ở Lào, Campuchia giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu rất hạn chế, thậm chí có năm bằng 0. Vì vậy, khi nghiên cứu về giao thƣơng giữa Việt Nam với Đông Bắc Á, tác giả sử dụng các số liệu của Đông Dƣơng nhƣng không làm ảnh hƣởng tới các kết luận trình bày trong luận án. Thứ hai là về phạm vi Đông Bắc Á (khách thể, đối tác thƣơng mại của Việt Nam), có thể hiểu là các quốc gia và vùng lãnh thổ nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, vùng Viễn Đông thuộc nƣớc Nga. Tuy nhiên, tƣ liệu về Triều Tiên (do bị biến thành thuộc địa của Nhật từ 1910), Đài Loan (thuộc địa của Nhật từ sau điều ƣớc Mã Quan 1895) trong các hồ sơ lƣu trữ thời Pháp thuộc, các nguồn tài liệu tiếng Việt và tiếng nƣớc ngoài ít nhắc đến nên luận án chƣa có điều kiện đề cập chi tiết. Các số liệu của đề tài tập trung chủ yếu vào 3 trục chính là quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam với Nhật Bản, Trung Quốc và Hồng Kông. Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Đông Dƣơng với từng quốc gia và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á, luận án sẽ rút ra những đặc điểm chung trong hoạt động giao thƣơng giữa các bên. 3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu về giao thƣơng giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á từ năm 1897 đến năm 1945, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn bức tranh tổng thể về ngoại thƣơng Việt Nam thời thuộc địa. Trên cơ sở đó, luận án đánh giá một cách khách quan những đặc điểm và tác động của giao thƣơng Việt Nam- Đông Bắc Á và đúc kết những bài học kinh nghiệm cho việc phát triển ngoại thƣơng bền vững cho công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam hiện nay.Luận văn: Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) 3.2. Nhiệm vụ đề tài Thứ nhất, luận án làm rõ những cơ sở tác động đến quan hệ giao thƣơng giữa Việt Nam với các nƣớc Đông Bắc Á từ năm 1897 đến năm 1945; Thứ hai, luận án làm rõ thực trạng hoạt động giao lƣu, buôn bán giữa xứ Đông Dƣơng, chủ yếu là Việt Nam với một các nƣớc Đông Bắc Á nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Hồng Kông; Thứ ba, luận án làm rõ đặc điểm và tác động có tính chất hai mặt của quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Đông Bắc Á (1897-1945) tới tính chất thuộc địa của Việt Nam và Đông Dƣơng thời Pháp thuộc. 4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Nguồn tài liệu Những vấn đề khoa học của luận án đƣợc triển khai dựa trên việc khai thác và xử lý ở các mức độ khác nhau các nguồn tài liệu sau đây: - Nguồn tài liệu khai thác từ tác phẩm của các lãnh tụ C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin bàn về ngoại thƣơng, các tác phẩm, bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh về tội ác của chủ nghĩa thực dân và văn kiện Đảng (chủ yếu đề cập tới thời kỳ trƣớc năm 1945) vừa cung cấp các cứ liệu lịch sử chân thực, chính xác, vừa giúp tác giả củng cố nền tảng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử khi thực hiện đề tài nghiên cứu; - Nguồn tài liệu lƣu trữ tại Trung tâm Lƣu trữ quốc gia I và Thƣ viện quốc gia Việt Nam, bao gồm các hồ sơ lƣu trữ bàn về vấn đề giao thƣơng của Việt Nam nói riêng, Đông Dƣơng nói chung với Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông nằm trong hai phông chủ yếu là Phông Phủ Toàn quyền Đông Dƣơng và Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (bao gồm các văn bản hành chính nhƣ sắc lệnh, nghị định, các thƣơng ƣớc, báo cáo thƣơng mại, công văn, thƣ từ trao đổi giữa các chính phủ, công ty và các cá nhân có thẩm quyền…); các tài liệu thống kê, niên giám, bản tin kinh tế, công báo Đông Dƣơng. Đây là nguồn tƣ liệu gốc, có giá trị quan trọng nhất đƣợc tác giả khai thác, xử lý, vận dụng triệt để trong việc giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho luận án. - Các công trình nghiên cứu đã công bố có chứa đựng những nội dung, khía cạnh liên quan tới cách tiếp cận hƣớng nghiên cứu và nội dung đề tài nghiên cứu,Luận văn: Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) gồm có các luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu, các bài báo khoa học, các nguồn sách tham khảo, chuyên khảo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt có đề cập tới các khía cạnh khác nhau của lịch sử kinh tế nói chung, lịch sử ngoại thƣơng Việt Nam và Đông Dƣơng thời cận đại nói riêng. Các tài liệu này giúp cho tác giả có cái nhìn tổng thể về hƣớng nghiên cứu đặt trong mối liên hệ, tƣơng quan với các vấn đề chính trị, xã hội, văn hoá trong những năm 1897-1945. 4.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp luận nghiên cứu của đề tài là dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về ngoại thƣơng, quan điểm của Đảng và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về các vấn đề kinh tế, xã hội của Việt Nam và Đông Dƣơng trong thời kỳ trƣớc Cách mạng Tháng Tám. - Phƣơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, trong đó chủ yếu hai phƣơng pháp cơ bản là phƣơng pháp lôgic và phƣơng pháp lịch sử để giải quyết những vấn đề cơ bản đặt ra. Trong quá trình sƣu tầm và xử lý tƣ liệu, tác giả tiến hành giám định, phê phán, xác minh để xác định độ tin cậy của nguồn tƣ liệu nghiên cứu, đặc biệt là đối với các công trình nghiên cứu bằng tiếng nƣớc ngoài. Từ đó, tác giả tiến hành sắp xếp, phân loại tƣ liệu theo từng vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở các nguồn tƣ liệu có đƣợc, tác giả vận dụng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích tƣ liệu, kết hợp với hai phƣơng pháp chủ đạo là phƣơng pháp lôgic và phƣơng pháp lịch sử nhằm khái quát bức tranh toàn cảnh về giao thƣơng giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á từ 1897 đến 1945. Bên cạnh đó, do tiếp cận nghiên cứu ở lĩnh vực kinh tế nên đề tài còn sử dụng một số phƣơng pháp khác nhƣ thống kê, định lƣợng, phân tích, so sánh…nhằm xử lý các số liệu biểu hiện dƣới dạng các bảng số liệu, biểu đồ minh hoạ một cách cụ thể hơn các số liệu cũng nhƣ kết quả nghiên cứu của đề tài (xem thêm danh mục biểu đồ và bảng biểu của đề tài). 5. Đóng góp của luận án - Đề tài góp phần làm rõ những nhân tố tác động tới sự thăng trầm trong quan hệ giao thƣơng giữa Việt Nam với các nƣớc Đông Bắc Á; làm sáng tỏ thựcLuận văn: Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vựcĐông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945) Luận văn Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945)
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận án 6
6 Bố cục luận án 7
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam thời thuộc địa 8
1.2 Các công trình nghiên cứu về thương mại Việt Nam thời thuộc địa 19
1.3 Các công trình nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á thời thuộc địa 22
1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 25
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI GIAO THƯƠNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ THUỘC KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á (1897-1945) 28
2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 28
2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá 29
2.2.1 Về chính trị, xã hội và văn hoá 30
2.2.2 Điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng 33
2.3 Truyền thống giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á trước thế kỷ XX 40
2.4 Chính sách ngoại thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á từ 1897 đến 1945 46
2.4.1 Hiệp ước thương mại Pháp- Nhật 46
2.4.2 Hiệp ước thương mại Pháp- Hoa 53
2.4.3 Chính sách thương mại với vùng lãnh thổ Hồng Kông 58
Tiểu kết chương 2 59
Trang 2Chương 3 TIẾN TRIỂN TRONG GIAO THƯƠNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ THUỘC KHU VỰC
ĐÔNG BẮC Á TỪ 1897 ĐẾN 1945 61
3.1 Trục thương mại Việt Nam - Nhật Bản 61
3.1.1 Giai đoạn 1897- 1929 62
3.1.2 Giai đoạn 1930- 1940 72
3.1.3 Giai đoạn 1941-1945 76
3.2 Trục thương mại Việt Nam- Trung Quốc 80
3.2.1 Giai đoạn từ 1897 đến 1913 80
3.2.2 Giai đoạn từ 1914 đến 1929 86
3.2.3 Giai đoạn từ 1930 đến 1945 92
3.3 Trục thương mại Việt Nam - Hồng Kông 99
3.3.1 Giai đoạn 1897 – 1913 100
3.3.2 Giai đoạn 1913 – 1929 102
3.3.3 Giai đoạn 1930 – 1945 104
Tiểu kết chương 3 107
Chương 4 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA GIAO THƯƠNG VIỆT NAM - ĐÔNG BẮC Á TỚI TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HOÁ VIỆT NAM TỪ 1897 ĐẾN 1945 108
4.1 Về một số đặc điểm của giao thương Việt Nam - Đông Bắc Á (1897-1945) 108 4.1.1 Giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á là một quá trình phát triển liên tục 108
4.1.2 Cán cân thương mại chủ yếu nghiêng về Việt Nam 110
4.1.3 Sự khác biệt, mất cân bằng trong cơ cấu hàng hoá xuất, nhập khẩu 114
4.1.4 Chủ nhân thực sự của trục giao thương Việt Nam – Đông Bắc Á là chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương 122
Trang 34.1.5 Giao thương Việt Nam – Đông Bắc Á phản ánh rõ nét tính chất thuộc
địa của ngoại thương Việt Nam thời Pháp thuộc 130
4.2 Tác động của giao thương Việt Nam - Đông Bắc Á tới đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 133
4.2.1 Tác động tích cực 133
4.2.2 Tác động tiêu cực 136
Tiểu kết chương 4 137
KẾT LUẬN 139
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lãnh thổ Việt Nam có một vị trí chiến lược trên bản đồ khu vực và thế giới Trong suốt tiến trình lịch sử, đất nước ta luôn giữ vai trò cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, điểm giao nhau giữa hai trung tâm văn minh lớn của nhân loại là Ấn Độ và Trung Quốc, đồng thời án ngữ tuyến giao thông và thương mại quốc tế từ khu vực Đông Bắc Á xuống khu vực Đông Nam
Á Nhờ vị trí đặc biệt thuận lợi đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới nói chung, với các quốc gia ở khu vực Đông Bắc Á nói riêng sớm được thiết lập và ngày càng phát triển Trước khi thực dân Pháp xâm lược
và bình định, các quốc và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á như Nhật Bản, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng truyền thống của Việt Nam thông qua các hoạt động giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hoá
Cuối thể kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Việt Nam bị biến thành xứ thuộc địa của đế quốc Pháp, nằm trong chỉnh thể được lịch sử biết đến với tên gọi là Liên bang Đông Dương, hay xứ Đông Dương thuộc Pháp Xã hội Việt Nam chuyển từ tích chất phong kiến sang tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Bắt đầu từ đây, lịch sử Việt Nam nói riêng, ba nước Đông Dương nói chung phải đối mặt với những biến động lịch sử to lớn, trong đó có mối quan hệ thương mại truyền thống với các bạn hàng ở khu vực Đông Bắc
Á do hậu quả của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1913), chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) của thực dân Pháp
và 5 năm dưới ách thống trị Pháp - Nhật (1941-1945)…Do đó, việc nghiên cứu sự chuyển biến của ngoại thương Việt Nam với các quốc gia ở khu vực Đông Bắc Á từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 góp phần quan trọng vào việc làm sáng tỏ tính chất của nền kinh tế Việt Nam thời thuộc địa Nhà nghiên cứu Ch.Robequain khi nghiên cứu về sự tiến triển của kinh tế Đông Dương đã khẳng định “một cuộc nghiên cứu nhanh về ngoại thương ở Đông Dương đủ
để khám phá những tính chất của nền kinh tế Đông Dương” [229; tr.341]
Trang 5Thứ hai, trong hơn một thế kỷ qua, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề kinh tế của Việt Nam và Đông Dương trong thời kỳ từ khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương cho đến trước thời điểm phát xít Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm khu vực này ở những khía cạnh, chuyên ngành khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về ngoại thương, đặc biệt những biến đổi của mối quan hệ truyền thống với Đông Bắc Á khi chuyển từ sự thống trị triều đình phong kiến nhà Nguyễn sang ách đô hộ của thực dân Pháp, thì chưa có một công trình nào trình bày một cách toàn diện và có hệ thống, thậm chí cả các nguồn sử liệu nước ngoài viết dưới thời Pháp thuộc Bức tranh giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ Do đó, việc làm sáng tỏ các vấn đề xoay quanh quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hồng Kông…thời Pháp thuộc có ý nghĩa trong việc lấp đi khoảng trống của nền sử học nước nhà trong những năm qua
Thứ ba, trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển các mối quan hệ song phương và đa phương, trong đó có việc coi các nước ở khu vực Đông Bắc Á là đối tác chiến lược trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quan hệ thương mại Năm 2013, Việt Nam
và Nhật Bản kỉ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Cùng thời gian trên, Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra các cuộc họp cấp cao giữa lãnh đạo hai nhà nước, ra tuyên bố chung về vấn đề hợp tác kinh tế và các vấn đề văn hoá, chính trị, biên giới…Vấn đề duy trì và phát triển quan hệ với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á, trong đó có đối ngoại về kinh tế đã và đang trở thành vấn đề then chốt trong quan điểm của lãnh đạo hai các bên Do vậy, nghiên cứu về quan hệ giao thương với Đông Bắc Á trong lịch sử không những góp phần làm sáng tỏ mạch nối xuyên suốt của truyền thống thương mại mà còn rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu đóng góp cho sự phát triển của ngành ngoại thương và quá trình hoạch định chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam từ 1986 đến nay
Trang 6Xuất phát từ những lý do nêu trên, người viết chọn vấn đề “Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897 – 1945)” làm đối tượng nghiên cứu của luận án
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giao thương (hay có thể hiểu là quan
hệ thương mại) giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực
Đông Bắc Á từ năm 1897 đến năm 1945
2.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á trong thời gian khoảng gần 50 năm, tính từ khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (năm 1897) cho đến Cách mạng Tháng Tám thành công (năm 1945)
Đây là khoảng thời gian chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương tìm mọi cách để giành được sự độc quyền thương mại ở Đông Dương và Việt Nam trước sự cạnh tranh quyết liệt của các thế lực kinh tế đến từ bên ngoài, trong đó có Hoa thương, Nhật thương Kết quả nghiên cứu cho thấy, cho đến tận năm 1938, nhóm Pháp và thuộc địa của Pháp mới chiếm lĩnh được trên 50% thị phần nhập khẩu hàng hoá ở Đông Dương Sau đó không lâu thì phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dương, giành quyền kiểm soát thương mại ở Việt Nam trong hầu hết thời gian chiến tranh thế giới II Điều đó có nghĩa là, mặc dù thống trị Việt Nam, song mưu đồ độc quyền thương mại của chính quyền và tư bản Pháp gặp nhiều khó khăn, trở ngại Chìa khoá của vấn đề chủ yếu là do vị thế thương mại của nhóm các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á ở Việt Nam và Đông Dương
* Về không gian nghiên cứu của đề tài cũng có một số điểm cần lưu ý Trước hết là chủ thể giao thương là Việt Nam trong những năm 1897 –
1945 tồn tại với tên gọi 3 xứ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam), Nam Kỳ
Trang 7(Cochinchine), nằm trong một chỉnh thể chung là Liên bang Đông Dương, bao gồm các xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên, vùng đất Quảng Châu Loan Do các số liệu thương mại được đặt trong một tổng thể chung là Đông Dương thuộc Pháp nên việc tách các số liệu của Việt Nam là vô cùng khó khăn Mặt khác, trong thời kỳ thuộc địa, thương mại Đông Dương chủ yếu phát triển tập trung ở Việt Nam, còn ở Lào, Campuchia giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu rất hạn chế, thậm chí có năm bằng 0 Vì vậy, khi nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á, tác giả sử dụng các số liệu của Đông Dương nhưng không làm ảnh hưởng tới các kết luận trình bày trong luận án Thứ hai là về phạm vi Đông Bắc Á (khách thể, đối tác thương mại của Việt Nam), có thể hiểu là các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, vùng Viễn Đông thuộc nước Nga Tuy nhiên, tư liệu về Triều Tiên (do bị biến thành thuộc địa của Nhật từ 1910), Đài Loan (thuộc địa của Nhật từ sau điều ước Mã Quan 1895) trong các hồ sơ lưu trữ thời Pháp thuộc, các nguồn tài liệu tiếng Việt và tiếng nước ngoài ít nhắc đến nên luận án chưa có điều kiện đề cập chi tiết Các số liệu của đề tài tập trung chủ yếu vào 3 trục chính là quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản, Trung Quốc và Hồng Kông
Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đông Dương với từng quốc gia và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á, luận án sẽ rút ra những đặc điểm chung trong hoạt động giao thương giữa các bên
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á từ năm 1897 đến năm 1945, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn bức tranh tổng thể về ngoại thương Việt Nam thời thuộc địa Trên cơ sở đó, luận án đánh giá một cách khách quan những đặc điểm và tác động của giao thương Việt Nam- Đông Bắc Á và đúc kết những bài học kinh nghiệm cho việc phát triển ngoại thương bền vững cho công cuộc đổi mới, hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới của Việt Nam hiện nay
Trang 8Thứ ba, luận án làm rõ đặc điểm và tác động có tính chất hai mặt của quan
hệ thương mại Việt Nam - Đông Bắc Á (1897-1945) tới tính chất thuộc địa của Việt Nam và Đông Dương thời Pháp thuộc
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Những vấn đề khoa học của luận án được triển khai dựa trên việc khai thác
và xử lý ở các mức độ khác nhau các nguồn tài liệu sau đây:
- Nguồn tài liệu khai thác từ tác phẩm của các lãnh tụ C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin bàn về ngoại thương, các tác phẩm, bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh
về tội ác của chủ nghĩa thực dân và văn kiện Đảng (chủ yếu đề cập tới thời kỳ trước năm 1945) vừa cung cấp các cứ liệu lịch sử chân thực, chính xác, vừa giúp tác giả củng cố nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử khi thực hiện đề tài nghiên cứu;
- Nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I và Thư viện quốc gia Việt Nam, bao gồm các hồ sơ lưu trữ bàn về vấn đề giao thương của Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung với Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông nằm trong hai phông chủ yếu là Phông Phủ Toàn quyền Đông Dương và Phông Phủ Thống sứ Bắc
Kỳ (bao gồm các văn bản hành chính như sắc lệnh, nghị định, các thương ước, báo cáo thương mại, công văn, thư từ trao đổi giữa các chính phủ, công ty và các cá nhân
có thẩm quyền…); các tài liệu thống kê, niên giám, bản tin kinh tế, công báo Đông Dương Đây là nguồn tư liệu gốc, có giá trị quan trọng nhất được tác giả khai thác, xử
lý, vận dụng triệt để trong việc giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho luận án
- Các công trình nghiên cứu đã công bố có chứa đựng những nội dung, khía cạnh liên quan tới cách tiếp cận hướng nghiên cứu và nội dung đề tài nghiên cứu,
Trang 9gồm có các luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu, các bài báo khoa học, các nguồn sách tham khảo, chuyên khảo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt có đề cập tới các khía cạnh khác nhau của lịch sử kinh tế nói chung, lịch sử ngoại thương Việt Nam và Đông Dương thời cận đại nói riêng Các tài liệu này giúp cho tác giả có cái nhìn tổng thể về hướng nghiên cứu đặt trong mối liên hệ, tương quan với các vấn đề chính trị, xã hội, văn hoá trong những năm 1897-1945
4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về ngoại thương, quan điểm của Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề kinh tế, xã hội của Việt Nam và Đông Dương trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, trong đó chủ yếu hai phương pháp cơ bản là phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử để giải quyết những vấn đề cơ bản đặt ra Trong quá trình sưu tầm và xử lý tư liệu, tác giả tiến hành giám định, phê phán, xác minh để xác định độ tin cậy của nguồn tư liệu nghiên cứu, đặc biệt là đối với các công trình nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài Từ đó, tác giả tiến hành sắp xếp, phân loại tư liệu theo từng vấn đề nghiên cứu
Trên cơ sở các nguồn tư liệu có được, tác giả vận dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu, kết hợp với hai phương pháp chủ đạo là phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử nhằm khái quát bức tranh toàn cảnh về giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á từ 1897 đến 1945 Bên cạnh đó, do tiếp cận nghiên cứu ở lĩnh vực kinh tế nên đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, định lượng, phân tích, so sánh…nhằm xử lý các số liệu biểu hiện dưới dạng các bảng số liệu, biểu đồ minh hoạ một cách cụ thể hơn các số liệu cũng như kết quả nghiên cứu của đề tài (xem thêm danh mục biểu đồ và bảng biểu của đề tài)
5 Đóng góp của luận án
- Đề tài góp phần làm rõ những nhân tố tác động tới sự thăng trầm trong quan hệ giao thương giữa Việt Nam với các nước Đông Bắc Á; làm sáng tỏ thực
Trang 10trạng của hoạt động trao đổi buôn bán, giao lưu hàng hóa giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông… từ 1897 đến 1945; đưa ra những đánh giá, nhận xét về đặc điểm và những tác động tích cực, tiêu cực về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của hoạt động giao thương quốc tế với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897-1945) đến nền kinh tế- xã hội của Việt Nam và ba nước Đông Dương; chỉ ra một số bài học kinh nghiệm quý báu cho ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Đề tài cũng có ý nghĩa nhất định trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập
về vấn đề lịch sử kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc Qua công trình nghiên cứu này giúp người viết rút ra cách nhìn nhận mới trong việc phân kỳ lịch sử Việc phân kỳ, phân chia các giai đoạn lịch sử kinh tế giữa Việt Nam với Đông Bắc Á không giống như quan hệ chính trị, ngoại giao mà có những nét đặc thù riêng, dựa trên sự thăng trầm trong quan hệ thương mại giữa hai khu vực
Trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới hiện nay, việc nghiên cứu lịch sử dân tộc đặt trong mối liên hệ tương tác khu vực là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
- Phát hiện và bổ sung những nguồn tư liệu mới, quan điểm tiếp cận mới khi nghiên cứu về ngoại thương Việt Nam nói chung, ngoại thương Việt Nam thời Pháp thuộc nói riêng
6 Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án
Chương 2: Các nhân tố tác động tới giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897-1945)
Chương 3: Sự chuyển biến trong giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á (1897-1945)
Chương 4: Đặc điểm và tác động của giao thương Việt Nam - Đông Bắc Á đến tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam (1897- 1945)
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á (1897 – 1945)
là một vấn đề quan trọng và cần được đặt trong mối quan hệ mật thiết với chỉnh thể chung là xứ Đông Dương thuộc Pháp Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề lịch sử ngoại thương Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, song chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể, toàn diện và có hệ thống về ngoại thương của Việt Nam, đặc biệt là quan hệ thương mại với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á từ 1897 đến 1945 Vấn đề này mới chỉ được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến một cách
sơ lược hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó liên quan đến ngoại thương Hầu hết các công trình dưới đây chỉ mang tính gợi mở, định hướng nghiên cứu cho tác giả luận án Do vậy, tìm hiểu vấn đề quan hệ giao thương của Việt Nam
và Đông Dương với Đông Bắc Á vẫn còn là một khoảng trống cần được bù lấp
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX có thể chia thành các nhóm nghiên cứu như sau:
1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam thời thuộc địa
- Các sách nghiên cứu:
Nghiên cứu lịch sử ngoại thương của Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á là một vấn đề tương đối khó, phức tạp Các nhà nghiên cứu rất ít khai thác theo hướng này, hoặc nếu có thì mục đích và phạm vi nghiên cứu của các tác giả lại theo một khía cạnh khác
Năm 1924, Đào Trinh Nhất viết cuốn Thế lực Khách trú và công cuộc di
dân vào Nam Kỳ [61] Thông qua việc dựng lại bức tranh di dân và thế lực của
Hoa Kiều ở Nam Kỳ, tác giả muốn khơi dậy tinh thần yêu nước, góp thêm một tiếng nói vào phong trào tẩy chay thương nhân người Hoa của tư sản dân tộc người Việt, giúp cho tư sản người Việt thấy được nỗi nhục của sự nô dịch về chính trị và sự chèn ép về kinh tế, tích cực tham gia vào hoạt động sản xuất, buôn bán để theo kịp tư bản Pháp và thương nhân Trung Quốc, Ấn Độ Tác
Trang 12phẩm không nhằm mục đích miêu tả tình hình kinh tế, nhưng ở góc độ nhất định
đã cung cấp cho người đọc một cách nhìn về thế lực Hoa thương- một trong những chủ nhân quan trọng của trục thương mại Việt Nam - Đông Bắc Á thời Pháp thuộc
Năm 1929, công trình nghiên cứu của tác giả Ximôni có tên Vai trò của tư
bản trong cuộc khai thác xứ Đông Dương đã được xuất bản tại Pari, được dịch
giả Hoàng Đình Bình dịch sang tiếng Việt [96] Cuốn sách bao gồm 145 trang
mô tả những điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, xã hội, con người xứ Đông Dương Tuy chỉ nghiên cứu khía cạnh về việc thực dân Pháp đầu tư “tư bản” vào Đông Dương và những tác động của nó nhưng lại chứa đựng “nhiều tư liệu đúng đắn và chính xác về trình độ phát triển kinh tế và tài chính” (trang 2), chỉ rõ vị trí tầm quan trọng của Đông Dương “nguồn đất quý giá nhất trên thế giới” (trang 4) Đặc biệt, trong vẻn vẹn có 4 trang từ trang 114 đến trang
118, tài liệu đã liệt kê được danh sách các công ty, thời gian thành lập, lĩnh vực kinh doanh, vốn đầu tư trong trục thương mại với các nước Đông Bắc Á như công ty Xuất cảng Viễn Đông, công ty thương mại Lào, công ty Pháp- Đông Dương, liên hiệp Đông Dương Phi châu, công ty Anh em Đơni, công ty thương mại và hàng hải Viễn Đông, Đông Dương nhập cảng
Yves Henry trong cuốn L ’ Economie agricole de L ’ Indochine (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương) xuất bản năm 1932 [248], tuy không đi sâu mô tả quan hệ
thương mại quốc tế nhưng qua việc nghiên cứu thị trường lúa gạo, cao su, bông, hạt tiêu… ở Việt Nam và Đông Dương đã cung cấp tư liệu làm sáng tỏ một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị thời Pháp thuộc Đồng thời tác giả cũng khẳng định vai trò, vị trí của người Hoa trong hoạt động buôn bán lúa gạo ở Nam Kỳ
Ở trang 339, ông khẳng định “Việc buôn bán thóc gạo là nằm trong tay các thương nhân người Hoa bằng cách tổ chức hoạt động của họ và cách thức mua bán phù hợp với các khu vực vô cùng tản mạn này, bằng số tư bản được đầu tư, họ là chủ nhân của thị trường và độc quyền công việc đó” Cụ thể những hiệu buôn Pháp xuất khẩu gạo Sài gòn là : hiệp hội thương mại Pháp ở
Trang 13Đông Dương, Tổng công ty thương mại và hàng hải Extrême-Orient, Hiệp hội gạo Đông Dương, v.v…
Trong tài liệu của mình, tác giả đi sâu phân tích hiện trạng của từng mặt hàng nông nghiệp Đông Dương như gạo, cà phê, thuốc lá, cao su, chè, bông, đường mía trong đó có nêu tổng thương mại xuất nhập khẩu Nếu đọc kỹ, chúng ta có thể thu lượm được những chi tiết liên quan tới việc xuất nhập của các mặt hàng trên ở trị trường Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản Trên cơ sở
đó, tài liệu góp phần cung cấp thêm tư liệu về quan hệ thương mại giữa Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung với Đông Bắc Á từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Một số tác phẩm khác viết về nền kinh tế Đông Dương và Việt Nam giai
đoạn khủng hoảng và sau khủng hoảng là cuốn L'Economie indochinoise et la
grande crise universelle của André Touzet, Paris, 1934 [226]; l’Evolution économique de l’Indochine của Charles Robequain, Ed Paul Hartman, Paris,
1939 [229]; Le Problème économique indochinois của Paul Bernard, Paris, 1933
[243]… cũng đã tiếp cận ít nhiều đến tình hình kinh tế Đông Dương giai đoạn 1929-1945 Đây chính là những cứ liệu quan trọng để người viết kế thừa, tiếp thu và phát triển trong đề tài nghiên cứu về ngoại thương giữa Đông Dương với Đông Bắc Á giai đoạn nừa đầu thế kỷ XX
Để nghiên cứu sâu sắc hơn về kinh tế Đông Dương trong giai đoạn khủng hoảng 1929-1933, giúp cho chính quyền thực dân có thêm căn cứ đưa ra chính sách giải quyết phù hợp, năm 1934, nhà nghiên cứu André Touzet công bố và
xuất bản cuốn L'Economie indochinoise et la grande crise universelle (Kinh tế Đông Dương thời kỳ khủng hoảng) [226] Với dung lượng dày 417 trang, chia
thành 5 chương, tác giả đã trình bày tình hình ngành nông nghiệp (lúa gạo, cao
su, cà phê, chè), công nghiệp, thương mại, giao thông công chính, phân tích sự biến động của nền kinh tế Đông Dương dưới tác động của cuộc khủng hoảng Về quan hệ thương mại với Đông Bắc Á, tác giả cũng đã dành hơn 10 trang trình
bày, phân tích, cung cấp các bảng số liệu về thương mại giữa Đông Dương với
Trang 14Trung Quốc và Nhật Bản (trang 145-156), những nhân tố tác động đến quan hệ
thương mại với Trung Quốc trong thời gian này Với Nhật Bản, tác giả đã cung cấp một vài số liệu về xuất nhập khẩu giữa Đông Dương và Nhật Bản từ 1927 đến 1932, đặc biệt là mặt hàng gạo và than
Năm 1936, nhà nghiên cứu Auguste Grandel xuất bản cuốn Le
développement économique de l’Indochine francaise (Sự phát triển kinh tế của
xứ Đông Dương thuộc Pháp) [225] Trong hơn 200 trang tài liệu, nhà nghiên cứu
đã cung cấp những số liệu về dân cư, tình hình kinh tế Đông Dương nói chung Nhưng khác với cách viết của Robequain là trình bày sự tiến triển của kinh tế thì Auguste Grandel nghiêng về cách trình bày giống như Y.Henry là nêu từng ngành, lĩnh vực, mỗi vấn đế nông nghiệp, công nghiệp, thương mại chỉ nêu khái quát trong 1 đến 2 trang Về thương mại Đông Dương, tác giả dành hẳn từ trang
190 đến 212 để nêu ra tình hình xuất nhập khẩu nói chung, rồi nêu xuất nhập khẩu các lĩnh vực chính như gạo trong năm 1933-1934 Ở chừng mực nhất định, tác giả luận án thu thập được thêm những số liệu về hoạt động thương mại hai chiều giữa Đông Dương với Nhật, Trung Quốc, đặt trong sự đối sánh với các quốc gia khác, về cả kim ngạch lẫn cơ cấu hàng hóa Ngoài ra, tác giả còn dành thêm một số trang viết về quan hệ buôn bán giữa Đông Dương với Trung Quốc và Hồng Kông (trang 218-221), với Nhật Bản (trang 222-223), tình hình các tỉnh Vân Nam, vùng Quảng Châu Loan trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 1929-1933
Cuốn l’Evolution économique de l’Indochine (Sự tiến triển kinh tế của Đông Dương) của Charles Robequain, Ed Paul Hartman, Paris, 1939 [229] có
thể được coi là một tư liệu tiếng Pháp có nội dung khá phong phú mô tả về sự tiến triển kinh tế Đông Dương trong khoảng thời gian từ 1900 đến 1937 Ở chương 1 phần I, Charles Robequain đề cập đến vấn đề người Âu, người Trung Quốc, người Nhật, người Ấn Độ ở Đông Dương, trong đó có các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, vai trò của họ trên các hoạt động công thương nghiệp với
Pháp, thuộc địa Pháp, với các nước châu Á Thứ hai, từ trang 340 đến trang 383,
Charles Robequain đã phân tích sự tiến triển của tình hình thương mại nói chung
Trang 15như kim ngạch xuất nhập khẩu, cơ cấu hàng hóa, các luồng trao đổi, đặc biệt dành 10 trang nói về quan hệ thương mại giữa xứ Đông Dương với vùng Viễn Đông như Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Inđônêsia, Singapo, Philippin
Đề cập tới tình hình Đông Dương trong giai đoạn 1929-1933, Charles Robequain nhận định:
« Khủng hoảng bùng nổ là một điều sớm được báo trước, làm tăng thêm sự liên hệ giữa chính quốc và Đông Dương, lật đổ sự cân bằng trong trao đổi hàng
hóa Những nước ở khu vực Viễn Đông trở thành những khách hàng tốt của
Đông Dương, đặc biệt là Trung Quốc trong việc giảm giá bán và hạn chế nhập khẩu…”[229; tr.365]
Về các mặt hàng tham gia chủ đạo ở thị trường Đông Dương, tác giả đã kể tên và phân tích, đưa ra bảng số liệu về lúa gạo, cao su…ở Việt Nam, gỗ ở Lào, thịt bò, thuộc da… ở Campuchia
Thứ ba, tài liệu này còn cung cấp một số biểu đồ, bảng số liệu về tình hình
xuất nhập khẩu giữa thị trường Đông Dương với thị trường Đông Bắc Á Tuy nhiên, những tư liệu nói trên được đặt trên một tổng thể là kinh tế nói chung nên nội dung đề cập tới ngoại thương còn rất sơ sài, hạn chế
Năm 1956-1957, bộ sách Tài liệu tham khảo cách mạng cận đại Việt Nam,
do nhóm tác giả Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Ca Văn Thỉnh, Hướng Tân, Văn Tạo, Phan Khôi,…biên soạn cũng được xuất bản [84] Bộ sách bao gồm 12 tập và được viết theo tinh thần “cung cấp tài liệu” Tuy nhiên, nội dung bộ sách chủ yếu đề cập đến các phong trào đấu tranh của nhân dân ta từ khi thực dân Pháp xâm lược Ở tập IV, các tác giả có trích dẫn các tài liệu tham khảo về bối cảnh lịch sử mới và sự phát triển của tư bản Pháp ở Việt Nam, hoạt động của tư sản Việt Nam từ 1918 đến 1930 (từ trang79 đến trang 96) Đặc biệt ở trang 96,
97, 98, các tác giả cung cấp tài liệu tham khảo về tình hình xuất cảng ở Đông Dương (phần lớn là Việt Nam) trong thời kỳ khai thác lần thứ hai Trong danh mục 48 mặt hàng xuất khẩu ở Đông Dương sau chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai, có nhiều mặt hàng, đặc biệt là ba mặt hàng chính: gạo, than đá và
Trang 16cao su, được chính quyền thuộc địa xuất sang thị trường Đông Bắc Á Ở tập VIII, tác giả có đề cập tới sự kiện phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương và ký một số Hiệp ước kinh tế với Nhật trong thời gian này (Nội dung các Hiệp ước sẽ được làm sáng tỏ trong những chương sau của luận án)
Tiếp theo phải kể đến cuốn Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt
Nam của NXB Văn Sử Địa năm 1957 của tác giả Nguyễn Khắc Đạm [24] Tác
giả đã dành hẳn chương IV để nói về chính sách bóc lột về thương nghiệp của tư bản Pháp từ năm 1858 cho đến tận 1954 và nêu khái quát đặc điểm nền thương nghiệp Việt Nam, bao gồm nội thương và ngoại thương Tuy nhiên, do là công trình nghiên cứu tổng thể những chính sách bóc lột của Pháp về cả nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải nên tác giả chưa đề cập đến thực trạng của hoạt động ngoại thương thời Pháp thuộc cùng những tác động của nó
Cuốn Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc của tác giả
Nguyễn Công Bình, NXB Văn Sử Địa, năm 1959 [10] đề cập đến sự ra đời, các đặc điểm của giai cấp tư sản Việt Nam thời cận đại Trong đó, ở chương 1, tác giả đã dành một số trang phác thảo về chính sách độc quyền của tư bản Pháp và
sự độc quyền của các công ty Pháp, Nhật Tuy không đi vào chi tiết nhưng ở mức độ nhất định, trang 133-135 cuốn sách đã giúp tác giả luận án hiểu thêm những nguyên nhân của sự biến động giao thương giữa Đông Dương với Nhật trong giai đoạn 1939-1945: tăng trong giai đoạn 1939-1941 và giảm dần từ 1942 trở đi: “Từ năm 1940, phát xít Nhật buộc thực dân Pháp phải nhường nhiều quyền lợi kinh tế ở Việt Nam cho chúng Chúng bắt đầu khai thác nguyên liệu và nâng cao nhập cảng hàng hóa Nhật Nhưng từ năm 1942, phát xít Nhật lại bị quân đồng minh tấn công liên tiếp, nền công nghiệp Nhật phải dốc vào phục vụ cho hoạt động chiến tranh nhiều nên việc sản xuất hàng hóa kém đi Từ đó, chính phủ Nhật cũng hạn chế xuất cảng hàng hóa sang Đông Dương bằng những điều kiện nghiêm ngặt” [10; tr.135]
Ở chương 2, tác giả làm sáng tỏ một số nét nổi bật về chính sách độc quyền của thực dân Pháp, đặc biệt là độc quyền quan thuế với những nước có hàng hóa
Trang 17cạnh tranh cao với tư bản Pháp như Nhật, Trung Quốc Tác giả viết “từ cuối thế
kỷ XIX trở đi, tư bản Pháp đã tỏ ra yếu thế trước những tư bản mới lên như Đức,
Mỹ, Nhật Bản Trên thị trường Đông Dương, ngay từ khi Pháp mới chiếm đóng, các tàu buôn Đức, Anh đã cạnh tranh ráo riết với tàu buôn Pháp Đó là chưa kể tàu buôn của Nhật, Trung Quốc đã từng có ảnh hưởng lớn Từ năm 1892, thực dân Pháp quy định hàng Pháp nhập cảng vào thuộc địa đánh thuế rất nhẹ còn hàng ngoại quốc vào thuộc địa Pháp thì đánh thuế rất nặng trung bình phải chịu từ 50% đến 180%, có mặt hàng lên tới 5000% giá trị hàng hóa đó” [10; tr.150-151]
Năm 1970, tổ tư liệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã dịch cuốn Đông
Dương của Ch Robequain (sách xuất bản tiếng Pháp năm 1935) [16] Bản dịch
bao gồm 206 trang đã phác họa cho người đọc thấy được những nét lớn về địa lý, điều kiện tự nhiên của các vùng miền thuộc Đông Dương (đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, thượng du Bắc Bộ, Thượng Lào, Hạ Lào, Tây Nguyên, Trung Bộ dưới vùng Nghệ Tĩnh, Nam Bộ, Cămpuchia) và những thay đổi của Đông Dương trong giai đoạn đầu thế kỷ XX Đặc biệt, tác giả đã dành hẳn chương cuối cùng phần B để mô tả hoạt động nội thương và ngoại thương của Đông Dương Trong
đó có đề cập đến quan hệ thương mại của xứ Đông Dương với vùng Viễn Đông (bao gồm một số nước ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á) Ở trang 189, tác giả nhấn mạnh “Viễn Đông là khách mua chính của nhiều loại nông lâm sản”, “các khoáng sản” như “than đá chở đi Hương Cảng, Trung Quốc và Nhật Bản” Trên
cơ sở phân tích các mặt hàng xuất nhập khẩu, tác giả rút ra nhận xét “Viễn Đông bán cho Đông Dương ít hơn là mua và sự chênh lệch này trở nên trầm trọng sau chiến tranh lần thứ nhất” (trang 190) Sau khủng hoảng kinh tế 1929-1933
“những sản phẩm ở Đông Dương như cá khô, sơn, than đá, xi măng” vẫn tìm được nơi tiêu thụ khá mạnh ở thị trường Viễn Đông Việc gợi mở những vấn đề liên quan đến thương mại Đông Dương- Đông Bắc Á của tác giả là cơ sở để luận
án lục tìm những hồ sơ lưu trữ với nguồn tư liệu phong phú, chi tiết hơn về ngoại thương Đông Dương trong thời gian này
Trang 18Nếu như ở giai đoạn trước, các cuốn sách nghiên cứu về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thường đề cập nhiều các vấn đề chính trị, xã hội, các phong trào yêu nước cách mạng thì ở giai đoạn 1975 đến nay, xu hướng nghiên cứu lịch
sử kinh tế có những chuyển biến tích cực hơn Trong bối cảnh chiến tranh chấm dứt, các hồ sơ, tư liệu lưu trữ được hé mở, nhiều công trình mới ra đời làm rõ hơn sự chuyển biến xã hội Đông Dương trong những năm đầu thế kỷ XX, trong
đó có lịch sử kinh tế
Cuốn Lịch sử Việt Nam tập II do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên [88] đã đề
cập đến chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương (1919-1929) Về thương mại, tác giả cũng đề cập đến một số khía cạnh liên quan như chính sách độc quyền buôn bán một số mặt hàng như rượu, thuốc phiện, muối và hàng rào thuế quan ngặt nghèo nhằm mục đích bảo hộ cho các mặt hàng của chính quyền trong cuộc cạnh tranh với mặt hàng của các quốc gia Đông Nam Á; hoạt động của một số công ty tư bản của Pháp và Hoa Kiều ở Đông Dương
Cuốn La présente financière et économique francaise en Indochine (1859 -
1939) (Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương) của tác giả
Jean Pièrre Aumiphin, xuất bản năm 1996 [234] cũng đã đi sâu nghiên cứu và khôi phục sự nghiệp kinh tế của Pháp ở Đông Dương kể từ khi Pháp xâm lược cho đến khi chiến tranh thế giới II bùng nổ Lần lượt các vấn đề về kinh tế Đông Dương như lưu thông tiền tệ, vai trò của Ngân hàng Đông Dương, sự đầu tư của Pháp cho đến những tác động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đối với sự chuyển biến về kinh tế, xã hội ở đây được tác giả khắc hoạ trong công trình của mình Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các bảng số liệu thống kê liên quan tới tình hình kinh tế, tài chính Đông Dương, trong đó có đề cập tới khía cạnh thương mại của các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Lào như hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư vốn, các mặt hàng chiến lược…Ở trang 152, ông cũng có chung quan điểm với một số nhà nghiên cứu khi nhận định “Toàn bộ thương mại của thuộc địa với Singapo và Trung Hoa ở trong tay người Trung Hoa, về nhập khẩu cũng như xuất khẩu Chỉ cần nhìn vào chi tiết các bảng thống kê của các phòng
Trang 19thương mại ở Sài Gòn cũng nhận thấy rằng những số tiền lớn tương ứng với sản phẩm như lúa gạo, thuộc phiện, tơ lụa, chè đều qua tay người Trung Hoa; chỉ có khoảng 25% ngoại thương thuộc người Pháp…”
Gần đây, trên diễn đàn của giới sử học, vấn đề kinh tế thời thuộc Pháp được quan tâm nhiều hơn Dựa trên các nguồn tư liệu tiếng Pháp, Anh, bức tranh kinh tế Đông Dương thời cận đại cũng dần được hé mở trong các công trình sử
học của các tác giả người Việt Tiêu biểu phải kể đến cuốn Cơ cấu kinh tế Việt
Nam thời thuộc địa của tác giả Nguyễn Văn Khánh xuất bản năm 1999 [40] đã đi
sâu nghiên cứu quá trình hình thành cơ cấu kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1858-1945, trong đó có đề cập đến vấn đề ngoại thương Tuy chỉ xem xét vấn đề ngoại thương như một nội dung nghiên cứu trong tổng thể cơ cấu kinh tế, số trang nghiên cứu về ngoại thương còn quá ít nhưng có lẽ đây là tư liệu gợi mở ra nhiều vấn đề liên quan đến đề tài về quan hệ giao thương giữa Việt Nam với khu vực Đông Bắc Á giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Một số trang tư liệu viết về quan hệ giao thương giữa Việt Nam với các nước châu Á nói chung trong thời cận đại là nền tảng quan trọng để đề tài luận án tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh, hệ thống hơn
Năm 1992 và 2002, nhà nghiên cứu Trần Khánh đã công bố các công trình
nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á có tên là Vai trò của người Hoa trong
nền kinh tế các nước Đông Nam Á và Người Hoa trong xã hội Việt Nam (thời Pháp thuộc và dưới chế độ Sài Gòn) [42] Tài liệu cung cấp cho luận án những
nội dung về tầng lớp Hoa thương, các công ty thương mại của người Hoa tham gia vào hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu ở Đông Dương với các nước bên ngoài, trong đó có thị trường Đông Bắc Á Ngoài việc cung cấp những số liệu về lịch sử xuất hiện của người Hoa ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra những đánh giá,
nhận xét về lực lượng Hoa thương ở khu vực này Trang cuốn Vai trò của người
Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, tác giả Trần Khánh nhận định
“hoạt động kinh tế của người Hoa ở Đông Dương được đối xử ưu ái hơn những người Hoa sống ở khu vực khác trong liên bang” (trang 83), “họ có mối liên hệ khá chặt chẽ với các trung tâm buôn bán lúa gạo của khu vực như Hồng Kông,
Trang 20Băng Cốc…Sự độc quyền buôn bán lúa gạo của người Hoa đã kéo theo sự độc quyền của họ trong việc phân phối các hàng hóa nhập khẩu” (trang 87) Tuy không cung cấp các tài liệu về hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Đông Bắc Á, nhưng những nhận định trên là cơ sở giúp tác giả luận án tìm hiểu rõ hơn
về các công ty, doanh nghiệp, thương hội…của người Hoa đã tham gia và đóng góp vào sự sôi động của nền thương mại Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
Cũng trong các năm 1999 và 2002, nhà sử học Dương Kinh Quốc và nhà
sử học Dương Trung Quốc đã hoàn thành và xuất bản hai tập sách Việt Nam
những sự kiện lịch sử (tập 1: 1858-1918 và tập 2: 1919-1945) Tuy không phải là
một công trình nghiên cứu chuyên sâu nhưng hai tập sách trên của các tác giả đã góp phần giúp nghiên cứu sinh tham khảo, liệt kê được thời gian, nội dung cơ bản của các sự kiện liên quan tới chính sách thương mại của chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam với Nhật, với Trung Quốc và các nước khác
- Các bài báo, tạp chí khoa học: Trên các tạp chí chuyên ngành, nhà nghiên
cứu Tạ Thị Thuý có bài Sự phát triển của ngành dịch vụ vận tải trong những
năm 20 của thế kỷ XX (NCLS, số 370, năm 2007) và bài Công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn khai thác thuộc địa lần thứ hai của người Pháp (1919-1930)
(NCLS, số 374, năm 2007) Các bài viết đã góp phần phác hoạ một số khía cạnh liên quan tới tình hình kinh tế Việt Nam và Đông Dương trong đó có việc giới thiệu một số nhà máy, công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất các mặt hàng phục vụ công nghiệp xuất khẩu và sự chuyển biến của ngành dịch
vụ vận tải Kết quả là “việc cải tạo hệ thống đường giao thông vận tải ngay lập tức đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại” (trang 42)
Trong bài viết “Hải Phòng với hoạt động đầu tư của tư bản Pháp từ cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX”, GS Đinh Xuân Lâm cũng điểm qua những biện
pháp mà tư bản Pháp đã đầu tư và phát triển công – thương nghiệp ở Hải Phòng
Nhà nghiên cứu Gerard Sasges có bài Sự thật về kế hoạch khai thác Đông
Dương lần thứ nhất của thực dân Pháp (NCLS, số 367, năm 2006) đề cập tới sự
Trang 21đầu tư tài chính và các vấn đề xoay quanh chủ trương của toàn quyền Đông Dương Pôn Đume trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông
Dương Bên cạnh đó, trên diễn đàn Tạp chí Nghiên cứu lịch sử còn có bài Hoạt
động của doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài tại cảng Hải Phòng trước năm
1945 của Phạm Xanh (số 1, năm 2002); Người Hoa trên thị trường lúa gạo Nam
Kỳ thời kỳ Pháp thuộc (1859-1945) của Nguyễn Phan Quang (số 1, 2002); Vũ
Thị Hoà với “Khoa học kĩ thuật nông nghiệp ở Hà Nội thời Pháp thuộc” (NCLS
389 - 390), Nguyễn Ngọc Cơ – Lê Thị Hương “Quá trình thăm dò, khai thác chế biến quặng kim loại ở Cao Bằng thời Pháp thuộc” (NCLS 383 - 384); Nguyễn Văn Khánh - Tạ Kim Thanh “Mấy nhận xét về kinh tế hàng hoá ở Hà Nội thời kì thực dân Pháp đô hộ và tạm chiếm” (NCLS 368) Nhìn chung, những bài viết
này đã cố gắng nêu lên những chuyển biến của các ngành kinh tế Việt Nam dưới thời Pháp thuộc ở các khía cạnh, mức độ khác nhau Đây là cơ sở, nền tảng để người viết có thể kế thừa trong quá trình triển khai đề tài luận án về vấn đề giao thương Việt Nam - Đông Bắc Á thời thuộc địa
- Luận văn, luận án:
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay chưa có một luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ lịch sử nào đề cập trực tiếp tới vấn đề giao thương của Việt Nam thời Pháp thuộc Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có một số luận án tiếp cận
ở một số hướng nghiên cứu mà người viết có thể tiếp thu, học hỏi, tham khảo:
Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1860-1939) của tác
giả Lê Huỳnh Hoa (bảo vệ năm 2003); Phố cảng Đà Nẵng từ 1802 đến 1860 của tác giả Lưu Trang (bảo vệ năm 2004); Quá trình xâm nhập của người Pháp
vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX- nguyên nhân và hệ quả
của tác giả Nguyễn Mạnh Dũng (bảo vệ năm 2011); Về tư sản Việt Nam ở Bắc
Kỳ trong ba thập niên đầu thế kỷ XX (bảo vệ năm 2012) của tác giả Trần Thanh
Hương; Đô thị Hải Dương thời Pháp thuộc (bảo vệ năm 2012) của tác giả
Phạm Thị Tuyết…
Trang 221.2 Các công trình nghiên cứu về thương mại Việt Nam thời thuộc địa
- Các sách nghiên cứu:
Năm 1961, một công trình chuyên khảo nghiên cứu về lịch sử ngoại
thương Việt Nam được công bố là cuốn Ngoại thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ
XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX của tác giả Thành Thế Vỹ (sách do NXB Sử học
xuất bản) [93] Tuy không nghiên cứu ngoại thương Việt Nam thời Pháp thuộc nhưng tài liệu có tác dụng giúp nghiên cứu sinh nắm được các vấn đề cơ bản khi phân tích lịch sử quan hệ thương mại Bên cạnh đó, công trình cũng đã phân tích, đánh giá, nhận định tương đối sắc nét về truyền thống thương mại của Việt Nam với một số nước ở Đông Bắc Á như Trung Quốc và Nhật Bản, trước khi có sự xâm nhập của tư bản phương Tây
Một công trình tiếng Pháp mang tính chuyên khảo tới lĩnh vực thương mại
thời Pháp thuộc là Commerce et colonisation en Indochine 1800 – 1945 (Nền
thương mại và công cuộc thực dân hoá ở Đông Dương 1800 - 1945) của Kham
Vorapheth [235] Đây là một trong những công trình hiếm hoi đề cập tới quan hệ giao thương của Đông Dương với các nước châu Á được đề cập trong khoảng
600 trang sách, cấu trúc thành 4 phần khác nhau và 20 chương:
Phần thứ nhất: Không gian của các hiệu buôn Pháp và sự phát triển của
họ Phần này được khảo cứu ở 5 chương với nội dung nói về sự xâm nhập
thương mại của thực dân Pháp ở Nam Kỳ, trình bày những lý do khiến Đông Dương trở thành một miền đất thu hút sự quan tâm của tư bản nước ngoài, tình hình biến động của các công ty thương mại ở Đông Dương giai đoạn 1910-1945
Phần thứ hai: Cơ cấu sự phát triển thương mại giữa Pháp và Đông Dương
đề cập tới thị trường thương mại Đông Dương, đối tượng thương mại (các hàng hóa, sản phẩm), đặc tính của người tham gia buôn bánở Đông Dương, các chính sách kinh tế và các vấn đề kinh doanh của chính quyền thuộc địa Pháp từ 1869-
1939, vấn đề buôn bán gạo, thuốc phiện, vấn đề phát triển thương mại ở khu vực sông Mê Kông, các cách thức vận chuyển hàng hóa…Các nội dung này được phân tích cụ thể từ chương VI tới chương XII
Trang 23Phần thứ ba: Từ chương XIII đến chương XVI, nhà nghiên cứu tập trung vào lịch sử của một hãng buôn lớn ở Đông Dương, đó là hãng Denis-Frères
Phần thứ tư: Sự thành công của thương mại Pháp trong môi trường giao
thương Đông Dương, được thể hiện từ chương XVII đến chương XX, đề cập tới
thực trạng thương mại của Đông Dương từ 1860 đên 1945
Đặc biệt, tác giả dành một số trang nhất định (trang 549 đến 599) phác thảo
về mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và một số quốc gia ở Đông Nam Á như Thái Lan, Singapo…Sự phác thảo này được thể hiện bằng hai cách thức sau: Trước hết, tác giả khái quát chung về thương mại giữa Đông Dương với các nước Đông Á trên các khía cạnh khác nhau “Đông Dương cũng mua nhiều hàng hóa được sản xuất từ các nước châu Á: Đồ sứ của Nhật Bản và Trung Quốc, đồ gỗ của Nhật Bản, hóa chất làm hương đến từ Trung Quốc và Nhật Bản, giấy và hương trầm Nói chung các mặt hàng nhập vào Đông Dương là các sản phẩm của Đông Á” Như vậy, mặc dù thực dân Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương bằng nhiều thủ đoạn, biện pháp khác nhau, nhưng chúng luôn phải đối mặt với những nguy cơ bị canh tranh từ thị trường Đông Á trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông
Thứ hai, tác giả đi vào trình bày quan hệ thương mại cụ thể giữa xứ Đông Dương với từng quốc gia Ví dụ, với Nhật Bản, trong một chừng mực nhất định, tác giả đã cố gắng mô tả các giai đoạn thăng trầm trong quan hệ thương mại giữa Nhật và Đông Dương Trên cơ sở phân tích, tác giả rút ra kết luận “Đông Dương chính là sự kiện phân ly của nước Pháp đối với những quan hệ thuế quan với Nhật Bản Việc áp dụng thuế của hiệp định năm 1927 giữa Đông Dương và Nhật Bản chỉ có hiệu lực thực hiện từ năm 1932”
Trong hoạt động thương mại, tác giả đã cố gắng cung cấp các số liệu, các loại hàng hóa, tên các công ty thương mại tham gia vào các trục thương mại này như hãng Denis-freres, L.Ogliastro, L’U.C.I.A, Dumarest, Optorg, Berthet… Cuối cùng, từ những số liệu xác thực, phong phú, ông đi đến khẳng
Trang 24định “Về ngoại thương, Đông Dương đóng vai trò là trung tâm kinh tế của Pháp ở châu Á” (trang 628)
Một công trình bàn về vai trò và vị thế của người Hoa viết bằng tiếng Anh
cũng rất đáng lưu ý đó là Economic roles of Southeast Asia Chinese on the Eve of
World War II của tác giả người Nhật Fukuda Shozo [251] đề cập tới vai trò của
người Hoa ở hải ngoại ở Đông Nam Á trước chiến tranh thế giới II Ở chương 5, tác giả đã dành 15 trang (từ trang 90 đến trang 105) để đề cập tới quyền lực kinh tế của người Hoa ở Đông Dương Ở trang 97, tác giả đánh giá tương đối cao vị trí của Hoa thương ở Đông Dương khi khẳng định 60-70% lượng hàng hoá xuất khẩu ở Đông Dương được đặt dưới sự kiểm soát của thương nhân Hoa kiều Năm 1929, các công ty của người Hoa xuất khẩu được 967.000 tấn hàng hoá sang Hồng Kông, Trung Quốc, Malaysia và một số nước khác với tổng giá trị đạt 1.149 triệu fr, trong
đó gạo chiếm 65% sản lượng và 67% giá trị hàng hoá Từ đó, tác giả khẳng định, thực dân Pháp sẽ không thể thực hiện được sự nghiệp chính trị ở thuộc địa Đông Dương nếu không có sự “giúp đỡ” đắc lực bởi vai trò trung gian của Hoa thương
- Các bài báo, tạp chí khoa học: Trong những năm gần đây, bàn về vấn đề thương mại Việt Nam nói riêng, thương mại Đông Dương nói chung cũng đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận và thể hiện trên diễn đàn tạp chí Tiêu biểu có
bài viết của tác giả Tạ Thị Thuý, Thương nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX; Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Mạnh Dũng, Truyền thống và hoạt động thương mại
của người Việt- Thực tế lịch sử và nhận thức (NCLS, số 9, năm 2007); Trần Viết
Nghĩa Hoạt động chấn hưng thực nghiệp của tư sản Việt Nam đầu thế kỷ XX
(NCLS, số 7 (387), năm 2008) Đáng chú ý là bài viết của tác giả Tạ Thị Thuý khi cung cấp cho người đọc những số liệu về sự gia tăng của các công ty thương mại,
sự chuyển biến của kim ngạch xuất nhập khẩu, sự vượt trội của cán cân thương mại về cả trọng lượng cũng như giá trị hàng hoá, một số luồng trao đổi chính của thương mại Việt Nam và Đông Dương trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới I Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định, ở Việt Nam sau năm 1918, “hoạt động thương mại trở nên sôi nổi theo chiều hướng phụ thuộc trong chừng mực nhất định vào
Trang 25sản xuất trong nước, tức là sự phát triển của các ngành hàng hoá mà thị trường quốc tế đang cần” [83; tr.32]
- Luận văn, luận án:
Cho đến nay, nghiên cứu về các khía cạnh của thương mại Đông Dương thời Pháp thuộc vẫn là một hướng đi mới của sử học bởi sự hạn chế về nguồn tài
liệu Về vấn đề này, tiêu biểu phải kể đến công trình Nội thương Bắc Kỳ thời kỳ
1919-1939 của Vũ Thị Minh Hương, bảo vệ thành công tại Viên Sử học năm
2002 Công trình đã góp phần tạo dựng lại một cách có hệ thống những nhân tố tác động, thực trạng nội thương Bắc Kỳ giữa hai cuộc thế chiến, bước đầu lấp đi khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam thời cận đại Đồng thời, tác giả đã nêu được những nhận xét và bài học kinh nghiệm quý báu cho nền kinh
tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong một chừng mực nhất định, việc nghiên cứu về hàng hoá (hàng nội địa, hàng nhập khẩu), giao lưu hàng hoá, thị trường, hệ thống cơ sở hạ tầng, thương nhân, thương hội…đã gợi mở ít nhiều những vấn đề khoa học khi nghiên cứu về thương mại Đông Dương, bao gồm cả nội thương và ngoại thương
1.3 Các công trình nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á thời thuộc địa
Trong suốt một thế kỷ qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bang giao hoặc giao thương giữa hai khu vực thời cổ trung đại và hiện đại Tuy nhiên, nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á thời cận đại thì chưa có một công trình nghiên cứu trực tiếp Các sách, báo, tạp chí khoa học và một số luận văn, luận án nếu có thì mới dừng ở phạm vi rất hẹp
- Các sách nghiên cứu:
Năm 1951, nhà nghiên cứu Lê Văn Sáu cho xuất bản cuốn Đông Á trên
trường chánh trị quốc tế (1940-1950) [74] Trong cuốn sách này, tác giả Lê Văn
Sáu khái quát về sự biến chuyển của các nước Đông Á từ thế kỷ XIX đến những năm 50 của thế kỷ XX Trong đó, có một số trang tư liệu viết về các hiệp ước
Trang 26thương mại giữa Trung Quốc với Pháp, giữa Nhật với Pháp trong việc giải quyết lợi ích chính trị, kinh tế của các nước này ở Đông Dương Trong khía cạnh quan
hệ thương mại giữa Đông Dương với Trung Quốc, ở trang 98, 99, tác giả Lê Văn Sáu có nêu tiểu mục “Pháp và miền Nam Trung Hoa”, vạch rõ hành trình thực dân Pháp tăng cường ảnh hưởng kinh tế và chính trị ở Quảng Đông, Quảng Tây
và Hải Nam, giúp Pháp nối liền phạm vi ảnh hưởng của mình trên dải dọc miền Nam Trung Hoa tới toàn bộ xứ Đông Dương, trong đó có phần tiếp giáp với biên giới Việt Nam Tác giả chỉ rõ “nguyên nhân giúp Pháp tăng cường ảnh hưởng tại Trung Hoa là vì Pháp có công can thiệp buộc Nhật trả đất Liêu Đông cho Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Hoa- Nhật” và trong hoàn cảnh đó, “Trung Hoa đã phải ép bụng ký với Pháp hiệp ước 1896 nhượng cho Pháp đô thị Long Châu ở Quảng Đông và Mông Tự ở Vân Nam”, “Trung Hoa còn cho Pháp quyền nhập cảng”, “nhượng cho Pháp tô địa Quảng Châu Loan” Những tư liệu trên góp phần giúp cho chúng ta hình dung vì sao quan hệ thương mại giữa Đông Dương và miền Nam Trung Hoa lại diễn ra thuận lợi Mặt khác, ở trang 93, tác giả Lê Văn Sáu chỉ rõ các hiệp ước giữa Nhật và Triều Tiên trong những năm đầu thế kỷ XX,
là nguồn tư liệu gián tiếp giải thích lý do quan hệ thương mại giữa Đông Dương
và Triều Tiên kém phát triển vì từ năm 1910, Triều Tiên là thuộc địa của Nhật Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là những tư liệu vụn vặt, thiếu hệ thống
Năm 1996, nhóm tác giả Đỗ Đình Hãng và Trần Văn La đã công bố công
trình nghiên cứu có tên Quan hệ Nhật- Pháp ở Đông Dương trong chiến tranh
Thái Bình Dương do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản [30] Với dung lượng
144 trang, hai nhà nghiên cứu đã cho người đọc có được một cái nhìn tổng quan
về vị thế của Đông Dương trong chiến lược của các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật giai đoạn từ sau khủng hoảng kinh tế 1929-1933
Ở khía cạnh kinh tế, trong chừng mực nhất định đã cung cấp thông tin về
sự xâm nhập kinh tế của Nhật vào Đông Dương trong những năm 30 của thế kỷ
XX Với Nhật, “Đông Dương chính là kho gạo để phục vụ nhu cầu hậu cần quân
sự tại chỗ cho quân đội Nhật” (trang 16) Vì thế “từ năm 1927 đến năm 1937,
Trang 27Nhật Bản đã thâm nhập bằng còn đường kinh tế và ngoại giao Thông qua chính phủ Pháp, chính quyền thuộc địa Pháp, các nhà kinh doanh Nhật Bản đã hùn vốn với tư bản Pháp ở Đông Dương xây dựng xí nghiệp sản xuất, đồng thời đưa những nguyên liệu khai thác được về Nhật, mang hàng tiêu dùng của Nhật đến Đông Dương” (trang 16) Các tác giả cũng cung cấp những số liệu về kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Đông Dương và Nhật năm 1936, 1939 nhưng không đề cập chi tiết các loại hàng hóa tham gia trên trục thương mại giữa hai bên
Riêng về chính sách thương mại, các tác giả đã cố gắng cung cấp một số điều ước được ghi trong Công ước Pháp- Nhật về việc thiết lập và khai thông
quan hệ hàng hải với Đông Dương thuộc Pháp (trang 56) và Hiệp định về thuế quan, thương mại (trang 56), khẳng định với Công ước Pháp- Nhật kí ngày
6/5/1941 “Pháp đã đặt nền kinh tế Đông Dương vào tay Nhật, Nhật thực sự đã làm chủ kinh tế Đông Dương” (trang 57) Dù mục đích chính của công trình là làm sáng tỏ những khía cạnh về chính trị, xã hội Đông Dương thời Pháp- Nhật nhưng ở góc độ nhật định, tài liệu đã có giá trị bù lấp thêm tư liệu về thương mại Đông Dương với Nhật giai đoạn 1939-1945
Năm 2001, nhóm tác giả Nguyễn Minh Hằng, Chương Thâu đã xuất bản
cuốn Quan hệ thương mại ở biên giới Việt- Trung: Lịch sử, hiện trạng và triển
vọng [31] Trong 3 chương của cuốn sách, các tác giả đã dành hẳn một chương đề
cập tới lịch sử ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc Riêng từ trang 56 đến trang 81, tiến trình ngoại thương hai nước từ hiệp ước Thiên Tân cho đến năm
1945 đã được dựng lên và được tác giả chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1911;
Giai đoạn từ 1912 đến 1935;
Giai đoạn từ 1936 đến 1945
Trong ba giai đoạn này, các tác giả đã cố gắng đề cập tới tình hình buôn bán giữa Đông Dương với Trung Quốc giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và nêu được khái quát các nội dung của các hiệp ước thương mại giữa chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương với triều đình Mãn Thanh Ở trang số 56, các tác giả khẳng
Trang 28định “việc buôn bán ở vùng biên hai nước đã có sự phát triển nhất định…Tuy nhiên, quy mô thương mại của cư dân hai nước ở các vùng biên giới bị nhiều hạn chế” Mặc dù có đề cập đến một số hiệp ước, tên các mặt hàng được trao đổi, lưu thông giữa hai nước nhưng do hạn chế về nguồn tư liệu gốc, các tác giả chưa nêu được nội dung cụ thể của từng giai đoạn: về chính sách thương mại, các bảng số liệu xuất nhập khẩu, các công ty thương mại…Tất cả chỉ dừng ở con số chung chung, khái quát Với những nội dung như vậy, gần như chưa thể vẽ lên bức tranh toàn cảnh về hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Các bài báo, tạp chí khoa học:
Ngoài các sách và công trình chuyên khảo nói trên thì các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã đăng tải những bài báo đề cập ở mức độ nhất định tới vấn đề “Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897-1945)”
Trên diễn đàn của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, chúng ta phải kể đến: Sự
bành trướng và xâm lược của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX (số 3, 1985) của Nguyễn Anh Thái, Nguyễn Đình Lễ; Phạm
Quang Trung và Cao Văn Biền với bài Việt Nam và Đông Dương trong chiến lược
bành trướng của chủ nghĩa quân phiệt Nhật (số 3, năm 1995); Quan hệ mậu dịch ở biên giới Việt- Trung từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX của Chương Thâu (số 5,
năm 2000); Nguyễn Tiến Lực với bài Quan hệ thương mại Việt – Nhật trong những
năm 1929-1939; Nguyễn Văn Khánh với bài Quan hệ thương mại Việt Nam- châu
Á từ thế kỷ XIX đến năm 1945 (số 3 (395), năm 2009) Nhìn chung, các bài báo nói
trên đều góp phần nhất định vào nội dung của luận án Tuy nhiên, do sự hạn chế về nguồn tư liệu, nên chưa có một bài viết nào đề cập trực tiếp đến vấn đề giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á từ năm 1897 đến năm 1945
1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng ta có thế rút ra một vài kết luận như sau:
Trang 29Một là, các nguồn tư liệu trong một thế kỷ qua đã làm sáng tỏ ở những
khía cạnh nhất định về lịch sử kinh tế Việt Nam và Đông Dương, trong đó có ngoại thương:
Thứ nhất: Các chính sách của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương đối với thương mại nói chung;
Thứ hai: Sự biến động của tình hình thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu với các khu vực, quốc gia trên thế giới thời cận đại;
Thứ ba: Phân tích về sự hiện diện của các công ty, thương hội, thương nhân của Pháp, Trung Quốc ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam
Hai là, về hạn chế của các nguồn tư liệu: Đối với các công trình tiếng Việt,
hầu hết đều chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lịch sử chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Các công trình chuyên khảo, sách báo nghiên cứu sâu về lịch sử kinh tế rất ít hoặc nếu có thì đề cập nhiều ở giai đoạn kinh tế sau cách mạng Tháng Tám Các đề tài về ngoại thương lại càng vắng bóng Đối với các công trình tiếng nước ngoài: Để phục vụ cho âm mưu thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nên trong những năm 30 của thế kỷ
XX, một số tài liệu tiếng Pháp nghiên cứu về kinh tế Đông Dương đã được xuất bản Nhiều tài liệu cho đến nay vẫn chưa được dịch ra tiếng Việt và hầu hết cũng chỉ phân tích tình hình kinh tế mang tính tổng thể bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Do vậy, vấn đề quan hệ thương mại giữa Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung với khu vực Đông Bắc Á trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX vẫn chỉ là sự phác qua, như một sự chấm phá trong cái tổng thể chung đó
Xuất phát từ sự kế thừa các công trình trên, kết hợp với việc khảo cứu các
hồ sơ lưu trữ, đề tài luận án sẽ làm sáng tỏ Quan hệ thương mại giữa Việt Nam
với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897-1945) với
nội dung cụ thể như sau:
Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống các nhân tố tác động trực tiếp và
Trang 30gián tiếp tới giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động của cả ba nước Đông Dương - thời thuộc Pháp
Hai là, nghiên cứu một cách có hệ thống các Hiệp ước, Thoả ước thương mại
mà chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương ký với Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á có ảnh hưởng tới quan hệ thương mại giữa hai bên trong thời gian cuối thế kỷ XIX đến năm 1945
Ba là, trên cơ sở tập hợp các số liệu từ nhiều nguồn khác nhau, luận án cần phác hoạ bức tranh giao thương giữa Việt Nam và Đông Dương với Đông Bắc Á theo tiến trình thời gian từ 1897 đến 1945 bao gồm kim ngạch xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, cơ cấu hàng hoá, thị trường, lực lượng tham gia buôn bán…
Cuối cùng, công trình cần làm sáng tỏ những nét chung, đặc điểm của quan hệ thương mại giữa hai bên cũng như tác động của nó tới tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Việt Nam và Đông Dương; làm rõ hơn bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp ở thuộc địa cũng chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới các phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta liên tiếp bùng nổ, đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trang 31Chương 2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI GIAO THƯƠNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ
THUỘC KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á (1897-1945) 2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Việt Nam có một vị trí quan trọng trên bản đồ thế giới và khu vực Đông Nam Á: phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Tây nam giáp Lào, Cămpuchia, phía Đông và Nam giáp biển với 3260km đường biển và hơn
3000 hòn đảo lớn nhỏ Với diện tích đất liền rộng khoảng 330363km2
và phần lãnh hải còn rộng gấp nhiều lần so với phần đất liền, nên Việt Nam sớm trở thành một chiếc cầu nối giữa châu Á và Thái Bình Dương, giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nơi giao điểm của các tuyến đường giao thông liên lạc, vận chuyển… từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, nơi tiếp xúc
và giao thoa của nhiều nền văn minh trên thế giới Trong lịch sử của văn minh nhân loại, Việt Nam là quốc gia nằm giữa hai trung tâm văn minh lớn, cổ xưa
là Trung Quốc và Ấn Độ nên cũng sớm trở thành điểm giao lưu, trung chuyển của hai nền văn mình đó Do vậy, truyền thống giao lưu thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia bên ngoài được hình thành từ rất sớm, đầu tiên là với Trung Quốc, sau là Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ…
Do đó, có thể khẳng định, lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
Đông Bắc Á hình thành sớm và phát triển liên tục trước hết là nhờ vị trí địa lý hết sức thuận lợi giữa hai khu vực với nhau, một sự tiếp giáp trực tiếp về cả biên giới trên đất liền và trên biển Đó chính là nền tảng, cơ sở để Việt Nam có thể duy trì được quan hệ láng giềng truyền thống với các quốc gia và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á ngay cả khi bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Sự thuận lợi thứ hai cho trục thương mại Việt Nam - Đông Bắc Á chính
là yếu tố điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng của Việt Nam ở cả ba kỳ : Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã tạo ra vô khối những sản vật, mặt hàng chiến lược tham gia vào hoạt động trao đổi, buôn bán ở thị trường khu vực và
Trang 32thế giới Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, gió mùa nên khí hậu nóng,
ẩm, mưa nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một nền nông nghiệp lúa nước Thiên nhiên rất đa dạng trên khắp các vùng đồng bằng, ven biển, trung du, cao nguyên cho đến núi rừng, có nhiều tiểu khí hậu và thế giới động thực vật phong phú Trong lòng đất thì tiềm tàng nhiều khoáng sản có giá trị kinh tế cao như các mỏ đồng, thiếc, sắt, vàng, bạc Điều này đã được minh chứng qua bức thư của các giáo sĩ Pháp:
"Tất cả các loại cây cũng như các loài thú khác đều rất phong phú trên miền đất được thiên nhiên ưu đãi này, và một khi nông nghiệp và cây công nghiệp ở đây đạt tới trình độ phát triển cao thì miền đất (Indochine) này dứt khoát sẽ là một trong những miền đất giàu có nhất…" [45; tr.515]
Sự đa dạng của nguồn tài nguyên thiên nhiên đã đóng góp phần quan trọng trong hoạt động thương mại giữa Việt Nam với các nước Đông Bắc Á, đáp ứng nhu cầu hàng hóa của hai khu vực trong thời kỳ bị chính sách thương mại của chủ nghĩa thực dân, đế quốc chi phối
Hệ thống sông ngòi Việt Nam dày đặc phân bố trên khắp các vùng miền, với hai con sông lớn nhất là sông Hồng và sông Mê Kông- hai vựa thóc lớn nhất của cả nước, không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý nghĩa quân sự
vô cùng to lớn Nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ, đa dạng không chỉ thuận lợi cho sự phát triển nguồn nông sản xuất khẩu mà còn phát triển các đồn điền trồng các loại cây công nghiệp có giá trị xuất nhập khẩu cao như cao su, cà phê, chè…
Như vậy, với một vị trí chiến lược, một điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú… đã trở thành những yếu tố không thể thiếu tác động đến bức tranh giao thương giữa Việt Nam trong những những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với những thay đổi to lớn do sự xâm lược, thống trị và áp bức của thực dân Pháp với Việt Nam và cả ba nước Đông Dương
2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá
Trang 332.2.1 Về chính trị, xã hội và văn hoá
* Về chính trị: Trong những năm 1897-1945, Việt Nam là thuộc địa đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp, bao gồm 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Quyền lực cao nhất là Toàn quyền Đông Dương, sau đó là Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ và mỗi tỉnh có một viên cai trị người Pháp gọi là Công sứ Đến năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Việt Nam, câu kết với chính quyền thuộc địa của Pháp đẩy nhân dân Đông Dương rơi vào cảnh « một
cổ đôi tròng » Trong suốt thời Pháp thuộc, xã hội Việt Nam mang tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt
Để tăng cường sự áp bức, bóc lột nhân dân Việt Nam và Đông Dương trong lĩnh vực thương mại, chính quyền thuộc địa Pháp đã thành lập các cơ quan chuyên trách, phòng thương mại, viện nghiên cứu kinh tế Các cơ quan này có chức năng thống kê số liệu, báo cáo cụ thể tình hình thương mại của các xứ của Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung qua các năm, cố vấn cho các nhà cầm quyền trong việc ban hành các chủ trương, chính sách phát triển ngoại thương Đông Dương sao cho đem lại lợi nhuận tối đa cho mẫu quốc (xem thêm phụ lục 1)
* Về xã hội, để làm nên sự biến đổi của thương mại Việt Nam với Đông Bắc Á thời thuộc địa, quan trọng nhất phải kể đến nhân tố con người Không chỉ là nơi có vị trí chiến lược quan trọng, Việt Nam còn là nơi cộng cư của nhiều tộc người khác nhau Sự hiện diện tương đối đa dạng của các tộc người giúp cho ngay trong những bối cảnh lịch sử khó khăn nhất, truyền thống giao thương giữa Việt Nam với Đông Bắc Á vẫn được duy trì và phát triển
Sự gia tăng dân số góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, tác động đến quy luật cung – cầu của thị trường Cho đến đầu thế kỷ XX, dân số Đông Dương liên tục gia tăng, vào khoảng 18,8 triệu người (1921), tăng lên 20,5 triệu người (1926) và 23 triệu người (1937) Sau chương trình khai thác thuộc địa lần thứ I (1897-1913) và lần thứ II (1919-1929), cơ cấu xã hội Việt Nam có sự biến đổi sâu sắc với sự tồn tại của 5 giai cấp, tầng lớp Bên cạnh các giai cấp cũ là
Trang 34địa chủ và nông dân, trong xã hội đã xuất hiện thêm các giaii cấp và tầng lớp mới:
tư sản, vô sản và tiểu tư sản Riêng trong lĩnh vực thương nghiệp có sự tham gia của các thành phần với tư cách vừa là chủ nhân của nền thương mại, vừa là người tiêu thụ các mặt hàng xuất, nhập khẩu
Trước hết là người bản xứ Đặc điểm của con người Việt Nam đã được các thương nhân, giáo sĩ ngoại quốc mô tả là "khá thật thà rất dũng cảm, siêng năng, khéo léo và rất hào phóng trong các vụ chi tiêu và danh vọng…" [45; tr.517] Chính những tính cách đó đã tạo nên những cư dân bản địa sự khéo léo, năng động, không chấp nhận thân phận bị nô dịch, chèn ép của thực dân Sau chiến tranh Thế giới lần thứ I, yếu tố kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa xâm nhập ngày càng sâu rộng ở Việt Nam, đã tác động đến bộ phận tư sản dân tộc và tiểu tư sản Do đó, một số người đã tham gia thành lập các công
ty, thương hội của người Việt, cạnh tranh với tư bản nước ngoài trong việc buôn bán với Trung Quốc, Hồng Kông, góp phần tạo nên diện mạo mới trong thương nghiệp Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, còn số thương nhân người bản xứ còn quá ít ỏi so với tỷ lệ dân số Đông Dương lúc bấy giờ Thứ hai, người châu Á trong đó người Hoa, người Nhật là lực lượng chủ yếu của luồng thương mại giữa Việt Nam với Đông Bắc Á trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Đáng lý ra, để phục vụ cho chính sách độc quyền thương mại của thực dân Pháp ở Việt Nam, thì tư bản Pháp mới là lực lượng chi phối trục thương mại này nhưng vì nhiều lý do, họ không thể thâu tóm tất cả Chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, dù không ưa gì các thương nhân, thương hội người Hoa, người Nhật, người Ấn nhưng vẫn phải chia sẻ “lợi ích” nếu như còn muốn khai thác và bóc lột xứ Đông Dương được nhiều hơn Trong nhiều lĩnh vực, nhất là thương mại, người Hoa bộc lộ rõ thế mạnh của mình Điều đó xuất phát từ những phẩm chất mà nói chung là người bản xứ thiếu: đó là biết phòng xa, kiên trì, đó là tiết kiệm, biết lường rủi ro và chi tiêu lớn khi xét thấy có lợi nhuận Họ không làm việc một mình và đó là một ý nghĩa nổi bật của tính đoàn kết Những tổ chức hỗ trợ xã hội, tổ chức công đoàn
Trang 35rất phát triển trong những người nhập cư Trung Quốc Các thành viên của các công ty nhỏ bị ràng buộc bởi quy tắc; công khai hoặc bí mật, tuân theo những khẩu hiệu mà nếu không sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh không tổ chức Đó
là ưu thế lớn hơn so với các thương nhân châu Âu, người Ấn và người Việt Vì
vậy, không ngẫu nhiên trong nền thương mại Đông Dương, thực dân Pháp vừa
coi họ là kẻ thù nhưng lại không thể không hợp tác
BẢNG 2.1: SỐ LƯỢNG NGƯỜI HOA Ở VIỆT NAM NĂM 1936
Các xứ Tổng dân số Mật độ Trung Quốc Tỷ lệ
* Về văn hoá: Văn hoá Việt Nam và văn hoá các quốc gia ở Đông Bắc Á đều có chung đặc điểm là nền văn hoá phương Đông, thể hiện tính cách, lối sống về vật chất cũng như tinh thần của người phương Đông Chính trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá trong lịch sử nên người Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên đã hình thành một số nét tương đồng trong nhu
Trang 36cầu tiêu dùng và sinh hoạt Chính sự tương đồng về những nhu cầu vật chất, tinh thần và thói quen tiêu dùng, sinh hoạt đó đã tạo điều kiện cho các hàng hoá của cả hai bên dễ dàng được nhân dân chấp nhận và sử dụng thường xuyên so với hàng hoá phương Tây
2.2.2 Điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng
* Về kinh tế: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền Sự phát triển của nó không chỉ nhờ bóc lột nhân dân trong nước mà còn nhờ sự bóc lột với các thuộc địa Do đó, Việt Nam sớm trở thành đối tượng chú ý của tư bản phương Tây và nhanh chóng trở thành thuộc địa của Pháp vào cuối thế kỷ XIX Mọi hoạt động giao thương cũng như hoạt động kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này đều mục đích phục vụ quyền lợi của chính quốc, làm tăng thêm lợi thế cho thực dân Pháp trên bản đồ địa chính trị của thế giới tư bản của nghĩa Do đó, nguồn vốn đầu
tư cho Việt Nam và Đông Dương, trong đó có lĩnh vực thương mại có sự gia
tăng liên tục
Trong chương trình khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất, toàn quyền Pôn Đume có nói rõ, mục đích chính của công cuộc xâm lược và thống trị
xứ Đông Dương chủ yếu là biến nơi đây thành thuộc địa khai thác, « thuộc địa
Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp » Sau chiến
tranh thế giới lần thứ I, thực dân Pháp bắt tay vào thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai với đặc điểm nổi bật là sự gia tăng lớn về nguồn vốn đầu tư « Trong 6 năm sau chiến tranh thế giới I (1924-1929), tổng số vốn đầu tư của đế quốc Pháp vào Đông Dương hơn gấp 6 lần số vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh, (năm 1924 là 214 triệu fr, đến 1929 là 780 triệu fr) » Số vốn
đầu tư được phân bố cho các ngành cụ thể như sau:
Trang 37BẢNG 2.2: PHÂN BỐ ĐẦU TƯ VỐN CHO CÁC NGÀNH
Ở ĐÔNG DƯƠNG 1924-1929 Đơn vị : triệu fr
Lĩnh vực Bắc Kỳ Nam Kỳ Cao Miên Lào Trung Kỳ
ở lĩnh vực nông lâm và khai mỏ
Chính sự đầu tư đó đã dẫn tới những chuyển biến lớn trong nền kinh tế Việt Nam Yếu tố kinh tế tư bản xâm nhập vào một xứ thuộc địa, thay thế cho yếu tố kinh tế phong kiến lạc hậu Các ngành nông nghiệp, công nghiệp có sự đầu tư vốn, khoa học kĩ thuật, cơ sở hạ tầng…đã sản xuất ra những sản phẩm xuất cảng
ra bên ngoài, đem lại nguồn lợi cho chính quốc Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1945 là nền kinh tế thuộc địa, phụ thuộc vào sự đầu tư và quan điểm cai trị của đế quốc Pháp nên sự chuyển biến trong sản xuất, giá cả, thị trường….mang tính không ổn định, bền vững Khủng hoảng kinh tế 1929-1933
đã gây những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Việt Nam và Đông Dương, dẫn tới sự phá sản hàng loạt của các thương nhân, thương hội, đời sống nhân dân khổ cực nghiêm trọng Nền kinh tế vừa được khôi phục, phát triển trở lại chưa được bao lâu, thì Việt Nam lại bị cuốn vào « chính sách kinh tế thời chiến » những năm 1939-1945, đặc biệt là sự độc chiếm của phát xít Nhật đã dẫn đến hậu quả 2 triệu người dân Việt Nam chết đói trong nạn đói năm Ất Dậu (1945)
Trang 38* Về ngoại thương: Quá trình thực dân Pháp cai trị Việt Nam và trên toàn Đông Dương gắn chặt với những thủ đoạn bóc lột về thương nghiệp hết sức thâm độc của chúng, nhằm thu hồi lợi nhuận tối đa cho chính quyền thực dân và tư bản Pháp Để đạt được mục đích đó, chúng thi hành các biện pháp chủ yếu như sau: Thứ nhất, chính quyền thuộc địa Pháp âm mưu độc quyền thương mại ở
Việt Nam và Đông Dương với nhiều thủ đoạn khác nhau trong đó có việc cấm
ba nước Đông Dương không được duy trì quan hệ thương mại với các quốc gia, các công ty thương mại có quan hệ đối địch với thực dân Pháp Điển hình có
việc ngày 4 tháng 4 năm 1915, chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương
ban hành lệnh Cấm buôn bản với các công ty đối địch với Pháp quy định trách
nhiệm hình sự đối với các tổ chức, cá nhân, công ty, thương hội…trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho việc thiết lập quan hệ giao thương với các nước ngoài Pháp
và thuộc địa của Pháp ở Đông Dương Cụ thể ở điều 1 có ghi rõ:
“Bất kỳ người nào ký kết, ban quyết định, thi hành, hoặc can thiệp một cách trực tiếp vào các hoạt động thương mại hay can thiệp vào bất cứ thỏa thuận nào với một công ty đối địch mạnh hoặc một thương nhân nước ngoài… sẽ chịu hình phạt là bị giam từ 1 đến 5 năm tù và bồi thường từ 500 fr đến 20.000 fr,
hoặc chỉ chịu một trong những hình phạt này” [188]
Thực tế cho thấy, mặc dù xâm lược Việt Nam từ rất sớm, nhưng bản thân
tư bản Pháp không thể một sớm một chiều là đạt ngay được mục đích độc chiếm nền kinh tế nước ta Vì những lý do khách quan, các công ty, thương nhân và thương hội của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Mỹ, Đức vẫn khẳng định được sức mạnh của họ ở Việt Nam Sử liệu có ghi nhận, « năm 1883, thực dân Pháp mới đặt được có 4 hãng buôn ở Hà Nội, 4 ở Hải Phòng, trong khi đó ở Hà Nôi đã
có 112 và ở Hải Phòng 26 nhà buôn Trung Hoa…Số hàng nhập cảng vào Bắc Bộ hồi này thì 2/3 là hàng Trung Hoa, còn 1/3 là hàng châu Âu trong đó hàng Pháp còn đứng xa sau hàng Anh …Địa vị buôn bán của tư bản Pháp như vậy là còn rất yếu » [24 ; tr.100] Tuy nhiên, trong thời gian này, để phục vụ cho việc thu được nhiều thuế chi phí cho nhu cầu chiến tranh và đàn áp phong trào yêu nước của
Trang 39nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp vẫn muốn các tàu buôn ngoại quốc tới buôn
bán Do vậy, chúng chủ trương chỉ đánh thuế xuất nhập cảng với các tàu buôn
nước ngoài Cụ thể:
« Hàng Việt Nam xuất cảng ra ngoại quốc đánh theo 5% giá hàng ;
Hàng Việt Nam xuất cảng sang Pháp đánh theo 2,5% giá hàng ;
Hàng ngoại quốc nhập cảng vào Việt Nam đánh theo 5% giá hàng
Hàng Pháp nhập cảng vào Việt Nam đánh theo 2,5% giá hàng » [24 ; tr.101] Căn cứ vào chính sách trên ta thấy, trong chính sách thuế, tư bản Pháp đã được hưởng quyền lợi to lớn khi chỉ phải chịu một nửa thuế so với nhà buôn ngoại quốc Nhưng thực tiễn cho thấy, chi phí vận chuyển do khoảng cách địa lý
xa hơn cùng với kinh nghiệm buôn bán kém hơn nên hàng hoá tư bản Pháp không thể cạnh tranh với những hàng hoá có giá cả rẻ hơn từ thị trường Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Nam Á
Để cải thiện tình hình, thực dân Pháp đã xây dựng một hàng rào thuế quan
mới với chủ trương: không cấm được hoạt động buôn bán thì phải đánh thuế thật nặng vào các mặt hàng nước ngoài nhập vào Đông Dương, đặc biệt là hàng của Trung Quốc, Nhật Bản Để hiện thực hoá chủ trương này, năm 1892, chính quyền thuộc địa Pháp đã ban hành đạo luật thuế quan mới, trong đó quy định hàng hoá Pháp vào Việt Nam và Đông Dương được miễn thuế còn hàng hoá ngoại quốc thì phải chịu thuế suất từ 25 dến 120% giá trị hàng hoá… Mục đích của việc đề ra chế
độ thuế quan mới là « cho phép Đông Dương có được một sự phát triển trong đó nền tài chính quốc gia đang suy thoái có được một lợi ích chắc chắn…mà không tước mất của chính quyền quyền ưu tiên đưa hàng hoá của mình vào Đông Dương Đông Dương dần thịnh vượng và cũng giúp cho nước Pháp trong khả năng tốt nhất của mình trong công cuộc vực dậy nền kinh tế » [94; tr.175]
Ngày 5 tháng 7 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương đã ban hành Nghị
định để công bố Đạo luật ngày 13 tháng 4 năm 1928 về chế độ thuế quan đối với
các thuộc địa (Loi du Resgime douanier colonial), nhằm kiểm soát chặt chẽ đối với
hàng hoá từ nước ngoài nhập vào Việt Nam, nhất là hàng Trung Quốc Kể từ đây,
Trang 40biểu thuế dành cho hàng hoá Trung Quốc không được hưởng một sự đặc cách nào
mà phải chịu chế độ quan thuế như mọi hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Pháp Biện pháp này một mặt củng cố cho độc quyền ngoại thương của Pháp ở Việt Nam, mặt khác gây khó khăn cho kinh tế Việt Nam do phải thu hẹp hoat động với một bạn hàng truyền thống Vì lý do này nên trong giai đoạn đầu thập niên 30 của thế kỷ
XX, kim ngạch thương mại giữa hai bên rơi vào tình trạng không ổn định Cho đến
khi Pháp và Trung Quốc kí Thoả ước Nam Kinh thì tình trạng này mới chấm dứt
Chính sách đo lường và tiền tệ cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới hoạt
động giao thương của Việt Nam với các nước Đông Bắc Á Trong nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ đóng vai trò hết sức quan trọng Vì vậy, ngay từ rất sớm, thực dân Pháp đã cho thiết lập Ngân hàng Đông Dương theo Nghị định ngày 31 tháng
1 năm 1875 Trước khi có sự ra đời của đồng bạc Đông Dương thì ở đây đã tồn tại các loại tiền như tiền Trung Quốc, tiền Mêhicô, tiền Tây Ban Nha, đô la Mỹ, đồng tiền bằng bạc, kẽm của người Việt…Từ khi người Pháp xâm lược, ở Việt Nam xuất hiện thêm các đồng tiền mới như Phờ răng, bảng Anh, yên Nhật và ngày 8 tháng 8 năm 1878 có thêm đồng bạc Đông Dương (piastre) Việc tồn tại nhiều loại tiền trong hoạt động thương mại như vậy đã đẩy xã hội nước ta rơi vào tình trạng như « một mớ hổ lốn thực sự về tiền tệ, về kim loại, về trọng lượng và tỷ lệ kim loại khác nhau được sử dụng cùng một lúc » [90; tr.38) Điều
đó khiến cho hoạt động giao thương giữa Việt Nam và Đông Bắc Á có lúc bị ảnh hưởng bởi hàng hoá từ Việt Nam xuất đi được tính bằng đồng phờ răng, đồng piastre nhưng sang tới Nhật Bản tính bằng đồng yên, sang tới Trung Quốc tính bằng nhân dân tệ (tael), sang tới Hồng Kông thì tính bằng đô la Hồng Kông…
* Về hệ thống cơ sở hạ tầng : Một yếu tố kinh tế ảnh hưởng tới sự chuyển biến của ngoại thương trong thời kỳ này là sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải …Để phục vụ cho sản xuất và vận chuyển hàng hoá phục vụ hoạt động nội thương và xuất nhập khẩu, giao thông vận tải đã được tăng cường đầu tư, đặc biệt ở Bắc Kỳ (nơi có cảng Hải Phòng, Hòn Gai, các cửa sông lớn và biên giới giáp Trung Quốc, tuyến đường sắt Hải Phòng- Vân Nam) và ở Nam Kỳ (nơi có cảng Sài Gòn và hệ thống sông Mê Kông)