Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Mấy năm trở lại đây các nhà giáo dục đã nói nhiều đến tình trạng dạy học Ngữ văn của học sinh phổ thông. Đã có nhiều hội thảo, đề xuất nhằm cải thiện tình hình. Nhƣng kết quả vẫn không mấy khả quan. Học sinh chán và không mặn mà với môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng. Việc học Ngữ văn của nhiều em là để đối phó với các bài kiểm tra trên lớp và qua các kì thi. Nói nhƣ Tiến sĩ Chu Văn Sơn: chƣa bao giờ giáo viên đƣợc trang bị nhiều phƣơng tiện, kĩ thuật dạy học nhƣ hiện nay nhƣng học sinh lại chán ghét học văn nhƣ bây giờ... Đặc biệt là với phân môn Tiếng Việt, một phân môn đƣợc coi là vừa “khô” vừa “khó”. Đó là một điều thật đáng buồn. Để biến những giờ Tiếng Việt thành những giờ học hấp dẫn, lôi cuốn, việc áp dụng các biện pháp nhằm tạo hứng thú cho họcsinh là rất quan trọng, góp phần khơi gợi niềm đam mê học tập ở các em. 1.2. Thực tế đi dạy ở phổ thông cho thấy: việc dạy và học Ngữ văn ở Trung học cơ sở (THCS) còn nặng về truyền thụ tri thức, bỏ qua nhiều điều bổ ích, thú vị. Đây lại là cấp học có tính chất nối giữa bậc Tiểu học với Trung học phổ thông (THPT) – nội dung kiến thức phần Tiếng Việt còn nhiều. Bản thân ngôn ngữ vốn rất phong phú, sinh độnggiống nhƣ cuộc sống vậy, giờ học mất đi phần máu thịt chỉ còn lại phần “xƣơng xẩu” sẽ rất nhàm chán, đơn điệu. Tiếng Việt của chúng ta giàu đẹp là thế lại không đƣợc học sinh chú ý, quan tâm. Công việc của những giáo viên đứng lớp là phải tạo ra đƣợc hứng thú học tập tiếng Việt ở các em, giúp cho việc học trở nên thiết thực và ý nghĩa. Để các em thấy đƣợc ngôn ngữ là công cụ kì diệu của loài ngƣời, nhờ nó mà xã hội tồn tại và phát triển. 1.3. Việc đổi mới dạy học Ngữ văn theo định hƣớng phát triển năng lực không chỉ giúp ngƣời học nắm bắt kiến thức một cách hiệu quả mà còn phải tạo ra niềm say mê học tập ở các em. Nếu học sinh hứng thú thì không chỉLuận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở 2 thành công với nhiệm vụ năm học mà còn có cơ hội thành công trong những năm học tiếp theo. Và cả giáo viên và phụ huynh sẽ rất “nhàn” vì đã tạo cho các em niềm say mê mang tính tự giác. Và môn Tiếng Việt không còn là một “áp lực” mà sẽ trở thành công cụ hữu ích phục vụ cho các môn học khác và trong cuộc sống của các em. 1.4. Ở Việt Nam hiện nay chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh THCS. Rải rác một số trang báo có đề cập tới hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh nhƣng chƣa mang tính hệ thống, chƣa có tính định hƣớng. Bởi vậy cần có những công trình nghiên cứu toàn diện về hứng thú học tập Tiếng Việt, giúp giáo viên THCS có thể vận dụng sáng tạo vào hoạt động bài giảng nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học. Vì những lí do mà trên chúng tôi chọn đề tài: “Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở”. 2. Lịch sử vấn đề Hứng thú và hứng thú học tập đã đƣợc các nhà tâm lí học, giáo dục học nhắc tới từ những năm đầu thế kỉ XX. E.K.Strong, một nhà giáo dục học ngƣời Mĩ coi hứng thú là tính tích cực của con ngƣời. Ông cho rằng: khi con ngƣời yêu thích một hoạt động nào đó sẽ có những hoạt động tích cực hƣớng vào hoạt động ấy. Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết khẳng định: hứng thú của con ngƣời không phải là thuộc tính bẩm sinh, tự nhiên mà có. Đó là kết quả của sự nỗ lực cá nhân, của quá trình học tập và giáo dục… Hứng thú học tập chỉ là một biểu hiện nhỏ trong hứng thú nhận thức. Theo B.M.Cheplop, B.G.Anannhiep, A.N.Leeontiep… hứng thú học tập mang những đặc trƣng: sự lựa chọn, tính thống nhất giữa chủ quan - khách quan, sự kết hợp giữa tình cảm - lí trí… Chúng ta không thể phủ nhận rằng trong học tập cũng nhƣ trong công việc, có hứng thú, say mê sẽ có hiệu quả cao.Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở 3 Ở nƣớc ta, những năm gần đây việc nghiên cứu hứng thú và thái độ của ngƣời học đã và đang đƣợc quan tâm. Việc xuất hiện ngày càng nhiều các luận văn, luận án, bài báo… ở các môn học cho thấy sự ý thức ngày càng rõ vai trò của hứng thú trong việc dạy và học. Có thể kể đến một số công trình nhƣ sau: Bồi dưỡng hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Việt (Lê Xuân Thại), Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh để nâng cao chất lượng dạy học ở tiểu học (Lê Phƣơng Nga, Trần Ngọc Lan), Hứng thú và hứng thú học tập ở người học (Nguyễn Thị Thu Cúc), Một số biện pháp nhằm phát triển hứng thú cho học sinh THPT trong giờ dạy học văn (Đỗ Tiến Sĩ)… Đặc biệt là luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lan: “Các biện pháp tạo hứng thú nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” là một công trình nghiên cứu tiêu biểu về đề tài hứng thú, góp phần làm phong phú tính sinh động của việc dạy và học Tiếng Việt… Phần lớn các bài viết đều đề cập tới vấn đề: làm thế nào để học sinh thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của tiếng Việt; sự kì diệu, lí thú của tiếng Việt trong việc biểu đạt tình cảm… Các tác giả chƣa đặt ra nhiệm vụ đi sâu tìm hiểu các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh. Nhìn chung các công trình nghiên cứu còn chƣa chú ý nhiều đến phân môn Tiếng Việt ở bậc THCS. Mặc dù đây lại là cấp học có ý nghĩa quan trọng đánh giá tinh thần tự giác, sự nỗ lực ở chính bản thân các em. Trƣớc thực tế trên, chúng tôi xác định luận văn sẽ tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trƣớc để xây dựng một cách toàn diện, có hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh THCS nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. 3. Mục đích nghiên cứu Luận văn có mục đích: tìm ra các biện pháp tạo hứng thú học tập ở học sinh, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở THCS.Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở 4 4. Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất các biện pháp tạo hứng thú vào dạy học Tiếng Việt ở THCS, phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với tâm lí HS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học Tiếng Việt. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Luận văn có nhiệm vụ xác lập cơ sở khoa học cho việc tạo hứng thú học tập cho học sinh THCS. - Đề xuất các biện pháp tạo hứng thú học tập. - Kiểm chứng tính khả thi thông qua thực nghiệm. 6. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh THCS. - Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ nghiên cứu nội dung dạy học của các giờ học Tiếng Việt ở trên lớp, không tính đến các biện pháp tạo hứng thú ngoài lớp học nhƣ gia đình, xã hội… 7.Các phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp tổng hợp: đƣợc thực hiện thông qua quá trình đọc, tìm tài liệu đặc biệt là những tài liệu về hứng thú học tập, ngữ liệu thú vị…Sau đó tổng hợp lại, đánh giá. - Phƣơng pháp quan sát: thông qua các tiết học, quan sát biểu hiện bên ngoài của học sinh khi có hứng thú trong giờ học tiếng Việt nhƣ hào hứng phát biểu, chờ đợi tới tiết học… - Phƣơng pháp thực nghiệm là phƣơng pháp thủ công trong quá trình thực hiện đề tài: đƣa các biện pháp tạo hứng thú vào một số giờ Tiếng Việt ở các lớp THCS; Tiến hành kiểm tra kết quả học tập của HS trƣớc và sau khi thực nghiệm. Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Trang 1Lời cảm ơn
Trước hết, em xin gửi lời tri ân sâu sắc tới T.S Phan Thị Hồng Xuân,
người thầy đã tận tình giúp đỡ, định hướng cho em trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Trường, trong Khoa Ngữ văn và tổ Phương pháp đã mang đến cho chúng em những giờ học
bổ ích Chính sự động viên, giúp đỡ của thầy cô là động lực để em phấn đấu, tập làm nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu đã luôn vững tay chèo để đưa những thế hệ học viên tới được bến bờ tri thức
Lời cuối, em muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn là chỗ dựa để em cố gắng vươn lên trong học tập, nghiên cứu
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thu Hương
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
7 Các phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP TIẾNG VIỆTCHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Khái niệm về hứng thú và hứng thú học tập 6
1.1.2 Điều kiện tạo hứng thú xét từ chủ thể học tập 9
1.1.3 Điều kiện hứng thú xét từ đối tượng học tập 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Nội dung dạy học Tiếng Việt ở THCS 24
1.2.2 Hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh Trung học cơ sở 27
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2:CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 30
2.1 Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện nội dung dạy học 30
Trang 32.1.1 Giúp học sinh nhận thức được lợi ích của nội dung học tập 31
2.1.2 Sử dụng ngữ liệu thiết thực, hấp dẫn 38
2.1.3 Sử dụng bài tập thiết thực, hấp dẫn 59
2.1.4 Cung cấp thông tin bên lề thiết thực, hấp dẫn 78
2.2 Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện phương pháp dạy học 87
2.2.1 Tổ chức trò chơi học tập 88
2.2.2 Tổ chức hoạt động đóng vai 99
2.2.3 Tổ chức hoạt động học theo nhóm 101
2.2.4 Dạy học theo dự án 102
2.3 Các phương pháp tạo hứng thú trên bình diện phương tiện dạy học 105
2.3.1 Các phương tiện dạy học truyền thống 105
2.3.2 Các phương tiện dạy học hiện đại 108
2.4 Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện môi trường dạy học 109
2.4.1 Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò 110
2.4.2 Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa trò với trò 112
2.5 Các biện pháp tạo hứng thú bằng cách đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 113
Tiểu kết chương 2 117
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 118
3.1 Mục đích thực nghiệm 118
3.2 Nội dung thực nghiệm 118
3.3 Kết quả thực nghiệm 132
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
Trang 4CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HS : Học sinh
CT : Chương trình
GV : Giáo viên THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông DHDA : Dạy học dự án
PTDH : Phương tiện dạy học
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mấy năm trở lại đây các nhà giáo dục đã nói nhiều đến tình trạng dạy học Ngữ văn của học sinh phổ thông Đã có nhiều hội thảo, đề xuất nhằm cải thiện tình hình Nhưng kết quả vẫn không mấy khả quan Học sinh chán
và không mặn mà với môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng Việc học Ngữ văn của nhiều em là để đối phó với các bài kiểm tra trên lớp và qua các kì thi Nói như Tiến sĩ Chu Văn Sơn: chưa bao giờ giáo viên được trang bị nhiều phương tiện, kĩ thuật dạy học như hiện nay nhưng học sinh lại chán ghét học văn như bây giờ Đặc biệt là với phân môn Tiếng Việt, một phân môn được coi là vừa “khô” vừa “khó” Đó là một điều thật đáng
buồn Để biến những giờ Tiếng Việt thành những giờ học hấp dẫn, lôi cuốn, việc áp dụng các biện pháp nhằm tạo hứng thú cho họcsinh là rất quan
trọng, góp phần khơi gợi niềm đam mê học tập ở các em
1.2 Thực tế đi dạy ở phổ thông cho thấy: việc dạy và học Ngữ văn ở Trung học cơ sở (THCS) còn nặng về truyền thụ tri thức, bỏ qua nhiều điều
bổ ích, thú vị Đây lại là cấp học có tính chất nối giữa bậc Tiểu học với Trung học phổ thông (THPT) – nội dung kiến thức phần Tiếng Việt còn nhiều Bản thân ngôn ngữ vốn rất phong phú, sinh độnggiống như cuộc sống vậy, giờ học mất đi phần máu thịt chỉ còn lại phần “xương xẩu” sẽ rất nhàm chán, đơn điệu Tiếng Việt của chúng ta giàu đẹp là thế lại không được học sinh chú ý, quan tâm Công việc của những giáo viên đứng lớp là phải tạo ra được hứng thú học tập tiếng Việt ở các em, giúp cho việc học trở nên thiết thực và ý nghĩa Để các em thấy được ngôn ngữ là công cụ kì diệu của loài người, nhờ
nó mà xã hội tồn tại và phát triển
1.3 Việc đổi mới dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực không chỉ giúp người học nắm bắt kiến thức một cách hiệu quả mà còn phải tạo ra niềm say mê học tập ở các em Nếu học sinh hứng thú thì không chỉ
Trang 6thành công với nhiệm vụ năm học mà còn có cơ hội thành công trong những năm học tiếp theo Và cả giáo viên và phụ huynh sẽ rất “nhàn” vì đã tạo cho các em niềm say mê mang tính tự giác Và môn Tiếng Việt không còn là một
“áp lực” mà sẽ trở thành công cụ hữu ích phục vụ cho các môn học khác và trong cuộc sống của các em
1.4 Ở Việt Nam hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh THCS Rải rác một số trang báo có đề cập tới hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh nhưng chưa mang tính hệ thống, chưa có tính định hướng Bởi vậy cần có những công trình nghiên cứu toàn diện về hứng thú học tập Tiếng Việt, giúp giáo viên THCS có thể vận dụng sáng tạo vào hoạt động bài giảng nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Vì những lí do mà trên chúng tôi chọn đề tài: “Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học
cơ sở”
2 Lịch sử vấn đề
Hứng thú và hứng thú học tập đã được các nhà tâm lí học, giáo dục học nhắc tới từ những năm đầu thế kỉ XX E.K.Strong, một nhà giáo dục học người Mĩ coi hứng thú là tính tích cực của con người Ông cho rằng: khi con người yêu thích một hoạt động nào đó sẽ có những hoạt động tích cực hướng vào hoạt động ấy
Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết khẳng định: hứng thú của con người không phải là thuộc tính bẩm sinh, tự nhiên mà có Đó là kết quả của sự
nỗ lực cá nhân, của quá trình học tập và giáo dục… Hứng thú học tập chỉ là một biểu hiện nhỏ trong hứng thú nhận thức Theo B.M.Cheplop, B.G.Anannhiep, A.N.Leeontiep… hứng thú học tập mang những đặc trưng:
sự lựa chọn, tính thống nhất giữa chủ quan - khách quan, sự kết hợp giữa tình cảm - lí trí… Chúng ta không thể phủ nhận rằng trong học tập cũng như trong công việc, có hứng thú, say mê sẽ có hiệu quả cao
Trang 7Ở nước ta, những năm gần đây việc nghiên cứu hứng thú và thái độ của người học đã và đang được quan tâm Việc xuất hiện ngày càng nhiều các luận văn, luận án, bài báo… ở các môn học cho thấy sự ý thức ngày càng rõ vai trò của hứng thú trong việc dạy và học Có thể kể đến một số công trình
như sau: Bồi dưỡng hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Việt (Lê Xuân Thại), Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh để nâng cao chất
lượng dạy học ở tiểu học (Lê Phương Nga, Trần Ngọc Lan), Hứng thú và hứng thú học tập ở người học (Nguyễn Thị Thu Cúc), Một số biện pháp nhằm phát triển hứng thú cho học sinh THPT trong giờ dạy học văn (Đỗ Tiến Sĩ)…
Đặc biệt là luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lan: “Các biện pháp tạo hứng
thú nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” là một công trình
nghiên cứu tiêu biểu về đề tài hứng thú, góp phần làm phong phú tính sinh động của việc dạy và học Tiếng Việt… Phần lớn các bài viết đều đề cập tới vấn đề: làm thế nào để học sinh thấy được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt; sự
kì diệu, lí thú của tiếng Việt trong việc biểu đạt tình cảm… Các tác giả chưa đặt ra nhiệm vụ đi sâu tìm hiểu các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh
Nhìn chung các công trình nghiên cứu còn chưa chú ý nhiều đến phân môn Tiếng Việt ở bậc THCS Mặc dù đây lại là cấp học có ý nghĩa quan trọng đánh giá tinh thần tự giác, sự nỗ lực ở chính bản thân các em Trước thực tế trên, chúng tôi xác định luận văn sẽ tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước để xây dựng một cách toàn diện, có hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh THCS nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích: tìm ra các biện pháp tạo hứng thú học tập ở học sinh, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở THCS
Trang 84 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất các biện pháp tạo hứng thú vào dạy học Tiếng Việt ở THCS, phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với tâm lí HS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học Tiếng Việt
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn có nhiệm vụ xác lập cơ sở khoa học cho việc tạo hứng thú học tập cho học sinh THCS
- Đề xuất các biện pháp tạo hứng thú học tập
- Kiểm chứng tính khả thi thông qua thực nghiệm
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh THCS
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ nghiên cứu nội dung dạy học của các giờ học Tiếng Việt ở trên lớp, không tính đến các biện pháp tạo hứng thú ngoài lớp học như gia đình, xã hội…
7.Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp: được thực hiện thông qua quá trình đọc, tìm tài liệu đặc biệt là những tài liệu về hứng thú học tập, ngữ liệu thú vị…Sau đó tổng hợp lại, đánh giá
- Phương pháp quan sát: thông qua các tiết học, quan sát biểu hiện bên ngoài của học sinh khi có hứng thú trong giờ học tiếng Việt như hào hứng phát biểu, chờ đợi tới tiết học…
- Phương pháp thực nghiệm là phương pháp thủ công trong quá trình thực hiện đề tài: đưa các biện pháp tạo hứng thú vào một số giờ Tiếng Việt ở các lớp THCS; Tiến hành kiểm tra kết quả học tập của HS trước và sau khi thực nghiệm
Trang 98 Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan tới đề tài
- Về thực tiễn: xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh THCS, trong đó tập trung nghiên cứu nhóm biện pháp tạo hứng thú trên bình diện nội dung dạy học Nhờ những biện pháp này, học sinh hứng thú hơn trong việc học góp phần nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học Tiếng Việt
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia làm 3 phần:
- Phần mở đầu: nêu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên
cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và dự kiên đóng góp của luận văn
- Phần nội dung:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo hứng thú học tập
Tiếng Việt cho học sinh ở Trung học cơ sở
Chương 2: Các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh
Trung học cơ sở
Chương 3: Thực nghiệm
- Phần kết luận
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TẠO HỨNG THÚ
HỌC TẬP TIẾNG VIỆTCHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về hứng thú và hứng thú học tập
1.1.1.1.Hứng thú, hứng thú học tập là gì?
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí phức tạp của con người có thể đem lại những khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động Khi có hứng thú về một cái gì đó bao giờ ta cũng ý thức được vai trò, vị trí của đối tượng với cuộc sống của chúng ta Trong học tập và làm việc nếu có hứng thú ta sẽ cố gắng đạt được
những điều ta muốn và khả năng thành công rất cao M.Gorki từng nói: “Thiên
tài nảy nở tình yêu đối với công việc” Đối tượng được con người lựa chọn một
cách chủ quan từ hiện thực đời sống Vì thế hứng thú phải là sự thống nhất giữa cái chủ quan và khách quan, là sự kết hợp giữa trí tuệ và tình cảm Vậy hứng thú là gì? Đó có phải là sự thích thú của cá nhân khi làm một việc gì đó?
Nhóm tác giả Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy thì cho rằng: khi ta có hứng thú với một cái gì đó thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó Do đó hứng thú hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta
về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận, đi sâu vào nó
Với tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá
nhân với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong qua trình hoạt động.”
Hiện nay trong tâm lí học người ta đều thống nhất với định nghĩa về
“hứng thú” của A.G.Côvaliốp: “Hứng thú là thái độ tích cực của chủ thể
hướng đến đối tượng với cảm xúc đặc biệt thể hiện mong muốn tìm hiểu, khám phá và hành động một cách có kết quả tốt nhất.”
Trang 11Dựa trên cơ sở đó ta thấy hứng thú được hình thành từ yếu tố bên ngoài,
từ sự hấp dẫn của đối tượng làm nảy sinh cảm xúc tích cực của chủ thể Từ đó
mà chủ thể đi sâu nhận thức đối tượng, hiểu rõ ý nghĩa của đối tượng mà hình thành hứng thú Cũng theo Côvaliốp: “Hứng thú có thể được hình thành một cách tự phát vì không có ý thức, do sự hấp dẫn về tình cảm sau đó dẫn đến sự nhận thức ý nghĩa của đối tượng Quá trình hình thành hứng thú có thể đi ngược lại: từ chỗ ý thức về ý nghĩa đối tượng đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn.”
Hứng thú đa dạng như thế giới hiện thực khách quan nhưng chỉ có cái cần thiết, cái ý nghĩa mới lôi cuốn, hấp dẫn đối tượng Điều đó dẫn tới con đường hình thành và phát triển hứng thú cũng khác nhau
Hứng thú học tập là một loại hứng thú đặc trưng làm nên tính tích cực
nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo Các nhà tâm lí học Liên Xô khẳng định: sự hình thành hứng thú không phải là một quá trình tự nhiên khép kín mà được quy định bởi môi trường, phạm vi cũng như hoạt động của bản thân Hứng thú học tập gắn với môn học trong nhà trường Đối tượng là nội dung các môn học và hoạt động để chiếm lĩnh nó
1.1.1.2 Quan hệ giữa hứng thú học tập với nhu cầu học tập và động cơ học tập
- Hứng thú học tập với nhu cầu học tập
Nhu cầu của cá nhân xuất phát từ sự mong muốn, sự cần thiết trước một đối tượng nào đó Nhu cầu làm nảy sinh hứng thú, giúp cá nhân nhận thức được lợi ích hoạt động Trong thực tế nhu cầu và hứng thú có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất Nhu cầu được coi là cơ sở để tạo ra hứng thú
- Hứng thú học tập với động cơ học tập
Nói tới động cơ học tập là xét tới động cơ bên trong và động cơ bên ngoài Động cơ bên trong là mong muốn hoàn thiện tri thức, mở rộng khả năng hiểu biết của bản thân, từ những điều đã biết đến những điều chưa biết thông qua hoạt động học tập mà lĩnh hội Động cơ bên ngoài là sự tác động
Trang 12của các yếu tố như những lời khích lệ, động viên, khen thưởng… của bố mẹ, thầy cô, bạn bè
Hứng thú học tập được xem như động cơ có ý nghĩa giúp học sinh biến quá trình học tập (quá trình được coi là “dài hơi”, “vất vả”) thành niềm vui, sự hứng khởi
1.1.1.3 Các giai đoạn hình thành, phát triển của hứng thú học tập
Để tạo được hứng thú cần đến cả lí trí và tình cảm Lí trí làm nên sự quyết định nhưng để có thành công phải cần đến hứng thú, niềm đam mê Chính vì vậy nó chi phối các giai đoạn tạo nên hứng thú Theo nhà nghiên cứu N.G.Marôzôva: Hứng thú học tập chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1:
Thái độ tích cực được duy trì, củng cố, khả năng tìm tòi độc lập của các
em thường xuyên được khơi dậy khi đó thái độ hứng thú trở thành xu hướng cá nhân
Giai đoạn 2:
Những rung động định kì được lặp đi, lặp lại nhiều lần và khái quát bền vững trở thành thái độ nhận thức cảm xúc tích cực với đối tượng tức là hứng thú được duy trì
Giai đoạn 3:
Thái độ nhận thức có cảm xúc với đối tượng được xuất hiện dưới dạng những rung động Từ đó hứng thú được hình thành
Sơ đồ các giai đoạn hình thành hứng thú
Dựa trên cơ sở đó hứng thú có thể chia thành hai giai đoạn chính:
- Giai đoạn tự phát: là giai đoạn xuất phát từ tình cảm đến nhận thức rồi mới đến hứng thú
Trang 13Giai đoạn này mang tính cảm tính Ban đầu là sự tò mò, muốn biết, là
sự hấp dẫn bên ngoài của bài học Ví như các em đã được nghe thầy cô, bố
mẹ, anh chị hoặc bạn bè… nói qua, nhắc đến trong cuộc trò chuyện, giờ muốn biết cụ thể, chính xác… Niềm hứng thú của các em ở giai đoạn này còn mang tính nhất thời, chưa ổn định, sẽ dễ bị mất đi nếu các em không còn thấy thú vị nữa Mà cảm xúc ở học sinh THCS lại là “sáng nắng chiều mưa” Đến đây việc tìm hiểu nội dung học tập với các em cũng chưa thật sự cần thiết
- Giai đoạn tự giác: là sự tự ý thức về vai trò của đối tượng đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn
Chủ thể nhận thấy sự cần thiết của môn học Và khi tiếp xúc các em có niềm yêu thích đặc biệt như: mong chờ đến giờ học, chăm chú nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, tiếc nuối khi giờ học trôi qua… Đây là giai đoạn có tính chất bền vững dẫn tới thành tích học tập cao Tạo cho các em một tâm thế chủ động, sẵn sàng đón nhận giờ học cũng như kết quả học tập
Từ đó học sinh có tính tự giác, tập trung vào giờ học, dành thời gian cho môn học mình yêu thích Thậm chí bắt đầu có sự định hướng tới nghề nghiệp trong tương lai liên quan tới môn học mình thích
Như vậy hứng thú học tập không phải tự nhiên mà có Nó hình thành, phát triển trong quá trình học tập thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động học tập Côvaliốp khẳng định: “mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, mức
độ tương ứng giữa yêu cầu của đối tượng với yêu cầu của chủ thể có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành hứng thú Song cần nhớ còn có những người khác làm trung gian cho mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể…”
Người trung gian được nhắc đến ở đây là giáo viên trên lớp Người trực
tiếp tác động vào ý thức, tâm lí, tình cảm… của học sinh Giáo viên có vai trò khơi gợi, hình thành, định hướng, duy trì hứng thú học tập của học sinh
1.1.2 Điều kiện tạo hứng thú xét từ chủ thể học tập
Để nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh THCS cần có những hiểu biết về tâm sinh lí, đặc điểm về tính cách, sở thích, tình cảm, nhu cầu, năng
Trang 14lực… Có như vậy mới đưa ra các biện pháp phù hợp, hiệu quả Mà chương trình giáo dục hiện nay lại là lấy người học làm trung tâm, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo Điều đó cho thấy vai trò và tầm quan trọng của chủ thể học tập Hứng thú lại là sự tổng hợp của các thuộc tính tâm lí, cảm xúc, lí trí… Vì thế ta cần xét đến những thuộc tính trên của học sinh THCS
1.1.2.1 Đặc điểm của quá trình nhận thức
Về khả năng tri giác: với học sinh THCS các em thường tri giác với
những gì mình yêu thích, phù hợp với nhu cầu, sở thích cá nhân Bài học lí thú, bổ ích, hấp dẫn sẽ làm các em say mê Thậm chí chỉ thích học môn học
đó mà không thích những môn học khác
Về khả năng chú ý: học sinh ở THCS đã biết điều khiển sự tập trung
của lí trí Nếu có đam mê các em có thể ngồi hàng giờ để làm cho bằng được
sở thích mình theo đuổi Nếu chưa hoàn thiện có thể bỏ cả ăn cơm, thức khuya hoặc hẹn đồng hồ dậy sớm Người giáo viên biết cách khơi gợi sẽ đánh thức ở các em lòng ham hiểu biết, ý chí vươn lên trong học tập và cuộc sống để theo đuổi những điều mình yêu thích Các em ở lứa tuổi này đã có lập trường, quan điểm riêng, sự kiên trì phấn đấu được thể hiện khá rõ thông qua kết quả học tập Thái độ ấy được duy trì trong một quá trình dài nếu giáo viên biết tạo hứng thú cho các em, bằng không sẽ làm các em quay lưng lại với môn học hoặc tỏ ra bất cần, buông xuôi
Về khả năng tư duy: học sinh THCS đã biết tư duy một cách khái quát,
có khả năng tổng hợp, ghi nhớ những kiến thức phức tạp cũng như biết liên
hệ, so sánh, đối chiếu giữa đối tượng này với đối tượng khác Ở giai đoạn này người giáo viên có thể áp dụng nhiều kĩ thuật dạy học, cho các em làm việc độc lập hoặc theo nhóm Dạy Tiếng Việt biết lồng ghép với những câu chuyện, những giai thoại sẽ kích thích ở các em trí tưởng tượng, niềm yêu thích với những môn học khác như tìm hiểu về lịch sử, địa lí, thiên văn… Những trò chơi học tập không chỉ đem lại cho các em tiếng cười sảng khoái
Trang 15để chuẩn bị tâm thế cho giờ học tiếp theo, mà còn là cách để các em ghi nhớ kiến thức một cách bền vững Ở học sinh THCS luôn có sự ganh đua trong học tập đặc biệt là với môn học mà các em yêu thích
1.1.2.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh Trung học cơ sở
Về tính cách: Học sinh THCS có độ tuổi từ 11- 15, đang theo học các
lớp từ lớp 6 đến lớp 9 Lứa tuổi này còn gọi là tuổi thiếu niên, hay được gọi bằng những tên khác nhau như: “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”, “thời kì quá độ”, “tuổi khó bảo”… Đây là thời kì chuyển từ thơ ấu sang trưởng thành
Các em ở lứa tuổi này có tính tích cực xã hội mạnh mẽ, nhằm lĩnh hội những giá trị chuẩn mực nhất định, xây dựng những quan hệ thỏa đáng với người lớn, bạn bè, người thân
Về tâm lí, tình cảm: diễn ra phức tạp, không đồng đều về mọi mặt, vừa
trẻ con, vừa người lớn
Tình cảm ở lứa tuổi này còn mang tính bồng bột, dễ bị kích động, dễ thay đổi đôi khi là mâu thuẫn Tình cảm vui, buồn chuyển hóa một cách dễ dàng: lúc thì vui quá trớn, khi lại buồn ủ rũ; lúc thì hăng say khi lại chán nản
Có lúc đang vui đó rồi lại sinh ra buồn ngay Khi tham gia vào hoạt động vui chơi, học tập… các em thể hiện tình cảm một cách rõ rệt, mạnh mẽ Đặc biệt
ở lứa tuổi này các em bị chi phối mạnh mẽ bởi tình cảm, thường chơi và học tập theo nhóm Tình bạn có vai trò quan trọng cuộc sống của các em, bắt đầu hình thành quan niệm “sống chết vì bạn” Ở góc độ nào đó, bạn bè có ý nghĩa quyết định tới sở thích, mong muốn, ước mơ… nên lôi kéo được một vài em tham gia rất có thể thu hút được cả tập thể Ví như vì bạn thích và học giỏi tiếng Anh nên không muốn thua kém bạn mà “ngấm ngầm” hoặc “công khai” thi đua để đạt được thành tích bằng hoặc cao hơn bạn
Về nhu cầu học tập: Ở lứa tuổi này nhu cầu học tập được hình thành,
phát triển mạnh mẽ Các em được học nhiều môn học, nhiều thầy cô giảng dạy khác nhau Việc học tập ở giai đoạn này mang đến cho các em những
Trang 16hiểu biết không chỉ là kiến thức sách vở mà còn là sự am hiểu về các lĩnh vực của cuộc sống
Về hứng thú học tập: Mỗi thầy dạy lại có cách trình bày, sử dụng các hình thức dạy học khác nhau hay phương pháp độc đáo riêng của mình Điều
đó ảnh hưởng tới sự lĩnh hội, phát triển trí tuệ, nhân cách của các em Thái độ say sưa, hứng thú học tập chịu ảnh hưởng rất lớn từ bài giảng và nhân cách người thầy
Hoạt động học tập ở lứa tuổi này được xây dựng một cách cơ bản so với học sinh tiểu học Ở thời kì đầu của lứa tuổi học sinh THCS, các em chưa
có kĩ năng cơ bản để tổ chức tự học Với các em hoạt động học tập dần dần được xem như hoạt động hướng vào sự thỏa mãn những nhu cầu nhận thức
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy động cơ học tập của học sinh THCS có một cấu trúc phức tạp Nhiều khi các em tỏ ra bàng quan, “phớt đời” với điểm số, với học tập Có tình trạng trên là do các nguyên nhân sau:
do xung đột với giáo viên, thất bại trong học tập, môn học chưa đem lại lại sự thú vị, hấp dẫn…
Để tạo ra hứng thú học tập cho các em cần:
- Tài liệu học tập phải gắn với cuộc sống của các em
- Nội dung học tập phải súc tích, khoa học
- Biết cách gây cho các em hứng thú và có nhu cầu tìm hiểu nó
Biện pháp tốt nhất để tổ chức sự chú ý của học sinh THCS là tổ chức các hoạt động sao cho các em ít có thời gian nhàn rỗi hoặc bị hút vào đối tượng nào đó trong thời gian lâu dài Những công việc hứng thú, giờ học hứng thú có tác dụng tạo ra sự say mê, tập trung chú ý của các em Nhưng cần lưu ý không phải bao giờ các em cũng thích cái vui, cái dễ hiểu mà chính những giờ học có nội dung, có sự chuyển tiếp từ hình thức làm việc này đến hình thức làm việc khác đòi hỏi các em phải nhận thức tích cực lại là điều lôi cuốn các em
Trang 17Học sinh THCS có nhu cầu lớn trong giao tiếp, khao khát được giao tiếp, được bạn bè công nhận, thừa nhận và tôn trọng mình Các em vốn hiếu động, thích vui nhộn, luôn luôn muốn tìm hiểu, khám phá Trong một số hoạt động nhận thức đòi hỏi sự thoải mái, nhẹ nhàng, sinh động có thể xen lẫn hoạt động vui chơi Các em thích nghe các câu đố, những câu chuyện vui, các giai thoại…
1.1.3 Điều kiện hứng thú xét từ đối tượng học tập
1.1.3.1 Vai trò của ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng trong cuộc sống
Ngôn ngữ cùng với lao động là hai yếu tố giúp con người dần thoát khỏi cuộc sống bầy đàn của xã hội nguyên thủy, phân biệt con người với loài vật Ngôn ngữ còn là tiêu chí để đánh giá nền văn minh, sự phát triển của mỗi nước trong giai đoạn hiện nay Nó vừa là công cụ giao tiếp đồng thời là công
cụ để tư duy Ngôn ngữ có ưu thế vượt trội so với các phương tiện giao tiếp khác như đơn giản, tiện lợi, dễ hiểu, dễ sử dụng… Đặc biệt là có thể diễn đạt mọi cung bậc cảm xúc, mọi sắc thái tình cảm mà những công cụ giao tiếp khác không có Các nhà ngôn ngữ học đã ví ngôn ngữ như một thứ kết dính hết sức đặc biệt, hết sức quan trọng vì ở đâu nó cũng có mặt: trong kinh tế, văn hóa, xã hội, cả ở lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần Ngôn ngữ giống như nước ta uống, không khí để thở hàng ngày Một quốc gia có ngôn ngữ riêng chứng tỏ nền độc lập, văn minh của nước đó Vì thế ngôn ngữ nói chung
và tiếng Việt nói riêng là hết sức cần thiết Học sinh nước ta cần học tiếng Việt để tư duy, để giao tiếp, để mở rộng tầm hiểu biết, để sáng tạo, cống hiến… Và ngôn ngữ là vốn khởi đầu để tiếp xúc với những văn bản khác nhau, giúp chúng ta đi vào thế giới của văn học
Cũng thật dễ hiểu khi nhà văn Nga Raxun Gamzatốp đã mất rất nhiều thời gian đi tìm tiếng chửi hay nhất để đưa vào tác phẩm của mình Theo lời người ta mách bảo, ông tìm đến một bà già có tiếng là chua ngoa để xin một vài câu chửi Bà già ấy đã tuôn ra cho ông một tràng quát tháo và đuổi ông đi
vì ông dám bảo bà ta là chua ngoa, đanh đá Nghe một thôi một hồi, Gamzatốp đã từ biệt và cảm ơn bà già tốt bụng
Trang 18Nói một cách gần gũi, giản đơn hơn khi việc sử dụng tiếng Việt có tác động trực tiếp tới cuộc sống của chúng ta Học sinh làm bài mà không đủ chữ
để viết cho thành ý, nhà lí luận muốn bày tỏ quan điểm của mình mà không có ngôn ngữ thích hợp để diễn đạt thì sao làm được? Do đó dù làm bất cứ nghề
gì, việc gì cũng cần một vốn ngôn ngữ nhất định Ngôn ngữ là một chuỗi âm thanh nhưng nhiều khi là những hàng chữ, những trang sách không cần phát
ra âm mà có thể làm cho những người không chung tiếng nói có thể hiểu nhau bằng chữ, bằng lời Muốn có được vốn ngôn ngữ đó ta phải khổ công tích lũy, trau dồi học tập
Chính vì lẽ đó mà tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng và xuất hiện ở mọi cấp học, bậc học
1.1.3.2 Sự thú vị của tiếng Việt
Chúng ta có quyền tự hào khẳng định tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp và hấp dẫn Với hệ thống nguyên âm và phụ âm, tiếng Việt làm nên nét sinh động mà không phải bất cứ ngôn ngữ nào cũng có Cùng với đó là sự xuất
hiện của hệ thống các thanh điệu tạo cho ngôn ngữ mang âm điệu lên bổng
xuống trầm Và sự xuất hiện của những vần thơ khi thì mênh mông, dàn trải
lúc lại khúc khuỷu, gập ghềnh: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút
cồn mây súng ngửi trời – Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống – Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Ông bà ta đã vận dụng sự đa dạng về thanh điệu để diễn tả cảm xúc, mong muốn trong tình yêu đôi lứa:
Có yêu thì yêu cho chắc Cầm bằng trúc trắc trục trặc thì trục trặc cho luôn
Và những vần thơ sau cũng làm không ít người phải ngạc nhiên, thán phục:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn
Trang 19Tiếng Việt là ngôn ngữ hàm súc, có giá trị biểu cảm cao Cách nói ẩn ý với lối ví von, so sánh được dùng phổ biến Những câu chuyện vui, giai thoại
về chữ nghĩa tạo nên nụ cười hóm hỉnh, nhưng lại truyền tải những triết lí nhân sinh, bài học đạo lí về cuộc sống, con người
Qua cách sử dụng ngôn ngữ chúng ta có thể đoán biết được phần nào tính cách, đạo đức, công việc, nhân cách của một con người Chuyện kể rằng:
“Xưa có một cô gái đẹp Đức tính hiền hậu và cái duyên sắc nước hương trời của cô làm bao người để tâm, mơ ước Oanh yến xôn xao thì nhiều nhưng đặc biệt ở chốn kinh kì có bốn người nặng tình nhất Đó là một nho sĩ chữ nghĩa dồi dào; một phú ông tiền ròng bạc chảy; một nhà sư “tu luyện công phu”; cuối cùng là một anh đồ tể làm nghề mổ lợn Họ thường đến nhà giai nhân trò chuyện Người ta không biết trong số bốn người ấy cô gái để ý ai hơn Song trong bốn người ấy ai cũng nhận là kẻ chung tình nhất
Nhưng điều không may xảy ra, cô gái lâm bệnh rồi qua đời Cả bốn người tình nhân đều khóc bạn lòng đã thành người thiên cổ
Chàng nho sĩ phát biểu trước tiên Anh thương tiếc người đẹp đã rời bỏ cõi trần mà lên cõi tiên và ngậm ngùi đọc:
“Một mảnh hương hồn tếch ngọc lâu!”
Vị phú ông đứng cạnh lắc đầu:
- Ông nói thế thì xa xôi quá Sao không nghĩ đến điều thiết thực hơn Nàng đã đi xa, thế là hết Phải nói như tôi thế này:
“Kho vàng đụn bạc biết tìm đâu!”
Nhà sư nghe hai câu cũng tỏ ra không vừa ý:
- Như thế sao gọi là chí tình Người đã mất, các ông chỉ biết nghĩ đến của cải, đến tài năng chứ có nghĩ gì đến nàng đâu Theo tôi, giờ đây ta phải cầu cho nàng được siêu sinh tịnh độ mới là đúng Tôi xin phép đọc:
“A di đà Phật về Tây Trúc!”
Trang 20Đến lượt bác đồ tể giẫm chân, trách ba người trên:
- Các ông nói toàn những chuyện đâu đâu cả Tôi chẳng thấy các ông tỏ được nỗi niềm đau xót của bản thân các ông trước sự thiệt thòi này Thôi! Để tôi làm câu kết cho các ông xem:
“Rạch phổi moi gan, ruột tớ nhầu!”
Như vậy, văn tức là người Nhà thơ, nhà giàu, nhà sư và nhà bán thịt quen với công việc, sở trường của mình nên dùng ngôn ngữ, chất liệu mà họ quen dùng Vì thế chúng ta cần phải chau truốt về mặt ngôn từ
Xã hội xưa rất coi trọng chữ nghĩa, văn chương đặc biệt ở tài ăn nói ứng biến Chuyện kể rằng thầy giáo Đàm Thận Huy một hôm trời mưa to, buổi học
đã kết thúc mà học sinh vẫn chưa về được Thầy bèn đọc một vế câu đối:
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
(Nghĩa là: Mưa không có then, có khóa mà gì mà có thể giữ khách lại không cho về)
Thầy bảo học sinh đối lại Ba người đọc vế đối của mình Và chúng ta
Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân
(Nghĩa là: Trăng có cung mà không bắn ai)
Trang 21sắc đẹp mà say mê, chìm đắm trong biển ái tình Anh thứ hai nghĩ đến mặt trăng ánh sáng dịu hiền, tưởng tượng vành trăng như một cái cung treo trên cao và cái cung ấy không hề dùng để bắn Anh này tính tình sẽ đôn hậu, không muốn gây chiến tranh Còn anh thứ ba sao lại nghĩ đến bãi phân người? Đúng thì đúng thật, ai đi gặp bãi phân mà không tránh Nhưng anh ta sao không nghĩ đến cái gì khác mà nghĩ ngay tới bãi phân?
Từ sự suy nghĩ ấy, thầy giáo đoán trước tư cách và tương lai của trò
Và nghe đâu sự dự đoán của thầy sau này không sai sự thật
Ông bà ta thường nói: “Người thanh tiếng nói cũng thanh” quả không sai
Điều này cũng lí giải vì sao các nhà văn, nhà thơ luôn nhọc công tìm kiếm những từ ngữ “đắt” được coi là “nhãn tự” để biểu đạt ý mình
Nhà văn Tô Hoài kể: có lần ông muốn tả sự mệt nhọc của con người làm việc dưới trời nóng bức, mồ hôi tuôn ra Có nhiều từ ngữ nói về chuyện
đổ mồ hôi này: nào là mồ hôi nhễ nhại, mồ hôi như tắm, mồ hôi ướt đầm… Nhưng có một buổi nhà văn chứng kiến một đoàn xã viên nông nghiệp kéo nhau về nghỉ trong trụ sở hợp tác xã, người nào người nấy đều kêu mệt với
cái nắng chang chang Một bà nông dân thốt ra một câu: Nóng gì mà nóng
khiếp thế, mồ hôi mẹ mồ hôi con đâu tuôn ra lắm thế này! Nhà văn sung
sướng như bắt được vàng
Vì thế nhà thơ Nguyễn Bính đã rất cám ơn nhà xuất bản (chẳng biết vô tình hay hữu ý) đã thay đổi một chữ trong câu thơ của ông:
Chẳng là vào năm 1956, ông viết bài “Trưa hè” ca ngợi sự hi sinh của
người mẹ miền Nam đã dũng cảm lấy thân mình bảo vệ đứa con thơ Trong
đó có đoạn:
“Lao trong lửa đạn bời bời
Vợ tôi ôm chặt con tôi vào lòng Thương con lại nhớ lời chồng
Lấy thân làm bức thành đồng cho con.”
Trang 22Khi in ra, nhà xuất bản đã thay chữ “con” ở câu thơ cuối thành chữ “che”:
“Lấy thân làm bức thành đồng che con”
Chỉ thay đổi một chữ mà thay đổi được cả ý tứ, tinh thần và chất thơ
“Cho con”, chỉ là cách nói chung chung “Che con” là cả một hình ảnh, một hành động Và nhất là dùng chữ “cho con”, cách nói có vẻ nôm na thật thà
“Che con” ý thơ nổi lên rõ rệt
Còn Xuân Diệu lại là nhà thơ thiên về cảm giác Ông luôn muốn đánh
thức mọi giác quan ở người đọc bằng những hình dung từ: đã đầy, no nê,
chếnh choáng qua đoạn thơ:
“…Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi…”
Nhiều khi để hiểu hết ý nghĩa của từ tiếng Việt cần có sự trải nghiệm, nói như các nhà ngôn ngữ thì có hiểu đời mới hiểu văn Nhà nghiên cứu
Nguyễn Hiến Lê trong “Hương sắc trong vườn văn” đã viết:
“Văn chương là đời sống ghi trên giấy Và dù thông minh bực nào, cũng phải có sống mới hiểu được đời, mới hiểu được văn Không lịch lãm nhiều thì làm sao tưởng tượng được những cảnh tả trong sách mà thấy nó hay? Không đau khổ nhiều thì làm sao thấu rõ được những tình tiết kể trong truyện mà thấy nó khéo?
Một thanh niên không ra tới miền Bắc, dù có khiếu về văn chương, đọc hai câu:
Đá gập ghềnh nghiêng đôi bánh gỗ Tre làng dăm đảo biếc trong sương
của Vũ Hoàng Chương, hoặc câu:
Chiều xuống vàng hoe chợ mới tàn, Gánh gồng chen chúc đợi sang ngang…
Trang 23của Bàng Bá Lân, tuy nhận được tài tả cảnh vật của hai nhà thơ đó, song tất không thấy lòng rung động nhè nhẹ như những người đã sống ở đất Bắc, mà
hễ lòng chưa rung động mà chưa gọi là hiểu hết được cái hay của thơ
Câu:
Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya
của Xuân Diệu, về nghệ thuật xét ra chẳng có gì là đặc biệt cả, nhưng mỗi lần ngâm lên, tôi thấy thoang thoảng hoa bưởi ở đâu đây mà nhớ những đêm xuân
ở miền Bắc
Bài Tràng giang của Huy Cận, từ xưa tôi vẫn cho là hay, nhưng phải
đợi tới lúc tôi nằm trong một chiếc ghe bầu, lênh đênh trên những sông Tiền Giang, Hậu Giang, nhất là trong mùa nước đổ, mới thấm được hết cái buồn man mác của nó Và ngày nay, mỗi lần qua đò Mĩ Thuận hay Vàm Cống, trông dòng sông đầy, băng băng chảy cuốn theo những mảng bèo, tôi đều bất giác ngâm lên những câu:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”
Sự thú vị của tiếng Việt thể hiện ở sự sâu sắc, ý tứ, đâu dễ gì hiểu được trong một sớm một chiều?
Không chỉ có vậy tiếng Việt còn mang tính đa nghĩa, biểu hiện ở tính đồng âm, nhiều nghĩa, tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau Theo Đức Nguyễn
(tạp chí ngôn ngữ số 1, năm 2001) vẫn là con số chín nhưng lại được đồng âm hóa giữa số từ và tính từ: Trùng trục như con chó thui – Chín mắt, chín mũi,
chín đuôi, chín đầu
Như vậy từ chín là một từ đa nghĩa vì nó biểu hiện những khái niệm
khác nhau:
Trang 241) Ở phạm vi thực tế nói về quả và hạt hoặc hoa, nó biểu hiện khái niệm
“đã đến độ phát triển đầy đủ nhất, thường có màu đỏ hoặc vàng, có
hương thơm vị ngon”: cam chín, lúa chín
2) Ở phạm vi nói về thực phẩm, nó biểu hiện khái niệm đã được nấu nướng, kĩ đến mức ăn được: thịt chín, cơm chưa chín
3) Ở phạm vi nói về sự suy nghĩ, nó biểu hiện khái niệm: “đã kĩ lưỡng,
đầy đủ mọi khía cạnh, đã cho phép làm được điều gì đã suy nghĩ”:
không làm khi suy nghĩ chưa chín
Hay nghĩa của từ reo trong hai câu sau lại mang nghĩa khác nhau:
“Thấy mẹ đi chợ về, em bé reo lên, chạy ra đón.” Và trong câu: “Cứ mỗi
chiều nghe dừa reo trước gió” Từ reo trong câu thứ nhất chỉ phạm vi hành
động của con người, mang nghĩa gốc Từ reo trong câu thứ hai lại nói về
phạm vi chuyển động của sự vật, mang nghĩa chuyển
Theo các nhà ngôn ngữ, căn cứ để xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển (theo quan điểm lịch đại); nghĩa chính và nghĩa phụ (theo quan điểm đồng đại) cần dựa vào hai quy luật:
Một là, quy luật nhận thức của con người: quá trình nhận thức bao gồm
hai khâu: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, trong đó nhận thức cảm tính là khâu đầu tiên Điều này có nghĩa là tư duy của con người bao giờ cũng
đi từ cái cụ thể, trực quan, cảm tính đến trừu tượng, lí tính
Dựa vào quy luật nhận thức này chúng ta có thể rút ra thủ pháp nhận diện, phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ đa nghĩa như sau:
Trong các lớp nghĩa của từ đa nghĩa, nếu nghĩa nào cụ thể hơn (chỉ hiện tượng trực quan, cảm tính) thì đó là nghĩa chính (tức nghĩa gốc) Nghĩa có tính chất trừu tượng hơn (chỉ các hiện tượng trừu tượng thuộc nhận thức lí tính) thì đó
là nghĩa chuyển
Nếu hai nghĩa đều có tính cụ thể, khó phân biệt được nghĩa nào cụ thể
hơn, nghĩa nào trừu tượng hơn như răng người, răng lược, răng bừa thì
chúng ta cần phải căn cứ theo quy luật sau:
Trang 25Hai là, quy luật chuyển nghĩa của từ Viện sĩ Nga Ju.S.Stepanov đã chỉ
ra rằng: “Các nhà thơ, nhà văn sử dụng từ chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ (bao gồm cả hoán dụ) theo những hướng khác nhau Từ thiên nhiên đến thế giới nội tâm của con người, từ thân thể đến những phẩm chất tinh thần, từ tinh thần đến thể xác, từ một hiện tượng của thiên nhiên đến những hiện tượng khác… Nhưng hướng chủ yếu của sự chuyển nghĩa có tính ẩn dụ trong ngôn ngữ chung là từ chính con người và từ hiện thực gần gũi nhất đối với con người đến toàn bộ thế giới còn lại”
Dựa vào quy luật này có thể rút ra rằng: trong hai ý nghĩa của một từ đa nghĩa, nghĩa nào nói về bản thân con người hoặc nói về hành động, tính
chất… của con người thì thường là nghĩa có trước, nghĩa gốc, còn nghĩa về các hiện tượng khác lại thường là nghĩa chuyển Thí dụ nghĩa của từ “reo” trong câu: “…em bé reo lên…” là nghĩa gốc, còn nghĩa được dùng trong câu
“Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió” là nghĩa chuyển Nghĩa của từ “răng” trong “răng người” là nghĩa gốc, trong răng bừa, răng lược là nghĩa chuyển
Như vậy nghĩa của từ nói về bản thân con người hay về hành động, tính chất… của con người, hoặc phạm vi hiện thực gần gũi nhất với con người thì thường là nghĩa có trước (nghĩa gốc), còn nghĩa nói về các hiện tượng khác không thuộc con người hoặc thuộc phạm vi thế giới xa với con người thì thường là nghĩa chuyển
Nhờ sử dụng từ nhiều nghĩa, cách nói ẩn ý, bóng gió… mà mang lại sự thú vị của tiếng Việt
Ví như tiếng cười về hai cô gái mất lịch sự đã hiểu sai nghĩa của từ trong câu chuyện sau:
“Trong rạp chiếu phim, hai cô gái ngồi nói chuyện riêng làm những người xung quanh rất khó chịu Một người bèn nói :
- Hai cô ạ! Tôi chẳng nghe thấy cái gì cả…
Trang 26Một cô quay phắt lại:
- Chuyện riêng của chúng tôi, ai khiến ông nghe”
Đến đây học sinh đã có thể phân tích nguyên nhân dẫn tới tiếng cười
trong truyện Treo biển, cháy, Làm theo lời cha dặn…
Có thể nói cơ chế gây cười của chúng đều xuất phát từ những vấn đề của ngôn ngữ, hoạt động của lời nói Là cách nói đồng âm, đồng nghĩa, hàm ngôn, mơ hồ, những lối diễn đạt trái với lôgic thông thường Đó là sự khẳng định hay phủ định cái chuẩn mực và không chuẩn mực… Những tiếng cười
đó làm cho không khí lớp học thêm hào hứng, sôi nổi; bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn
Nói về tiếng Việt chúng ta tự hào vì có một kho từ láy, giàu nhạc tính
Cùng là miêu tả hình dáng đẹp, thon gọn ta có vô số cách để diễn đạt: thon
thả, nhỏ nhắn, xinh xắn, thướt tha, duyên dáng, nhẹ nhàng, uyển chuyển…
Nói đến trạng thái không còn tồn tại của con người tiếng Việt có những cách
nói mang sắc thái biểu cảm như sau: chết, toi, ngoẻo, quy tiên, băng hà, khuất
núi, hi sinh, bỏ mạng, đi đời, về với đất, về với tổ tiên, đi, từ trần, viên tịch, mất mạng, bỏ quên đời…
Sự thú vị của tiếng Việt còn biểu hiện đó là thứ ngôn ngữ giàu và đẹp Nhà văn Phạm Duy Tốn trong “Sống chết mặc bay” đã đưa ra những từ ngữ
giàu hình ảnh: “…trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu
lũ kiến trên đê…” Việc miêu tả con người dựa trên nét tương đồng về dáng
vẻ, hành động, cuộc sống con người và động vật khiến hình ảnh con người hiện lên sinh động dưới nhiều góc độ Đôi khi nhà văn lại tìm thấy sự tương
đồng giữa sự vật với con người: “…cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên
hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầusóng trắng…” (Sông nước Cà Mau – Đoàn Giỏi) Hay sông ngòi, kênh rạch ở nơi đây được tác giả liên
tưởng giống như “mạng nhện”: “…sông ngòi càng bủa giăng chi chít như
mạng nhện…”
Trang 27Người đọc lại cảm thấy bất ngờ thú vị trước sự hình dung của cậu bé
Trần Đăng Khoa khi trong bài “Mưa” đã viết:
“Cây dừa Sải tay Bơi Ngọn mùng tơi Nhảy múa…
Ông trời Mặc áo giáp đen
Ra trận…”
Có thể nói tiếng Việt đã giúp chúng ta diễn đạt một cách tinh tế, sâu sắc hình ảnh về cuộc sống con người
Đúng như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: tiếng Việt ta giàu
và đẹp, quan trọng nhất là mỗi người Việt Nam biết yêu quý tiếng nói của dân tộc mình, đó là ý thức đối với văn hóa dân tộc, với nhân dân, với đất nước… Tác giả luận văn, xin mượn lời thơ của Lưu Quang Vũ để một lần nữa khẳng định vai trò, ý nghĩa của tiếng Việt:
Ôi Tiếng Việt như đất cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh Như gió nước không thể nào nắm bắt Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối Tiếng heo may gợi nhớ những con đường
Trang 28Như vậy sự thú vị của tiếng Việt là không thể phủ nhận, vấn đề là giáo viên đem đến sự hấp dẫn ấy cho các em như thế nào?
1.1.3.3.Các yếu tố kích thích hứng thú cho học sinh
Quá trình học tập trên lớp của học sinh diễn ra chịu tác động của rất nhiều yếu tố: nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học
và môi trường dạy học Nội dung dạy học là yếu tố bên trong có vai trò quyết định tới hiệu quả môn học; phương pháp dạy học và phương tiện dạy học là yếu tố bên ngoài đều chịu sự chi phối của mục tiêu dạy học Môi trường dạy học là yếu tố bên ngoài liên quan trực tiếp tới hứng thú học tập Giáo viên là người định hướng, tổ chức để tạo ra một không khí lớp học thoải mái, hào hứng, đạt hiệu quả cao
Vai trò của người thầy trong quá trình tạo ra hứng thú học tập Tiếng Việt
ở các em là rất quan trọng Thầy không chỉ dẫn dắt, gợi mở mà còn có vai trò tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy niềm say mê học tập ở các em Có thể nói: thầy chính là người dẫn các em vào thế giới của ngôn từ Từ việc chọn sách gì đọc cho phù hợp tới việc suy nghĩ, liên hệ đưa ra phương pháp học tập đúng đắn Người thầy giỏi không chỉ có tư cách đạo đức tốt mà phải có chuyên môn vững, giúp học sinh có những hiểu biết về xã hội, có cái nhìn đa chiều về mọi phương diện của cuộc sống Học sinh ảnh hưởng từ cách dạy, cách sống của thầy Đó cũng là yêu tố quan trọng kích thích hứng thú học tập ở các em
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nội dung dạy học Tiếng Việt ở THCS
1.2.1.1.Tính thiết thực, thú vị của nội dung tiếng Việt ở THCS
Chương trình cải giáo dục sau năm 2000, các nhà giáo dục chia nội dung phân môn Tiếng Việt thành các mạch kiến thức như sau:
1) Về từ vựng:
+ Cấu tạo từ
+ Nghĩa của từ
+ Các lớp từ
Trang 293) Về các phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ
4) Về hoạt động giao tiếp
+ Hành động nói
+ Hội thoại
Nhìn vào mạch kiến thức, kĩ năng trên có thể thấy nội dung Tiếng Việt
ở THCS rất phong phú, thiết thực Ở bậc Tiểu học các em đã có những nhận biết ban đầu về Ngữ âm, chính tả, từ loại, ngữ pháp HS biết sử dụng dấu câu, được làm quen với hai biện pháp tu từ là so sánh, nhân hóa… Tất
cả sự hiểu biết đó sẽ làm nền tảng cho việc lĩnh hội những kiến thức sâu hơn Các em không còn cảm thấy bỡ ngỡ mà bắt đầu tìm được câu trả lời cho những câu hỏi: Tại sao phải dùng dấu phẩy? Khi nào thì dùng cách nói
ẩn ý, bóng gió? Danh từ, động từ, tính từ thường có những từ ngữ nào đi kèm? Vì sao có những phát ngôn không tuân thủ đúng quy tắc ngữ pháp mà vẫn được chấp nhận?
Ở cấp học này, các em thường xuyên phải luyện cách viết đoạn văn, bài văn Trong mỗi bài viết học sinh phải khẳng định được cái tôi cá nhân, chính kiến của riêng mình Nếu như phần Tiếng Việt nắm chưa vững sẽ rất khó cho việc diễn đạt trôi chảy, lưu loát Phần lớn học sinh những năm đầu của bậc THCS đều gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý mình Có những em không biết
mở bài ra sao, kết luận như thế nào; hoặc có những em hiểu bài nhưng khi diễn đạt trên giấy lại rất lúng túng; trong giao tiếp rụt rè, thiếu tự tin vào vốn ngôn ngữ của mình… Tiếng Việt sẽ giúp các em “tháo gỡ” tất cả những băn khoăn, thắc mắc nêu trên
Trang 30Việc đưa những giai thoại về chữ nghĩa; giúp các em nắm bắt đến ngọn
nguồn lạch sông cấu tạo của từ; cũng như đưa đến những thông tin mới lạ về
ngôn ngữ sẽ là cú huých đem đến sự lí thú, hấp dẫn trong tiếng Việt Các em
hào hứng, say mê với mỗi giờ học tiếng mẹ đẻ, coi tiếng Việt như một thứ âm thanh tuyệt vời không thể thiếu trong cuộc sống Đó là mong ước không chỉ của các nhà giáo dục mà còn là của toàn xã hội
Như vậy việc sử dụng các biện pháp tạo hứng thú nhằm nâng cao hiệu quả trong thực tế dạy học tiếng Việt không chỉ là nhờ nội dung học tập hấp dẫn, phương pháp hiệu quả, môi trường thân thiện… mà cần có sự kết hợp đồng bộ của các yếu tố đó Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ bàn đến nhóm biện pháp tác động vào nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, môi trường dạy học và đổi mới trong cách kiểm tra đánh giá
1.2.1.2 Tính đồng tâm của Tiếng Việt ở THCS
Nội dung CT Tiếng Việt ở THCS là sự tiếp nối, nâng cao những kiến thức các em đã được học ở bậc tiểu học Dựa trên những điều đã biết các em không chỉ được khắc sâu kiến thức mà còn mở rộng, nâng cao hơn Ví như ở những năm học trước học sinh đã biết đến hệ thống từ loại: Danh từ, Động từ, Tính từ Trong CT lớp 6 các em được củng cố và biết thêm có những yếu tố phụ đi kèm các từ loại ấy sẽ tạo thành những cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ… Và sự hiểu biết của các em cũng không chỉ dừng lại ở việc nhận diện ban đầu với hai biện pháp tu từ là so sánh và nhân hóa Mà là đi tìm hiểu cơ chế, các kiểu cấu tạo và đặc biệt là phân tích hiệu quả nghệ thuật mà mỗi phép
tu từ mang lại Đồng thời được làm quen với những biện pháp tu từ mới: ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, liệt kê, nói quá, nói giảm nói tránh, đối ngẫu, chơi chữ…
Về cấu tạo câu không chỉ là sự nhận biết kiểu câu đơn, câu ghép mà bắt đầu đi vào phân tích những kiểu câu có cấu tạo phức tạp: câu đặc biệt, câu rút gọn, câu mở rộng thành phần trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ… Nghĩa là có những
Trang 31cách phân loại câu dựa trên những cơ sở khác nhau như: xét theo mục đích nói, xét theo cấu tạo, xét theo ý nghĩa hay xét từ mối quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ được nói đến trong câu… mà người ta chia ra các kiểu câu với những tên gọi khác nhau
Đối với dấu câu tiếng Việt các em học cách làm quen với những dấu phức tạp hơn như: dấu ba chấm, dấu gạch ngang trong chương trình lớp 7 Việc đảm nhận các vai trong hội thoại cũng linh hoạt và gắn với đời sống giao tiếp nhiều hơn… Học sinh cũng sẽ được luyện tập nhiều hơn với hiện tượng từ nhiều nghĩa
và cơ chế chuyển nghĩa của từ ở tất cả các lớp… Và đặc biệt các em sẽ được tìm hiểu, phân tích các yếu tố tham gia một cuộc thoại như: việc tuân thủ phương châm hội thoại, cách sử dụng lượt lời, cách xưng hô, vai giao tiếp…
Tính đồng tâm trong phân môn Tiếng Việt giống như một vòng xoáy trôn ốc, có sự kế thừa, mở rộng, phát triển Vì thế mà độ “khó”, “khô” cũng tăng lên rõ rệt Các em bắt đầu có khả năng khái quát, tư duy hệ thống để có thể xâu chuỗi những đơn vị kiến thức một cách rõ ràng, khoa học hơn
Để học sinh có thể khắc sâu kiến thức đã học và tiếp thu kiến thức mới một cách hiệu quả cần tăng hoạt động thực hành Việc đưa vào hệ thống các bài tập lí thú, bổ ích sẽ làm cho việc học Tiếng Việt trở nên dễ dàng, hiệu quả
1.2.2 Hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh Trung học cơ sở
Qua tìm hiểu và quan sát quá trình dạy học Tiếng Việt ở bậc phổ thông cho thấy: nhiều em không thích học Tiếng việt là do cách dạy tẻ nhạt, thiếu sức lôi cuốn từ thầy cô Nội dung môn học tỉ mỉ, nhiều khi mơ hồ Một lí do nữa cũng khá phổ biến đó là các em chưa nhận thấy sự hấp dẫn, thú vị của tiếng Việt Vì không hiểu nên các em thấy Tiếng Việt thật phức tạp, khó nhớ: vẫn là từ đó mà lúc là danh từ, khi là tính từ, động từ, tình thái từ…; rồi từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy lại còn từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm…; câu cũng có câu đơn, câu ghép, câu hỏi, câu kể, câu khẳng định, phủ định; rồi
Trang 32ranh giới để xác định từ láy với từ ghép nhiều khi rất monh manh… Quả thật không đơn giản chút nào
Nhưng tất cả những khó khăn đó không là gì nếu giáo viên biết khơi gợi tình yêu tiếng Việt ở các em, giúp các em thấy được sự hấp dẫn của ngôn ngữ dân tộc Nhiều em tỏ ra hào hứng khi mình biết cách gieo vần để tạo nên những vần thơ bốn chữ, năm chữ…; thấy được ý nghĩa tên mình do bố mẹ đặt cho; hiểu được thành ngữ, quán ngữ mà ông bà, bố mẹ hay dùng… Và xa hơn nữa là cảm nhận được cái hay cái đẹp từ trong văn chương, nghệ thuật do ngôn từ mang lại
Thông qua các trò chơi đố chữ, ai tìm từ nhanh nhất, các phiếu bài tập
để các em tự chấm chéo cho nhau … dần dần sẽ xóa nhòa khoảng cách giữa không thích – thích, giữa không hiểu – hiểu Rồi lên những lớp cao hơn (lớp
8, lớp 9) được tiếp xúc với nhiều tác phẩm giàu tính nghệ thuật, các em sẽ thấy ý nghĩa to lớn của những từ ngữ được coi là “nhãn tự”, mới thấy tiếng Việt của chúng ta giàu đẹp, phong phú vô cùng
Khơi gợi hứng thú thôi chưa đủ, để “nuôi dưỡng” hứng thú ấy mới là điều quan trọng Người giáo viên khi đứng trên bục giảng cũng giống như một nghệ sĩ trên sân khấu, phải hóa thân vào những tình huống khác nhau, truyền được cảm hứng cho người xem Nghĩa là giáo viên phải biết cách làm mới tiết dạy của mình để giờ học không bị nhàm chán Thực tế dạy học cho thấy, nhiều em đã lấy lại được niềm tin, sự hứng thú với môn Tiếng Việt nhờ cách dạy của thầy Hứng thú giống như một dòng chảy không ngừng, là cơ sở
để tạo nên niềm đam mê Để từ đó giúp mỗi chúng ta thành công trên con đường mình đã chọn
Trang 33Tiểu kết chương 1
Hứng thú là yếu tố quan trọng để học sinh duy trì, phát triển quá trình
tự học Nếu giáo viên biết cách kích thích một cách phù hợp sẽ giúp cho việc học tập ở các em trở nên đơn giản, hiệu quả Từ đó dẫn tới hứng thú trong việc học Tiếng Việt và các môn học khác
Trong quá trình dạy học cần kích thích đồng bộ vào các bình diện: nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, môi trường dạy học và sự thay đổi trong cách kiểm tra đánh giá để mỗi giờ học trở nên thiết thực, hấp dẫn đối với học sinh Đặc biệt cần quan tâm hứng thú từ nội dung học tập, đó được coi là hứng thú bền vững nhất, quan trọng nhất trong quá trình học tập
Có rất nhiều biện pháp tạo hứng thú học tập để nâng cao hiệu quả của việc dạy học Tiếng Việt ở THCS Song không có biện pháp nào là tối ưu, vì thế trong quá trình dạy học cần có sự kết hợp linh hoạt giữa các biện pháp để đem đến một kết quả cao nhất Nghĩa là giúp các em thấy được sự giàu đẹp của tiếng Việt và bị hấp dẫn, lôi cuốn bởi môn học ấy
Trang 34CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện nội dung dạy học
Nội dung học tập là yếu tố trực tiếp tác động đến hứng thú học tập của học sinh Trong mỗi bài giảng giáo viên cần cho học sinh thấy sự cần thiết, hữu ích của việc học Tiếng Việt Cần cụ thể hóa các kiểu, dạng nhóm bài tập thông qua phần lệnh hoặc phần ngữ liệu Nói như GS.TS Lê Phương Nga:
“Không có con đường nào khác để làm nảy sinh và duy trì hứng thú của học sinh với tiếng Việt và văn học ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính đối tượng học tập – Tiếng Việt, Văn Chương Đây cũng chính là ngữ liệu của dạy tiếng.”
Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra tính lợi ích của nội dung nào đó Chẳng hạn như việc dùng dấu phẩy hợp lí sẽ tránh được
nhiều cách hiểu khác nhau Ví như câu: “Trâu cày không được thịt.” khác với:
“ Trâu cày không được, thịt.” Hoặc người dân có thể cố ý hiểu sai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về khẩu hiệu: “Nhà có hai con, vợ chồng
hạnh phúc.” Chẳng là khi đi qua địa phận Vũ Thư – Thái Bình, người dân
thấy một tấm biển với dòng chữ: “Nhà có hai con vợ chồng hạnh phúc.”
Lỗi ở đây là do diện tích tấm biển quá nhỏ không đủ để viết trọn vẹn một câu nên đành xuống dòng Nhưng chính sự việc tưởng như không có gì lại đem
đến một cách hiểu khác: Nhà có hai con vợ, chồng hạnh phúc
Cách vào bài hấp dẫn, sinh động sẽ tạo tâm thế chủ động cho học sinh đón nhận bài học một cách tự nhiên, thoải mái thậm chí là mong chờ đến giờ học Như khi dạy bài đồng âm có thể yêu cầu học sinh chỉ ra sự bất hợp lí trong câu trả lời của một bạn ở ví dụ sau:
Trang 35“Trong giờ học Ngữ pháp, giáo viên nêu câu hỏi về câu:
- Em hãy cho biết câu gồm mấy phần?
- Thưa cô, câu gồm ba phần: cần câu, dây câu và lưỡi câu ạ!”
Để giới thiệu khái niệm và tầm quan trọng của từ Hán – Việt trong hoạt động giao tiếp, có thể dẫn câu chuyện vui sau:
“Ba anh nọ rủ nhau vào quán nhậu Một anh hỏi:
- Đĩa này là đĩa gì?
Anh thứ hai vốn hay nói chữ bèn trả lời:
- Rõ thật “thực bất tri kì vị” (ăn mà chẳng biết mùi gì cả)
Anh thứ ba ghé vào tai anh lúc đầu, nói nhỏ:
- Nó nói xỏ anh đấy!
Anh thứ nhất chẳng chịu lép vế, nổi nóng:
- Á à! Anh lại khinh tôi a! Anh biết “thực bất tri kì vị” tôi, dễ thường tôi
không biết “ thực bất tri kì vị” anh hẳn.”
Từ những cách vào bài như thế chắc chắn học sinh sẽ có ấn tượng tốt
và hào hứng với phân môn Tiếng Việt Giờ học trôi qua sẽ nhẹ nhàng, thú vị
2.1.1 Giúp học sinh nhận thức được lợi ích của nội dung học tập
Việc học tiếng Việt có thật sự cần thiết với các em? Sẽ giúp ích gì trong học tập và cuộc sống? Điều đó đã được các nhà giáo dục học, tâm lí học nói đến nhiều trong vai trò của ngôn ngữ Không chỉ là công cụ giao tiếp, tư duy
mà tiếng Việt còn có ý nghĩa thiết thực hơn khi giúp các em diễn đạt, bày tỏ suy nghĩ của mình Niềm tin, hạnh phúc sẽ đến nếu các em biết tạo ra những mối quan hệ tốt đẹp Cuộc sống sẽ trở nên kì diệu biết bao nếu chúng ta đạt được mơ ước, mong muốn Tại sao cùng là học sinh một lớp có bạn diễn đạt trôi chảy, điểm cao; có bạn nói và viết lại rất lúng túng và chỉ đạt mức trung bình trong khi trình độ, sự nhận thức là ngang nhau? Và sau này cầm tấm bằng trên tay, trải qua vòng phỏng vấn, nhà tuyển dụng luôn có ấn tượng tốt với những bạn nói năng lưu loát, nhanh nhẹn GS Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra: “
Trang 36Vấn đề cơ bản đối với ý thức của học sinh là ở chỗ tri thức đó dùng làm gì? Tri thức đó có ý nghĩa gì đối với học sinh, có thiết thân không? Vấn đề hứng thú và tự giác học tập không phải ở sự hiểu nghĩa, hiểu những tri thức sách
vở chung chung, tách rời cuộc sống Tri thức đã không mang lại cho học sinh
ý gì mới, thì làm sao mang lại được hứng thú?”
Như vậy xét đến cùng để thu hút được sự chú ý của HS, làm các em hứng thú với môn Tiếng Việt là đem đến những điều các em chưa biết và muốn biết
a) Để giúp học sinh nhận thức được lợi ích của việc học Tiếng Việt trước
hết giáo viên cần phải trình bày nội dung học tập một cách tường minh Rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn là yêu cầu đầu tiên của việc dạy và
học Tiếng Việt Cách sắp xếp nội dung của một giờ học Tiếng Việt trong SGK THCS thường là: cho ngữ liệu, yêu cầu học sinh phân tích, nhận xét rồi từ đó rút ra khái niệm, quy tắc cần ghi nhớ Với cách trình bày trên giáo viên có thể linh động đảo trật tự các bước tùy thuộc vào đơn vị kiến thức là mới hay nội dung đó học sinh đã biết
Ví dụ:
1) Yêu cầu học sinh tìm từ trái nghĩa với từ “già” trong trường hợp:
“cau già”, “người già”, “cân già”
2) Trong câu tục ngữ: “Chết trong còn hơn sống đục” có những cặp từ
trái nghĩa nào? Có thể thay thế các từ “trong” và “đục” bằng những từ nào mà nghĩa của câu vẫn không đổi?
Sau đó rút ra nhận xét: - Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau
- Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau Chẳng hạn khi dạy về danh từ, các nhà ngôn ngữ học chia ra làm 2 nhóm: (SGK Ngữ văn 6 tập 1 trang 87, NXB GD 2006)
+ Danh từ chỉ sự vật
+ Danh từ chỉ đơn vị
Trang 37Danh từ chỉ sự vật dùng để gọi tên người, sự vật, hiện tượng, khái niệm… thường có những từ đi kèm: trước danh từ chỉ người là những từ:
ông,vị cô, ngài, bác, bà…; trước danh từ chỉ đồ vật là những từ: cái, bức, tấm, chiếc, quyển, tờ…
Danh từ chỉ đơn vị gồm: chỉ đơn vị quy ước chính xác (mét, lít,
ki-lô-gam,…) và chỉ đơn vị quy ước ước chừng (nắm, mớ, thúng, đấu, vốc…)
Sự kết hợp với những từ ở phía trước và các từ: này, ấy, nọ, đó… ở phía
sau tạo nên cụm danh từ
Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên cần có sự phân biệt về danh từ chung và danh từ riêng: danh từ riêng làm tên gọi riêng cho một người hay một vật; còn danh từ chung thì chỉ người, chỉ vật nói chung Sự phân biệt này không có gì khó khăn với học sinh Nhưng điều quan trọng hơn cả là giúp học sinh nhận thấy sự độc đáo trong cách sử dụng danh từ riêng chỉ người trong tiếng Việt
Theo đó trật tự đặt tên của người Việt Nam là: Họ + tên Điều này khác so với một số nước Châu Âu thường cấu tạo theo trật tự: tên cá nhân + tên cha
+ tên họ Người Việt cũng thường thích lấy từ Hán Việt đặt tên để mang sắc
thái trang trọng, ý nghĩa như: Trường Giang, Hải Đăng, Nhật Quang, Thiên Phúc, Bạch Vân… Nhưng cũng có khi lại là những cái tên rất bình dị: anh Khoai, chị Dần, bác Thân, bà Thìn, chú Tư, cái Tý, cái Nụ…
Người Việt Nam ta ít khi dùng tên riêng để xưng hô, nó chỉ mối quan hệ thân mật, bạn bè nếu không muốn nói là “điệu đà”, “tự đề cao bản thân” Ngoài tên chính thức (tên khai sinh) cá nhân còn có thể có tên hiệu, bút danh,
bí danh… Tuy nhiên việc đặt bút danh, bí danh phải không gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Sự thay đổi tên riêng cũng không được tự tiện mà phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Dạy Ngữ văn giáo viên thường rơi vào tình trạng nói nhiều hay ôm đồm kiến thức Hoặc trình bày lan man, không rõ ý Điều này gặp ở những giáo
Trang 38viên trẻ mới ra trường, cả những thầy cô khả năng khái quát, tư duy còn hạn chế Đây là một thực tế; nhất là với phân môn Tiếng Việt – môn học đòi hỏi
tư duy khoa học, hệ thống Chính các thầy cô vẫn còn nhầm lẫn giữa ẩn dụ và hoán dụ, giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, giữa từ ghép và từ láy… thì làm sao có thể tường minh hóa nội dung kiến thức để học sinh nắm bắt một cách
dễ dàng?
Học hết bậc THCS, các em phải biết viết một lá đơn, một bản báo cáo, một bản tổng kết hay một mẩu quảng cáo… Nội dung ấy thiết thực với cuộc sống của các em sau này hơn những tác phẩm văn học Nói như vậy không phải để đề cao vai trò của phân môn Tiếng Việt vì thực tế không phải học sinh nào cũng có khả năng, tham vọng vào đại học Nhiều gia đình định hướng cho con em mình học nghề ngay khi các em bước chân vào trường THPT Điều đó cho thấy việc rèn những kĩ năng của phân môn Tiếng Việt như cách dùng từ, đặt câu, lỗi ngữ pháp là hết sức cần thiết
b) Ngoài nội dung tường minh, giáo viên phải biết tạo tình huống thể hiện lợiích học tập Tiếng Việt
Tạo tình huống trong bài học Tiếng Việt là đưa ra câu hỏi hoặc bài tập có
“vấn đề” để học sinh suy nghĩ tìm hướng giải quyết Ví dụ khi bắt đầu bài học
“Nghĩa của từ trong sử dụng”, giáo viên có thể ra một bài tập nhỏ như sau:
Hãy ghép các từ sau để tạo thành 20 câu mang nội dung khác nhau:
sao, nó, không, đến, bảo
Đưa ra bài tập trên học sinh sẽ rất sôi nổi để tạo ra những tình huống khác nhau Và các em sẽ cố nghĩ để tạo ra 20 câu theo yêu cầu Nhưng trên thực tế, chúng ta có thể ghép 5 từ đó thành 50 câu khác nhau:
1 Sao nó bảo không đến?
2 Sao bảo nó không đến?
3 Sao không bảo nó đến?
4 Sao không đến bảo nó?
Trang 395 Sao nó không bảo đến?
6 Sao? Đến bảo nó không?
7 Sao? Bảo nó đến không?
8 Nó đến, sao không bảo?
9 Nó đến, không bảo sao
10 Nó đến bảo: không sao
11 Nó bảo sao không đến?
12 Nó đến bảo: sao không?
13 Nó bảo: Đến không sao?
14 Nó bảo: không đến sao?
15 Nó không bảo, sao đến?
16 Nó không bảo đến sao?
17 Nó không đến bảo sao?
18 Bảo nó sao không đến?
19 Bảo nó: Đến không sao?
20 Bảo sao nó không đến?
21 Bảo nó đến, sao không?
22 Bảo nó không đến sao?
23 Bảo không, sao nó đến?
24 Bảo sao? Nó không đến?
25 Không bảo, sao nó đến?
26 Không đến bảo nó sao?
27 Không sao, bảo nó đến
28 Không bảo nó đến sao?
29 Không đến, bảo nó sao?
30 Không đến, nó bảo sao?
31 Đến bảo nó không sao
32 Đến không? Bảo nó sao?
Trang 4033 Đến không? Nó bảo sao?
34 Đến, sao không bảo nó?
35 Đến bảo nó: Sao không?
36 Đến, sao nó không bảo?
37 Đến, nó bảo không sao?
38 Đến, nó bảo không sao
39 Đến, sao bảo nó không?
40 Sao nó bảo, không đến?
41 Sao bảo: “Nó không đến”?
42 Sao không bảo: “Nó đến”?
43 Sao? Nó bảo đến không?
44 Sao đến, bảo nó không?
45 Sao? Bảo nó đến không?
46 Nó bảo: “ Đến, không sao”
47 Bảo nó: “Đến, không sao”
48 Bảo nó đến, không sao?
49 Bảo nó đến không sao?
50 Bảo nó đến, không sao!
Đây là do đặc điểm không biến hình từ dẫn đến trật tự từ cũng là một phương thức ngữ pháp của tiếng Việt Chính vì vậy mà trật tự của từ thay đổi dẫn tới ý nghĩa ngữ pháp cũng thay đổi theo Từ đó học sinh sẽ nhận ra sự phong phú, đa dạng trong lối diễn đạt Cùng là một từ nhưng khi thì đóng vai trò là danh từ, động từ, lúc lại đóng vai trò là tính từ trong câu
Một ví dụ khác, khi dẫn vào bài dấu câu, giáo viên đưa ra ngữ liệu: “Mẹ
con đi chợ chiều mới về” cho học sinh phân tích nghĩa Các em sẽ gặp tình
huống có vấn đề ở câu trên vì có nhiều cách hiểu: thứ nhất có thể hiểu đó là cách trả lời của người con khi có ai đó hỏi về mẹ như bố, ông hoặc bà…; Thứ
hai cũng có thể hiểu đó là lời của con nói với mẹ: “Mẹ! con đi chợ chiều mới