Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại Luận văn Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn đạt được nhiều thành tựu về thể kí Năm 1980 ông được giải thưởng hội Nhà văn Việt Nam với bút kí “Rất nhiều ánh lửa”, năm 2002 ông được giải thưởng văn học về kí “Miền gái đẹp” Từ đó đến nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn dành trọn tâm huyết của mình cho văn học nghệ thuật Với vốn
văn hóa sâu lắng, sự am hiểu uyên thâm về triết học, lịch sử, địa lí… ông
được mệnh danh là “ông hoàng kí” của thời đại và được nhà nước trao tặng nhiều giải thưởng lớn Sự nghiệp sáng tác của ông gồm 15 tập bút kí, thơ… được in thành bốn tập sách, trong đó tập kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tập kí hay nhất, bởi nó hội tụ tất cả những nét tài hoa uyên bác, tất cả tình yêu,
niềm say mê của tác giả Hiện nay, tập kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” đã
được trích giảng trong chương trình ngữ văn lớp 12, điều đó càng khẳng định
vị trí của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nền văn học Việt Nam và vai trò của
bút kí trong nền văn học dân tộc Tập bút kí đã thể hiện đậm nét “cái tôi” tài
hoa, uyên bác, nhạy cảm và vốn kiến thức văn hóa sâu rộng, đặc biệt là văn hóa Huế của ông Đã có nhiều nhà nghiên cứu và nhà giáo nghiên cứu tập bút
kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” và đoạn trích trong sách giáo khoa, song
trong thực tế việc dạy học bài bút kí này còn gặp nhiều khó khăn Một phần
do đặc trưng thể loại bút kí, một phần do lượng thông tin trong bài bút kí khá
phong phú Cho nên, vấn đề đặt ra là dạy, học cái gì trong bút kí “Ai đã đặt
tên cho dòng sông?”? và dạy, học như thế nào tác phẩm này? Điều đó đòi hỏi các nhà giáo, và những nhà nghiên cứu phải cố gắng giúp anh chị em giáo viên chỉ ra những đặc trưng thi pháp thể loại và cách tiếp cận tác phẩm như thế nào để học sinh có thể tiếp nhận tác phẩm một cách có hiệu quả
Trang 2Bản thân tôi là giáo viên cấp ba, tôi cũng đã bị cuốn hút bởi những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường từ lâu và mong muốn tìm ra một số biện pháp cụ thể, thiết thực để dạy tác phẩm bút kí này theo đúng đặc trưng thi pháp thể loại và mong muốn dạy cho học sinh có hiệu quả nhất
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại” Với mong muốn tìm ra cách dạy thể loại bút kí nói chung, bút
kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và tác
phẩm của ông Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thể hiện sự tìm tòi
nghiên cứu công phu, sự am hiểu sâu sắc sáng tác của ông ở một trong những khía cạnh như: thiên nhiên, chất Huế, hình ảnh, biểu tượng, yếu tố văn hoá tâm linh, tính cách…
Sách Ngữ văn (12 tập I), Nxb Giáo dục, 2008 Có đoạn viết: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa”
Nhà thơ Ngô Minh, trong “Bài thơ hay và lạ của Hoàng Phủ Ngọc Tường”
đã đánh giá “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút kí nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tính nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyễn rũ Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình”
Nhà văn Nguyễn Tuân trong “Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường” (tập 3)
có nhận xét kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có “rất nhiều ánh lửa”
Trang 3Nhà thơ Hoàng Cát, “Đọc cuốn Ngọn Núi Ảo ảnh” Văn nghệ số 12 ra ngày 18 tháng 3 năm 2000 nhận xét: “Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút kí văn học của riêng mình Thế mạnh của ông là tri thức về văn học, triết học, lịch sử, địa lí sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì ở thời điểm nào và ở đâu ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được”
Trần Thùy Mai trong “Kí văn hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường” cũng phát
hiện: “Huế trong kí văn hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường không giới hạn ở những thành quách, lăng mộ, sông núi hay những chuyện vua chúa hậu phi chép dài dài trong sách sử… điều anh quan tâm là con người, và với sự hiểu biết khoa học của mình anh đã dựng lại một diện mạo tâm hồn của Huế xưa, điều mà không một nhà Huế học nào làm được”
Chính Hoàng phủ Ngọc Tường, trong bài “Một vài suy nghĩ về thể kí”,
đăng trên báo Văn nghệ, số 31, năm 1983 “Nhiệm vụ thông báo đặt ra cho nhà văn viết kí một yêu cầu riêng, có tính nguyên tắc từ phía người đọc: rằng những gì có nghĩa mà anh nói đều không chỉ có lí mà còn phải có thực, tất cả phải được đảm bảo bằng thực chứng…Trung thành với sự ủy nhiệm ấy của người đọc – về sứ mệnh thông báo hiện thực – nhà văn bút kí luôn tự đặt mình trước những kỉ luật nghề nghiệp hết sức khắt khe: phong phú trong tư liệu, chính xác trong hiểu biết và trung thực trong tất cả những gì được rút ra từ thế giới nội tâm của người viết”
Trong một cuộc phỏng vấn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhân dịp tác
phẩm được đưa vào sách giáo khoa, ông đã có những chia sẻ: “Đây là bút kí dài nhất và tâm huyết nhất của tôi về Huế Tôi đã mang cả tâm huyết vẽ nên một dòng sông y như nó vốn có (Dòng sông của văn hóa, lịch sử, huyền thoại với vẻ đẹp thật của thiên nhiên và có tính nhân văn) Đó là một thứ tài sản tôi muốn gửi lại cho thế hệ mai sau với lời nhắn gửi: Sông Hương như một viên ngọc quý mà thiên nhiên đã ban tặng cho Huế Hãy bảo vệ vẻ đẹp ấy để nó
Trang 4trường tồn mãi mãi, đừng tham vọng tác động thay đổi nó dù điều này không phải dễ”
GS Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cây bút kí đặc sắc” và là “một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại …” và khi nghiên cứu “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Và giáo sư tiếp tục đánh giá “trong nhiều vùng quê Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đến và
đã viết, xứ Huế là nơi ông am hiểu hơn cả Những trang văn của ông viết về Huế đã chứa đựng nhiều đặc sắc của văn phong trầm tĩnh, lắng đọng trong giọng điệu, phong phú dày dặn trong vốn liếng và kĩ lưỡng tự nhiên trong ngôn từ, ngữ pháp”
Trong “Phân tích bình giảng tác phẩm văn học lớp 12” (2008) NXB Giáo
dục GS Nguyễn Đăng Na đã viết: “Ai đã đặt tên cho dòng sông? thuộc thể
văn tùy bút Tùy bút có hai đặc điểm về mặt thể loại: Hành văn hết sức tự do phóng túng, không bị ràng buộc bởi một quy phạm chặt chẽ nào Nhân vật chính là cái tôi của tác giả Tùy bút, vì thế, thường giàu chất trữ tình (Nguyễn Tuân gọi viết tùy bút là “Chơi lối độc tấu” Giá trị của bài tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? là ở những phát hiện phong phú, độc đáo, tinh tế về vẻ đẹp nhiều mặt của dòng sông Hương, nhờ một cái tôi tài hoa, uyên bác, dạt dào tình cảm với đối tượng viết của mình”
GS TS Trần Đình Sử trong cuốn Lý luận và phê bình văn học có nhận xét:
“Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường ta bỗng thấy anh tìm đến thể bút ký như một điều tất yếu, bởi vì đó là một thể loại phóng khoáng, tự do mà cá tính nghệ sĩ thường trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại Tính thích giao du, tình yêu lịch sử, triết học, nhu cầu trầm tư nội tâm, thích chiêm nghiệm, quan sát, tất
cả đều là các kích thước khác nhau của bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường”
Đồng thời ông cũng đánh giá Hoàng Phủ Ngọc Tường là người mang tâm hồn
Huế: “Tác giả tả tâm hồn xứ Huế trong tổng thể thiên nhiên và đô thị, trong chiều sâu lịch sử, từ thời Châu Hóa xa xưa đã nổi tiếng là trường thành
Trang 5phương Nam của đất nước Tác giả thể hiện sông Hương trong truyền thống văn hóa Việt Nam Thật thú vị khi anh nhận ra màu sắc, dáng nét âm hưởng xứ Huế trên mỗi trang Kiều, hoặc đột ngột liên hệ Đặng Dung mài Gươm dưới chân thành Châu Hóa Nhưng hơn hết anh nói đến sông Hương với tấm lòng gắn bó khi so sánh với các con sông trên thế giới” Và “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” là một bài thơ văn xuôi về người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ
sở, một người mẹ không thể hiểu được bằng cái nhìn bề ngoài hời hợt
Ngoài ra còn có một số khóa luận, luận văn nghiên cứu về sáng tác của
Hoàng Phủ Ngọc Tường như luận văn: “Dạy học đoạn trích “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường theo cá tính sáng tạo của nhà văn của Nguyễn Thị Hồng
Lam (2010) Tác giả đã so sánh phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường trên nhiều phương diện để làm nổi bật sự khác biệt giữa hai tác giả, đồng thời chỉ ra đặc trưng thể loại kí và cá tính sáng tạo của hai nhà văn qua hai đoạn trích “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
Luận văn “Hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích”Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường từ điểm nhìn văn hóa” của Lý Mai
Phương (Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2011) Tác giả nghiên cứu về thể loại kí nói chung và về kí Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng và đưa lí thuyết đọc hiểu vào giảng dạy nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực tiếp nhận văn học của học sinh và góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy học tác phẩm văn chương, từ đó nhằm giúp cho học sinh hiểu được giá trị tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” từ điểm nhìn văn hóa
Luận văn “Đặc sắc của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường qua tập Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Nguyễn Thị Nhung (2009) Tác giả tập trung phân tích
thiên nhiên và con người trong kí Hoàng Phủ; đặc điểm kí Hoàng Phủ qua các
Trang 6Luận văn “Vận dụng văn học so sánh trong dạy học “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở lớp 12 THPT” của Đỗ Thị Thảo
(2012) đã đi sâu nghiên cứu những đặc trưng cơ bản và vị trí quan trọng của văn học so sánh trong việc tìm hiểu các tác phẩm ở nhà trường phổ thông, từ
đó đề xuất một số biện pháp dạy học vận dụng văn học so sánh trong việc dạy học tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường Các công trình nghiên cứu trên đều có ý nghĩa thiết thực, giúp giáo viên làm tài liệu tham khảo Song, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu hướng dẫn học sinh cách tiếp cận thể bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
theo đặc trưng thi pháp thể loại Vì thế chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu Dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho học sinh lớp 12 theo đặc trưng thi pháp thể loại” nhằm nghiên cứu sâu hơn
thể bút kí và tìm ra cách dạy học bút kí có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn ở THPT
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đoạn trích bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” trong sách giáo khoa Học sinh lớp 12, Trường THPT Công Nghiệp Hòa Bình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chỉ ra đặc trưng tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 12
Khả năng tiếp nhận bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” theo đặc trưng thi pháp thể loại của các em, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập bút kí nói riêng và môn văn nói chung
Tổ chức thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm
Trang 76 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp thực nghiệm
7 Đóng góp của luận văn
Từ việc chỉ ra được những đặc trưng thi pháp cơ bản của bút kí “Ai đã
đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trên cơ sở đó đề xuất được một số biện pháp dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” cho học sinh lớp 12
Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bút kí nói chung và bút kí
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên khi dạy bút kí và bút kí
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đặc trưng thi pháp bút kí và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng
Chương 2: Một số biện pháp dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
của Hoàng Phủ Ngọc Tường theo đặc trưng thi pháp thể loại
Chương 3: Thực nghiệm
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẶC TRƯNG THI PHÁP BÖT KÍ VÀ BÖT KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÕNG SÔNG?” CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
NÓI RIÊNG
Trang 81.1 Khái niệm bút kí
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi), đã đưa ra định nghĩa: Bút kí là thể loại thuộc loại hình kí, ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề cập đến nhằm khám phá ra những khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường Giá trị của bút kí là giá trị về nhận thức
Trong “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) quan niệm bút kí
ghi lại những điều tai nghe mắt thấy, những nhận xét, cảm xúc của người viết trước các hiện tượng trong cuộc sống
Còn trong giáo trình “Lí luận văn học” (Trần Đình Sử - La Khắc Hòa –
Phùng Ngọc Kiếm – Nguyễn Xuân Nam) các tác giả đưa ra định nghĩa, Bút kí
là một thể của kí, thuộc loại trung gian giữa kí sự và tùy bút Bút kí thiên về việc ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường là trong một chuyến đi Nó kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình Nhiều khi nó nghiêng hẳn về trữ tình, có thể trình bày những nhận xét, những liên tưởng triền miên, phóng túng như tùy bút Có lúc nó lại tăng cường phần nghị luận và trở thành bút kí chính luận Bút kí chính luận có thể bàn về nhiều lĩnh vực, như kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa Giá trị của bút kí chính luận là ở tầm tư tưởng chủ đạo, ở lôgic lập luận, ở sức thuyết phục của những dẫn chứng Nó mang tính chiến đấu rõ rệt, ứng chiến kịp thời, có tác dụng tuyên truyền, động viên trực tiếp Đây là thể văn gần với báo chí Nó có giá trị văn học khi ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có khả năng tác động tới tâm hồn người đọc Nhìn chung, phân lượng của các phương thức,
Trang 9phương tiện chiếm lĩnh nội dung, tổ chức văn bản trong từng bài kí luôn luôn
có sự thay đổi tùy theo bút pháp của các nhà văn khác nhau, nên ranh giới các thể bút kí, kí sự, tùy bút có khi không thật rạch ròi, rất khó phân biệt, nhất là trong một bài ngắn”
Theo tác giả Nguyễn Xuân Nam trong “Từ điển Văn học” thì Bút ký là một thể loại thuộc nhóm thể tài ký nhằm ghi lại sự việc, con người, cảnh vật
mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường là trong một chuyến đi, một lần tìm hiểu nào đó Bút ký là thể trung gian giữa ký sự và tùy bút Ký sự thiên về việc ghi người thật, việc thật Tùy bút thiên về diễn đạt những tâm tư, suy nghĩ, diễn biến trong thế giới nội tâm Bút ký cũng không sử dụng việc hư cấu vào phản ánh hiện thực, có những nhận xét, suy nghĩ, liên tưởng nhưng ít phóng túng triền miên, mà tập trung thể hiện một tư tưởng chủ đạo nhất định Có thể nói, làm nổi bật giá trị nhận thức là ý nghĩa hàng đầu của thể loại Tuy nhiên, phân lượng những đặc điểm trên lại biến hóa tùy theo bút pháp của các nhà văn khác nhau nên ranh giới giữa các thể bút ký và tùy bút có khi không thật rạch ròi, nhất là trong một bài ngắn Bút ký có thể được chia làm nhiều loại:
Bút ký báo chí: loại bút ký chủ yếu nhằm thông tin - lượng thông tin là linh hồn của nó Do đó yêu cầu vừa phải rất xác thực, vừa có tính thời sự, thường đề cập đến những vấn đề cấp bách, có khi hàng ngày, hàng giờ với một số suy nghĩ ban đầu
Bút ký chính luận: cũng là một thể văn quen thuộc của báo chí, trong
đó thành phần nghị luận (về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa…) là quan trọng, có khi là chủ yếu Giá trị của bút ký chính luận là ở tư tưởng chủ đạo, ở tính lôgic của lập luận, ở sức thuyết phục của những dẫn chứng nó mang tính tranh luận rõ rệt, ứng biến kịp thời, có tác dụng tuyên truyền cho một quan điểm nào đó
Trang 10Bút ký văn học: ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có khả năng tác động đến tâm hồn người Bút kí văn học không đòi hỏi tính xác thực ở mức tuyệt đối, tính cấp bách về thời sự Nó đi sâu vào thế giới tâm hồn con người, chú ý đến sự khắc họa tính cách thông qua một cốt truyện (tuy không hoàn chỉnh như ở truyện ngắn) và những biện pháp tưởng tượng, liên tưởng, trữ tình với tất cả những nét riêng tư đặc sắc Nói cách khác, bút ký văn học chú ý hơn chất nhân văn và chất thẩm mỹ
1.2 Đặc trƣng thi pháp của thể loại bút kí và đặc trƣng thi pháp bút kí
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
1.2.1 Đặc trƣng thi pháp bút kí
Là một loại hình văn học mang đậm sứ mệnh thông báo nên yêu cầu bút kí phải trung thành với người đọc Bút kí phải ghi chép về những cái có thật ở đời sống, phải miêu tả người thật, việc thật và tôn trọng tính xác thực của đối tượng GS Hà Minh Đức chỉ rõ: “Chỗ khác nhau cơ bản giữa các thể
kí văn học và các thể loại văn học khác là ở nguyên tắc tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả” Những điều tác giả viết ra phải có thực và có lí Tất cả các vấn đề phản ánh phải được đảm bảo bằng thực chứng Kể cả khi sử dụng hư cấu nhà văn cũng phải đảm bảo tính xác thực
Sự thực đời sống đi vào tác phẩm kí tuy có những đổi thay nhưng không hề biến chất và bị mất đi tính xác thực lịch sử Do yếu tố xác được đặt lên hàng đầu, nên sức hấp dẫn và thuyết phục của kí phần lớn nằm ở chính sự việc được phản ánh
Bút kí là tư liệu in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của tác giả Nhân vật chính trong bút kí phải là cái tôi tác giả nên nó khác các loại hình văn học khác ở chỗ: Người viết phải luôn luôn có thái độ nhập cuộc trước những vấn
đề nóng bỏng của thời đại để có thể đưa vào tác phẩm của họ những mảng thông tin, những mảng tư liệu và chất liệu sống động, thu hút sự chú ý của
Trang 11người đọc Đặt mình trước những kỉ luật nghề nghiệp hết sức khắt khe Phải
có tư tưởng phong phú, người viết công khai bày tỏ thái độ, cách nhìn, cách đánh giá đối với hiện thực Trong bút kí tác giả có cơ hội để bộc lộ vai trò của chủ thể sáng tạo, khẳng định được dấu ấn riêng của mình Bản thân Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng quan niệm: “Với thể kí, tôi có thể nói tùy thích những
gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, những trải nghiệm đẹp và cả những khổ đau mình Thời đại nào cũng cần sự thật – nhà văn cũng cần phải nói lên sự thật” Phải trung thực trong tất cả những gì được đặt ra từ thế giới nội tâm của người viết, tức là phải có hiểu biết chính xác
Người viết kí có thể vận dụng hư cấu, tưởng tượng để bồi đắp vào những điểm trắng, tô đậm thêm hình tượng của tác phẩm Trong khuôn khổ tôn trọng tính xác thực của nhân vật, hoàn cảnh, không được sử dụng tùy tiện Trong bút kí nhà văn có thể xây dựng một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt tác phẩm Hình tượng đó có thể là thiên nhiên, sự vật, con người Tùy theo sự hiểu biết cảm hứng và sự rung động tâm hồn, tình cảm của tác giả với đối tượng phản ánh Ngay trong tập bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” gồm tám bài trong đó có ba bài viết về thiên nhiên, con người, văn hóa Huế, năm bài viết về thiên nhiên và con người các miền đất khác Với các hình tượng sông Hương, người anh hùng Lê Minh Trường, khu vườn An Hiên…
Là một thể văn giàu chất trữ tình nên người viết bút kí luôn có lối văn
tự do, phóng khoáng, mang đậm chất nhân văn Nhà văn trực tiếp kể tả, phân tích, luận giải, đánh giá những sự việc, hiện tượng được đề cập trong tác phẩm Ngôn ngữ bút kí gần với ngôn ngữ cuộc sống đời thường Nhà văn có thể sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật để tác phẩm hay và hấp dẫn người đọc
1.2.2 Đặc trƣng thi pháp bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
Đánh giá về tập bút kí này GS.TS Trần Đình Sử khẳng định: “Ai đã đặt
Trang 12văn hóa xứ sở, một người mẹ không thể hiểu được chỉ bằng cái nhìn bề ngoài hời hợt” Chính vì thế, chúng tôi muốn đi sâu, nghiên cứu tác phẩm từ góc độ
thi pháp để chỉ ra những đặc trưng của tác phẩm, từ đó có thể đề xuất một số biện pháp dạy học phù hợp
1.2.2.1 Đặc trưng thứ nhất: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” in đậm dấu
ấn cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường tài hoa uyên bác
1.2.2.1.1 Cái tôi - đóng vai trò người tham dự, người trần thuật trực tiếp trong hành trình đi tìm một câu trả lời
Cái tôi vừa dẫn dắt câu chuyện, vừa đưa ra những hành động, suy nghĩ, cảm xúc và những tư tưởng triết lí của tác giả trong hành trình đi tìm lời giải đáp cho một câu hỏi bằng cả tâm hồn, cái tôi ấy giữ vai trò chủ đạo, dám đi, dám nghĩ, dám làm, dám đến Bài bút kí là nơi Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gửi trọn niềm say mê, tâm huyết và đã khẳng định rõ tài năng nghệ thuật cùng bản lĩnh của người nghệ sĩ trước cuộc đời và trong sáng tạo nghệ thuật
Để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi của một nhà văn từ Hà Nội vào Huế
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trực tiếp thực hiện cuộc hành trình đi suốt chiều dài dòng sông để khám phá, tìm kiếm, lí giải cái tên của dòng sông Cuộc tìm kiếm đầy hào hứng và say mê không chỉ
về vẻ đẹp của con sông mà còn là độ lắng sâu của tâm hồn, là sự rung động của tác giả Nhà văn đã viết về sông Hương bằng một tình yêu thiết tha, đầy ngưỡng mộ tự hào
Sông Hương ở thượng nguồn mang vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội và mạnh mẽ
Trước kia các nhà văn và các tác phẩm viết về sông Hương – xứ Huế,
Trang 13bản trường ca của rừng già” Trường Sơn, chảy giữa một vùng núi non hiểm
trở, hùng vĩ Nhà văn phát hiện ra hai đặc điểm của dòng sông có lúc dữ dội
và mãnh liệt “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”, có lúc lại trữ tình thơ mộng “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” Sông Hương có vẻ đẹp tràn đầy sức sống, vẻ đẹp ấy có lúc
“phóng khoáng”, “man dại”, “mãnh liệt” mang dư âm của rừng già Trường Sơn, có lúc là vẻ đẹp cổ kính huyền ảo, trầm mặc chảy qua những đồi thông, những lăng tẩm Với những hình ảnh ẩn dụ độc đáo cộng với vốn kiến thức phong phú được khảo cứu một cách công phu, tác giả đã tái hiện thật ấn tượng
về vẻ đẹp của con sông Hương ở vùng thượng nguồn Tác giả hòa nhập tâm hồn mình để hành trình cùng sông Hương Ông nhận ra tất cả vẻ đẹp của dòng sông như một người con gái vừa dịu dàng, vừa trí tuệ Trong thế giới nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương chính là hình tượng nghệ thuật kết tinh của âm nhac, thơ ca và hội họa
Sông Hương khi chảy vào trong lòng thành phố Huế Trước khi là dòng
sông thơ mộng của xứ Huế, sông Hương có cái tên A Pàng nghĩa là “dòng sông đời người”, một dòng sông của dân tộc Cà Tu
Sông Hương mang vẻ đẹp mềm mại, yêu kiều và mộng mơ, nước sông
Hương có độ phẳng lặng êm đềm như mặt nước hồ đầy quyến rũ Màu nước sông Hương hết sức nhạy cảm với ánh sáng, ánh lên vẻ đẹp đa sắc, với những sắc màu long lanh, đẹp đẽ, rất Huế Đó là sắc xanh thẳm khi nó đi ngang một vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, lúc là những mảnh phản quang của ánh sáng, thay đổi màu sắc trong một ngày “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” Đó
là nét đặc biệt của không gian Huế mà không nơi nào có được Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ví sự thay đổi kì diệu này như màu của hoa phù dung, như
Trang 14nhất là vào độ cuối hè, nước sông Hương chuyển sang màu tím, nó như mang sắc màu tâm trạng, cũng duyên dáng, đằm thắm, dịu ngọt giữ gìn để không bộc lộ ra ngoài, vì thế màu tím ấy vừa là màu áo dài của người phụ nữ Huế, vừa là tượng trưng cho đức hạnh của họ Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, màu tím của sông Hương mang dấu hiệu của một nội tâm trong sáng, giàu có giống nàng thiếu nữ đầy xuân tình
Và đẹp nhất có lẽ là sắc màu huyền ảo của sương khói trên dòng Hương Từ khoảng cuối năm đến đầu hạ, vào lúc sáng tinh mơ, cuối chiều vào trong những đêm trăng lạnh, sương mù trên sông Hương đã đưa Huế chìm trong không khí nhạt nhòa, hư ảo đến lạ thường Chỉ có Hoàng Phủ Ngọc Tường mới nhận ra những tháng sương mù đã đưa Huế quay lại với linh hồn một cố đô cổ kính trong làn sương ấy Nhà văn đã khéo so sánh với sắc áo lục điều mà những cô dâu Huế thời xưa thường mặc để gợi ra sự tương đồng và
vẻ đẹp giữa con người và con sông
Dõi theo những bước chuyển hóa của dòng sông từ thế giới huyền thoại rừng già đến với thế giới kinh kì để trở thành dòng sông Hương xứ Huế, nhà văn nhận ra sông Hương đã phải vượt qua hơn bảy chục thác ghềnh, mang trong cốt cách tinh thần của nó mọi cái đẹp mà trời đất chỉ dành riêng cho những con sông rừng Mỗi đoạn chuyển dòng, mỗi khúc quanh đột ngột của sông Hương đều được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận như một cuộc tìm
kiếm có ý thức về con sông “Từ ngã ba tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện hòn chén; vấp Ngọc Trảm, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biếu, Lương Quán rồi đột ngột rẽ một hình cung thật tròn về phí đông ba, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”
Sông Hương khi về với Huế cũng tạo cho mình một dáng hình riêng vô cùng mềm mại, duyên dáng Với những đường cong thật mềm, những cánh cung thật nhẹ, những khúc quanh thật duyên đã tạo nên cho con sông một dáng hình của một tấm lụa xanh mềm mại trải dài cùng với không gian Huế
Trang 15Về đến Huế, sông Hương phô bày một vẻ đẹp đa sắc thái: có khi sông trẻ trung đầy sức sống với những khao khát và kiếm tìm trong những khúc quanh đột ngột, những đoạn đổi dòng duyên dáng, yêu kiều như một tấm lụa, rồi lại trầm mặc “như triết lí, như cổ thi” Chính nhịp sống biến hóa ấy làm nên một sức hấp dẫn không bao giờ phai nhạt của sông Hương trong lòng xứ Huế
Sông Hương trong lòng thành phố Huế như dùng dằng không chảy
Bằng cái nhìn của một nghệ sĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận ra cô gái Digan hoang dại nơi rừng già đã trở thành người mẹ của vùng văn hóa xứ sở khi về đến thành phố Huế; sông Hương cũng trở thành người con gái Huế với tiếng
“vâng” dịu ngọt của tình yêu Dòng sông trở nên vô cùng chậm rãi, thư thái như cảm xúc, như trầm mặc cùng nhịp sống nơi đây Viết về sông Hương có
lẽ không một nghệ sĩ nào quên đề cập tới cái dòng chảy lững lờ rất đặc trưng của Huế, cái lững lờ như thương như nhớ đã đi vào trong thơ của Hàn Mạc
Tử, của Nam Trân, của Tố Hữu và thăng hoa trong hai câu thơ của Thu Bồn:
“Con sông dung dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mô tả thật hay dòng chảy đặc biệt ấy Ông
viết sông Hương khi qua thành phố đã trôi đi “chậm, thực chậm cơ hồ chỉ là một mặt hồ yên tĩnh” Và ta có thể cảm nhận cái “dòng sông phẳng” (Tố Hữu)
ấy qua trăm nghìn ánh hoa đăng mà người dân thành Huế thả xuống dòng sông trong những đêm hội rằm tháng bảy Những ánh hoa đăng ấy không vùn vụt trôi đi mà chao nhẹ trên mặt nước như nửa đi, nửa ở, biến dòng sông thành một mặt hồ lung linh, lộng lẫy
Chưa hài lòng với những kiếm tìm trên, nhà văn tiếp tục tìm trong lòng dân và bộn bề tư liệu Để tìm ra cách lí giải tên của dòng sông, nhà văn đã tìm kiếm trong nhân dân và phát hiện ra người làng Thành Trung ở ngã ba Sình, phía tả ngạn sông Hương có nghề trồng rau thơm và nghe được trong dân gian
Trang 16sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi” Và nói rằng có lẽ huyền thoại trên đã giải đáp câu hỏi “Ai
đã đặt tên cho dòng sông?” chăng? Trong cuốn “Ai đã đặt tên dòng sông?”,
do nhà xuất bản Thuận Hóa Huế in, Hoàng Phủ Ngọc Tường có viết: “thuở
ấy, khi đi tìm đất lập làng, vị khai khẩn đã mang theo một nắm hạt cải vãi dọc theo bước đi Suốt một dải đất dài ven sông Hương mà ông đã đi qua, chỉ có một vùng đất ở đấy hạt giống mọc thành những đám rau xanh tốt, chính là làng Thành Trung bây giờ” Những người dân làng Thành Trung đã biến ngôi làng thành một ngôi làng thơm với nghề trồng rau nổi tiếng “rau Phường Thành” Đi trên đất này “tôi được nghe một mùi đất thơm đến như vậy, xao xuyến như da thịt, sâu thẳm như thời gian Chính lúc ấy, tôi liên tưởng đến sông Hương với cái tên gợi cảm của nó” Từ đó, những con người sống trên
sông Hương mới giải thích về cái tên của con sông: “con người đã đặt tên cho dòng sông như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”
Tìm trong tư liệu lịch sử, nhà văn dựa theo các sách cổ thì thấy rằng: trước khi mang tên sông Hương, con sông này tuỳ theo thời gian có nhiều tên khác nhau Sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi (1435), viết là sông Linh Sách
"Ô châu cận lục" do Dương Văn An nhuận sắc vào năm 1555, viết sông cái Kim Trà (Kim Trà đại giang) Sách "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn gọi là sông Hương Trà (Hương Trà nguyên) Từ nhiều tài liệu khác cho biết cho biết sông Hương đã từng mang tên sông Lô Dung, sông Dinh, sông Yên Lục
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chọn lọc trong bộn bề tư liệu lịch sử để thấy rằng
“trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại Thế kỉ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ 19 với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông
Trang 17Hương đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển” Khi dựa vào những cứ liệu của khảo cổ học, nhà văn đã phát hiện ra
sông Hương và thành phố Huế có bề dày lịch sử hết sức oai hùng
1.2.2.1.2 Cái tôi với những góc nhìn đa chiều, mới mẻ, đậm chất nhân văn từ đó có những phát hiện phong phú, độc đáo, tinh tế cũng như vẻ đẹp nhiều mặt của sông Hương và của Huế
Từ góc nhìn văn hóa nhà văn quan niệm: “Văn hóa là bài thơ của cuộc sống” Do vậy, từ góc độ văn hóa, nhà văn đã nhìn ra sông Hương và Huế là một cái gì đó rất linh thiêng, bởi nó gắn liền với nhiều di tích, nhiều địa danh
cổ vốn chứa đựng những giá trị văn hóa tinh thần và mang cốt cách tinh túy muôn đời Nhà văn nhận ra sông Hương uốn mình quanh những địa danh văn hóa cổ kính, nó mang “vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi”, nằm mơ màng lắng nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ, tiếng gà từ những xóm làng trung du bát ngát Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bộc lộ không chỉ một cái tôi hiểu biết, ham tìm hiểu mà còn là một cái tôi rất mực tinh tường và vô cùng sâu sắc trong những khám phá, tìm hiểu chiều sâu văn hóa, tinh thần, tâm hồ con người xứ Huế và của sông Hương
Nếu như bằng sự quan sát trực tiếp, nhà văn tiếp cận và mô tả vẻ đẹp địa lí tự nhiên, cũng như diện mạo bề ngoài của sông Hương thì đến đây bằng
sự suy ngẫm sâu sắc, bằng sự tìm tòi, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại phát hiện rằng sông Hương mang trong mình cốt cách văn hóa của mảnh đất và con người xứ Huế Từ những khúc quanh đột ngột, những đổi dòng liên tục đến
sắc màu “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” và cả lưu tốc “chậm, thực chậm”
của con sông đều thể hiện rất rõ nhịp sống, tâm hồn, cốt cách của con người Huế, một nhịp sống thư thái, bình lặng mà kiên cường với những con người vừa trẻ trung, đầy sức sống, vừa hết sức táo bạo, vừa rất đỗi kín đáo, ý tứ,
Trang 18Trên dòng sông Hương toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành và phát triển Nói đến Huế là nói đến mảnh đất mang di sản văn hóa đồ
sộ đó của dân tộc Tác giả đã nghiên cứu nét sinh hoạt văn hóa riêng của Huế , “đặc sản của Huế đó là âm nhạc cổ điển Huế Nói đến âm nhạc cổ điển Huế trên sông Hương ông lại liên tưởng đến ngay tiếng đàn của Kiều: tiếng đàn định mệnh Nguyễn Du đã bao năm “lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu” Vì thế, nghe nhạc Huế mà nghe ban ngày thì thật “vô duyên”, bởi nhạc Huế có linh hồn riêng, cốt cách riêng, mà hay nhất là nghe trên sông Hương Giữa mênh mang sông nước, giữa tĩnh lặng của màn đêm, từng lời ca tiếng nhạc thấm sâu vào hồn người để lại những dư vị khôn nguôi
Đúng như Hoàng Phủ Ngọc Tường đã kết luận: “toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế đã sinh thành trên mặt nước của dòng sông này” mà một thời đã trở
thành nhã nhạc cung đình Huế
Từ góc nhìn lịch sử Bằng những kiến thức lịch sử cụ thể, sâu sắc, chính xác Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khiến người đọc ngỡ ngàng thậm chí bất ngờ khi mô tả dòng chảy của sông Hương Lượng thông tin được ông huy động qua thiên bút kí đã làm thay đổi “tầm vóc”, “chiều kích” của sông Hương trong cái nhìn của người đọc sông Hương là dòng sông của thơ ca
nhạc họa và cũng là dòng sông “của thời gian ngân vang”, tác giả đã nhận ra
âm hưởng sử thi được “viết giữa màu cỏ lá xanh biếc” Dòng sông thơ mộng
luôn bảng lảng sương khói kia tưởng chừng xa lạ với sự dữ dội, khắc nghiệt, nhưng không, những kiến thức lịch sử mà tác giả cung cấp cho người đọc
trong bản bút kí giúp họ hiểu thêm “Sông Hương đã sống những thế kỉ thật quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó” Khi tổ quốc kêu gọi thì “biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công” Như vậy sông Hương không chỉ thơ
mộng mà còn rất hào hùng
Qua những kiến thức lịch sử phong phú, sông Hương dưới cái nhìn của nhà văn không chỉ đẹp mà còn rất linh thiêng, đầy kiêu hãnh tự hào Sông
Trang 19Hương là ân nhân, vĩ nhân, người anh hùng cứu quốc của người dân xứ Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Từ đây nhà văn cũng thể hiện niềm biết ơn, trân trọng đối với dòng sông lịch sử này Qua những lớp trầm tích của thời gian, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khôi phục lại những địa danh lịch sử đã khuất chìm theo năm tháng Sông Hương không chỉ là dòng sông bé nhỏ, quen với cái hiền hòa phẳng lặng, nó vụt lớn lên sánh vai với các dòng sông lịch sử như sông Như Nguyêt, Bạch Đằng Những kiến thức lịch sử mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cung cấp đã trả cho sông Hương một tầm vóc vốn có trong lịch sử Trên những trang bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường lịch sử không chỉ là những thông tin những sự kiện mà nó trở thành lịch sử tâm hồn, lịch sử dân tộc Đó thực là những trang kí thể hiện một cái tôi thiết tha đầy tự hào và kiêu hãnh về lịch sử của quê hương xứ Huế và trong sự trung thành tuyệt đối của nhà văn với những tư liệu lịch sử và hiện thực đời sống
Từ góc nhìn văn học và nghệ thuật Sông Hương hiện lên trong cuộc tìm kiếm của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ là con sông địa lí mà là một
sinh thể, một con người “Sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều” vừa xinh
đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng lịch sử, lại vừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hóa riêng của nó Nghiên cứu về sông Hương, tác giả nhận ra cuộc gặp gỡ giữa âm hưởng sâu thẳm của Huế với cảnh sắc thiên nhiên qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du trên mỗi trang Kiều Đó cũng chính là lúc nhà văn tưởng tượng ra mối quan hệ giữa sông Hương và thành phố của nó là mối quan hệ của một cặp tình nhân lý tưởng với sự tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc Cũng trong trí tưởng tượng bay bổng của nhà văn, sông Hương khi là một dòng nhạc đa âm sắc (bản trường ca rầm rộ của rừng già, điệu slow của tình cảm, bản đàn lúc đêm khuya, với tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya), khi là một con người giàu nữ tính và
có đủ sức mạnh để trưởng thành dần trong cuộc hành trình (cô gái Digan
Trang 20mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở với sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ giữa chốn kinh thành) Trong cuộc hành trình dù không ít những gian truân và cũng không hề ngắn ngủi ấy, phẩm chất nữ tính của sông Hương khiến nó luôn tự bộ lộ mình là một người con gái rất mực đa tình: dù với tâm hồn tự do và trong sáng hay sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ thì hành trình của sông cũng là hành trình tìm kiếm người tình mong đợi để khi gặp được rồi, sông Hương trở nên mềm hẳn đi
“như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”, rồi cũng như Kiều khi gặp chàng Kim, sông Hương gặp Huế đã trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya để rồi khi phải lưu luyến ra đi, sông Hương như chưa nỡ rời xa thành phố mà cố ý đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông – tây để gặp lại thành phố lần cuối trong “nỗi vương vấn” “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” như nàng Kiều, trong đêm tình tự đã chí tình trở lại cùng Kim Trọng để nói một lời thề Trong bài bút kí, người đọc nhận ra sự hòa quyện tuyệt vời giữa chất nhạc, chất họa, chất thơ Chỉ ăn một trái hồng mà nhà thơ nhận ra đủ các hương vị thánh sắc của đất trời “Mùa thu tôi ngồi đọc Kiều dưới mái rêu phong của chiếc cổng vòm quay mái ra sông ăn trái hồng ngọt và thanh đến độ tưởng như mỗi miếng vừa ngậm vào nửa chừng đã tan ra thành dư vang của một tiếng chim”
Trong niềm yêu mến, thái độ kính ngưỡng đối với đại thi hào dân tộc nguyễn Du và tập đại thành của thơ Nôm Việt Nam “Truyện Kiều” sự am hiểu và gắn bó với sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi đến kết luận
“Nếu Nguyễn Du không có những năm tháng lênh đênh trên khúc sông này với một phiến trăng sầu thì người đọc không có một nàng Kiều với những bản đàn bạc mệnh đi suốt cuộc đời người con gái ấy”
Sông Hương còn trở thành nguồn thi hứng bất tận cho thơ ca Điểm qua những gương mặt nhà thơ lớn đã từng viết về Huế như Tản Đà, Cao Bá Quát,
Trang 21Bà Huyện Thanh quan đến Tố Hữu Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa ra nhận định chính xác “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”
1.2.2.1.3 Cái tôi trữ tình – nghệ sĩ mang đậm chất Huế luôn năng động đem đến những trang văn xuôi duyên dáng, mượt mà và đậm chất tư tưởng
Huế là xứ sở mà Hoàng Phủ Ngọc Tường dành nhiều tâm huyết nhất,
thể hiện rõ nhất sở trường nhà văn Là nhà văn của Huế, Hoàng Phủ Ngọc
Tường đã viết vể mảnh đất từng là chốn kinh kỳ với sông Hương, núi Ngự hữu tình, với những đền đài, lăng tẩm thấm bao máu, nước mắt và là nơi kết tinh tâm hồn, trí tuệ dân tộc đã nuôi dưỡng tâm hồn người nghệ sĩ Mô tả hành trình của sông Hương từ thượng nguồn ra biển là hành trình của một tâm hồn xứ Huế, bộc lộ mọi cung bậc của nó, vừa mãnh liệt vừa lắng sâu, vừa trữ tình thiết tha, vừa bình thản trí tuệ
Có lẽ đẹp nhất, duyên dáng nhất, trữ tình nhất … là lúc sông Hương về được với thành phố Huế Nó “như đã tìm đúng đường về” nên “vui tươi hẳn” Đến đây tác giả lại nhìn sông Hương như một người con gái xa xứ háo hức được trở lại mảnh đất quê hương xứ sở “Con người” ấy ngắm nhìn thành phố
từ xa thấy chiếc cầu trắng: “in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vầng trăng non” Gắn với Huế, cảnh vật nào cũng thanh thoát, nhẹ nhàng, dịu dàng như chính giọng nói ngọt ngào của con người nơi ấy Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn dòng sông yêu thương của mình một cách say đắm: “Giáp mặt thành phố
ở cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến, đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu” Tiếng “vâng” ở đây phải được hiểu là tiếng vâng của người con gái xứ Huế e ấp, dịu dàng sau chiếc nón trắng So sánh đến như thế, thực quá tài tình
Trang 22Vì những yếu tố địa lí “những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông” hay là vì Huế “vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ” mà “lưu tốc của dòng nước” giảm hẳn, nó “trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt
hồ yên tĩnh” Có lẽ là cả hai lí do Làm sao giữa một thành phố cổ kính, trầm mặc lại có dòng sông dữ dội, mãnh liệt được? Đây cũng là nét riêng của sông Hương Nó khác với các dòng sông của nước ta và càng khác dòng Nê – va của Lê – nin – grát cuồn cuộn trôi khiến người ta vội vàng, nuối tiếc Rất nhiều người yêu Huế, yêu sông Hương bởi “điệu lặng lờ của nó”
Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Thu Bồn)
Con sông nửa thực nửa mơ Nửa mong Lí Bạch nửa chờ Khuất Nguyên
(Nguyễn Trọng Tạo) Dòng sông cứ chùng chình như chờ, như đợi, như mơ màng, suy ngẫm, như muốn lưu lại hết những giá trị cổ xưa, những đêm rằm tháng bảy với
“trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh” Quyến luyến không muốn rời xa nên trước khi ra biển, dòng sông “như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng” Đã tìm đúng đường về nên khi phải
đi chắc chắn là dùng dằng, nuối tiếc
Sông Hương làm đẹp cho Huế và Huế cũng khiến sông Hương mang vẻ đẹp riêng không thể lẫn với bất kì dòng sông nào Như vậy sông Hương
không chỉ là người đẹp, mà còn là người có tâm hồn, có tâm hồn sâu nặng như chính con người xứ Huế vây Miêu tả dòng sông lặng lờ như không chảy nên nhịp điệu câu văn chậm rãi, đó là một điệu slow rất Huế trong văn xuôi Khác với một Nguyễn Tuân đầy góc cạnh, gai góc, văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang đậm chất thi vị, ngọt ngào, sâu lắng Nếu như các nghệ sĩ nhìn
Trang 23điệu lặng lờ của sông Hương mà nghĩ tới tâm trạng “dùng dằng”, tâm trạng mong chờ của con người, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường có những liên tưởng riêng, độc đáo Tác giả thấy dòng nước chùng chình như “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”
Sông Hương gắn bó với thành phố Huế như “hình tượng của cặp tình nhân lí tưởng” luôn tìm kiếm và đuổi bắt và cả hai gắn bó với nhau trong
một tình yêu muôn thủa Hoàng Phủ Ngọc Tường tả tâm hồn xứ Huế trong tổng thể thiên nhiên và lịch sử của nó, nó vừa mang nét truyền thống triết lí sâu xa theo kiểu phương Đông vừa là nếp sống riêng của con người Huế Con người Huế là con người của thiên nhiên và con người anh hùng Chất
văn hóa dân tộc, tấm lòng yêu quê hương tha thiết và luôn tự hào về truyền thống quê hương đã tạo nên ở Hoàng Phủ Ngọc Tường một khả năng văn
chương đặc biệt
Trong mọi không gian và thời gian, dưới ngòi bút tài hoa kết hợp chất trữ tình – trí tuệ, tư duy đa chiều của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Huế hiện ra quen thuộc mà lạ lẫm đến bất ngờ Bằng những con chữ có hồn ông
đã góp phần làm nổi rõ bản sắc thiên nhiên Huế và con người Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp cho kí Việt một tiếng nói riêng của một nhà văn rất Huế, trầm lắng, sâu đằm mà lúc nào cũng tha thiết trước những điều mình nghĩ, mình viết
1.2.2.2 Đặc trưng thứ hai: Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” đã xây dựng thành công một hình tượng nghệ thuật vô cùng hấp dẫn: sông Hương và câu trả lời được tìm thấy đầy tính huyền thoại
Trong bài bút kí, nhà văn đã có những phát hiện phong phú độc đáo về
vẻ đẹp nhiều mặt của dòng sông Hương Trong thế giới nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương chính là hình tượng kết tinh của nhạc, của thơ, của họa
Trang 24Cái làm nên hồn cốt và làm nên vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế chính là sông Hương Đã có bao nhiêu nhà văn nhà thơ viết về sông Hương Với
Nguyễn Du, là dòng sông “long lanh đáy nước in trời”, với Tản Đà thì dòng
sông có lúc xanh biếc, lúc chuyển sang màu trắng tinh khiết để thanh lọc bao tâm hồn Với Cao Bá Quát thì dòng sông như “kiếm dựng trời xanh mang khí phách của người anh hùng” Đến Bà Huyện Thanh Quan dòng sông trở thành nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng Đến Tố Hữu dòng sông trở thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn Còn với Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác giả đã tìm thấy vẻ đẹp của sông Hương là một sự liên kết kì diệu giữa dòng sông và xứ Huế mộng và thơ Tác giả có lối so sánh thật độc đáo, trữ tình, nhờ đó sông Hương hiện lên với vẻ đẹp tình tứ, thơ mộng, vừa cổ kính đậm màu sắc lịch sử, hồn thiêng dân tộc, lại vừa trẻ trung tràn đầy sức sống và viên mãn Ông đã tìm thấy ở dòng sông một vẻ đẹp bình dị nhưng không tầm thường, trầm mặc nhưng không ủy mị, dịu dàng nhưng vẫn tiềm ẩn sức mạnh của đất đai, của dòng sông, đời người xứ Huế Dòng sông ấy không chỉ hiền hòa chảy giữa thành phố Huế mà nó đã phải vượt qua cuộc hành trình dài và
chuyển dòng liên tục, có lúc nó “mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn và có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm” Sông Hương có vẻ đẹp tràn đầy sức sống, lúc thì “phóng khoáng,”man
dại”, “mãnh liệt”, có lúc là vẻ đẹp cổ kính, huyền ảo, trầm mặc, chảy qua những đồi thông, những lăng tẩm, có khi là một vẻ đẹp của một thiếu nữ mơ màng nên thơ, khi dời thành phố về Vĩ Dạ mướt xanh Tác giả như hòa nhập tâm hồn mình để hành trình cùng sông Hương
Sông Hương mang tâm hồn Huế, bản sắc Huế “bản chất huyễn hoặc, quyến rũ” Sông Hương về đến Huế đã mang được linh hồn của mảnh đất, của con người nơi đây Nó duyên dáng, kín đáo, dịu dàng biết bao Có thể nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn Huế, ông không chỉ nhìn sông Hương trôi ở trong thì hiện tại, ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt
Trang 25trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hóa, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử
Hình ảnh những dòng sông vẫn miên man chảy suốt chiều dài lịch sử, thơ văn, bởi đó là những hình ảnh đẹp, thân thương và tiêu biểu cho mỗi vùng đất, miền quê, là linh hồn xứ sở Thơ ca Việt Nam đã xuất hiện vẻ đẹp hùng tráng của sông Bạch Đằng, vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng của dòng sông Hương
trong Đây thôn Vĩ Dạ, rồi vẻ trầm ngâm, u buồn của dòng sông Hồng trong Tràng Giang Ngoài ra còn có sông Lô, sông Thao anh hùng trong những năm
Sông Hương trong sự đối sánh với các dòng sông nổi tiếng khác trên thế giới, góp phần nâng tầm vóc của dòng sông Để làm nổi bật vẻ đẹp và sức hấp dẫn kì diệu của sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khéo léo so sánh sông Hương với những dòng sông đẹp nổi tiếng trên thế giới Giống như sông Xen chảy qua thủ đô (Pa - ri) ở Pháp, sông Đa – nuýp chảy qua thủ đô (Bu -
đa - pét) của Hung ga zi, sông Nê - va của Nga, sông Hương “nằm ngay giữa lòng thành phố của mình” Đó không chỉ là vị trí địa lí của dòng sông xứ Huế
mà còn là dáng vẻ của một người con gái mang tên Hương Giang khi ở bên người tình mong đợi của mình
Cái nhìn so sánh tinh tế của nhà văn cũng phát hiện ra nhiều vẻ đẹp độc đáo của sông Hương, khác nhiều với những dòng sông nổi tiếng khác, hình
như chỉ “sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất” Với Hoàng Phủ
Trang 26Ngọc Tường sông Hương đã thực sự hiện lên với vẻ đẹp của người con gái chung tình
Nếu sông Hương mang nguồn nước, cũng là nguồn sống, đến cho Huế thì Huế lại dùng những tán lá của những cây đa, cây dừa cổ thụ để che mát cho dòng sông yêu quý, xinh đẹp của mình Cái tôi đắm say, lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cảm nhận sông Hương và Huế như một cặp tình nhân chung thủy, thiết tha
Từ khi đến với Huế, sông Hương càng thêm duyên dáng, mĩ miều và từ khi có sông Hương, Huế cũng mang thêm thi vị Sông Hương đã mang đến
cho Huế một vẻ đẹp vừa cổ xưa, vừa dân dã, bình dị với “những ánh lửa thuyền chài lập lòe trong sương đêm” một vẻ đẹp mà “không một thành phố hiện đại nào thấy được” Sông Hương đã góp phần làm nên một vẻ đẹp độc
đáo của Huế
Nhiều dòng sông khác, khi đi qua thành phố có thể chảy rất nhanh, riêng
sông Hương khi qua Huế có dòng chảy “trôi đi chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ còn
là một mặt hồ yên tĩnh” Mối giao hòa giữa đất trời Huế và sông Hương dường
như tạo nên cái điệu chảy lững lờ như thương nhớ, như muốn đi muốn ở, như những vấn vương của một nỗi lòng Nhà thơ Thu Bồn đã bắt mạch được dòng tâm trạng ấy của sông Hương để viết nên hai câu thơ thật hay
Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
Nhưng điểm khác biệt của Hoàng Phủ Ngọc Tường là ông đã cảm nhận nhịp chảy của sông Hương là nhịp chảy của tình yêu Vì quá yêu Huế, vì muốn mãi mãi được ở bên Huế, vì quá tha thiết với người tình mong đợi của mình cho nên sông Hương đã chảy thật chậm, giống như người con gái muốn
ở mãi bên người mình yêu không nỡ rời xa
Nếu từ thượng nguồn về Huế, sông Hương giống như một người con gái vừa mạnh mẽ táo bạo, vừa chủ động nhưng cũng rụt rè, e lệ khi lần đầu
Trang 27đến nơi hò hẹn, khi chảy vào trong lòng thành phố Huế, sông Hương lại có vẻ đẹp của người con gái chung tình, thủy chung, say đắm trong tình yêu
Dù ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của sông Ne - va, dù bồi hồi sống lại những giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại Nhưng đối diện trước sông Ne – va, Hoàng Phủ
Ngọc Tường vẫn thấy sông Hương tìm về trong nỗi nhớ “lúc ấy tôi lại nhớ con sông Hương của tôi, chợt thấy điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố…” Cái tài hoa của nhà văn không chỉ cảm nhận điệu chảy lặng lờ của sông Hương qua “trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh” vào những đêm
hội rằm tháng bảy, cũng không chỉ cảm nhận bằng cái nhìn hội họa, mà còn cảm nhận bằng giác quan và tâm hồn âm nhạc Với Hoàng Phủ Ngọc Tường,
điệu chảy lặng lờ của sông Hương chính là “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” Sông Hương trong lòng thành phố Huế luôn hiện lên như người
con gái chung tình
1.2.2,3 Đặc trưng thứ ba: Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một bài thơ bằng văn xuôi với những cách tân về thể loại, những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiêu đề tác phẩm đóng một vai trò rất quan trọng Trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” chỉ có một hình tượng xuyên suốt: sông Hương Đến với sông Hương không thể bỏ qua nhan đề của tác phẩm Nhan đề bút kí là một câu hỏi có vẻ bâng quơ, nhưng lại là một tín hiệu thẩm mĩ tạo nguồn cảm hứng cho tác giả Câu hỏi đưa nhà văn thực hiện cuộc hành trình “về nguồn” đối với sông Hương, không phải về nơi nó bắt đầu hình thành mà về với vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, địa lí của nó để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Nhan đề được lặp lại ở giữa và cuối tác phẩm như một sợi dây liên kết các nội dung của bút kí Để cuối cùng đưa ra lời giải đáp như một cách kết thúc đầy bất ngờ, lí thú về tên
Trang 28nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi Tôi lĩnh hội ý của truyền thuyết ấy như thế này: con người đã đặt tên cho dòng sông như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng thơm xây đắp văn hóa và lịch sử” Để kết thúc cuộc hành trình đi tìm câu trả lời cho tên
của dòng sông, nhà văn kết luận sông Hương chính là sông thơm “Xao xuyến như da thịt, sâu thẳm như thời gian”
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm được câu trả lời trả lời bằng một huyền thoại về tên dòng sông Điều đó nói lên khát vọng của con người nơi đây không chỉ muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hóa lịch sử một vùng đất mà còn thể hiện niềm tự hào về truyền thống dựng nước và giữ nước cũng thơm và đẹp của xứ Huế suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đất nước
gợi mãi dư âm trong lòng người đọc các thế hệ
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sử dụng trong bút kí lối văn đa giọng điệu
Theo các tác giả “Từ điển thuật ngữ văn học”, giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu
tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay
châm biếm”
Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, giọng điệu trong tác phẩm gắn với cái giọng “trời phú” của mỗi tác giả Với bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” giọng điệu trong tác phẩm là giọng điệu của nhà văn thể hiện qua giọng điệu của nhân vật tôi, lúc là giọng tâm tình, thủ thỉ, say đắm, mà tỉnh táo, lúc là giọng tự tin nhưng không áp đặt, sắc sảo mà giàu cảm
xúc Có khi là giọng kể, tả mãnh liệt, đắm say: “Trước khi về với vùng châu thổ êm đềm, nó đã là bản trường ca của rằng già, rầm rộ giữa bóng cây đại
Trang 29ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”
Có khi là giọng tự sự trầm mặc, đầy chất triết lí: “Đó là vẻ đẹp trầm mặc
nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà…” Có lúc nhà văn sử dụng giọng điệu trữ tình tha thiết, ngân vang: “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc Khi nghe lời gọi,
nó biết cách tự hiến đời mình làm nên một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”
Có lúc lại là giọng tâm tình thầm thì, vừa ngọt ngào, vừa sâu lắng, lại
có những lúc nhà văn để khoảng lặng không lời giữa câu chữ, dựng lên một
thế giới ngập đầy tâm trạng “điệu chảy của nó lặng lờ khi đi ngang qua thành phố…Đấy là điệu Slow” Tác giả cảm nhận dòng chảy của sông Hương chậm chạp như điệu nhạc trữ tình mà sâu lắng Cũng có khi ông sử dụng giọng bâng khuâng, lưu luyến: “Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bâng khuâng: Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
Có thể thấy, nhà văn thường sử dụng nhiều câu văn dài, nhiều vế, diễn đạt những ý trùng điệp như để nói cho hết những cảm xúc của mình về vẻ đẹp của sông Hương Hơn nữa mỗi giọng điệu phù hợp với việc miêu tả, tái hiện đặc điểm của đối tượng Nhưng bao trùm bài kí là giọng văn khoáng đạt, phóng túng đồng thời hết sức sôi nổi, tha thiết
Hoàng Phủ Ngọc Tường tuy quê gốc Quảng Trị nhưng ông lại sinh ra
và lớn lên ở Huế Bản tính trầm tư, đằm thắm của người Huế trong tâm hồn ông, đã hướng ngòi bút đến với những ngôn từ bình dị, gần gũi, quen thuộc,
Trang 30Ở bài bút kí này, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động vốn kiến thức
về lịch sử, địa lí, văn hóa, hội họa và âm nhạc, tất cả góp phần tạo nên một tác phẩm đầy chất thơ và nhạc
Chất thơ được tạo nên từ nhiều yếu tố: cảm xúc, trí tuệ, sức tưởng tượng và liên tưởng cùng khả năng sử dụng ngôn ngữ, nhạc điệu, giọng điệu của lời văn Trong bài bút kí nhà văn đã huy động rất nhiều các loạt từ loại để diễn tả cho thật riêng, thật sâu sắc, thật tinh tế, dòng sông và xứ Huế ở những góc nhìn, điểm nhìn khác nhau Những yếu tố này hòa quyện với nhau, chuyển hóa vào nhau cùng biểu hiện trong từng chi tiết nghệ thuật của tác phẩm
Đó là tình yêu đắm say của tác giả với sông Hương và vẻ đẹp dịu dàng,
cổ kính, thơ mộng của Huế Tất cả đã thăng hoa thành chất trữ tình của bài bút kí Chất thơ trong tác phẩm còn được toát ra từ những hình ảnh đẹp:
“những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” hay “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” Cũng có khi chất thơ được thể hiện qua những so sánh liên tưởng gợi cảm: “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non” hoặc còn được Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết bằng những ca dao,
những lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát hay Bà Huyện Thanh Quan trong tác phẩm bút kí của mình.`
Các biện pháp nghệ thuật trong tay Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn được
sử dụng linh hoạt và biến ảo
Dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương được nhân hóa như một người con gái nhiều cá tính, chung tình Lúc ở thượng nguồn, sông Hương mang trong mình vẻ dữ dội, hoang sơ khiến tác giả hình dung như cô gái Di - gan phóng khoáng, man dại và phần tâm hồn sâu thẳm của nó đóng kín tại cửa rừng Lúc đến đồng bằng, sông Hương dịu dàng, yên ả giống như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giờ được đánh thức dậy và thể hiện
Trang 31những phẩm chất nữ tính nhất để bắt đầu bước vào hành trình đi tìm người yêu Sông Hương chuyển dòng liên tục, dòng sông như một cô gái đang tìm
kiếm để đi tới nơi gặp thành phố tương lai – thành phố Huế: “sông vui tươi hẳn lên” khi tìm đúng đường về Khi bắt gặp thành phố Huế, cô gái sông
Hương như bắt gặp người tình của mình rồi đầy thẹn thùng, e lệ và rồi điệu chảy lững lờ - điệu slow của sông Hương giống như sự đắm say của đôi lứa trong tình yêu nồng nàn Khi sông Hương trôi đi, cái dáng uốn cong ôm lấy thành phố Huế được tác giả hình dung như sự lưu luyến nghẹn ngào vì phải chia li của đôi lứa
Vốn là một thể loại tự do, nên một trong những biện pháp nghệ thuật được Hoàng Phủ Ngọc Tường sử dụng chủ yếu khi viết bút kí là so sánh Đọc
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” ta thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường sử dụng khá nhuần nhuyễn và thành công phép so sánh liên tưởng để khắc họa vẻ đẹp đa dạng của sông Hương
So sánh sông Hương như một cô gái: một cô gái Digan phóng khoáng
và man dại, một cô gái Huế, một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng xuân sắc, đa tình, khéo trang sức mà không lòe loẹt phô trương
So sánh chiếc cầu trắng của thành phố nhìn từ xa “nhỏ nhắn như những vành trăng non” Ở đó có màu sắc của chiếc cầu, có ánh sáng của bầu trời, có nét thơ mộng của vành trăng non và có nét dịu dàng của cô gái Huế “như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”, biểu thị sự thuận tình mà ko nói ra
vì e lệ Tác giả còn so sánh sông Hương với các con sông nổi tiếng trên thế giới như sông Xen (Pa - ri), Đa – nuýp (Bu - đa – pét), Nê – va (Nga) để làm nổi bật sự tuơng đồng và nhất là sự khác biệt, độc đáo của sông Hương Việt
Nam Ngoài ra Hoàng Phủ Ngọc Tường còn sử dụng so sánh, nhân hóa kết
hợp với liên tưởng tưởng tượng của tác giả để miêu tả vẻ đẹp biến hóa của dòng sông Đọc “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, độc giả luôn bị cuốn hút bởi
Trang 32tiếp cận và mô tả con sông Hương Trong cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương không chỉ là một dòng chảy địa lí đẹp mà còn mang diện mạo, tâm trạng, tính cách của một con người Cách tiếp cận này bạn đọc đã gặp trong “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân Song phải đến Hoàng Phủ Ngọc Tường thì sự hòa hợp giữa sông và cảnh mới lên đến độ tuyệt đối như thế Sông Hương hiện lên với diện mạo, tâm trạng và động thái của cô gái Huế rất Huế
Với vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả vô cùng sống động sông Hương ở các đoạn chảy khác nhau Ở vùng thượng lưu: nhà văn đã sử dụng đắc địa hệ thống từ láy, các tính từ và động từ mạnh để làm nổi hình nổi dáng con sông Sông Hương là một cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Sống giữa rừng già, con sông tự do bộc lộ hết sức mạnh và vẻ đẹp bản năng vốn có của mình Khi thì nó rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, những đáy vực bí ẩn, lại
có những lúc nó dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên rừng
Khi viết sông Hương về đến Huế, nhà văn đã sử dụng những tính từ chỉ tính chất, hình thái của dòng sông Sông Hương trở thành cô gái đẹp của chốn
đô thành, thành một nàng Kiều và tình cảm chung thủy với chàng Kim Trọng Khi sông Hương tìm về với Huế, cuộc gặp gỡ giữa sông và Huế đã đánh thức
vẻ đẹp tiềm ẩn vốn có của dòng sông bừng tỉnh khỏi giấc ngủ mơ màng, hoang dại không phụ tấm chân tình của Huế, sông Hương bước vào hành trình tìm đến với thành phố tương lai của nó Những chuyển dòng liên tục, những khúc quanh đột ngột cho thấy tâm trạng trăn trở, kiếm tìm và khao khát của con sông Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng phát hiện ra rằng những kiến tạo địa lí tưởng chừng như ngẫu nhiên của dòng nước, nhưng ẩn chứa đằng sau
nó là cuộc tìm kiếm có ý thức của con sông Hương khi tìm đến với Huế Qua
Trang 33ngã ba Tuần ôm lấy vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo… sông Hương như đã xác định được hướng đi và tìm được chính mình nó hân hoan trong niềm vui mừng khó tả “từ đây như đã tìm đúng đường về sông Hương vui tươi hẳn lên”, nó “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc Yên tâm là bởi ở cuối đường nó đã thấy “chiếc cầu trắng in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non” Cây cầu trắng ấy như một trang sức kín đáo mà sông Hương làm đẹp cho mình, trang sức mà không lòe loẹt, phô trương, đó đích thực là lối làm duyên rất Huế
Vào trong thành phố Huế, sống giữa sự ôm ấp của người tình Sông hương hiện lên trong “bộ mặt kinh thành của nó”, bộc lộ rõ cả phần trữ tình,
nữ tính thẳm sâu trong nó Giờ đây sông Hương không còn nét phóng khoáng, man dại của người con gái Digan mà dịu dàng, e lệ như một người con gái kinh thành Huế Con gái có phong cách Huế trong lời nói, cử chỉ, một tiếng nói “vâng” không nói ra của tình yêu Và trong diện mạo và qua lưu tốc đặc biệt lững lờ đầy tâm trạng, Hoàng Phủ Ngọc Tường cho người đọc nhận ra đằng sau lưu tốc ấy là nỗi vấn vương của một tấm lòng nặng với Huế
Khi tả cuộc chia tay lưu luyến giữa sông Hương và Huế tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa Mãnh liệt và chung tình với Huế nên con sông lưu luyến, dung dằng Nó bắt đầu cuộc chia tay không thể tránh khỏi bằng một cái ôm thật chặt “ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói” sau đó mới chịu ra đi “giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ” Nhưng rồi hình như không nỡ, con sông
“đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao vinh xưa cổ” Cái khúc ngoạt vô tình của tạo hóa được nhìn qua lăng kính của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông gọi đó là chút lẳng lơ, kín đáo của tình yêu
Từ đầu nguồn về đây sông Hương đi hết cùng với Huế một mối tình
Trang 34một người tình tuyệt vời của Huế Tình duyên giữa sông Hương và Huế như một mối duyên trời định, không thể tách rời
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC BÖT KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÕNG SÔNG?” CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG THEO ĐẶC
TRƯNG THI PHÁP THỂ LOẠI
2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đề xuất phương pháp
2.1.1 Cơ sở lí thuyết tiếp nhận
Tiếp nhận tác phẩm văn chương là một hoạt động tái tạo và sáng tạo lần thứ hai tác phẩm ấy và mỗi lần sáng tạo lại là một lần làm cho tác phẩm có linh hồn hơn, đa dạng và uyển chuyển hơn
Tiếp nhận tác phẩm là một quá trình lâu dài, có nhiều cấp độ, dựa theo đặc điểm cá nhân và cảm xúc của từng người Đó là quá trình tri giác tác phẩm, cụ thể hóa và khái quát hóa nghệ thuật để hiểu được giá trị đích thực của tác phẩm
Quá trình tiếp nhận là một quá trình tâm lí phức tạp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Tính chủ quan là một thuộc tính trong quá trình tiếp nhận, bởi đó là quá trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lí, sinh
lí của bạn đọc, nó hoàn toàn thuộc vào thị hiếu của bạn đọc Cho nên cùng một tác phẩm ở mỗi thời điểm khác nhau, một bạn đọc cũng có thể lĩnh hội khác nhau Tính khách quan: tác phẩm văn học là một sản phẩm tinh thần của một nhà văn Nó tồn tại khách quan và độc lập với bạn đọc, nó mang trong mình lớp hàm ngôn và lớp hiển ngôn
Lí thuyết tiếp nhận nghiên cứu vai trò và tầm quan trọng của bạn đọc trong mối quan hệ tác giả - độc giả Đó là việc nghiên cứu quá trình sáng tác,
Trang 35chiếm lĩnh và trao đổi văn học Mối quan hệ này là mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau và tạo thành một tập hợp quan hệ được sắp xếp lịch đại trong toàn bộ quá trình lịch sử văn học và đồng đại trong các mối quan hệ xã hội nhất định Đặc biệt trong mối quan hệ này đọc giả có vai trò quan trọng Theo các nhà nghiên cứu lí thuyết tiếp nhận thì độc giả là mắt xích quan trọng trong việc truyền bá tác phẩm văn chương Chính họ là người tham gia tích cực vào quá trình phát triển lịch sử văn học Nhu cầu, thị hiếu của độc giả góp phần làm nảy sinh tác phẩm và các loại hình, loại thể
Đọc tác phẩm văn chương, độc giả thực hiện một hành vi giao tiếp với tác giả Sự giao tiếp này là giao tiếp thẩm mĩ, bởi tác phẩm văn chương là sản phẩm của cá tính sáng tạo, của sự tái tạo lại đời sống theo quy luật của cái đẹp Người đọc sẽ không dừng ở phạm vi văn bản mà sự tiếp nhận của họ còn vươn tới các phạm trù văn hóa - xã hội - lịch sử - chính trị - đạo đức - thẩm
mĩ Vì sự vận động vô tận của các lớp nghĩa sẽ làm cho những thông tin mang tính chất chân lí tồn tại trong tác phẩm sẽ luôn luôn được bổ sung, khám phá bởi các lớp bạn đọc ở các thế hệ khác nhau và các thời đại khác nhau Do vậy tiếp nhận nghệ thuật luôn luôn có tính chất cá biệt, mới mẻ, mỗi người luôn luôn dựa vào kinh nghiệm và nhân cách của mình, tùy nơi, tùy lúc mà có sự tiếp nhận hoặc phát hiện khác nhau Cho nên nếu không có sự sáng tạo của người đọc thì không có sự hỗ trợ cho người sáng tác
Trong nhà trường phổ thông, tiếp nhận văn học là quá trình chuyển vào trong của mỗi học sinh Với tư cách là chủ thể tiếp nhận, đứng trước một tác phẩm văn học, mỗi học sinh được đặt ở tầm đón nhận nhất định Tầm đón nhận được hiểu là mức độ hiểu biết về văn học nghệ thuật, kinh nghiệm sống hiện có, khả năng phân tích lí giải các vấn đề xã hội, văn học, chính trị… Và
có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động cảm thụ của học sinh trong giờ học văn
Trang 36cách, những vốn sống từ thực tế sẽ là hành trang cho các em soi rọi vào tác phẩm để rút ra những ý nghĩ, cảm nhận cho riêng mình
Khoảng cách thẩm mĩ là sự chênh lệch, sự cách xa giữa ý định tác động của tác giả gửi vào văn bản và sự tiếp nhận những tác động thực tế của văn bản ở người đọc Khoảng cách thẩm mĩ được tạo nên bởi những điều kiện không đoán trước trong văn bản: những câu hỏi bất ngờ, những cái mới, cái độc đáo trong sáng tạo của tác giả… đôi khi xuất hiện khi người đọc bị ngăn trở bởi ngôn ngữ, kết cấu tác phẩm hay đặc trưng thể loại gây khó khăn khi học sinh tiếp nhận văn bản
Khoảng cách thẩm mĩ được đo bằng thái độ phản ứng, sự đánh giá của học sinh khi học tác phẩm: khen chê, thích hoặc chán, đồng tình hoặc phản đối Khoảng cách thẩm mĩ trở thành tiêu chuẩn phân tích lịch sử và sẽ quy định giá trị của một tác phẩm văn chương Khoảng cách giữa tác phẩm và học sinh càng ngắn thì học sinh càng dễ tiếp nhận tác phẩm văn chương hơn
Kí là một thể loại văn học mà học sinh đã từng biết đến trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở, cũng như, các em đã được làm quen với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ Văn 11, vì thế việc tìm hiểu đoạn trích: Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân cũng có ít nhiều thuận lợi Tuy nhiên đoạn trích bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một thử thách lớn đối với học sinh bởi lần đầu tiên tác phẩm có mặt trong chương trình Ngữ Văn 12 Ngoài ra, đặc trưng của thể loại kí khác xa với đặc trưng của thể loại truyện ngắn hay thơ ca những thể loại quen thuộc với học sinh, vì thế khiến cho khoảng cách thẩm mĩ giữa tác phẩm kí với bạn đọc học sinh có phần hơi xa
2.1.2 Cơ sở tâm lí
Học sinh Trung học phổ thông ở lứa tuổi 16 – 18, là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên Lứa tuổi này đang có sự phát triển tâm lí khá mạnh, có hứng
Trang 37thú, nhu cầu riêng, linh hoạt hơn, thực tế hơn, có vốn hiểu biết khá phong phú (do các em được tiếp xúc với rất nhiều kênh thông tin)
Các nhà tâm lí học còn chỉ ra rằng trong mỗi con người luôn tiềm ẩn các tiềm năng sau:
- Trí thông minh trí tuệ: Trí thông minh trí tuệ được đo bằng chỉ số IQ Trí thông minh trí tuệ liên quan đến tốc độ tiếp nhận, xử lí và đáp ứng của con người đối với các kích thích của môi trường bên ngoài lên não bộ Ở đây là tác phẩm văn chương được hình thành và thể hiện trong hoạt động nhằm đạt các mục tiêu quan trọng trong cuộc sống của cá nhân và xã hội
- Trí tuệ cảm xúc, được đo bằng chỉ số EQ: là năng lực tự nhận biết các tình cảm của mỗi cá nhân và của người khác để tư thúc đẩy, tự kiểm soát, quản lí cảm xúc của mình và tự điều khiển, quản lí các quan hệ với người khác Trí thông minh xúc cảm thể hiện ở:
+ Khả năng tự nhận biết mình, biết bày tỏ các xúc cảm của mình, tự đánh giá mình một cách tự tin và chính xác
+ Khả năng tự kiểm soát cảm xúc của mình, tự quản lí bản thân, có lòng tự tin, tự ý thức, tự thích ứng, tự định hướng và sáng tạo
+ Khả năng đồng cảm, biết cách tổ chức, định hướng hoạt động của bản thân + Khả năng giao tiếp, kiểm soát hành động và biết xây dựng các quan
hệ xã hội, có tinh thần hợp tác
2.1.3 Cơ sở lí luận dạy học
Việc đổi mới dạy học tác phẩm văn chương là một yêu cầu cấp bách hiện nay Thế kỉ XXI, thế kỉ của nền kinh tế tri thức, luôn đặt ra yêu cầu cho giáo dục là: Phải đào tạo ra những con người có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, có tư duy sáng tạo, có tâm thế sẵn sàng nhận thức cái mới, có trí tuệ phát triển, năng động, sáng tạo và giàu chất nhân văn Đồng thời, khoa học, kĩ thuật phát triển rất cao, hệ thống internet, báo chí, truyền thông vô
Trang 38cùng phong phú… là kho tàng thông tin khổng lồ, bao giờ cũng là một sân chơi thú vị cho mọi người, nhất là với học sinh
Lí luận dạy học mới luôn luôn đặt ra yêu cầu học sinh phải là chủ thể Học sinh là chủ thể tiếp nhận sáng tạo với những đặc điểm tâm sinh lí, với nhu cầu, hứng thú năng lực riêng, học sinh Trung học phổ thông ngày nay thông minh, sáng tạo và có nhiều năng lực tiềm ẩn Các em học sinh lớp 12 bước vào tuổi thanh niên cho nên hệ thần kinh có sự thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, tiềm năng trí tuệ thuộc về chức năng của bán cầu não (bán cầu có chức năng tạo cảm xúc, trực giác, sáng tạo của con người) cũng rất phát triển, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Các em có khả năng ghi nhớ tốt, có trình độ tư duy lôgic khá ổn định, chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trước những đối tượng quen biết Cho nên các em có khả năng sáng tạo trong học tập do được tiếp xúc với nhiều kênh thông tin, có thể nắm bắt nhanh, nhạy các vấn đề Tri giác có mục đích
đã đạt tới mức hoàn thiện Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ lôgic, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt Hoạt động tư duy có thay đổi quan trọng, tạo điều kiện cho học sinh có thể thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, phân tích được nội dung cơ bản của các khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên
và xã hội; tư duy lí luận đã phát triển để thích ứng với việc nắm bắt chương trình học tập ngày càng phức tạp Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em ngày càng tăng lên Hứng thú nhận thức ngày càng rộng, sâu, sức chú
ý có chủ định phát triển
Trang 39Trong nhà trường, tác phẩm văn chương tìm được một lớp bạn đọc lí tưởng: học sinh Các em là những bạn đọc đặc biệt, vì các em cùng trình độ, cùng lứa tuổi, cùng môi trường học tập… Sự tiếp nhận tác phẩm văn chương của các em không giống với sự tiếp nhận chủ quan, tuỳ hứng của bạn đọc ngoài xã hội
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Tình hình dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” ở trung học phổ thông miền núi Hòa Bình
Thuận lợi:
Học sinh lớp 12 đã được làm quen với thể kí khi học Người lái đò Sông
Đà của Nguyễn Tuân
Việc dạy học văn ở nhà trường trung học phổ thông hiện có nhiều cải tiến, sách giáo khoa, tài liệu, phương tiện dạy học, phương tiện trực quan khá đầy đủ giúp học sinh đỡ nhàm chán khi học thể bút kí
Hiện nay do cơ chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông mới học sinh buộc phải học văn nghiêm túc nên chất lượng học văn của học sinh được nâng cao một phần
Bút kí không có sự hấp dẫn của cốt truyện như ở tác phẩm truyện, kịch, không ngắn và dễ đọc như thơ, sự hấp dẫn của bút kí tùy thuộc vào nội dung tri thức phong phú và nghệ thuật trần thuật giàu cảm xúc của nhà văn Ở thể bút kí đòi hỏi ở người đọc sự nhạy cảm tinh tế, khả năng liên tưởng, tưởng
Trang 40tượng phong phú, cho nên học sinh khó học hơn, nhất là học sinh ở miền núi Hòa Bình
Nhiều giáo viên lâu nay quen dạy các tác phẩm theo chủ đề, không bám sát vào đặc trưng thể loại, thậm chí, một bộ phận không nhỏ giáo viên còn mơ
hồ về đặc trưng của thể kí dẫn đến hệ quả giáo viên dạy tác phẩm nào cũng như tác phẩm nào và coi nhẹ giá trị thẩm mĩ của tác phẩm, yêu cầu và rèn luyện kĩ năng cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức
Giáo viên chưa thực hiện tốt phần hướng dẫn chuẩn bị bài ở nhà cho học sinh, cũng như chưa đổi mới phương pháp dạy và hướng dẫn cách thức chuẩn bị bài cho học sinh Nhiều giáo viên vẫn chỉ dừng lại ở việc cho học sinh trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài của Sách giáo khoa
Một hạn chế nữa là hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra khi thì quá khó, khi thì quá dễ, hoặc không rõ ràng, khiến cho học sinh không hiểu được câu hỏi dẫn tới không trả lời được và buông xuôi, không chịu động não
Việc xác định phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng thể loại bút
kí, phong cách tác giả cũng như việc dạy học phát huy tối đa năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, chủ động của học sinh đang là thách thức lớn với giáo viên
2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” theo đặc trưng thi pháp thể loại
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm
Nói về tầm quan trọng của việc đọc hiểu, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Kĩ năng đọc hiểu Văn” đã xác định khái niệm đọc hiểu: “Hiểu tác phẩm văn chương là nắm vững ý nghĩa và vẻ đẹp của nó trong tương quan với những gì đã tiềm tàng trong tác phẩm và trong kiến văn của người đọc” …
“Nghĩa thuộc về hiện tượng và sự kiện được kể về cuộc sống khách quan Ý nghĩa thuộc về bản chất thẩm mĩ của cuộc sống được miêu tả Ý nghĩa của tác phẩm văn chương thuộc về giá trị khai sáng Nó góp phần phản tư và tự điều chỉnh bản thân, còn nghĩa tình chính là dấu hiệu đồng cảm, chia sẻ niềm vui