Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Hội thoại là một trong những bộ phận quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến của lí thuyết Ngữ dụng học. Hội thoại có đặc tính cơ bản là giao tiếp hai chiều – Tính đa kênh trong hội thoại. Tức là thông tin, giao tiếp,thông tin giữa những người tham gia hội thoại được truyền đến nhau bằng nhiều kênh: thi giác, cảm giác, khứu giác, thính giác… Vì vậy, khi cuộc thoại diễn ra, ngoài việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp thì người tham gia hội thoại còn có những vận động cơ thể như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, trạng thái cảm xúc, các yếu tố chỉ cách thức nói năng, phát âm… để bổ sung cho lời nói. Những yếu tố đó được gọi là các yếu tố kèm ngôn ngữ. Các yếu tố này có vai trò rất quan trọng trong giao tiếp. Trong tác phẩm văn học, các yếu tố này được mã hóa, miêu tả lại dưới con mắt quan sát và đánh giá của người kể truyện. Người kể chuyện đứng ở nhiều góc độ khác nhau miêu tả lại những thái độ của nhân vật tham cuộc thoại. Hội thoại được đưa vào các tác phẩm văn học dưới hình thức của các thoại dẫn. Những yếu tố kèm ngôn ngữ khi đi vào tác phẩm văn học thường xuất hiện ở trong phần lời dẫn thoại. Đây là một trong những đối tượng được quan tâm nghiên cứu khi phân tích thoại dẫn ở các tác phẩm truyện. Mặt khác, điểm nhìn là một trong những vấn đề quan trọng đã và đang được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Vấn đề ứng dụng lí thuyết điểm nhìn vào trong nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu hội thoại trong văn học cũng được số công trình nghiên cứu nói đến. Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu điểm nhìn ngày càng được quan tâm sâu sắc. tuy vậy, việc nghiên cứu những ứng dụng của lí thuyết điểm nhìn mặc dù đã được đề cập đến ở nhiều lĩnh vực như trong ngôn ngữ, văn học và đời sống nhưng vẫn chưa phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng lý thuyết điểm nhìn để phân tích, lý giải các2 yếu tố đi kèm trong lời dẫn thoại ở những tác phẩm văn xuôi cụ thể vẫn chưa nhiều, chưa được đề cập đến một cách chi tiết. Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp được biết đến là một trong những hiện tượng tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam từ sau 1980. Mỗi tác giả đều có những trưng riêng cho phong cách truyện ngắn của mình. Điều đó được thể hiện cả trong cách dẫn thoại của mỗi tác giả. Việc sử dụng các yếu tố đi kèm trong lời dẫn như thế nào cũng góp phần thể hiện phong cách sáng tác riêng biệt của nhà văn đó. Việc sử dụng lý thuyết điểm nhìn để phân tích, lý giải các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của hai tác giả trên cũng là một trong những hướng tiếp cận tác phẩm đáng để lưu tâm. Từ những lí do trên, người viết chọn đề tài:”Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp”. 2. L sử vấn đề 2.1. Nghiên cứu về các yếu tố kèm lời, phi lời Theo C.K.Orecchioni: “Có thể xem những nhân vật tương tác là những nhạc công trong bản giao hưởng vô hình mà phần nhạc họ chơi không được biên soạn trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn tiến của bản giao hưởng không có nhạc trưởng… Cách ứng xử kèm ngôn ngữ sẽ là một vũ điệu giưa những nhân vật tương tác.” ( dẫn theo Đại cương ngôn ngữ học, Tập 1, Đỗ Hữu Châu). Các nhà nghiên cứu khi đề cập đến các yếu tố kèm lời và phi lời đều khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố này trong giao tiếp, duy trì hội thoại. Có thể thấy, quá trình nghiên cứu về các yếu tố này đã được bắt đầu từ một thời gian khá dài và được nhiều nhà nghiên cứu lớn lưu tâm. 2.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới Đầu tiên phải kể đến là nhà tự nhiên học nổi tiếng Charles Robert Darwin (1809-1882) với công trình “Three Principles” cùng những nghiên cứu hiện đại về giao tiếp không lời của ông. Những nghiên cứu này cho thấy3 về cơ bản, ngôn ngữ cơ thể là một sự pha trộn của các cử động, động tác, tư thế, dáng điệu và ngữ điệu của giọng nói. Tiếp đến là một số công trình của các nhà nghiên cứu như: L. Vaitsaida (trong “Ngôn ngữ khuôn mặt”), Leopold Bellan và Xema Sinpolier Baker (trong “Đọc khuôn mặt”), Ellen Steele (trong “nonverbal communication” - NXB Marcel Dekker, 1974), Allan Pease (trong “Ngôn ngữ của cử chỉ, ý nghĩa của cử chỉ trong giao tiếp” – NXB Đà Nẵng (Nguyễn Hữu Thành dịch), 1999), các nghiên cứu của C.K.Orecchioni (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 – NXB Giáo dục, 2001)… J.Vendryes (1990) cho rằng: “Có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất cho ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu”, và “nên hiểu kí hiệu là bất kì phù hiệu nào mà con người có thể dùng để giao tiếp qua lại với nhau”. Do vậy, “mọi giác quan đều có thể là cơ sở để tạo ra ngôn ngữ. Có ngôn ngữ khứu giác và ngôn ngữ xúc giác, ngôn ngữ thính giác và ngôn ngữ thị giác. Chúng ta nói đến ngôn ngữ khi hai cá thể quy ước gán cho một hành động nào đó một nghĩa nhất định và thực hiện hành động này nhằm mục đích giao tiếp qua lại với nhau”. J.Vendryes khẳng định cử chỉ, điệu bộ cũng là một loại ngôn ngữ nếu hiểu “ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu”. Và do vậy, mối quan hệ giữa nội dung và ý nghĩa của cử chỉ điệu bộ là một sự quy ước. Ngoài ra, có thể kể đến một số cuốn sách đã đi vào nghiên cứu sâu về các yếu tố kèm lời, phi lời như: Cử chỉ - những điều nên làm và nên tránh trong ngôn ngữ chỉ khắp thế giới (Roger E.Axtell), Ngôn ngữ cơ thể (Julias Fast)… 2.1.2. Các nghiên cứu ở nước ta Ở Việt Nam, khi đề cập đến các nhân tố ngôn ngữ trong giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học không chỉ thừa nhận sự tồn tại của các yếu tố kèm lời, phi lời – các nhân tố giao tiếp phi ngôn ngữ - mà còn nhấn mạnh đến ý nghĩa và vai trò quan trọng của loại phương tiện này trong hoạt động giao tiếp.4 Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học”, tập 2 (NXB Giáo dục, 2001) tác giả Đỗ Hữu Châu đã phân biệt các yếu tố kèm lời và phi lời, đồng thời cũng khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố này trong hội thoại. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà (1998) (trong cuốn Phong cách học tiếng Việt) đã khẳng định: “Muốn nói tốt, không những phải biết suy nghĩ tốt mà còn phải biết cách sử dụng lời nói với cách phát âm đúng và rõ kết hợp với ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu để người nghe có thể hiểu ngay, hiểu hết ý tứ mình. Còn muốn nghe tốt thì cần phải biết tổng hợp ý nghĩa của lời nói với sắc thái cảm xúc, bình giá thông qua ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu của người nói để có thể hiểu hết ngay, hiểu hết tình ý của người nói” [32; 45]. Trong cuốn “Nỗi oan thì, là, mà”(2002) (Nxb Trẻ, TP HCM), Nguyễn Đức Dân cũng dành một phần để nói về “Cử chỉ: Thứ ngôn ngữ không lời”. Tác giả khẳng định cử chỉ là một công cụ để giao tiếp. Có những cử chỉ là bẩm sinh, vô thức, và có nhiều cử chỉ là do học hỏi, do được giáo dục mà hình thành ở người nói. Đóng góp đáng chú ý của Nguyễn Đức Dân khi bàn về ngôn ngữ cử chỉ (thuật ngữ được tác giả sử dụng) là đã bước đầu chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến cử chỉ với tư cách là phương tiện giao tiếp. Trong giáo trình “Quy luật ngôn ngữ” (Quyển II - Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, NXB Khoa học Xã hội, 1996), phần bàn về cơ chế ngôn giao, tác giả Hồ Lê cũng phát biểu rằng: Những cử chỉ điệu bộ và những phương tiện phi ngôn ngữ nói chung kèm theo lời được gọi là ngôn hiệu, là 1 trong 7 thành tố của ngữ huống phát ngôn. Phi Tuyết Hinh trong bài viết “Thử tìm hiểu về ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ” (Tạp chí Ngôn ngữ số 4/1996) đã bàn về ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ, điệu mặt (thuật ngữ được tác giả sử dụng) trên các phương diện sau như: về vai trò, về chức năng, bản chất, và về đặc tính văn hóa của các yếu tố đó. Ngoài ra, cho đến nay cũng đã có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về các yếu tố kèm lời và phi lời ở nhiều góc tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn như: Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Luận văn Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRIỆU THANH THÙY
CÁC YẾU TỐ KÈM LỜI DẪN THOẠI
QUA KHẢO SÁT TRUYỆN NGẮN CỦA
MA VĂN KHÁNG VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS N u ễn T ị
T u T ủ , người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã ủng hộ và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội tháng 11 năm 2014
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục tiêu nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của luận văn 9
C ƣơn 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 10
1.1 Lý thuyết hội thoại 10
1.1.1 Ngữ cảnh 10
1.1.2 Hành động ngôn ngữ 11
1.1.3 Các yếu tố kèm lời và phi lời 16
1.2 Lý thuyết thoại dẫn 20
1.2.1 Khái niệm thoại dẫn 20
1.2.2 Các hình thức của thoại dẫn 21
1.3 Lý thuyết điểm nhìn 26
1.3.1 Khái niệm điểm nhìn 27
1.3.2 Các nhân tố của điểm nhìn 29
1.3.3 Vấn đề điểm nhìn ở lời dẫn thoại 34
T ểu ết ƣơn 1 36
C ƣơn 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC YẾU TỐ KÈM LỜI DẪN THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA MA VĂN KHÁNG VÀ NGUYỄN HUY THIỆP 37
2.1 Thống kê các ĐTNN trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp 37
2.1.1 ĐTNN trong truyện ngắn Ma Văn Kháng: 37
2.1.2 ĐTNN trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 39
Trang 52.2 Phân loại các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Ma Văn
Kháng và Nguyễn Huy Thiệp 41
2.2.1 Tiêu chí phân loại 41
2.2.2 Kết quả phân loại các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp 43
2.3 Đặc điểm của các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp 46
2.3.1 Đặc điểm cấu tạo 46
2.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 49
2.3.3 Đặc điểm về cách sử dụng 51
T ểu ết ƣơn 2 56
C ƣơn 3 CÁC YẾU TỐ KÈM LỜI DẪN THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA MA VĂN KHÁNG VÀ NGUYỄN HUY THIỆP NHÌN TỪ LÝ THUYẾT ĐIỂM NHÌN 58
3.1 Một số nhân tố thể hiện điểm nhìn trong việc miêu tả các yếu tố kèm lời dẫn thoại 58
3.1.1 Tiêu điểm 58
3.1.2 Hình thức ngôn ngữ của các yếu tố kèm lời dẫn 62
3.2 Đặc trưng điểm qua việc miêu tả các yếu tố kèm lời dẫn trong truyện ngắn Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp 64
3.2.1 Điểm nhìn bên ngoài – đặc trưng chi phối việc miêu tả các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 65
3.2.2 Điểm nhìn toàn tri – đặc trưng chi phối việc miêu tả các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 71
T ểu ết ƣơn 3 75
KẾT LU N 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí o n đề tà
Hội thoại là một trong những bộ phận quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến của lí thuyết Ngữ dụng học Hội thoại có đặc tính cơ bản là giao tiếp hai chiều – Tính đa kênh trong hội thoại Tức là thông tin, giao tiếp,thông tin giữa những người tham gia hội thoại được truyền đến nhau bằng nhiều kênh: thi giác, cảm giác, khứu giác, thính giác… Vì vậy, khi cuộc thoại diễn ra, ngoài việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp thì người tham gia hội thoại còn có những vận động cơ thể như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, trạng thái cảm xúc, các yếu tố chỉ cách thức nói năng, phát âm… để bổ sung cho lời nói
Những yếu tố đó được gọi là các yếu tố kèm ngôn ngữ Các yếu tố này có vai
trò rất quan trọng trong giao tiếp Trong tác phẩm văn học, các yếu tố này được mã hóa, miêu tả lại dưới con mắt quan sát và đánh giá của người kể truyện Người kể chuyện đứng ở nhiều góc độ khác nhau miêu tả lại những thái độ của nhân vật tham cuộc thoại Hội thoại được đưa vào các tác phẩm văn học dưới hình thức của các thoại dẫn Những yếu tố kèm ngôn ngữ khi đi vào tác phẩm văn học thường xuất hiện ở trong phần lời dẫn thoại Đây là một trong những đối tượng được quan tâm nghiên cứu khi phân tích thoại dẫn ở các tác phẩm truyện
Mặt khác, điểm nhìn là một trong những vấn đề quan trọng đã và đang được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Vấn đề ứng dụng lí thuyết điểm nhìn vào trong nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu hội thoại trong
văn học cũng được số công trình nghiên cứu nói đến Ở Việt Nam, vấn đề
nghiên cứu điểm nhìn ngày càng được quan tâm sâu sắc tuy vậy, việc nghiên cứu những ứng dụng của lí thuyết điểm nhìn mặc dù đã được đề cập đến ở nhiều lĩnh vực như trong ngôn ngữ, văn học và đời sống nhưng vẫn chưa phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng lý thuyết điểm nhìn để phân tích, lý giải các
Trang 8yếu tố đi kèm trong lời dẫn thoại ở những tác phẩm văn xuôi cụ thể vẫn chưa
nhiều, chưa được đề cập đến một cách chi tiết
Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp được biết đến là một trong những hiện tượng tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam từ sau 1980 Mỗi tác giả đều có những trưng riêng cho phong cách truyện ngắn của mình Điều đó được thể hiện cả trong cách dẫn thoại của mỗi tác giả Việc sử dụng các yếu
tố đi kèm trong lời dẫn như thế nào cũng góp phần thể hiện phong cách sáng tác riêng biệt của nhà văn đó Việc sử dụng lý thuyết điểm nhìn để phân tích,
lý giải các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của hai tác giả trên cũng là một trong những hướng tiếp cận tác phẩm đáng để lưu tâm
Từ những lí do trên, người viết chọn đề tài:”Các yếu tố kèm lời dẫn
thoại qua khảo sát truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp”
2 L sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu về các yếu tố kèm lời, phi lời
Theo C.K.Orecchioni: “Có thể xem những nhân vật tương tác là những
nhạc công trong bản giao hưởng vô hình mà phần nhạc họ chơi không được biên soạn trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn tiến của bản giao hưởng không có nhạc trưởng… Cách ứng xử kèm ngôn ngữ sẽ là một vũ điệu giưa những nhân vật tương tác.” ( dẫn theo Đại cương ngôn ngữ học, Tập 1, Đỗ
Hữu Châu) Các nhà nghiên cứu khi đề cập đến các yếu tố kèm lời và phi lời đều khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố này trong giao tiếp, duy trì hội thoại Có thể thấy, quá trình nghiên cứu về các yếu tố này đã được bắt đầu
từ một thời gian khá dài và được nhiều nhà nghiên cứu lớn lưu tâm
2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Đầu tiên phải kể đến là nhà tự nhiên học nổi tiếng Charles Robert
Darwin (1809-1882) với công trình “Three Principles” cùng những nghiên
cứu hiện đại về giao tiếp không lời của ông Những nghiên cứu này cho thấy
Trang 9về cơ bản, ngôn ngữ cơ thể là một sự pha trộn của các cử động, động tác, tư thế, dáng điệu và ngữ điệu của giọng nói
Tiếp đến là một số công trình của các nhà nghiên cứu như: L Vaitsaida
(trong “Ngôn ngữ khuôn mặt”), Leopold Bellan và Xema Sinpolier Baker (trong “Đọc khuôn mặt”), Ellen Steele (trong “nonverbal communication” - NXB Marcel Dekker, 1974), Allan Pease (trong “Ngôn ngữ của cử chỉ, ý
nghĩa của cử chỉ trong giao tiếp” – NXB Đà Nẵng (Nguyễn Hữu Thành
dịch), 1999), các nghiên cứu của C.K.Orecchioni (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 – NXB Giáo dục, 2001)…
J.Vendryes (1990) cho rằng: “Có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất cho ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu”, và “nên hiểu kí hiệu là bất
kì phù hiệu nào mà con người có thể dùng để giao tiếp qua lại với nhau” Do vậy, “mọi giác quan đều có thể là cơ sở để tạo ra ngôn ngữ Có ngôn ngữ khứu giác và ngôn ngữ xúc giác, ngôn ngữ thính giác và ngôn ngữ thị giác Chúng ta nói đến ngôn ngữ khi hai cá thể quy ước gán cho một hành động nào
đó một nghĩa nhất định và thực hiện hành động này nhằm mục đích giao tiếp qua lại với nhau” J.Vendryes khẳng định cử chỉ, điệu bộ cũng là một loại ngôn ngữ nếu hiểu “ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu” Và do vậy, mối quan
hệ giữa nội dung và ý nghĩa của cử chỉ điệu bộ là một sự quy ước
Ngoài ra, có thể kể đến một số cuốn sách đã đi vào nghiên cứu sâu về các
yếu tố kèm lời, phi lời như: Cử chỉ - những điều nên làm và nên tránh trong
ngôn ngữ chỉ khắp thế giới (Roger E.Axtell), Ngôn ngữ cơ thể (Julias Fast)…
2.1.2 Các nghiên cứu ở nước ta
Ở Việt Nam, khi đề cập đến các nhân tố ngôn ngữ trong giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học không chỉ thừa nhận sự tồn tại của các yếu tố kèm lời, phi lời – các nhân tố giao tiếp phi ngôn ngữ - mà còn nhấn mạnh đến ý nghĩa và vai trò quan trọng của loại phương tiện này trong hoạt động giao tiếp
Trang 10Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học”, tập 2 (NXB Giáo dục, 2001)
tác giả Đỗ Hữu Châu đã phân biệt các yếu tố kèm lời và phi lời, đồng thời cũng khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố này trong hội thoại
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà (1998) (trong cuốn Phong cách học
tiếng Việt) đã khẳng định: “Muốn nói tốt, không những phải biết suy nghĩ tốt
mà còn phải biết cách sử dụng lời nói với cách phát âm đúng và rõ kết hợp với ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu để người nghe có thể hiểu ngay, hiểu hết ý
tứ mình Còn muốn nghe tốt thì cần phải biết tổng hợp ý nghĩa của lời nói với sắc thái cảm xúc, bình giá thông qua ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu của người nói để có thể hiểu hết ngay, hiểu hết tình ý của người nói” [32; 45]
Trong cuốn “Nỗi oan thì, là, mà”(2002) (Nxb Trẻ, TP HCM), Nguyễn
Đức Dân cũng dành một phần để nói về “Cử chỉ: Thứ ngôn ngữ không lời” Tác giả khẳng định cử chỉ là một công cụ để giao tiếp Có những cử chỉ là bẩm sinh, vô thức, và có nhiều cử chỉ là do học hỏi, do được giáo dục mà hình thành ở người nói Đóng góp đáng chú ý của Nguyễn Đức Dân khi bàn về ngôn ngữ cử chỉ (thuật ngữ được tác giả sử dụng) là đã bước đầu chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến cử chỉ với tư cách là phương tiện giao tiếp
Trong giáo trình “Quy luật ngôn ngữ” (Quyển II - Tính quy luật của cơ
chế ngôn giao, NXB Khoa học Xã hội, 1996), phần bàn về cơ chế ngôn giao,
tác giả Hồ Lê cũng phát biểu rằng: Những cử chỉ điệu bộ và những phương tiện phi ngôn ngữ nói chung kèm theo lời được gọi là ngôn hiệu, là 1 trong 7 thành tố của ngữ huống phát ngôn
Phi Tuyết Hinh trong bài viết “Thử tìm hiểu về ngôn ngữ của cử chỉ,
điệu bộ” (Tạp chí Ngôn ngữ số 4/1996) đã bàn về ngôn ngữ của cử chỉ, điệu
bộ, điệu mặt (thuật ngữ được tác giả sử dụng) trên các phương diện sau như:
về vai trò, về chức năng, bản chất, và về đặc tính văn hóa của các yếu tố đó
Ngoài ra, cho đến nay cũng đã có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
về các yếu tố kèm lời và phi lời ở nhiều góc tiếp cận khác nhau Chẳng hạn như:
Trang 11Bước đầu tìm hiểu giá trị thông báo của cử chỉ, điệu bộ ở người Việt trong giao tiếp (Thục Khánh, Tạp chí ngôn ngữ số 3/1990), Quy luật ngôn ngữ, Nghiên cứu đặc điểm văn hoá ngôn ngữ cử chỉ của người Việt (Trần Thị Nga, Đề tài NCKH
ĐHQG Hà Nội, 2005), Các phương tiện phi ngôn ngữ trong việc thực hiện hành
đông ngôn ngữ (Nguyễn Kim Anh, LVTS ĐHSP Hà Nội, 2009)…
Tuy nhiên, việc phân tích, lý giải các yếu tố kèm lời và phi lời có vai trò thực hiện HĐNN trong phần lời dẫn ở các tác phẩm văn xuôi còn chưa được nói đến nhiều
2.2 Nghiên cứu về điểm nhìn (point of view)
Là một trong những vấn đề quan trọng trong giao tiếp hàng ngày và giao tiếp nghệ thuật, điểm nhìn ngày càng được quan tâm nghiên cứu sâu sắc, đặc biệt là trong những năm gần đây Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu quan trọng về điểm nhìn ở trên thế giới và ở Việt Nam như:
Những nghiên cứu trên thế giới: M.Bakhtin, W.Booth, IU Lotman, Genette, K.Wales…
Ở Việt Nam, có nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến một vài khía cạnh
của vấn đề điểm nhìn Chẳng hạn như Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ
học, tập 2, 2001), Nguyễn Đức Dân (Logic và tiếng Việt, 1996), Trần Đình Sử
(Giáo trình dẫn luận thi pháp học 1998), Nguyễn Thái Hòa…
Nhưng các nhà nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến vấn đề điểm nhìn ở một vài khía cạnh chứ chưa có hệ thống hoàn chỉnh Người có công tập hợp,
lý giải, và đưa ra các lý thuyết, khái niệm về điểm nhìn như một hệ thống
hoàn chỉnh là tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy với công trình nghiên cứu “Ngôn
ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Điểm nhìn và ngôn ngữ
kể chuyện)” (2003)
Bên cạnh đó còn có các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ, các bài viết nghiên cứu đề cập đến vấn đề nghiên cứu điểm nhìn Cho đến nay, đã có khá
Trang 12nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đề cập đến vấn đề diểm nhìn ở nhiều lĩnh vực khác nhau như thi pháp học, nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học…
2.3 Các nghiên cứu về truyện ngắn Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
2.3.1 Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn luôn tìm tòi, đổi mới,
và sáng tạo Hơn 50 năm cầm bút, ông đã sở hữu một gia tài rất đồ sộ gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết Trong đó, truyện ngắn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong nghiệp văn của ông Từ sau những năm 80, truyện ngắn của
Ma Văn Kháng đã thực sự gây được những tiếng vang và thành công lớn Có
thể kể đến những tập truyện: Ngày đẹp trời (1986), Heo may gió lộng (1992),
Trăng soi sân nhỏ (1995), và Truyện ngắn Ma Văn Kháng (1996)
Có rất nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn đi sâu tìm hiểu về truyện ngắn Ma Văn Kháng với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu là về đặc trưng thi pháp và nghệ thuật Có thể kể đến một số
nghiên cứu như: Đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn
Kháng trong những năm 1980 (Tạp chí văn học, số 2, 1989), Đọc Heo may gió lộng của Ma Văn Kháng (Trần Bảo Hưng, Báo Văn nghệ, số 47, 11/1993), Đọc truyện ngắn Ma Văn Kháng (Dương Kiều Linh, Báo Giáo dục thời đại,
11/1996), Thi pháp truyện ngắn Ma Văn Kháng sau năm 1980 (Hà Thị Thu
Hà, LVTS ĐHSP Hà Nội, 2003)…
2.3.2 Nguyễn Huy Thiệp được nhắc tới như một hiện tượng là trong cao trào đổi mới văn xuôi nghệ thuật cuối những năm 80 Các truyện ngắn
tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông không thể không nhắc đến: Tướng
về hưu, Không có vua, Giọt máu, Những người thợ xẻ, Con gái thủy thần…
Xung quanh hiện tượng văn chương Nguyễn Huy Thiệp có rất nhiều ý kiến phê bình, nhận định trái chiều, khen hoặc chê, khẳng định hoặc phủ nhận… Tính đến thời điểm này đã có nhiều nghiên cứu về truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp ở nhiều khía cạnh khác nhau như: Truyện ngắn Nguyễn
Trang 13Huy Thiệp, vài cảm nghĩ (Nguyễn Đăng Mạnh, Tạp chí Cửa Việt, số 16/
1992), Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp (Ngyễn Đăng Điệp, in trong
Vọng từ con chữ, NXB Văn học, 2003), Cuộc tìm kiếm hình thức đa thanh mới trong văn xuôi hiện đại qua cấu trúc truyện của Nguyễn Huy Thiệp (Châu
Minh Hùng, in trong Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu
và giảng dạy, Nxb Giáo dục, H., 2006), bên cạnh đó còn có các luận văn, đề
tài nghiên cứu và tìm hiểu về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp… Năm
2001, Phạm Xuân Nguyên đã tập hợp tất cả những bài phê bình của các nhà văn, nhà phê bình, nhà sử học… được đăng trên báo in thành sách với nhan đề
“Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” (gồm 54 bài viết), mỗi bài viết bàn về các khía cạnh khác nhau xoay xung quanh truyện ngắn của chính tác giả Tất cả những
ý kiến đồng tình – phản đối, khen – chê khác nhau Các bài viết đều mang tính chất đối thoại với độc giả, tranh luận lẫn nhau, tạo một cơ sở khách quan cho việc tiếp nhận tác phẩm văn học
Tuy nhiên, việc đi sâu vào tìm hiểu vai trò và ý nghĩa của các yếu đi tố kèm lời dẫn thoại từ góc độ điểm nhìn vẫn chưa được chú ý đến nhiều Mặt khác, việc tiến hành đề tài này trên nguồn ngữ liệu truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời tiến hành so sánh, làm nổi bật lên phong cách dẫn thoại của mỗi tác giả cũng là một hướng đi mới
3 P ạm v n ên ứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu về đối tượng chính là các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
Đối tượng được chọn làm ngữ liệu khảo sát bao gồm:
học, H., 2003
Trang 14- 15 truyện ngắn trong tập Truyện ngắn của Ma Văn Kháng, Nxb Công
an nhân dân, H., 1996
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
ngắn tiêu biểu của Ma Văn kháng và Nguyễn Huy Thiệp
Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
điểm nhìn đối với việc sử dụng các yếu tố đi kèm, và mục đích sử dụng các yếu tố đó trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
4 Mụ t êu n ên ứu
các yếu tố đi kèm lời dẫn thoại thực hiện HĐNN xuất hiện trong truyện ngắn
của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
và Nguyễn Huy Thiệp Từ đó xem xét ảnh hưởng của điểm nhìn trong việc quan sát, miêu tả các yếu tố đó Từ đó thấy được đặc trưng phong cách trong việc dẫn lời của mỗi tác giả
5 P ƣơn p áp n ên ứu
Nghiên cứu đề tài Các yếu tố kèm lời dẫn thoại qua khảo sát truyện
ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
a Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các yếu tố kèm lời dẫn thoại thực hiện HĐNN trong các lời dẫn trên ngữ liệu truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Kết quả khảo sát sẽ được tiến hành thống kê,
Trang 15phân loại theo những tiêu chí chung để từ đó rút ra đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
e Phương pháp phân tích liên ngành
Do đối tượng nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát của luận văn là các văn bản nghệ thuật nên ngoài những tri thức ngôn ngữ làm nền tảng thì chúng tôi còn tham khảo và sử dụng một số tri thức của một số lĩnh vực khác như lí luận văn học, phê bình văn học, xã hội học, tâm lí học…
6 Cấu trú ủ luận văn
Ngoài phần mở đầu vầ kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm của các yếu tố kèm lời đẫn thoại trong truyện
ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3: Các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ điểm nhìn
Trang 16C ƣơn 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày một số lý thuyết liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm: lý thyết hội thoại (về các HĐNN và các yếu tố kèm lời trong giao tiếp), lý thuyết về thoại dẫn, và lý thuyết diểm nhìn
1.1 Lý t u ết ộ t oạ
Các yếu tố kèm lời dẫn thoại trong thoại dẫn liên quan trực tiếp đến quá trình hội thoại Vì thoại dẫn là dẫn lời nói của người khác vào diễn ngôn của mình, nên để hiểu được thoại dẫn thì những hiểu biết về hội thoại là rất cần thiết Trong quá trình thực hiện, khi nói về vấn đề hội thoại, chúng tôi không nhắc lại toàn bộ lý thuyết hội thoại mà chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn
1.1.1 N ữ cản
Nói tới giao tiếp không thể không nói tới ngữ cảnh Cuộc hội thoại bao giờ cũng phải xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định Những lời được nói ra
hoặc viết ra khi chúng ta giao tiếp với nhau được gọi là diễn ngôn (ngôn bản)
Trong một hoạt động giao tiếp, loại trừ diễn ngôn ra, các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh
Ngữ cảnh được định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt” như sau: “Ngữ cảnh là toàn bộ nói chung những đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa
và giá trị cụ thể của đơn vị ngôn ngữ đó trong chuỗi lời nói” [42; 894] Đây
là định nghĩa dựa trên quan niệm “ngữ cảnh trong phạm vi hẹp Ngữ cảnh đồngnghĩa với chu cảnh ngôn ngữ”
Tác giả Đỗ Hữu Châu khi trình bày về các nhân tố giao tiếp đã nhắc
đến một cách khá cụ thể và chi tiết nhân tố ngữ cảnh Theo ông, ngữ cảnh bao
gồm những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn
Trang 17ngôn [5; 15] Cũng theo Đỗ Hữu Châu, ngữ cảnh là một tổng thể bao gồm các
nhân tố: nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn, hoàn cảnh giao tiếp (hoàn cảnh giao tiếp rộng), thoại trường (hoàn cảnh giao tiếp hẹp), và hệ thống tín hiệu ngôn ngữ
Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân Quan hệ này được xét theo hai trục: quan hệ ngang và quan hệ dọc
- Quan hệ ngang (quan hệ thân sơ): quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố “khoảng cách” một ẩn dụ không gian biểu trưng cho sự gần gũi hoặc
xa cách trong quan hệ Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang như: những dấu hiệu bằng lời và những dấu hiệu cử chỉ, điệu bộ và dấu hiệu kèm lời
- Quan hệ dọc (quan hệ vị thế): là quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành các đơn vị trên dưới xếp thành từng bậc trên trục dọc Quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố quyền lực, nó phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cương vị xã hội, giới tính, tuổi tác… tùy theo quan niệm văn hóa khác nhau của mỗi dân tộc Có rất nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ vị thế khi giao tiếp Trong đó các dấu hiệu cử chỉ, điệu bộ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện vị thế của những người tham gia giao tiếp
1.1.2 H n độn n ôn n ữ
1.1.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
J Austin đã xuất phát từ sự phân biệt các phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi để đưa ra cách hiểu nền tảng về hành động ngôn ngữ như
sau: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một
loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn
Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học (tập 2), tác giả Đỗ Hữu Châu đã
tìm hiểu các quan niệm mà Austin đưa ra khi nghiên cứu về hành động ngôn ngữ Trong đó, theo J Austin, có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: Hành vi
Trang 18tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời Khi phát ra phát ngôn U, SP1 thực hiện đồng thời ba hành vi này [5; 88]
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo thành một phát ngôn về hình thức và nội dung Tức là hành động tạo ra một biểu thức có đủ nghĩa bằng từ ngữ Đây là hành động cơ sở chung cho mọi hành động ngôn ngữ
Hành vi mượn lời là hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, hay chính
là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói Các hiệu quả của hành vi mượn lời này phân tán, không tính toán được và không có tính quy ước Hiện tượng đích ngôn trung làm cho hành động ngôn trung có hiệu quả gọi là hiệu quả dụng ngôn
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng
Hành vi ở lời (hành động ngôn trung) là cái chức năng, cái đích hay mục đích trong ý nghĩ của người nói Chúng được thực hiện bằng một lực thông báo trong một phát ngôn, chúng là chức năng của phát ngôn đó Ví dụ: Người nói thực hiện hành vi hỏi, sai khiến, chào, cám ơn, hứa… thì các ý hỏi, sai khiến, chào, cám ơn, hứa đó là cái đích trong ý nghĩ của người nói, là chức năng của phát ngôn chứa chúng ( và cũng được gọi là lực ngôn trung) Hiệu quả của các hành vi ở lời là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Chẳng hạn như
Hành vi ở lời là hành vi quan trọng nhất trong ba loại hành động ngôn ngữ theo phân loại của Austin Hành vi ở lời chính là đối tượng quan tâm của ngữ dụng học Các phát ngôn ngữ vi là sản phẩm, cũng là phương tiện của các hành vi ở lời Chính vì vậy, ngữ dụng học chỉ quan tâm đến các hiệu lực ở lời
và sử dụng khái niệm hành động ngôn ngữ để chỉ khái niệm được thu hẹp nội hàm đó là hành vi ở lời
Trang 19Cũng theo tác giả Đỗ Hữu Châu, ĐTNN là các động từ biểu thị, gọi tên các hành động ngôn từ ( mà ông gọi đó là các hành vi ngôn ngữ) Trong tiếng Việt, ĐTNN bao gồm:
chửi, hỏi kháy…
1.1.2.2 Phân loại hành động ngôn ngữ
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã tập hợp các công trình nghiên cứu, phân loại HĐNN quan trọng của một số nhà nghiên cứu nước ngoài như: Austin, Wierzbicka, Searle, D Wunderlich và F Recanati, K Bach và R.M Harnish… [5; 120]
a) Phân loại của Austin
Austin đã phân loại từ vựng các động từ ngữ vi tiếng Anh thành 5 phạm trù đó là: phán xử, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử Tuy nhiên, thử nghiệm ban đầu này của Austin cũng gặp phải những hạn chế lớn, đó là không có sự tương thích hoàn toàn giữa các hành động ngôn ngữ và động từ ngữ vi: Không phải hành động ngôn ngữ nào cũng có động từ ngữ vi tương ứng, và nhiều động từ ngữ vi khác nhau có thể biểu thị cùng một hành động ngôn ngữ Do đó, việc phân loại theo tiêu chí này sẽ dẫn đến hiện tượng không chínhh xác, chồng chéo nhau
Cùng hướng phân loại động từ chỉ hành động ngôn ngữ như Austin thì Wierzbicka (1987) đã dùng ngôn ngữ ngữ nghĩa để phân chia động từ nói năng trong tiếng Anh thành 37 nhóm đó là: nhóm ra lệnh, cầu xin, hỏi, gọi, cấm, cho phép, tranh cãi, trách mắng, giễu, phê phán, buộc tội, công kích, cảnh báo, khuyến cáo, cho tặng, khen ngợi, hứa hẹn, cám ơn, tha thứ, than phiền, cảm thán, đoán định, gợi ý, kết luận, kể, thông tin, tóm tắt, chấp nhận,
Trang 20xác tín, củng cố, nhấn mạnh, tuyên bố, đặt tên thánh, ghi chú, trả lời, tranh luận, trò chuyện Tuy vẫn còn hạn chế nhưng bảng phân loại của Wierzbicka
là một gợi ý đáng quý cho người nghiên cứu khi đứng trước việc gọi tên các hành động ngôn ngữ trong đời sống và trong văn bản nghệ thuật
b) Phân loại của Searle
Searle là người đầu tiên chỉ ra hạn chế trong bảng phân loại của Austin như đã nói ở trên Ông cho rằng trước hết phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng Searle đã liệt kê 12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn ngữ có thể dùng làm tiêu chí phân loại, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh bốn tiêu chí dùng để phân loại hành vi ngôn ngữ là: đích ở lời, hướng khớp ghép ở lời, trạng thái tâm lý và nội dung mệnh đề
Từ bốn tiêu chí này, Searle đã phân lập được năm loại hành vi ở lời đó là:
miêu tả lại một sự tình đang được nói đến Hướng khớp ghép là lời – hiện thực, trạng thái tâm lý là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề (có thể dánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai logic Ví dụ: các
hành vi thuộc nhóm này như: giải thích, chứng minh, nhận xét, khẳng định,
tường thuật, miêu tả, thông báo…
nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai; hướng khớp ghép
lời(vui thích / khó chịu, mong muốn / rẫy bỏ…) Trạng thái tâm lý thay đổi
Trang 21tùy theo từng loại hành vi; nội dung mệnh đề là một hành động hay một tính
nội dung của hành vi hướng khớp – ghép vừa là lời – hiện thực, vừa là hiện thực – lời; nội dung mệnh đề là một mệnh đề
Việc phân loại hành động ngôn ngữ theo Searle là một đóng góp quan trọng cho ngôn ngữ học thế giới, và thường được giới nghiên cứu sử dụng
J.R Searle đã đưa ra tám kiểu HĐNN đó là:
Trên thực tế thì các hành động nói cụ thể có số lượng lớn hơn nhiều và
đa dạng về kiểu loại hơn chứ không chỉ dừng lại ở tám kiểu hành động nói năng như Searle đã trình bày
Sử dụng lý thuyết hành động ngôn ngữ sẽ cung cấp cho người viết các tiêu chí để nhận diện, phân loại, mô tả hoạt động của hệ thống hành động ngôn ngữ trong các truyện ngắn khảo sát của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời vận dụng lý thuyết này để tìm hiểu mối liên hệ giữ các yếu
tố đi kèm với các hành động ngôn ngữ khác nhau Việc sử dụng các ĐTNN như thế nào trong lời dẫn thoại cũng thể hiện phong cách dẫn thoại riêng của mỗi tác giả
Trang 221.1.3 Các ếu t kèm lời v p i lời
Trong những cuộc hội thoại, ngoài những yếu tố ngôn ngữ (về từ vưng
và các đơn vị ngữ pháp), người nói còn sử dụng các yếu tố kèm lời và phi lời Khi đưa vào tác phẩm văn học, các yếu tố phi lời, kèm lời này được cụ thể hóa thành các thành phần đi kèm với động từ nói năng trong thoại dẫn hoặc xuất hiện độc lập trong thoại dẫn để miêu tả một hành động ngôn ngữ nào đó
Ví dụ: - Vợ Đoan ném toạc đôi đũa v o mâm, n iến răn : “ông cáu
gì với tôi!”
Hành động “ném toạch đôi đũa vào mâm” và biểu hiện “nghiến răng” là
các yếu tố kèm với HVNN, nhằm thể hiện thái độ tức giận của nhân vật vợ Đoan
Về vai trò của các yếu tố kèm lời và phi lời, Birdwhistell đã phát hiện
ra trong một cuộc trò chuyện trực diện thì yếu tố lời nói chiếm chưa đến 35% còn trên 65% là giao tiếp không lời Còn Albert Maerabian, một nhà nghiên cứu tiên phong về ngôn ngữ cơ thể vào thập niên 50 của thế kỉ 20, đã nghiên cứu và cũng đưa ra những số liệu đáng lưu tâm: Trao đổi thông tin diễn ra qua các phương tiện bằng lời (chỉ bằng lời) chiếm có 7% Trong khi đó, qua các phương tiện âm thanh (bao gồm giọng nói, ngữ điệu và các âm thanh khác) chiếm 38%, còn qua các phương tiện không lời (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…) thì chiếm tới 55% [Dẫn theo 1; 17]
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì trong quá trình giao tiếp bao gồm ba yếu tố: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ (hay còn gọi là ngôn ngữ cơ thể) và giọng điệu thì ngôn ngữ chỉ góp phần nhỏ nhất là 7% trong việc tác động đến người nghe, giọng điệu chiếm tới 38% và yếu tố phi ngôn ngữ lại trở nên quan trọng nhất vì sở hữu được 55% Những công trình nghiên cứu này đã ghi vào danh mục hơn một triệu bản mã và tín hiệu liên quan đến ngôn ngữ cơ thể Các chuyên gia nói rằng trong cuộc đàm phán kéo dài 30 phút, hai người
có thể biểu hiện hơn 800 thông điệp phi lời nói khác nhau Do tốc độ suy nghĩ
Trang 23của con người nhanh hơn lời nói (trung bình 1 phút có thể nghĩ được khoảng
700 đến 1200 từ trong khi chỉ có thể nói với tốc độ khoảng 120 đến 150 từ/ 1 phút) Vì thế, khi lời nói không thể hiện hết thì cơ thể tìm cách bộc lộ ra thông qua ngôn ngữ cơ thể Đôi khi ngôn ngữ cơ thể còn là công cụ hữu hiệu để thể hiện những điều mà vì hoàn cảnh, tình huống nào đó mà con người không thể diễn đạt bằng lời [Dẫn theo 1; 17]
Thường thì giao tiếp phi ngôn ngữ sẽ đi kèm lời nói, nhưng cũng có trường hợp nó tồn tại độc lập Có thể nói, ngôn ngữ chỉ là một bộ phận của quá trình giao tiếp và trong thực tế thì giao tiếp bằng lời và giao tiếp phi lời luôn luôn gắn chặt với nhau Theo nhà nghiên cứu Hồ Lê: “Ngôn hiệu (điệu
bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…) là yếu tố không thể thiếu trong phong cách nói… Ngôn hiệu có tác dụng phối hợp với lời để diễn đạt ý nghĩa Nó cũng
sẽ góp phần tạo ra phong cách nói của từng người… Nếu lạm dụng ngôn hiệu
sẽ không tránh khỏi sự thái quá, thậm chí sự lố bịch Song nếu không biết sử dụng ngôn hiệu để đến nỗi lúc nào cũng chỉ “nói chay” thì sẽ dễ bị rơi vào tình trạng nói đều đều, kém sinh động và kém hiệu quả” [34; 465]
1.1.3.1 Các ếu t p i lời
Có thể hiểu các yếu tố phi ngôn ngữ chính là một hệ thống tín hiệu bao gồm tất cả những cử chỉ, điệu bộ, cách bài trí thoại trường, các âm thanh ngoài ngôn ngữ, ngữ điệu… (các yếu tố còn lại trừ lời nói) trong hội thoại, có khả năng tham gia vào điều hành vận động hội thoại
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Đại cương ngôn ngữ học”(tập 2) đã nhận xét: “Các yếu tố phi lời đóng vai trò nhất định trong việc lí giải nghĩa của lời nói Chúng ta biết rằng nghĩa trực tiếp, theo câu chữ của phát ngôn là do lời diễn đạt Nhưng nhiều khi chính các yếu tố phi lời mới giúp chúng ta hiểu đúng lời của nhau, thí dụ qua ánh mắt, nụ cười khẩy mà chúng ta biết được một lời khen thực ra lại là một câu nói mỉa…” [5; 223]
Trang 24Những yếu tố phụ kèm động từ nói năng như cử chỉ, động tác, cách
thường đi kèm với lời nói hoặc thay thế lời nói
Đỗ Hữu Châu khi trình bày về lý thuyết hội thoại đã phân biệt giữa yếu tố kèm lời và phi lời [5; 220]: “Yếu tố phi lời (non verbal) là những yếu tố không phải những yếu tố kèm lời được dùng trong đối thoại mặt đối mặt Thuộc yếu tố phi lời là: cử chỉ, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt ánh mắt Cũng được tính là tín hiệu phi lời những tín hiệu
âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xô ghế, tiếng huýt sáo, tiếng còi… Có thể
kể vào cả đây trang phục, bài trí của thoại trường tức những tín hiệu âm thanh không nằm trong hệ thống ngữ âm – âm vị học của ngôn ngữ”
Ở ví dụ trên, yếu tố phi lời được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ viết
trong lời dẫn là trạng thái “giật nẩy người” Yếu tố này góp phần thể hiện thái
độ bất ngờ do thần kinh bị tác động một cách đột ngột, đột nhiên biết một điều mình hoàn toàn không ngờ đến hoặc không nghĩ đến
Yếu tố phi lời có thể được hiểu là một hệ thống các tín hiệu ngoài ngôn ngữ, các phương tiện giao tiếp được thực hiện trên cơ sở động lực học (các động tác, cử động của cơ thể) có khả năng hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của ngôn ngữ tự nhiên
Xếp vào nhóm các yếu tố phi lời, theo Đỗ Hữu Châu bao gồm:
+ Các yếu tố cơ thể, vận động được tiếp nhận bằng thị giác
+ Những yếu tố tĩnh như diện mạo, trang phục,… cung cấp những thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội, và trong chừng mực nhất định cả tính cách của người đối thoại
+ Tín hiệu về không gian tương tác như tư thế của những người hội thoại, khoảng cách của họ cũng quan trọng đối với diễn biến của cuộc tương tác
Trang 251.1.3.2 Các ếu t kèm lời
Trong sự phân biệt với các yếu tố phi lời, tác giả Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra: “Yếu tố kèm lời (paraverbal) là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính như âm vị và âm tiết nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính Không một yếu
tố đoạn tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo Được
kể vào những yếu tố kèm lời là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường
độ, độ dài, chỉnh giọng Vai trò biểu nghĩa, đặc biệt là biểu nghĩa ngữ dụng
của các yếu tố kèm lời là hiển nhiên” [5; 220]
Ví dụ: Cháu xin bác - Tôi rên rỉ - Bác bảo cho cháu đến cuối bến Cốc
cơ mà! [63; 3]
Như vậy, với cách hiểu về các yếu tố kèm lời và phi lời như đã dẫn ở trên, có thể thấy vai trò quan trọng trong việc góp phần thực hiện hành vi ngôn ngữ của các yếu tố này Khi nói về các yếu tố kèm lời và phi lời, Đỗ Hữu Châu cũng đã khẳng định rằng, trong hội thoại, chúng là những yếu tố không thể bị loại bỏ khi giao tiếp bằng lời
Theo Nguyễn Quang, một trong những tác giả nghiên cứu khá nhiều về
ngôn ngữ cử chỉ, thì giao tiếp phi ngôn từ được hiểu hoàn toàn rộng là “toàn bộ
các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã hóa ngôn từ, có nghĩa là không được mã hóa bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai kênh ngôn thanh và phi ngôn thanh Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn như tốc độ, cường
độ, ngữ lưu,… và các yếu tố ngoại ngôn thuộc ngôn ngữ thân thể như cử chỉ, dáng điệu, hiện diện…, thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang sức,… và ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao tiếp” [25; 17]
Các các giả đã phân biệt và gọi tên các yếu tố trên bằng những thuật
ngữ như: Yếu tố kèm lời, yếu tố phi lời, yếu tố ngoài ngôn ngữ, ngôn ngữ cử
chỉ… Xét theo mục đích của luận văn này đó là nghiên cứu về các yếu tố kèm lời dẫn (lời dẫn thoại) Trong đó, các yếu tố kèm lời dẫn thoại là những yếu
Trang 26tố – ngoài ĐTNN – xuất hiện trong phần lời dẫn chỉ HĐNN trong các truyện ngắn, cụ thể là truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp Chúng tôi lựa chọn theo cách hiểu rộng của Nguyễn Quang Tức là tìm hiểu về các yếu tố kèm lời dẫn thoại tức là tất cả các yếu tố thuộc cả kèm lời và phi lời (phi ngôn thanh và ngôn thanh) mà tác giả Đỗ Hữu Châu đã phân biệt ở trên
Trong thoại dẫn của một tác phẩm văn học, các yếu tố kèm lời dẫn (cả các yếu tố kèm lời, phi lời) được miêu tả sẽ thể hiện phần nào đó phong cách sáng tác của tác giả Cụ thể ở đây, việc sử dụng các yếu tố đi kèm trong lời dẫn thoại sẽ thể hiện được điểm nhìn, thái độ của NKC, của nhân vật tham gia trong cuộc thoại Chúng ta không thể loại bỏ các tìn hiệu kèm lời và phi lời khi giao tiếp bằng lời Những sự kiện kèm lời xuất hiện song song với ngôn ngữ nói, hòa lẫn vào ngôn ngữ nói và cùng ngông ngữ nói hình thành nên một
hệ thống giao tiếp trọn vẹn Chỉ có thể hiểu được đầy đủ cách sử dụng ngôn ngữ khi các yếu tố kèm ngôn ngữ được chú ý đầy đủ
1.2 Lý t u ết t oạ n
1.2.1 K ái niệm t oại dẫn
Theo từ điển “The Encyclopedia of Language and Linguistics” tập 7 mục “reported speech”: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu tự quy chiếu có khả năng nói về chính mình Lời nói có thể thuật lại một số lượng vô hạn các
sự vật bao gồm cả lời nói và ý nghĩ Nó có thể dùng để phân biệt lời nói của chính mình với lời nói của người khác, cũng như để phân biệt việc sử dụng một từ trong nghĩa thực sự của nó với việc dẫn lại từ đó” [dẫn theo 59; 7] Việc dẫn lại lời nói như vậy được cụ thể hóa trong các văn bản viết bằng hình
thức gọi là thoại dẫn Thoại dẫn (reported speech) là một vấn đề đã dược
ngôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu từ lâu Nhờ có sự dẫn thoại mà chúng
ta có các thoại dẫn trong diễn ngôn nói và viết Thoại dẫn là là lời thoại vốn
có trong hội thoại thực sự của đời sống được đưa vào trong diễn ngôn (lời
Trang 27nói) của người nói (hoặc viết) Có thể nói thoại dẫn là thành phần cơ bản, quan trọng của văn bản truyện, một đặc trưng cấu trúc nghệ thuật của thể loại truyện, một đơn vị lời nói của người kể chuyện
Theo O.I Moskalskaja, “thoại dẫn còn gọi là lời người khác (hay lời
nói phi sở hữu) được đưa vào lời nói sở hữu của người nói” [dẫn theo 57;
132] Trong tác phẩm, thoại dẫn là lời nhân vật được đưa vào lời của người
kể chuyện
Thoại dẫn là thành phần cơ bản, quan trọng của văn bản truyện, một đặc trưng cấu trúc nghệ thuật làm nên các tác phẩm truyện, một đơn vị lời nói của người kể chuyện, thể hiện rõ điểm nhìn của người kể chuyện, đồng thời có thể
ý nghĩ được dẫn là được chuyển từ thoại nguồn (lời thoại thực tế) nên nó sẽ phản
ánh được phần nào đặc điểm điểm nhìn của lời nói trong giao tiếp Việc khảo sát điểm nhìn ở thoại dẫn vừa xem xét được một cấp độ thể hiện điểm nhìn ở văn bản, vừa xem xét được điểm nhìn ở một dạng lời nói giao tiếp (tức là xem xét được cả điểm nhìn của người kể chuyện và xem xét được cả điểm nhìn của nhân vật), vừa kế thừa những thành quả nghiên cứu ngôn ngữ học để đi sâu nghiên cứu một đơn vị hình thức ngôn ngữ cơ bản thể hiện điểm nhìn
1.2.2 Các ìn t ức của t oại dẫn
Lý thuyết về thoại dẫn đã được một số nhà nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu ở nhiều góc độ trước đó Hầu hết các nhà nghiên cứu này đều thống nhất rằng: Ngôn ngữ học hiện nay phân biệt hai hình thức dẫn thoại cơ bản : Trực tiếp và gián tiếp (tức thoại dẫn trực tiếp – direct speech – TDTT và thoại dẫn gián tiếp – indirect speech – TDGT) Thoại dẫn với hai hình thức TDTT và TDGT được Aristote xem là thuộc loại phạm trù “bắt chước” và gọi tên là oratio recta – TDTT và oblique – TDGT TDTT là một kiểu “showing” (diễn)
và TDGT là một kiểu “telling” (kể)
Trang 28Bên cạnh đó, khi tiến hành phân loại cụ thể các hình thức thoại dẫn, các nhà nghiên cứu còn nhận ra rằng: Ý nghĩ cũng có khả năng được dẫn trực tiếp (TT) và gián tiếp (GT) Do vậy, có thể hình dung trong diễn ngôn có các hình
thức thoại dẫn cơ bản đó là: dẫn lời thoại (bao gồm TDTT và TDGT), dẫn ý
nghĩ – dòng tâm tư – DTT (bao gồm DTTTT và DTTGT)
Ở TDTT, và TDGT có hình thức tự do và ở ý nghĩ nội tâm trực tiếp, ý nghĩ nội tâm gián tiếp cũng có hình thức tự do Khi xét các TDTT, TDGT, hay ý nghĩ nội tâm trực tiếp, ý nghĩ nội tâm gián tiếp có nghĩa là chúng ta đang tìm hiểu về kiểu thoại dẫn có lời dẫn Còn khi nói đến TDTT tự do, TDGT tự do, hay ý nghĩ nội tâm trực tiếp tự do, ý nghĩ nội tâm gián tiếp tự do
có nghĩa đây là kiểu TD không có lời dẫn
Tác giả Mai Thị Hảo Yến trong công trình nghiên cứu Hội thoại trong
chuyện ngắn Nam Cao (các hình thức thoại dẫn) đã chỉ ra cấu trúc tổng quát
của một thoại dẫn [59; 37] như sau:
L n + L đƣợ n
(Lời người dẫn, kể, nói, viết) (Lời thoại của nhân vật)
Khi nghiên cứu về các yếu tố kèm lời dẫn tức là chúng tôi chỉ tập trung vào phần lời dẫn Còn lời được dẫn sẽ là bộ phận để xác định, đối chiếu với
trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung xem xét các yếu tố kèm lời dẫn ở hai hình thức thoại dẫn cơ bản đó là TDTT – dẫn lời nói và TDGT – dẫn lời nói Còn hình thức thoại dẫn ý nghĩ nội tâm sẽ không được nói đến một cách chi tiết Mặt khác, các hình thức thoại dẫn tự do – tức là các thoại dẫn không có lời dẫn (đồng nghĩa với việc các yếu tố kèm lời dẫn, các ĐTNN xuất hiện trong lời dẫn không xuất hiện) cũng không phải là đối tượng nghiên cứu chi tiết của chúng tôi
Trang 29Theo đó, có hai hình thức dẫn lời nói cơ bản đó là lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp:
a) Lời dẫn ở thoại dẫn trực tiếp:
Thông thường trong các tác phẩm truyện, nếu như có những lời thoại trực tiếp của nhân vật thì sẽ có lời dẫn của NKC Chính lời dẫn là phần làm cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc một cách cụ thể, sinh động (bằng các miêu tả về tên người nói, cách thức nói, thái độ, cử chỉ, ngữ điệu… của người nói)
Ví dụ: − Nhảy xuống! – Tảo n e m răn n ọn oắt quát l n un
dữ - Ông cho mái chèo vào gáy bây giờ! [63; 3]
Vị trí của lời dẫn ở thoại dẫn trực tiếp thường được xác định như sau:
− Lời dẫn ở trước lời được dẫn: Đây là cách dẫn thoại phổ biến xuất hiện ở các tác phẩm văn học Thường lời dẫn và lời được dẫn trong trường hợp này được ngăn cách bởi dấu (:)
Ví dụ: Một ôm P on đán liều ỏi c ủ quán : “Ở đây có con điếm
nào xinh không?” Chủ quán gật đầu P on bảo: “Gọi cho tôi một đứa.”
C ủ quán ỏi: "Ông thích loại còn tân hay đã mất tân?" P on vỗ đùi đán đét: "Còn tân thì nói gì nữa?" Chủ quán đứng dậy đi xuống nhà ngang, lát sau dẫn lên đứa con gái trạc mười lăm tuổi C ủ quán bảo: "Ðây là con gái
tôi" Phong uống nước, suýt nữa thì nghẹn [63; 195]
− Lời dẫn ở giữa lời được dẫn
Ví dụ: − Đừng chối – N ười Môn trẻ xua ta – Tôi biết hết rồi! Từ
hồi anh được Tây Đơ Nivơ thưởng chai sâm banh vì thồ được cả phuy xăng Rồi theo Ly Si Gơ anh thồ được cả hai hòm đạn, một bó sung kia [62; 41]
− Lời dẫn sau lời được dẫn
Vợ Tư iản iải [62; 397]
Trang 302) – Thì đi! N ười lín sẵn , rồi p ất ta ra iệu bảo ọ đi [62; 534]
Các thành phần chủ yếu xuất hiện trong lời dẫn ở TDTT thường bao gồm:
− Chủ ngữ − V: Thường là các ngôi theo vị trí xưng hô của NKC với nhân vật
Ví dụ: Chủ ngữ có thể là ngôi thứ ba: Y đứng phắt dậy, dậm chân, xõa
tóc, gào: − Tất cả chúng mày và tao nữa, là mèo, là chó, là lợn, là gà đây rồi! Còn phải nuôi ai nữa, hở! Trời ơi, nhục quá là nhục! Cũng thì là một kiếp người! [62; 431]
− Vị ngữ − V: thường có các trường hợp sau:
+ V là các ĐTNN
Tốn khóc hu hu Cấn ỏi: "Ý chú Khảm thế nào?" Khảm bảo: "Các anh thế nào thì em thế" Cấn ỏi: "Chú Khiêm sao im thế?" Khiêm ỏi: Anh định thế nào?" Cấn bảo: "Tôi đang nghĩ Đoài bảo: "Mất thì giờ bỏ mẹ Ai đồng ý bố
chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé" [62; 109]
+ V là các từ chỉ cách thức nói năng
Ví dụ: Đoan k u ấp ún : – Gì thì chị cũng phải ăn bát cơm đã… [62; 523]
+ V là các từ miêu tả cử chỉ, thái độ, cảm xúc của nhân vật
Ví dụ: Mụ Bí la vai c ồn , t oản : – Ông ơi là ông, ai bảo ông
động chệ sang đất nhà nó, hả ông [62; 264]
- Các thành phần phụ (Thành phần định vị không gian, thời gian, miêu
tả nhân vật, thể hiện điểm nhìn của nhân vật…)
Ví dụ: Trước tết N u n đán, ông Cơ nói với hai vợ chồng tôi: "Cháu
xin cậu mợ một việc” [63; 39].
b) Lời dẫn ở thoại dẫn gián tiếp:
Về vị trí của lời dẫn:
- Lời dẫn ở trước lời được dẫn
Trang 31Ví dụ: N ười ta bảo đó là nỗi nhớ đời sống quần hôn ngày xưa [62; 27]
− Lời dẫn ở giữa lời được dẫn: Theo khảo sát của chúng tôi ở truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Nguyễn Huy Thiệp không xuất hiện vị trí lời dẫn kiểu này
− Lời dẫn ở sau lời được dẫn
vàng và thuốc phiện thôi L o t mo U P in đ nói vậ k i đến cún ma
c o b T i [62; 52]
Về các thành phần chủ yếu xuất hiện trong lời dẫn ở TDGT:
− Chủ ngữ − V: Cũng như ở TDTT, thành phần chủ ngữ trong lời dẫn ở TDGT có thể là ngôi thứ nhất hoặc thứ ba nhưng chủ yếu là ở ngôi thứ ba
Ví dụ: C ún phàn nàn với bố mẹ rằng cô giáo Thảnh ác lắm [62; 556]
− Vị ngữ − V: thường có các yếu tố sau:
+ V là ĐTNN
Ví dụ: Quyên ỏi tôi về Sư Thiều [49; Thương nhớ đồng quê]
+ V là các yếu tố chỉ cách thức nói năng:
Ví dụ: Nó van vác kể tên những đứa chuyên nghề móc túi, trấn lột
và các thủ đoạn, mánh lới lừa lọc của bọn chỉ trỏ, đầu cơ, phe phẩy [27; 392]
+ V là các yếu tố chỉ thái độ, cử chỉ, cảm xúc của nhân vật
Ví dụ: Huấn i đầu sợ i, hứa sẽ thuyết phục vợ một lầm nữa… [62; 434]
− Các thành phần phụ (Thành phần định vị không gian, thời gian, miêu
tả nhân vật, thể hiện điểm nhìn của nhân vật…)
Ví dụ: Rồi một buổi ôn n ư c im én mùa xuân, chạy từ nhà lý
trưởng Đa về tới nhà, rối rít gọi vợ, báo tin mừng [62; 532]
Khi những yếu tố kèm lời và phi lời được đưa vào các tác phẩm văn học (chữ viết) thì chúng sẽ được tái hiện hoàn toàn trong thành phần vị ngữ
Trang 32hoặc các phần phụ của lời dẫn Chính điều này làm cho hội thoại trong các tác phẩm văn học (viết) gần với thực tế hơn Người đọc sẽ như được đứng trong không gian hội thoại, “sống” cùng với nhân vật, hiểu được một phần nào đó nhân vật – không chỉ bằng lời thoại mà còn bằng cả ý nghĩ, cử chỉ, thái độ… của nhân vật
1 3 Lý t u ết đ ểm n ìn
Trong ngôn ngữ kể chuyện, và ngay chính trong lời nói hàng ngày, khi chúng ta thực hiện hành vi nói năng hay suy nghĩ đều xuất phát từ một hay một số điểm nhìn nào đó Điểm nhìn được bộc lộ cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và kể chuyện Để xác định được điểm nhìn cũng như kết cấu điểm nhìn là một vấn đề khá phức tạp Trong tác phẩm văn học – cụ thể là trong tác phẩm tự sự – vấn đề điểm nhìn được xem là vấn đề phức tạp đã được nhiều nhà nghiên cứu đi vào khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau
Điểm nhìn là một khái niệm đặc thù của trần thuật học trong thế kỉ XX
và được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Điểm nhìn cùng với người trần thuật là hai yếu tố cơ bản tạo nên cái gọi là “trần thuật” Điểm nhìn có thể là điểm nhìn của người trực tiếp kể chuyện cũng có thể là điểm nhìn của người
kể chuyện được khúc xạ bởi điểm nhìn của một nhân vật nào đó trong truyện Việc lựa chọn một điểm nhìn bao giờ cũng ghi nhận dấu ấn của người sáng tác và tất nhiên luôn mang tới một hiệu quả nghệ thuật nhất định
Có thể thấy, điểm nhìn có một vị trí quan trọng không thể phủ nhận trong nghiên cứu tác phẩm tự sự, nghiên cứu ngôn ngữ Có nhiều công đã đề cập đến vấn đề điểm nhìn và sử dụng lý thuyết điểm nhìn vào nghiên cứu ở một số lĩnh vực Tuy nhiên phải đến công trình nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Thị Thu Thủy Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau
1975 (Điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện) thì điểm nhìn mới thực sự được
nghiên cứu một cách toàn diện về cả mặt lí thuyết và thực tiễn Đây là công
Trang 33trình đầu tiên hệ thống toàn diện lí thuyết điểm nhìn và ứng dụng thành công
lí thuyết điểm nhìn vào nhìn nhận, đánh giá giá trị của các tác phẩm văn học
cụ thể Thực hiện đề tài Yếu tố kèm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp và Ma Văn Kháng chúng tôi xin phép tham khảo và sử
dụng các quan niệm về điểm nhìn trong luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ kể chuyện
trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện) của
tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy
1.3.1 K ái niệm điểm n ìn
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã đưa ra khái niệm điểm nhìn như sau:
“Điểm nhìn là vị trí, xuất phát điểm mà từ đó hiện thực được quan sát và
được kể lại” [57; 15]
Vị trí, xuất phát điểm như ở định nghĩa trên đã được tác giả trình bày
một cách cụ thể và hệ thống Hiểu theo nghĩa rộng nó bao gồm: Vị trí, xuất
phát điểm về không gian/thời gian; vị trí và khoảng cách về quyền uy và thân hữu; xuất phát điểm về tâm lý; xuất phát điểm về cảm xúc; xuất phát điểm về nhận thức; và xuất phát điểm về văn hóa, đạo đức, ý thức hệ Khi nghiên cứu
về các yếu tố kèm lời dẫn thoại từ lý thuyết điểm nhìn có thể thấy chúng liên quan mật thiết đến hầu hết những vị trí xuất phát điểm trên Trong đó, phần lớn là các xuất phát điểm:
- Xuất phát điểm về tâm lý
Đó là trạng thái tâm lý của người nhìn, người nói khi thực hiện các hành động quan sát hoặc phát ngôn Thường các trạng thái tâm lý được miêu tả ở lời dẫn sẽ là những trạng thái của chính người nói được quan sát
từ góc nhìn của NKC Chẳng hạn như các trạng thái: vui, buồn, tức giận, lo
lắng, sợ hãi…
Ví dụ: Vợ Tư quay vào, bực bội: - Đàn bà gì mà lăng loàn thế Không
sợ ác giả ác báo à? [62; 407]
Trang 34Khi thực hiện HĐNN ở ví dụ trên, người nói (Vợ Tư) đã ở một trạng
thái rất bực bội (trạng thái bực tức, khó chịu vì không vừa ý mà không làm được gì) Điều đó thể hiện ở ngay phần lời dẫn và cả lời được dẫn (Đàn bà gì
mà lăng loàn thế Không sợ ác giả ác báo à?)
- Xuất phát điểm về cảm xúc
Tức là người nói hay chủ thể quan sát có thể thực hiện hành động quan sát hay suy nghĩ với cảm xúc chủ quan của cá nhân hay cảm xúc khách quan không mang cá nhân
Ví dụ: Bà trưởng phòng kéo cái ghế mây, xếch hai ống quần tây mầu
hạt dẻ, ngồi xuống, chống hai tay lên bàn, người nhấp nhổm, vẻ mặt ồn
o đầ vẻ ỉ ả òa ợp với một n ữ điệu tr n n ập nỗi đắc c í n ỏ mọn:
- Cứ tưởng thằng cha nhà nghỉ Thịnh Lương không ra gì… [62, 168]
Trong lời dẫn ở ví dụ trên, ngoài các yếu tố miêu tả hành động của người nói (bà Nhàn), NKC còn quan sát cả vẻ mặt và ngữ điệu khi thực hiện HĐNN của nhân vật Có thể thấy ở các yếu tố đi kèm HĐNN qua cái nhìn của NKC có kèm theo thái độ cảm xúc chủ quan cá nhân, thể hiện thái độ, đánh
giá của NKC về nhân vật trong cuộc thoại (vẻ mặt hồng hào đầy vẻ hỉ hả hòa
hợp với một ngữ điệu tràn ngập nỗi đắc chí nhỏ mọn)
- Xuất phát điểm về không gian
Tức là vị trí gốc về không gian của chủ thể định vị hiện thực Vị trí này thể hiện khoảng cách và hướng nhìn trong không gian Khi nói về ĐN hay vị trí không gian của chủ thể tức là nói đến ĐN hay vị trí quan sát (xa, gần, trước sau, trên dưới, trong ngoài…) Xuất phát điểm về không gian (vị trí nhìn, quan sát) ở các yếu tố kèm lời dẫn thoại như thế nào sẽ được thể hiện ở chính cách miêu tả các yếu tố đó Chẳng hạn như khi miêu tả chi tiết cách nói năng
của nhân vật: giọng trở nên thân mật hơn, hạ giọng thủ thỉ, tiếng lảnh lót, thất
thanh… có thể thấy được NKC ở những vị trí rất gần trong cùng không gian
giao tiếp để quan sát nhân vật
Trang 35- Vị trí và khoảng cách về quyền uy và thân hữu
Khi người nói thực hiện HĐNN thì đồng thời cũng sẽ bộc lộ cái vị trí quyền lực và thân hữu của mình trong quan hệ với người nghe hoặc người được nói đến mặc dù người nói có mục đích bộc lộ vị trí đó hay không Vị trí
và khoảng cách về quyền uy và thân hữu giữa người nói và người nghe được
Do những biểu hiện đó được quan sát rồi kể lại dưới cái nhìn của NKC cho nên đôi khi cũng thể hiện cả vị trí và khoảng cách về quyền uy và thân hữu của NKC với nhân vật Chẳng hạn như, tình thân hữu cao khi NKC có thiện cảm với nhân vật Quyền lực và thân hữu của NKC thường được thể hiện trong cách gọi tên nhân vật
Ví dụ: T ằn x đội trưởn p ản bội giương súng quát – Giàng Tả,
chân mày không nhanh bằng viên đạn bay đâu! [62; 39]
bội” bộc lộ rõ thái độ, khoảng cách quyền lực, thân hữu với nhân vật: NKC có quyền lực cao hơn, ở phía chính nghĩa, yêu nước đồng thời có thái độ khinh
thấp hơn, ở phía phi nghĩa, phản bội tổ quốc
Như vậy, dù ở phương diện nào: không/thời gian, quyền lực và thân hữu, tâm lý, cảm xúc, nhận thức, văn hóa, đạo đức, ý thức hệ… thì điểm nhìn
đều mang đặc trưng là tính vị trí ,điểm xuất phát, tính khoảng cách và hướng
nhìn [57; 18]
1.3.2 Các n ân t của điểm n ìn
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, điểm nhìn bao gồm ít nhất bảy nhân tố: người tiêu điểm hóa, nhân tố được tiêu điểm hóa, người phát ngôn, người nhận, tiêu điểm, tiêu cự, hình thức ngôn ngữ Ở góc độ điểm nhìn, việc miêu tả các yếu tố kèm lời dẫn trong thoại dẫn như thế nào sẽ chịu sự chi phối
Trang 36rất lớn bởi các nhân tố này Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu một số nhân tố của điểm nhìn có ảnh hưởng đến việc miêu tả các yếu tố kèm lời dẫn như sau:
- Người tiêu điểm hóa (chủ thể của điểm nhìn)
Là người thực hiện hành vi nhìn – hành vi quan sát, cảm nhận, đánh giá… là xuất phát điểm để định vị giá trị của thế giới hiện thực trong tác phẩm Cần lưu ý rằng: người tiêu điểm hóa không phải là người phát ngôn trong truyện (trừ trường hợp người tiêu điểm hóa đồng thời cũng là người kể chuyện tường minh) Người tiêu điểm hóa xuất hiện đa dạng trong tác phẩm
Đó có thể là người kể chuyện, có thể là nhân vật; cũng có thể không là ai trong số hai người này
Ví dụ: Truyện ngắn Mùa lạc (Nguyễn Khải), người quan sát, nhìn
nhận, thể hiện điểm nhìn ở đây là người kể chuyện Truyện ngắn này đặc trưng cho tính chất đơn thanh, đơn giọng, trước sau đều thống nhất một quan điểm, tư tưởng đó là ca ngợi cuộc sống mới, môi trường mới đem lại hạnh
phúc cho những con người bất hạnh như nhân vật Đào Trong Bến quê
(Nguyễn Minh Châu) là trường hợp người tiêu điểm hóa là nhân vật Câu chuyện là những dòng suy nghĩ của nhân vật về người vợ và cái bến quê quen thuộc với niềm tiếc nuối của một con người cả đời đã đi rất nhiều nhưng cuối cuộc đời lại lâm bệnh nặng phải nằm một chỗ mà nhận ra rằng nơi bến quê ấy lại là nơi mình chưa từng đặt chân tới và sẽ chẳng bao giờ được tới Lại có những tường hợp người tiêu điểm hóa vừa là người kể chuyện, vừa là nhân vật Những trường hợp này, truyện thường được kể ở ngôi thứ nhất Như
trong Một người Hà Nội (Nguyễn Khải): truyện được kể ở ngôi kể của nhân vật tôi – một anh lính trong cái nhìn về một người phụ nữ Hà Nội trong lối
sống, lối nghĩ, cách ứng xử để từ đó thấy trân trọng và tiếc nuối một ngày kia
vể đẹp ấy sẽ bị mất dần đi bởi lớp bụi thời gian
Trang 37− Nhân tố được tiêu điểm hóa
Nhân tố được tiêu điểm hóa là nhân vật thuộc về thế giới của truyện, là đối tượng được người tiêu điểm hóa quan sát, nhận thức, kể lại Trong tác phẩm tự sự, nhân tố được tiêu điểm hóa có thể là người kể chuyện (nhân vật
xưng tôi, tự kể về cuộc đời của chính anh ta), nhân vật (nhân vật xưng tôi
tham gia vào câu chuyện), hoặc người tiêu điểm hóa (tự quan sát, cảm nhận
Ví dụ: Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp phần lớn là các tác phẩm có ĐN bên ngoài Nhân tố được tiêu điểm hóa thường ít được miêu tả
cảm xúc mà chủ yếu là hành động nói năng Như trong Không có vua, các
nhân tố được tiêu điểm hóa hầu hết chỉ được miêu tả trong lời dẫn một cách ngắn gọn khi thực hiện HĐNN chứ không có yếu tố cảm xúc, đánh giá đi kèm: Lão Kiền, Đoài, Cấn, Khiêm…
Khi nhân tố được tiêu điểm hóa được nhìn từ điểm nhìn bên trong thì
sự thật về những cảm xúc, suy nghĩ hoặc phản ứng của nhân tố được tiêu điểm hóa được thuật lại Đó là các hành vi nội tâm như suy nghĩ, tư duy, cảm nhận,…Thường thì Nhân tố được tiêu điểm hóa trong trường hợp này sẽ là các nhân vật nội tâm, có tâm tình phức tập, thế giới nội tam phong phú
-Người phát ngôn
Người phát ngôn chính là người sử dụng phương tiện ngôn ngữ để thể hiện và bộ lộ điểm nhìn Trong hoạt động nói năng thì người phát ngôn có thể nói với điểm nhìn của mình, có thể nói với điểm nhìn của người khác Tức là
Trang 38người nói có thể là chủ thể của điểm nhìn, cũng có thể không phải là chủ thể của điểm nhìn Trong tác phẩm tự sự, người phát ngôn thường là người kể chuyện (trong trường hợp người kể chuyện trùng với người tiêu điểm hóa) hoặc
là nhân vật Có thể thấy rằng, người phát ngôn có vai trò không thể thiếu được,
vì đó chính là người thể hiện, bộc lộ điểm nhìn Nếu thiếu nhân tố này thì điểm nhìn không thể thấy được, không thể tồn tại trước người nhận điểm nhìn
Người nhận là một nhân tố không thể thiếu trong cấu trúc một điểm nhìn, vì điểm nhìn chính là để gửi đến người nhận Nếu không có người nhận thì điểm nhìn sẽ trở nên vô nghĩa, phải có người nhận thì điểm nhìn mới có giá trị là một điểm nhìn Người phát ngôn muốn thông qua ngôn ngữ để người nhận biết được vị trí, xuất phát điểm về tâm lý, cảm xúc cũng như nhận thức của mình
Hiểu một cách khái quát trong ngôn ngữ học thì tiêu điểm thường được hiểu là trọng tâm thông tin (điểm nhấn) của lời nói Nó có thể là vị trí được nhìn, mục tiêu được quan sát chủ yếu; cũng có thể là trọng tâm thông báo trong lời của người nói Tiêu điểm thường được gắn với ngữ điệu
Trong tác phẩm văn học, ở góc độ nhìn và nói, sẽ có hai loại tiêu điểm
đó là tiêu điểm quan sát và tiêu điểm kể chuyện Tiêu điểm quan sát và tiêu
điểm kể chuyện không phải lúc nào cũng phân biệt được, và phần lớn trường hợp thì chúng trùng làm một
Đây là yếu tố quan trọng chi phối đến việc sử dụng các yếu tố kèm lời dẫn của mỗi tác giả mà chúng tôi đã và sẽ trình bày trong luận văn này
Cụ thể, khi phân loại lời dẫn dựa vào đặc trưng của nhân tố tiêu điểm
có thể chia ra hai loại lời dẫn cơ bản đó là: lời dẫn có tiêu điểm thông tin, và lời dẫn có tiêu điểm tu từ
Trang 39− Tiêu cự
Tiêu cự được hiểu là khoảng cách từ người tiêu điểm hóa đến nhân tố được tiêu điểm hóa Khoảng cách được xác định dựa trên nhiều yếu tố như: thời gian, không gian, văn hóa, quyền uy, thân hữu… Khoảng cách càng gần thì tiêu cự càng ngắn, điểm nhìn càng rõ, người tiêu điểm hóa càng tường minh về nhân tố được tiêu điểm hóa và ngược lại Chính tiêu cự sẽ ảnh hưởng đến tính chất của điểm nhìn Ở trong truyện, đó là khoảng cách từ người tiêu điểm hóa hoặc người kể chuyện đến nhân vật, từ người kể chuyện đến độc giả Xác định được tiêu cự cũng chính là đã xác định được điểm nhìn của người tiêu điểm hóa hay người kể chuyện
Như đã nói ở trên, ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện điểm nhìn Thực chất, điểm nhìn chỉ được thể hiện, bộc lộ ra khi có người phát ngôn; nhưng muốn bộc lộ điểm nhìn thì người phát ngôn nhất định phải sử dụng đến phương tiện đó là ngôn ngữ Đặc biệt, trong loại
hình văn bản viết như truyện thì khi muốn bộc lộ điểm nhìn trong lời nói,
chủ thể của điểm nhìn không thể không sử dụng các yếu tố ngôn ngữ Như vậy, ngôn ngữ chính là một phương tiện để xây dựng các điểm nhìn – một tham tố của hình thức biểu hiện điểm nhìn Cùng một nội dung nhưng điểm nhìn khác nhau sẽ bắt buộc phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ khác nhau Một trong những hình thức ngôn ngữ thể hiện điểm nhìn rõ nhất đó chính là các yếu tố ngôn ngữ bình luận, đánh giá, miêu tả nhân vật, cách gọi tên nhân vật… trong lời dẫn
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chúng tôi sử dụng lý thuyết điểm nhìn để nghiên cứu, lý giải các yếu tố kèm lời dẫn thoại miêu tả HĐNN Từ những đặc điểm của các nhân tố như đã nêu ở trên, khi tìm hiểu
về các yếu tố kèm lời dẫn từ góc độ tiếp cận của điểm nhìn, chúng tôi sẽ tập
Trang 40trung vào các nhân tố tiêu điểm và các hình thức ngôn ngữ Bởi trong lời dẫn
thoại, các yếu tố đi kèm miêu tả HĐNN chính là yếu tố thể hiện điểm nhấn của lời nói – gắn với ngữ điệu, cách thức nói năng Mặt khác, các hình thức ngôn ngữ - đặc biệt là các hình thức bình luận, đánh giá (về hành vi, cử chỉ, thái độ, tâm lý, cảm xúc, ý nghĩ…) như khen, chê, coi thường… cũng giúp xác định được vị trí quan sát, hướng quan sát, mức độ đơn giản hay phức tạp trong điểm nhìn của NKC
1.3.3 Vấn đề điểm n ìn ở lời dẫn t oại
Theo R E Asher, điểm nhìn là một tiêu chí để khu biệt 3 kiểu thoại dẫn: TDTT, TDGT và thoại dẫn nửa trực tiếp
Trong một số công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy
có trình bày rất rõ về điểm nhìn ở thoại dẫn nói chung và lời dẫn thoại nói riêng theo từng loại cụ thể Do phạm vi nghiên cứu của luận văn nên chúng tôi chỉ nhắc đến vấn đề điểm nhìn ở lời dẫn trong TDTT và TDGT
1.3.4.1 Điểm nhìn ở TDTT
Mỗi TDTT luôn bao gồm hai trung tâm chỉ xuất: một là của tình huống lời nói gốc, một là của lời nói hoạt động trong tình huống Với tình huống lời nói
tâm chỉ xuất là NKC Với hai trung tâm chỉ xuất này, một TDTT thông thường
Trong đó, nhân tố tiêu điểm theo cách hiểu ở trên chính là đối tượng được chúng
tôi chú trọng hơn cả để lý giải điểm nhìn ở các yếu tố kèm lời dẫn
Cũng trong các nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy [57; 134] đã trình bày rất cụ thể về nhân tố tiêu điểm với hai kiểu lời dẫn đó
là: lời dẫn có tiêu điểm tu từ và lời dẫn có tiêu điểm thông tin
- Lời dẫn có tiêu điểm tu từ: Là những lời dẫn có các yếu tố miêu tả,
bình luận, đánh giá Sự thể hiện của kiểu tiêu điểm này chính là các lời dẫn có