1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói

88 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Giao tiếp, ngôn ngữ và lời nói có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách của trẻ em. Quá trình giao tiếp của trẻ với người khác (bằng ngôn ngữ, lời nói và cả giao tiếp không lời) cũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân, giúp trẻ trở thành thành viên của xã hội. Chính vì vậy, vấn đề phát triển giao tiếp ngôn ngữ và lời nói của trẻ trong những năm đầu đời trở thành mối quan tâm hàng đầu của cha mẹ và thầy cô giáo. Theo tiến trình phát triển tự nhiên, trẻ sẽ có những nền tảng giao tiếp cơ bản, trẻ biết cách sử dụng tiếng nói và các âm thanh khác nhằm đến mục đích giao tiếp. Vốn từ của trẻ tăng dần lên thấy rõ qua từng tháng, khoảng hai tuổi trẻ có khả năng nói rõ ràng và phát âm chính xác các cụm gồm 2 đến 3 từ, các từ ghép hoặc câu đơn giản chỉ gồm danh từ và động từ, ví dụ như chim bay, cá bơi…. Khi trẻ trong khoảng 3 đến 4 tuổi, câu nói của trẻ lúc này dài hơn, vốn từ phong phú hơn. Trẻ bắt đầu nói về nhiều đề tài khác nhau ngoài những nhu cầu của bản thân, trẻ kể về những gì xảy ra ở trường học, xảy ra với bạn bè, kể về những câu chuyện nhưng kinh nghiệm mà bé trải qua hàng ngày. Trẻ biết đặt câu hỏi cho những sự việc xảy ra xung quanh mình, lúc này trẻ đã biết cách sử dụng lời nói và phát âm khá rõ ràng, trẻ biết cách làm cho người khác hiểu ý của mình muốn nói. Tuy nhiên, để đạt được mức độ mạch lạc và lưu loát nhất định thì trẻ cần có nhiều thời gian hơn, thông thường các trẻ em phát triển theo chuẩn khi đến 5 tuổi, trẻ sẽ biết dùng các loại câu có cấu trức ngữ pháp phức tạp hơn và gần giống với cấu trúc câu của người lớn hơn. Lúc này trẻ có khả năng kể lại một câu chuyện dài theo một chủ đề nhất định, có tính logic, không vấp váp cả về phát âm hay ý tưởng, thậm chí trẻ còn biết cách lôi kéo sự quan tâm của người nghe và2 lúc này trẻ thường đạt được mức độ lưu loát nhất định trong lời nói và sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. Ở trẻ từ 6 tuổi đến 7 tuổi là lứa tuổi đầu cấp tiểu học, lúc này các em có sự thay đổi lớn về môi trường giao tiếp và hoạt động học tập, nhiều học sinh có nhận thức bình thường, thậm chí tốt, có khả năng hiểu ngôn ngữ song khả năng diễn đạt lưu loát bằng lời nói bị hạn chế, điều này sẽ khiến các em mất tự tin, mặc cảm dẫn đến hạn chế về giao tiếp và học tập. Ngoài ra, ở những trẻ có khăn về nói, các em thường chậm trễ hơn trong cả nhận thức và ngôn ngữ, các em vẫn chưa hoàn thiện các kỹ năng cần có, vì thế các em cũng chưa có khả năng nói lưu loát, vẫn chưa có khả năng trình bày mạch lạc một vấn đề của bản thân hoặc vấn đề của bài học, thậm chí những mong muốn những nhu cầu cơ bản của bản thân cũng chưa thể trình bày một cách lưu loát, chưa khiến người đối diện có thể nghe hiểu được ý của các em muốn diễn đạt vì thế các em thường chậm trễ hơn trong việc tiếp nhận thông tin và sẽ gây cản trở, khó khăn trong việc học các môn học khác cũng như gặp khó khăn trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô và mọi người xung quanh. Vì vậy, việc tìm hiểu, nâng cao nhận thức về vẫn đề này và đồng thời đưa ra các biện pháp sư phạm đặc biệt cho các trường hợp có khó khăn về độ lưu loát trong lời nói là rất cần thiết. Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Biện pháp cải thiện độ lƣu loát lời nói cho trẻ 6-7 tuổi có khó khăn nói. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề mất lưu loát ở trẻ có khó khăn về nói 6-7 tuổi, từ đó xây dựng và thực nghiệm các biện pháp sư phạm đặc biệt giúp cải thiện độ lưu loát trong lời nói cho các em. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1 . Khách thể nghiên cứu Quá trình hỗ trợ giáo dục trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói.3 3.2. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói của trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói. 4. Giả thuyết khoa học Sự mất lưu loát lời nói xảy ra ở nhiều trường hợp học sinh có nhu cầu đặc biệt đầu cấp tiểu học do hạn chế của trẻ và áp lực của môi trường tâm lí- xã hội ở trường, lớp. Có thể cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp học sinh khó khăn này bằng các cách tiếp cận khác nhau như tác động tâm lí, trị liệu kết hợp với việc xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện với các em. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc cải thiện độ lưu loát lời nói ở trẻ em có khó khăn về nói. - Khảo sát, đánh giá về mức độ lưu loát trong lời nói của trẻ có khó khăn về nói 6-7 tuổi học hòa nhập, có so sánh với các chỉ số tương ứng ở các bạn cùng lớp. - Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp sư phạm nhằm cải thiện độ lưu loát lời nói cho các trường hợp học sinh 6-7 tuổi có khó khăn về nói. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu 6.1. Hồi cứu tài liệu: Tập hợp, phân tích, tổng thuật, và tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ lịch sử vấn đề, các khái niệm cơ bản và các tiếp cận về cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ có khó khăn về nói. 6.2. Đo nghiệm độ lưu loát lời nói Phương pháp đo nghiệm độ lưu loát lời nói áp dụng trong khảo sát thực tiễn ở lớp hòa nhập học sinh 6-7 tuổi có khó về nói và trong đánh giá sự tiến bộ trong cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp thực nghiệm sư phạm. Theo Bài giảng & giáo trình trị liệu nói lắp của Đại học Newcastle sử dụng ở khóa đào tạo thạc sĩ về Trị liệu ngôn ngữ tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc4 Thạch (2015), độ lưu loát lời nói được đo nghiệm theo 3 thông số: 1) Tỉ lệ lỗi lặp (Percentage of syllables stuttered / % SS) tính bằng tỉ lệ % âm tiết nói lắp trên tổng số âm tiết nói ra; 2) Tốc độ nói (Syllables per minute / SPM) tính bằng mức trung bình số âm tiết nói ra trên một phút; và 3) Mức độ tự nhiên của lời nói (Speech naturalness / NAT), tính theo thang từ mức 1 = tự nhiên nhất đến mức 9 = kém tự nhiên nhất. 6.3. Phương pháp quan sát Quan sát các hành động giao tiếp, nói năng của học sinh có khó khăn về nói ở trong một số tiết học ở lớp hòa nhập và trong quá trình hỗ trợ cá nhân được ghi chép lại dưới dạng nhật kí và ghi chú, làm cơ sở cho quá trình phản hồi, tác động và điều chỉnh. 6.4. Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn Những trải nghiệm cả tích cực và tiêu cực của giáo viên và phụ huynh trong quá trình dạy học và giao tiếp với học sinh khó khăn về nói được trao đổi, ghi chép lại làm cơ sở cho quá trình tìm kiếm và thực nghiệm biện pháp hỗ trợ giáo dục. 6.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, khảo sát thực tiễn, các biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho học sinh có khó khăn về nói được đề xuất và thực nghiệm sư phạm trên 3 trường hợp học sinh có khó khăn về nói, dạng nói lắp. 6.6. Phương pháp thống kê toán học Các kết quả nghiên cứu định lượng được phân tích bằng công cụ thống kê toán học. 7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, việc thực hiện các nhiệm vụ đề tài được giới hạn:5 - Trong hồi cứu tài liệu: tập trung vào các tài liệu liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu ở bình diện giáo dục đặc biệt và giáo dục phát triển ngôn ngữ. Nguồn tài liệu tham khảo gồm các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt. - Trong khảo sát thực tiễn: đo mức độ lưu loát lời nói trên 30 học sinh lớp 1 (học kì II, năm học 2014 – 2015), trong đó có 3 em được cho là có khó khăn về nói, nói lắp; đồng thời trò chuyện, phỏng vấn với 5 giáo viên dạy các lớp có học sinh này, và trao đổi với phụ huynh của 3 trường hợp học sinh vừa nêu. Quan sát lớp học cũng được thực hiện ở 3 lớp, mỗi lớp 2-3 tiết học. - Với nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm: chúng tôi tiến hành thực nghiệm qua nghiên cứu trường hợp trên 3 học sinh có khó khăn về nói được khảo sát trước đó. Các em này có khó khăn chính là nói lắp. Thời gian tác động thực nghiệm khoảng 3 tháng. Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn: TS Bùi Thế Hợp

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ĐLLLN: Độ lưu loát lời nói

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu thực trạng độ lưu loát trong lời nói của trẻ 6 -7

tuổi 35

Bảng 2.2 Kết quả phân chia mức độ tốc độ nói ở trẻ 6 -7 tuổi 37

Bảng 2.3 Bảng kết quả tỉ lệ trẻ em lỗi lắp ở trẻ 6-7 tuổi 38

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát mức độ tự nhiên của lời nói (NAT) 39

Bảng 3.1: Các chỉ số mức độ lưu loát lời nói của 3 trường hợp trước thực nghiệm 63

Bảng 3.2 Chỉ số tốc độ nói qua quá trình thực nghiệm 64

Bảng 3.3 Tỉ lệ % lỗi lặp qua quá trình thực nghiệm 65

Bảng 3.4 Chỉ số mức độ tự nhiên của lời nói qua thực nghiệm 67

Trang 4

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tốc độ nói của 30 khách thể nghiên cứu 36

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ phân nhóm mức độ lưu loát lời nói của khảo sát 37

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ so sánh tỉ lệ lắp 3 trường hợp trẻ với tỉ lệ TB cả nhóm 38

Biểu đồ 2.4: Biểu đồ so sánh trường hợp 1 với trung bình cả nhóm 40

Biểu đồ 2.5: Biểu đồ so sánh trường hợp 2 với trung bình cả nhóm 41

Biểu đồ 2.6: Biểu đồ so sánh trường hợp 3 với trung bình cả nhóm 42

Biểu đồ 3.1: Chỉ số SMP qua thực nghiệm 65

Biểu đồ 3.2: Chỉ số % SS qua thực nghiệm 66

Biểu đồ 3.3: Chỉ số NAT qua thực nghiệm 67

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐỘ LƯU LOÁT LỜI NÓI CHO TRẺ 6-7 TUỔI CÓ KHÓ KHĂN VỀ NÓI 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 9

1.2 Các khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Giao tiếp – ngôn ngữ - lời nói 11

1.2.2 Khó khăn về nói – Tật ngôn ngữ: 13

1.2.3 Mất lưu loát lời nói – Nói lắp 15

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nói lắp ở trẻ 6-7 tuổi 21

1.2.5 Các hướng tiếp cận trong việc xây dựng biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói 29

Kết luận chương 1: 30

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ĐỘ LƯU LOÁT LỜI NÓI CỦA TRẺ 6-7 TUỔI VÀ CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐỘ LƯU LOÁT LỜI NÓI CHO TRẺ 32

2.1 Mô tả về khảo sát 32

Trang 6

2.1.1 Mục đích 32

2.1.2 Nội dung 32

2.1.3 Phương pháp khảo sát 32

2.1.4 Mẫu khảo sát: 33

2.1.5 Bộ công cụ và xử lí dữ liệu: 33

2.1.6 Địa điểm khảo sát và cách tiến hành: 33

2.2 Kết quả thực trạng 34

2.2.1 Độ lưu loát lời nói của trẻ 6-7 tuổi 34

2.2.2 Thực trạng tỉ lệ lỗi lắp 38

2.2.3 Thực trạng mức độ tự nhiên trong lời nói của trẻ 6-7 tuổi 39

2.2.4 So sánh các trường hợp điển hình với nhóm khảo sát 40

2.2.5 Trải nghiệm của học sinh khó khăn về nói – giáo viên – phụ huynh 43

Kết luận chương 2 48

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐỘ LƯU LOÁT LỜI NÓI CHO TRẺ 6-7 TUỔI CÓ KHÓ KHĂN VỀ NÓI & THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 50

3.1 Hệ thống các biện pháp 50

3.1.1 Ý tưởng thiết kế 50

3.1.2 Các biện pháp 50

3.13 Nhóm biện pháp xây dựng môi trường giao tiếp thuận lợi 55

3.2 Thực nghiệm sư phạm 57

3.2.1 Mô tả về thực nghiệm 57

3.2.2 Kết quả thực nghiệm 64

3.3 Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao tiếp, ngôn ngữ và lời nói có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách của trẻ em Quá trình giao tiếp của trẻ với người khác (bằng ngôn ngữ, lời nói và cả giao tiếp không lời) cũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân, giúp trẻ trở thành thành viên của xã hội Chính vì vậy, vấn đề phát triển giao tiếp ngôn ngữ và lời nói của trẻ trong những năm đầu đời trở thành mối quan tâm hàng đầu của cha mẹ và thầy cô giáo

Theo tiến trình phát triển tự nhiên, trẻ sẽ có những nền tảng giao tiếp cơ bản, trẻ biết cách sử dụng tiếng nói và các âm thanh khác nhằm đến mục đích giao tiếp Vốn từ của trẻ tăng dần lên thấy rõ qua từng tháng, khoảng hai tuổi trẻ có khả năng nói rõ ràng và phát âm chính xác các cụm gồm 2 đến 3 từ, các

từ ghép hoặc câu đơn giản chỉ gồm danh từ và động từ, ví dụ như chim bay,

cá bơi… Khi trẻ trong khoảng 3 đến 4 tuổi, câu nói của trẻ lúc này dài hơn, vốn từ phong phú hơn Trẻ bắt đầu nói về nhiều đề tài khác nhau ngoài những nhu cầu của bản thân, trẻ kể về những gì xảy ra ở trường học, xảy ra với bạn

bè, kể về những câu chuyện nhưng kinh nghiệm mà bé trải qua hàng ngày Trẻ biết đặt câu hỏi cho những sự việc xảy ra xung quanh mình, lúc này trẻ

đã biết cách sử dụng lời nói và phát âm khá rõ ràng, trẻ biết cách làm cho người khác hiểu ý của mình muốn nói Tuy nhiên, để đạt được mức độ mạch lạc và lưu loát nhất định thì trẻ cần có nhiều thời gian hơn, thông thường các trẻ em phát triển theo chuẩn khi đến 5 tuổi, trẻ sẽ biết dùng các loại câu có cấu trức ngữ pháp phức tạp hơn và gần giống với cấu trúc câu của người lớn hơn Lúc này trẻ có khả năng kể lại một câu chuyện dài theo một chủ đề nhất định, có tính logic, không vấp váp cả về phát âm hay ý tưởng, thậm chí trẻ còn biết cách lôi kéo sự quan tâm của người nghe và

Trang 8

lúc này trẻ thường đạt được mức độ lưu loát nhất định trong lời nói và sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo

Ở trẻ từ 6 tuổi đến 7 tuổi là lứa tuổi đầu cấp tiểu học, lúc này các em có

sự thay đổi lớn về môi trường giao tiếp và hoạt động học tập, nhiều học sinh

có nhận thức bình thường, thậm chí tốt, có khả năng hiểu ngôn ngữ song khả năng diễn đạt lưu loát bằng lời nói bị hạn chế, điều này sẽ khiến các em mất

tự tin, mặc cảm dẫn đến hạn chế về giao tiếp và học tập Ngoài ra, ở những trẻ

có khăn về nói, các em thường chậm trễ hơn trong cả nhận thức và ngôn ngữ, các em vẫn chưa hoàn thiện các kỹ năng cần có, vì thế các em cũng chưa có khả năng nói lưu loát, vẫn chưa có khả năng trình bày mạch lạc một vấn đề của bản thân hoặc vấn đề của bài học, thậm chí những mong muốn những nhu cầu

cơ bản của bản thân cũng chưa thể trình bày một cách lưu loát, chưa khiến người đối diện có thể nghe hiểu được ý của các em muốn diễn đạt vì thế các em thường chậm trễ hơn trong việc tiếp nhận thông tin và sẽ gây cản trở, khó khăn trong việc học các môn học khác cũng như gặp khó khăn trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô và mọi người xung quanh Vì vậy, việc tìm hiểu, nâng cao nhận thức về vẫn đề này và đồng thời đưa ra các biện pháp sư phạm đặc biệt cho các trường hợp có khó khăn về độ lưu loát trong lời nói là rất cần thiết

Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6-7 tuổi có khó khăn nói

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề mất lưu loát ở trẻ có khó khăn

về nói 6-7 tuổi, từ đó xây dựng và thực nghiệm các biện pháp sư phạm đặc biệt giúp cải thiện độ lưu loát trong lời nói cho các em

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình hỗ trợ giáo dục trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói

Trang 9

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói của trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói

4 Giả thuyết khoa học

Sự mất lưu loát lời nói xảy ra ở nhiều trường hợp học sinh có nhu cầu đặc biệt đầu cấp tiểu học do hạn chế của trẻ và áp lực của môi trường tâm lí-

xã hội ở trường, lớp Có thể cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp học sinh khó khăn này bằng các cách tiếp cận khác nhau như tác động tâm lí, trị liệu kết hợp với việc xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện với các em

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc cải thiện độ lưu loát lời nói ở trẻ em

có khó khăn về nói

- Khảo sát, đánh giá về mức độ lưu loát trong lời nói của trẻ có khó khăn về nói 6-7 tuổi học hòa nhập, có so sánh với các chỉ số tương ứng ở các bạn cùng lớp

- Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp sư phạm nhằm cải thiện độ lưu loát lời nói cho các trường hợp học sinh 6-7 tuổi có khó khăn về nói

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Hồi cứu tài liệu: Tập hợp, phân tích, tổng thuật, và tổng hợp các tài

liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ lịch sử vấn đề, các khái niệm cơ bản và các tiếp cận về cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ có khó khăn về nói

6.2 Đo nghiệm độ lưu loát lời nói

Phương pháp đo nghiệm độ lưu loát lời nói áp dụng trong khảo sát thực tiễn ở lớp hòa nhập học sinh 6-7 tuổi có khó về nói và trong đánh giá sự tiến

bộ trong cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp thực nghiệm sư phạm Theo Bài giảng & giáo trình trị liệu nói lắp của Đại học Newcastle sử dụng ở khóa đào tạo thạc sĩ về Trị liệu ngôn ngữ tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc

Trang 10

Thạch (2015), độ lưu loát lời nói được đo nghiệm theo 3 thông số: 1) Tỉ lệ lỗi

lặp (Percentage of syllables stuttered / % SS) tính bằng tỉ lệ % âm tiết nói lắp

trên tổng số âm tiết nói ra; 2) Tốc độ nói (Syllables per minute / SPM) tính

bằng mức trung bình số âm tiết nói ra trên một phút; và 3) Mức độ tự nhiên

của lời nói (Speech naturalness / NAT), tính theo thang từ mức 1 = tự nhiên

nhất đến mức 9 = kém tự nhiên nhất

6.3 Phương pháp quan sát

Quan sát các hành động giao tiếp, nói năng của học sinh có khó khăn về nói ở trong một số tiết học ở lớp hòa nhập và trong quá trình hỗ trợ cá nhân được ghi chép lại dưới dạng nhật kí và ghi chú, làm cơ sở cho quá trình phản hồi, tác động và điều chỉnh

6.4 Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn

Những trải nghiệm cả tích cực và tiêu cực của giáo viên và phụ huynh trong quá trình dạy học và giao tiếp với học sinh khó khăn về nói được trao đổi, ghi chép lại làm cơ sở cho quá trình tìm kiếm và thực nghiệm biện pháp

hỗ trợ giáo dục

6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, khảo sát thực tiễn, các biện pháp cải thiện

độ lưu loát lời nói cho học sinh có khó khăn về nói được đề xuất và thực nghiệm sư phạm trên 3 trường hợp học sinh có khó khăn về nói, dạng nói lắp

6.6 Phương pháp thống kê toán học

Các kết quả nghiên cứu định lượng được phân tích bằng công cụ thống

kê toán học

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, việc thực hiện các nhiệm vụ đề tài được giới hạn:

Trang 11

- Trong hồi cứu tài liệu: tập trung vào các tài liệu liên quan trực tiếp đến

vấn đề nghiên cứu ở bình diện giáo dục đặc biệt và giáo dục phát triển ngôn ngữ Nguồn tài liệu tham khảo gồm các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt

- Trong khảo sát thực tiễn: đo mức độ lưu loát lời nói trên 30 học sinh

lớp 1 (học kì II, năm học 2014 – 2015), trong đó có 3 em được cho là có khó khăn về nói, nói lắp; đồng thời trò chuyện, phỏng vấn với 5 giáo viên dạy các lớp có học sinh này, và trao đổi với phụ huynh của 3 trường hợp học sinh vừa nêu Quan sát lớp học cũng được thực hiện ở 3 lớp, mỗi lớp 2-3 tiết học

- Với nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm: chúng tôi tiến hành thực nghiệm

qua nghiên cứu trường hợp trên 3 học sinh có khó khăn về nói được khảo sát trước đó Các em này có khó khăn chính là nói lắp Thời gian tác động thực nghiệm khoảng 3 tháng

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG

BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐỘ LƯU LOÁT LỜI NÓI CHO TRẺ 6-7

TUỔI CÓ KHÓ KHĂN VỀ NÓI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Độ lưu loát lời nói của trẻ em là một vấn đề được nghiên cứu từ nhiều góc độ, trong đó chủ yếu là trong chuyên ngành Trị liệu ngôn ngữ và trong giáo dục đặc biệt Ở nhiều nước, thậm chí có cả các viện/trung tâm nghiên cứu riêng về vấn đề này, sử dụng tiếp cận liên ngành Ví dụ như Viện nghiên cứu nói lắp Mĩ (American Institute for Stuttering) hoặc Trung tâm nghiên cứu nói lắp Úc (Australian stuttering research center) thành lập năm 1996 bởi Giáo sư Mark Onslow thuộc Đại học Sydney Các viện/trung tâm này

có nhiệm vụ tìm hiểu về bản chất của nói lắp, phát triển và thử nghiệm các phương pháp điều trị cho người lớn, trẻ nhỏ và các hỗ trợ cho gia đình của

họ cũng như đào tạo các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này

Các công trình nghiên cứu về mất lưu loát lời nói cũng hết sức phong phú

Ở Mĩ

Bác sĩ Michael Lawrence tại Đại học Maryland (1998) cho rằng nói lắp

là rối loạn trong nhịp điệu của bài phát biểu, trong đó các cá nhân biết chính xác những gì anh ta hay cô muốn nói, nhưng đồng thời có thể khó nói nó vì việc lặp đi lặp lại, kéo dài, hoặc chấm dứt âm thanh một cách không tự nguyện Tỉ lệ nói lắp ở trẻ mầm non khoảng 3-5%, và khoảng 0.7-1 % dân số thế giới Bé trai thường bị nói lắp hơn bé gái Nghiên cứu đưa ra tiêu chí đánh giá tình trạng nói lắp ở hai mức độ: mức độ không nghiêm trọng – có khả năng tự phục hồi (nói lắp dưới 5 %) và mức độ bệnh lí (từ 5% trở lên)

Giáo sư Raymond D Kent, trong nghiên cứu về rối loạn giao tiếp ở trẻ

Trang 13

its disorders” (2000) đã chỉ ra một trong những nguyên nhân của mất lưu loát lời nói nói riêng, rối loạn giao tiếp nói chung là do rối loạn điều khiển hệ cơ trong bộ máy phát âm.Các rối loạn hệ thống điều khiển cơ phát âm bao gồm: Hội chứng phát âm khó (không rõ ràng) (dysarthrias), hội chứng mất khả năng nói (apraxia of speech), nói lắp (stuttering) , và nói rời rạc (lộn xộn) (cluttering)

Giáo sư khoa học giao tiếp Marybeth Allen thuộc Trường đại học Đại học Maine năm 2009 đã nghiên cứu, đề ra phương pháp đánh giá và hướng điều trị cho một người có nói lắp Trong đó, nghiên cứu sử dụng các thiết bị cảm biến để báo hiệu các phản ứng, cảm xúc của đối tượng nghiên cứu, và thái độ đối, sự đánh giá của xã hội với nói lắp; đồng thời, hướng dẫn thiết kế một chương trình bao gồm thay đổi thái độ, bài tập về nhà, các chiến lược để giải quyết trực tiếp việc nói lắp, và các bước để giúp bệnh nhân nói lắp tự khắc phục khó khăn, hòa nhập hơn với cuộc sống

Gần đây hơn, J Scott Yaruss (2010), phó giáo sư trị liệu ngôn ngữ Đại học Pittsburgh, đã nghiên cứu rối loạn về ngôn ngữ, bao gồm các rối loạn về phát âm và âm vị học ở nhóm trẻ em 3-12 tuổi, đã cho thấy những rối loạn này rõ ràng có ảnh hưởng tới sự mất lưu loát lời nói Ông đã đề xuất các thủ tục chẩn đoán và trị liệu toàn diện cho các rối loạn ngôn ngữ và lời nói ở trẻ nói lắp

Những nghiên cứu nêu ở trên đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của một tên tuổi lớn trong nghiên cứu hiện tượng nói lắp - Dean Williams, giáo sư ngành nghiên cứu bệnh lý liên quan đến lời nói và ngôn ngữ tại Đại học Iowa trong suốt 40 năm qua Tiếp cận của William trong cải thiện độ lưu loát lời nói có thiên hướng kiểu tác động về mặt tâm lí và cải thiện môi trường giao tiếp, hơn

là quan niệm coi nói lắp là bệnh cần chữa trị Tiếp cận của William gần giống với cách “cổ điển” chữa trị chứng nói lắp được nghiên cứu và phát triển bởi

Trang 14

Johnson và Van Riper Các tiếp cận và phương pháp của hai tác giả này sẽ được bàn riêng ở một mục trong chương 1

Tại Úc

Giáo sư Barry Guitar & Danra Kazenski, Trường Đại học Wisconsin, đã xây dựng và đưa ra chương trình Lidcombe từ những năm 1990, đây là một chiến lược can thiệp để giúp trẻ nhỏ nói lắp Chương trình được cung cấp bởi các phụ huynh và hướng dẫn của các bác sĩ, những người nắm giữ các cuộc họp hàng tuần với cha mẹ và con Sử dụng một nghiên cứu trường hợp, thảo luận về Chương trình Lidcombe bao gồm đánh giá, rèn kĩ năng, theo dõi điều trị, và các khâu khác đảm bảo cho đứa trẻ duy trì lời nói lưu loát của mình Chương trình Lidcombe là một liệu pháp hành vi, được một phụ huynh thực hiện dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ Người thực hiện sẽ đánh giá tình trạng nói lắp của trẻ bằng thang 10 điểm và sau đó tham vấn bác sĩ hằng tuần

để kiểm tra tiến độ Khi tật nói lắp biến mất hoặc gần khỏi, giai đoạn hai của chương trình sẽ bắt đầu, tập trung duy trì những gì đạt được trong giai đoạn 1 trong vòng một năm

Một điểm đáng chú ý nữa là Bài giảng theo giáo trình về trị liệu nói lắp của Đại học Newcastle đã được giới thiệu và giảng dạy tại khóa đào tạo thạc

sĩ Trị liệu ngôn ngữ tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (2015) Theo đó, phương pháp đo nghiệm các chỉ số về độ lưu loát lời nói và phương pháp trị liệu được ứng dụng thực hành trên một số trường hợp trẻ em Việt Nam

Ngoài Mỹ, Úc cũng có những nhà nghiên cứu khác bày tỏ quan điểm

và nghiên cứu của họ về nói lắp

Năm 1861, nhà giải phẫu người Pháp Paul Broca đã nghiên cứu và phát hiện ra xủ lý tiếng nói ở vỏ não (gọi là vùng Broca) Khi vùng vỏ não này bất thường thì người bệnh khỏi nói được hoặc nói không lưu loát

Trang 15

Ở Anh, Tiến sĩ Monica Bray, Mphil (MA, CCC-SLP, BRS-FD) đã nghiên cứu về khả năng ngôn ngữ, kém lưu loát và khó khăn trong phát âm của những bệnh nhân mắc hội chứng Down, mô tả các đặc điểm ngôn ngữ dẫn đến nhận thức của chúng ta về sự thiếu lưu loát trong lời nói ở những người bị hội chứng Down, từ đó đưa ra được lời khuyên và hướng dẫn cho phụ huynh, giáo viên, và những người khác dựa trên các nguyên tắc ngôn ngữ

âm thanh

Ông nghiên cứu sử dụng các thiết bị cảm biến các phản ứng, cảm xúc của đối tượng nghiên cứu, và thái độ cũng như sự đánh giá của xã hội với nói lắp Hướng dẫn thiết kế một chương trình bao gồm thái độ thay đổi, bài tập về nhà, các chiến lược để giải quyết trực tiếp việc nói lắp, và các bước để giúp bệnh nhân nói lắp trở thành bác sĩ của mình, để họ hòa nhập hơn với cuộc sống, cụ thể là:

+ Mô tả nguyên nhân, đặc điểm nói lắp

+ Lập kế hoạch và quản lý việc đánh giá giúp xác định và tìm hiểu thái

độ của người nói lắp và phản ứng cảm xúc hướng về nói lắp của mình

+ Tạo ra nhiệm vụ phương pháp điều trị hỗ trợ người nói lắptrong việc đối phó nỗi sợ của mình và thái độ tiêu cực đối với nói lắp

+ Tạo ra nhiệm vụ trị liệu làm việc hướng tới việc tích hợp cả tạo hình

và kỹ năng sửa đổi để quản lý và giảm mức độ và tần số của nói lắp

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hầu hết vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu sâu và cụ thể

về vấn đề cải thiện độ lưu loát lời nói của trẻ em

Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt với tiền thân là Tổ nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật (thành lập vào ngày 6 tháng năm,1975) ra đời với đội ngũ cán bộ chuyên môn có trình độ đại học và sau đại học được đào tạo ở nước ngoài (chủ yếu ở Liên Xô cũ) là nền tảng cho những nghiên cứu chuyên sâu về

Trang 16

giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ có tật ngôn ngữ nói riêng Hiện nay, cùng với sự tồn tại và phát triển của các chuyên ngành truyền thống trong giáo dục đặc biệt như khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật trí tuệ, vấn đề về tật ngôn ngữ đã và đang được xác định là vấn quan trọng trong việc phát triển giao tiếp

và hòa nhập cộng đồng cho trẻ Các đề tài nghiên cứu, các tài liệu tham khảo, chuyên khảo, các bài báo về giáo dục trẻ khuyết tật ngôn ngữ có chất lượng đã mang lại một số đóng góp về lí luận và ứng dụng phục vụ công cuộc giáo dục các trẻ em này

Những đóng góp đầu tiên về nói lắp phải kể đến đó là các nghiên cứu của TS Bs Vũ Thị Bích Hạnh và Th.s Đặng Thái Thu Hương được trình bày trong tài liệu Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu (2004) Trong đó nói đến các yếu tố ảnh hưởng, cách đánh giá và điều trị nói lắp

Trong một tài liệu khác TS Bùi Thế Hợp “Giáo dục hoà nhập cho học sinh có nhu cầu đặc biệt về phát triển ngôn ngữ và giao tiếp” (2012) cũng cho rằng nói lắp là dạng khó khăn về nói khá phổ biến và là phổ biến nhất trong các kiểu mất lưu loát lời nói Lặp đi lặp lại về âm, hoặc từ ngữ hoặc có những chỗ ngắt, nghỉ, giật không bình thường trong chuỗi lời nói gây nên chậm trễ trong diễn đạt của người nói

Các nhà nghiên cứu về tật ngôn ngữ - giao tiếp cũng đã quan tâm đến vấn đề trẻ nói lắp Các nhà nghiên cứu đã bước dầu đưa ra một số biện pháp sửa tật ngôn ngữ nói chung và tật nói lắp nói riêng Song các biện pháp này chỉ mang tính gợi ý cơ bản và khái quát

Trong công trình nghiên cứu “Nội dung phương pháp giáo dục trẻ tật

ngôn ngữ” của nhóm tác giả thuộc Trung tâm Tật học đã liệt kê một số biện

pháp dành cho giáo viên trong quá trình hỗ trợ, giáo dục trẻ nói lắp như thái

độ của giáo viên đối với trẻ, cùng trẻ tham gia trao đổi, đọc truyện, rèn luyện giọng nói Trong các biện pháp này, các hoạt động rèn luyện các cơ quan

Trang 17

tham gia phát âm (hệ thống valsalva) chưa được đề cập một cách sâu sắc và thỏa đáng

Ngoài ra, TS Nguyễn Thị Xuyên và TS Trần Quý Tường (Bộ Y tế) cũng đưa ra nghiên cứu của mình trong tài liệu Phục hồi chức năng nói ngọng, nói lắp và thất ngôn (2007) Trong đó trình bày những kiến thức chung về khó khăn nói, về định nghĩa và những khó khăn của người bị chứng khó khăn nói Các nguyên tắc can thiệp chung về Y học – giáo dục – xã hội – hướng nghiệp Hướng dẫn chi tiết về nói ngọng, nói lắp và thất ngôn (nguyên nhân, cách nhận biết, khi nào cần can thiệp và hướng hỗ trợ

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Giao tiếp – ngôn ngữ - lời nói

Giao tiếp

Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, nhu cầu, tình cảm giữa ít nhất hai đối tượng, nhờ các hình thức giao tiếp khác nhau của ngôn ngữ (V T B Hạnh & Đ T T Hương, 2004) Quá trình giao tiếp diễn ra luân phiên giữa người gửi thông tin và người nhận thông tin nhằm trao đổi thông tin giữa các đối tượng giao tiếp Những thông tin này có thể bằng lời nói, chữ viết hoặc phương tiện phi lời nói như cử chỉ điệu bộ, kí hiệu, tranh và/hoặc biểu tượng,…

Giao tiếp là một phần tất yếu trong cuộc sống của con người chúng ta Con người sử dụng giao tiếp theo nhiều cách khác nhau, ví dụ để diễn giải ý muốn, yêu cầu xây dựng và duy trì các mối quan hệ Giao tiếp là một kỹ năng được cho là dĩ nhiên và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện của học sinh Thông qua giao tiếp trẻ có thể bày tỏ các nhu cầu, tình cảm, diễn

tả ý kiến của mình Trẻ tiếp nhận lại thông tin và truyền đạt thông tin Bằng cách này, trẻ bắt đầu thiết lập cho mình những đặc điểm cá nhân với đặc điểm nhận biết của chính mình Giao tiếp có thể mang đến cho trẻ cách để kiểm

Trang 18

soát những gì đang xảy ra và là một bước quan trọng trong việc hướng tới xây dựng mối quan hệ và sự liên quan trong một xã hội

Ngôn ngữ chính là một trong những yếu tố thức đẩy trẻ em trở thành một thành viên của xã hội loài người, là công cụ hữu hiệu giúp trẻ thể hiện mong muốn nhu cầu của mình từ khi còn rất nhỏ và là con đường để lĩnh hội tri thức

và tham gia vào các hoạt động giúp hình thành nhân cách ở trẻ

Ngôn ngữ là một hệ thống của các ký hiệu có tính chất võ đoán và các cấu trức tầng bậc có quy tắc được sử dụng như một phương tiện giao tiếp (Bùi Thế Hợp – Lê Thị Tố Uyên, 2012) Ngôn ngữ là sản phẩm của quá trình

tư duy và nhờ vào hoạt động của não bộ

Theo mô hình của Bloom và Lahey (1978) về 3 khía cạnh trong phát triển ngôn có thể giúp chúng ta dễ hình dung hơn về quá trình này Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em được mô tả qua 3 khía cạnh: 1 là nội dung ngôn ngữ, 2 là hình thức ngôn ngữ và 3 là sử dụng ngôn ngữ

Ở giai đoạn trước 6 tuổi trẻ mới chỉ có vốn từ sử dụng thông thường thì qua giai đoạn đầu tiểu học trẻ học vốn từ ngữ của nhà trường, diễn đạt các khái niệm môn học, các thuật ngữ khoa học ngày càng trừu tượng hơn Và hình thức thể hiện hữu hiệu nhất của ngôn ngữ với trẻ qua bên ngoài là thông qua lời nói

Trang 19

Lời nói

Lời nói là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người, khi dùng lời nói

có thể truyền tải được một lượng thông tin rất lớn một cách nhanh chóng Bởi vậy, ngay từ khi còn rất nhỏ trẻ đã luôn bắt chước các âm thanh xung quanh mình để tạo ra tiếng nói của riêng mình

Một trong những yêu tố cơ bản của lời nói là độ lưu loát, nói lưu loát là nói dễ dàng, mượt mà, thở đều và không gắng sức (V T B Hạnh, Đ T T, 2004) Để nói năng lưu loát cần có các quá trình chức năng như: hơi thở ra đủ, sinh âm, cấu âm và tư duy, hoạt động thần kinh bình thường… Vì vậy độ lưu loát lời nói là một trong các yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng lời nói và gây khó khăn về nói ở trẻ em

1.2.2 Khó khăn về nói – Tật ngôn ngữ:

Khó khăn về nói là một cách nói giảm, nói tránh cho những tật về ngôn ngữ nói

Thuật ngữ “tật ngôn ngữ” theo nghĩa rộng được đề cập đến với rất nhiều thuật ngữ khác nhau với nội hàm gần giống nhau như “rối loạn ngôn ngữ - lời

nói” (speech - language disorders), suy giảm ngôn ngữ - lời nói (speech -

language impairment), chậm phát triển ngôn ngữ - lời nói (speech - language

delay), khuyết tật ngôn ngữ - lời nói (speech – language disability)

Theo tài liệu Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở tiểu học trẻ “khuyết tật ngôn ngữ” là những trẻ trong nói năng, giao tiếp hàng ngày có những biểu hiện chưa chuẩn, thiếu hụt hay mất ít nhiều các yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ

pháp so với ngôn ngữ chuẩn

Theo như định nghĩa trên, tật ngôn ngữ tập trung chủ yếu vào các bình diện hình thức và nội dụng của ngôn ngữ được biểu hiện trong nói năng, giao tiếp hàng ngày (tức là trong hình thức tồn tại là ngôn ngữ nói); chưa

đề cập đến bình diện chức năng của ngôn ngữ cũng như các hình thức tồn tại khác của ngôn ngữ

Trang 20

Theo IDEA – Luật giáo dục người khuyết tật – Mỹ (The Individuals with Disabilities Education Act) định nghĩa tật ngôn ngữ tương ứng với sự rối loạn

về giao tiếp với các vấn đề như nói lắp, suy giảm khả năng phát âm, suy giảm giọng và suy giảm về ngôn ngữ làm ảnh ảnh đến khả năng học tập của trẻ Với định nghĩa của IDEA, tật ngôn ngữ và tật giao tiếp tương đồng với nhau và bao gồm các tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) và tật lời nói

Theo ASHA – Hiệp hội nghe – nói và ngôn ngữ Mỹ (American Language-Hearing Association) “Tật ngôn ngữ là một phạm vi rộng về các điều kiện thực hiện, các nhân tố cốt yếu và những thách thức trong việc tạo được hiệu quả trong giao tiếp Thuật ngữ này ngụ ý rằng nó bao gồm các rối loạn trong lời nói với sự suy giảm về khả năng phát âm, về khả năng nói lưu loát và về giọng cũng như các rối loạn trong ngôn ngữ với sự suy giảm trong việc sử dụng ngôn ngữ nói (hoặc hệ thống kí mã hay ngôn ngữ viết) và liên quan đến hình thức ngôn ngữ (ngữ pháp và âm vị), nội dung ngôn ngữ (ngữ nghĩa), chức năng ngôn ngữ (ngữ dụng)”

Speech-Định nghĩa này đã đề cập tới vấn đề ngôn ngữ và lời nói như là những điều kiện để thực hiện giao tiếp có hiệu quả với đầy đủ các yếu tố bên trong chúng (hình thức, nội dung, chức năng của ngôn ngữ và khả năng phát âm, độ lưu loát, giọng của lời nói) Như vậy, tật ngôn ngữ (theo nghĩa rộng) bao gồm tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) và tật về lời nói và chúng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của quá trình giao tiếp

Chúng tôi lựa chọn cách hiểu về tật ngôn ngữ là sự rối loạn hoặc suy giảm đáng kể về hình thức, nội dung, chức năng của ngôn ngữ ở các hình thức tồn tại (chủ yếu là nói, viết) và sự rối loạn hoặc suy giảm về khả năng phát

âm, độ lưu loát, chất lượng giọng của lời nói

Hình thức tồn tại bên trong của ngôn ngữ, chúng tôi không đề cập ở đây vì đó là vấn đề vô cùng phức tạp và đòi hỏi sự nghiên cứu liên ngành chặt chẽ

Trang 21

Theo tác giả Noma B Anderson, tật lời nói (speech disorder) là “sự suy giảm về khả năng phát âm với đặc trưng là sự thiếu sót hoặc biến dạng của âm thanh tiếng nói; sự mất lưu loát với đặc trưng là sự bất thường về

độ trôi chảy, nhịp điệu, sự lặp đi lặp lại các âm thanh; hoặc sự rối loạn về giọng nói với đặc trưng là sự bất thường về cao độ, âm sắc, cường độ, trường độ, chất lượng phát âm” Hiệp hội nghe, nói và ngôn ngữ Mỹ (ASHA) cũng có định nghĩa tương tự “tật lời nói là sự suy giảm về khả năng phát âm, độ lưu loát/ trôi chảy và giọng điệu”

Với định nghĩa trên về tật lời nói, chúng ta có thể hình dung một cách khá rõ nét về các kiểu tật lời nói cũng như các đặc trưng của chúng

Những dạng khó khăn vừa nêu trên, khi ở mức đáng kể và tương đối ổn định, sẽ gây tác động tiêu cực đến quá trình giao tiếp, học tập và sinh hoạt hàng ngày của trẻ

Phân loại tật lời nói (speech disorders):

Tật lời nói được ASHA (American Speech-Language-Hearing Association) phân thành 3 loại chính:

 Rối loạn phát âm, âm vị (Articulation and Phonological Disorders) Rối loạn phát âm (Articulation Disorder) gồm: thiếu âm (Omissions), thừa âm (Additions), biến âm (Distortions), thế âm (Substitution)

 Mất lưu loát (fluency disorder) là sự gián đoạn trong dòng ngữ lưu, biểu hiện ở tốc độ nói, nhịp điệu, sự lặp đi lặp lại của âm, từ, ngữ

Rối loạn giọng (voice disorder): đặc trưng bởi sự bất bình ở cao độ, cường độ, trường độ, sự cộng hưởng âm thanh thường so với trẻ cùng độ tuổi và giới tính

1.2.3 Mất lưu loát lời nói – Nói lắp

Mất lưu loát (fluency disorder) là sự gián đoạn trong dòng ngữ lưu, biểu hiện ở tốc độ nói, nhịp điệu, sự lặp đi lặp lại của âm, từ, ngữ trong

Trang 22

luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến một dạng phổ biến nhất của mất lưu loát lời nói là nói lắp

Nói lắp là một dạng khó khăn về nói khá phổ biến, chính xác hơn là phổ biến nhất trong các kiểu mất lưu loát lời nói Lặp đi lặp lại về âm, hoặc từ ngữ, hoặc có những quãng cách, những chỗ ngắt, nghỉ, giật không bình thường trong chuỗi lời nói, gây nên sự chậm trẽ trong diễn đạt của người nói và sự phản cảm đối với người nghe (Bùi Thế Hợp – Phạm Thị Bền – Lê Thị Tố Uyên, 2012)

Thông thường ai cũng có những lúc nói lắp, chỉ khi hiện tượng nói lắp

ổn định trong thời gian tương đối dài và chiếm tới hơn 10% số từ được nói ra mới được coil à có nhu cầu đặc biệt Có thể biết một số học sinh nói lắp qua quan sát, trò chuyện và ghi âm để kiểm tra lại phát ngôn của các em đó Nói lắp thường có ảnh hưởng tới tốc độ nói và khả năng diễn đạt, biểu lộ tình cảm của lời nói

Tật nói lắp (stuttering/ stamming) hay còn gọi là tật nói cà lăm là một kiểu mất lưu loát lời nói liên quan chủ yếu đến rối loạn về âm điệu, nhịp điệu

và tính lưu loát của lời nói, kèm theo sự nảy sinh những cơn co giật ở các cơ tham gia cử động nói

Bản chất những cơn co giật trên là do trong vỏ não hình thành một vùng

bị rối loạn sự tác động tương hỗ đứng giữa vỏ não và dưới vỏ não mà các trung tâm điều khiển âm điệu và nhịp điệu lời nói nằm trong phần dưới vỏ não

đó Hậu quả sự phá hủy này làm rối loạn những hành động ngôn ngữ phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận hô hấp, thanh quản và cơ quan phát âm Sự rối loạn

đó được thể hiện trong các cơn co giật khi nói [6, 43]

Nói lắp thưởng ảnh hưởng tới tốc độ nói và khả năng diễn đạt, biểu lộ tình cảm của lời nói Cơ chế làm nảy sinh nói lắp có thể do sự mất cân bằng giữa 2 quá trình thần kinh hung phấn và ức chế Đồng thời do mối lien hệ

Trang 23

giữa thần kinh và vỏ não với các tổ chứa dưới vỏ não, tạo nên những cơn co giật thần kinh trong quá trình dẫn truyền tín hiệu

Các kiểu nói lắp:

 Lắp một âm của âm tiết Ví dụ: s…ss…sss…sáng nay, em đi học

 Lắp một âm tiết/ 1 tiếng Ví dụ: sáng… sáng … sáng nay, em đi học

 Lắp một từ hoặc một ngữ Ví dụ: sáng nay… sáng nay… sáng nay,

em đi học

 Hỗn hợp Ví dụ: s…ss… sáng nay… sáng nay, em đi học

Nếu trẻ chỉ nói lắp đơn thuần mà không kéo theo các khuyết tật khác liên quan đến ngôn ngữ thì khiếm khuyết ngôn ngữ chỉ thể hiện ở nhịp điệu và sự lưu loát của lời nói Trong thực tế đa số trẻ bị nói lắp thường ở mức độ nhẹ, chỉ làm giảm khả năng biểu đạt của lời nói, kìm hãm tốc độ nói Nhưng cũng

có nhiều những trường hợp nặng hơn, trong những trường hợp như thế, khả năng phát âm giao tiếp của trẻ bị hạ thấp trầm trọng, thậm chí không giao tiếp được Việc sửa khiếm khuyết cho trẻ ở mức độ này là rất phức tạp và trong thời gian dài

Nguyên nhân của nói lắp:

Con người chúng ta có thể phát ra tiếng nói là nhờ vào sự phối hợp tinh

vi của các cơ để thực hiện cùng một lúc nhiều cử động như thở, phát âm và cất tiếng Tất cả những cơ này đều được điều khiển bởi bộ não và được kiểm soát chặt chẽ thông qua thính giác và xúc giác

Não của các loài vật không có vùng Broca Còn loài vượn người nhờ có lao động mà có được ngôn ngữ, chính nhờ điều đó mà não vượn dần dần trở thành não người (có vùng Broca) Năm 1861, nhà ngoại khoa người Pháp là ông Broca theo dõi một người suốt đời không nói được và mổ tử thi bệnh nhân đó sau khi bệnh nhân chết Broca viết một bệnh án đầy đủ, chính xác

Trang 24

Và bệnh án đó là tài liệu đầu tiên về chức năng riêng biệt của một khu vực nhỏ trên vỏ não người Khu vực đó là khu vực lời nói Để ghi nhớ công lao,

về sau người ta gọi vùng đó là “khu vực Broca” - tức là vùng hồi trán số 3

phía bán cầu não bên trái Và bệnh không nói được còn gọi là bệnh mất lời của Broca

Khi ta phát âm, cùng một lúc với những xung động thần kinh đi đến vùng Broca, còn có những kích thích thính giác của lời nói, những kích thích thị giác, cảm giác bản thể của người nói và kích thích vật thể mà lời nói đại diện Lời nói vô cùng quan trọng, nó là tín hiệu của những kích thích cụ thể, có tác dụng xây dựng tư tưởng tức là giúp não bộ hình thành tư duy xây dựng nhận thức

Ở loài vật, kể cả loài linh trưởng do chưa có vùng Broca nên chúng chỉ nhận thức được những cái gì chúng cảm giác được Lời nói của người và tiếng kêu của động vật không thể so sánh với nhau được, vì hai thứ âm thanh này khác xa nhau về chất cũng như về lượng

Các nhà khoa học vẫn đang tìm kiếm câu trả lời trọn vẹn cho cơ chế gây nói lắp, nhưng hiện tại tật nói lắp được cho là do các nguyên nhân sau:

+ Nói lắp như một phần của quá trình phát triển kỹ năng ngôn ngữ:

Dạng nói lắp này diễn ra ở trẻ nhỏ đang trong giai đoạn tập nói và hình thành kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Đây là dạng nói lắp phổ biến nhất Nhiều nhà khoa học và bác sĩ cho rằng hiện tượng nói lắp xảy ra khi khả năng nói và vốn từ của trẻ không đủ để các bé diễn đạt những yêu cầu hoặc hành động của mình Nói lắp cũng là một đặc tính di truyền trong gia đình Năm 2010, lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà khoa học của Viện Nghiên Cứu Quốc Gia về

Vùng ngôn ngữ của não không hoàn

hảo sẽ dẫn đến tật nói lắp

(Ảnh: Lemoyne.edu)

Trang 25

Điếc và Các Rối Loạn Giao Tiếp –Mỹ (NIDCD) đã phân tách được ba loại gene di truyền gây ra tật nói lắp ở người

+ Nói lắp do các nguyên nhân về thần kinh:

Trong trường hợp này, tật nói lắp xuất hiện sau một cơn chấn động về thần kinh, điển hình như động kinh, co giật, chấn thương sọ não Khi đó, bộ não mất khả năng điều phối các thành phần và những cử động khác nhau liên quan đến giao tiếp bằng lời nói, do đường truyền tín hiệu giữa bộ não, các dây thần kinh và các cơ đã bị thương tổn hoặc cắt đứt

Nguyên nhân nói lắp thứ ba ít phổ biến hơn là nói lắp tâm lý Trẻ có thể

bỗng dưng nói lắp sau một biến cố hoặc sang chấn tâm lý mà không rõ nguyên do, dù trước đó họ không hề có tật này

Đặc trưng của trẻ có tật nói lắp:

Nói lắp được ví như một tảng băng trôi Nó có cả phần nhìn thấy nổi trên mặt nước (chiếm 10%) và phần không nhìn thấy chìm dưới nước (chiếm 90%) Phần nói ngập ngừng, không liên tục, kéo dài hoặc lặp đi lặp lại âm hoặc âm tiết chính là “phần nổi”, còn những phần chìm chính là những biểu hiện sau:

 Sợ nói trong các hoàn cảnh đặc biệt

Hầu hết những trẻ nói lắp thường sợ những tình huống nói chuyện đặc biệt Điều này tùy thuộc vào mỗi cá nhân, nhưng một trẻ nói lắp điển hình sẽ

Trang 26

nói lắp hơn khi trả lời hoặc nói chuyện với những người có vai giao tiếp cao hơn như: thầy cô giáo, người lớn tuổi, công an… Việc nói lắp có thể ít xuất hiện hơn khi trẻ nói chuyện với những người thân thiết như cha mẹ, ông bà hoặc bạn bè

 Tránh nhìn vào mắt

Trẻ nói lắp thường có khuynh hướng tránh nhìn vào mắt người nghe Một phần vì sự chú ý lắng nghe của người khác vào trẻ khiến trẻ hồi hộp, phần vì trẻ cảm thấy khó chịu với phản ứng của người nghe khi thấy mình nói lắp

Trẻ nói lắp thường cảm thấy hổ thẹn vì không thể nói lưu loát, trôi chảy

và trẻ thường cảm thấy bất lực, vô dụng vì những khó khăn gặp phải khi giao tiếp với người khác Thậm chí, trẻ cảm thấy có lỗi, lúng túng vì làm người khác mất kiên nhẫn khi nghe mình nói

 Sử dụng từ chêm xen

Khi một trẻ nói lắp cảm thấy có điều gì đó cản trở lời nói thì thường thêm vào những từ vô nghĩa như: “ừm”, “à”, “ờ”, “vâng”… Một người bình thường cũng có xu hướng dùng những từ vô nghĩa này nhưng ở người nói lắp,

xu hướng này xảy ra thường xuyên hơn Người nói lắp thường cảm thấy những từ vô nghĩa này sẽ giúp họ có sự khởi đầu trong giao tiếp hoặc giúp họ nói nhanh qua những từ khó nói, giúp họ cảm thấy đang nói liên tục

 Nói tránh

Khi một trẻ nói lắp cảm thấy khó khăn khi nói một từ cụ thể nào đó thì trẻ thường sử dụng những từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa để thay thế Thường

Trang 27

thì sự thay thế này khiến thông tin kém chính xác hơn và điều này càng khiến cho trẻ nói lắp không thể giao tiếp một cách hiệu quả được Trẻ nói lắp nặng thỉnh thoảng nói hoàn toàn khác với những gì trẻ định nói

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nói lắp ở trẻ 6-7 tuổi

Đặc điểm tâm lí của trẻ 6-7 tuổi

Khi trẻ em đến tuổi thứ 6, trẻ em sẽ vào học lớp một – đây là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong cuộc đời của trẻ Khi trở thành học sinh, học tập là bổn phận hàng đầu và vô cùng quan trọng hay nói cách khác, lúc này, hoạt động chủ đạo của các em được chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Khi hoạt động chủ đạo thay đổi chắc chắn các hoạt động tâm lí của các em cũng thay đổi nhất định

Các em vẫn có sự thích thú đến trường nhưng lúc này không đơn thuần

là thích đến trường để vui chơi, để học tập một cách thoải mái như bậc mầm non mà hoạt động học tập mới lúc này mang tính nghiêm túc, được đánh giá

và ghi nhận bằng lời thậm chí bằng điểm nhằm thu nhận những kiến thức mới,

kỹ năng kỹ xảo mới chứ không chỉ đơn thuần là biết cái mới

Sự phát triển ngôn ngữ đạt tới mức hiểu đúng những lời giảng giải của giáo viên, những lời giảng giải này không chỉ gần gũi với kinh nghiệm sống hang ngày của các em mà con mang tính trừu tượng, khái quát Mặt khác, các

em cũng cần có khả năng diễn đạt gãy gọn, cụ thể suy nghĩ, tình cảm của bản thân và thể hiện rõ rang cho người khác

Trang 28

Một trong những điểm quan trọng trong sự chuyển biến tâm lí thấy rõ khi các em bước vào độ tuổi tiểu học còn được thể hiện rất rõ ở khả năng điều khiển các hoạt động tâm lí, biết làm chủ suy nghĩ, khả năng tập trung, chuyển từ bản tính

tò mò thành tính ham học hỏi, kiểm soát cảm xúc và hoạt động của bản thân Ngoài ra, độ tinh nhạy và sức bền của vận động bàn tay được thể hiện chính xác

và bền bỉ hơn

Tất cả các đặc điểm tâm lí của trẻ 6-7 tuổi có thể tóm tắt lại ở quá trình nhận thức và đặc điểm nhân cách cụ thể như sau:

Đặc điểm của các quá trình nhận thức

Đặc điểm tri giác: tri giác của học sinh lớp 1 còn mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết, thường gắn liền với hoạt động, hành động thực tiễn của trẻ Các em thường chỉ tri giác những gì phù hợp với nhu cầu hoặc chỉ dẫn trực tiếp của giáo viên Tính cảm xúc trong tri giác được thể hiện rất rõ ràng, những sự vật hiện tượng hay sự vật nào mang đặc điẻm trực quan, rực rỡ, sinh động, gây cảm xúc mạnh cho các em thường được các em tri giác tốt hơn cả Tri giác về thời gian, không gian còn nhiều hạn chế và bản than tri giác không

tự phát triển, nó chỉ phát triển khi được đặt vào quá trình học tập, các hoạt động có mục đích và được định hướng đúng đắn

Đặc điểm chú ý: ở lứa tuổi đầu lớp một, chú ý có chủ định của các em còn rất yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý thức chưa cao, sự chú ý lúc này luôn cần một động cơ thúc đẩy gần như được cô khen hay được phần thưởng… Ngoài ra, chú ý không chủ định cũng dần được phát triển, những gì mang tính mới mẻ, yếu tố khác thường, bất ngờ thường dễ dàng gây sự chú ý

ở các em Đặc biệt, sự chú ý của học sinh đầu lớp 1 mang tính thiếu bền vững,

do quá trình ức chế não bộ của các em vẫn còn yếu dẫn đến các em tường rất

dễ bị phân tán, do đó các em cần được rèn luyện trong quá trình học tập, theo sát và định hướng của giáo viên

Trang 29

Đặc điểm trí nhớ: các em học sinh lớp 1 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc, trí nhớ trực quan – hình tượng được phát triển hơn là trí nhớ từ ngữ - logic Đa phần các em chưa biết cách tổ chức ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết xây dàn ý hoặc tìm các điểm tựa để ghi nhớ một cách logic Các em sử dụng

đa giác quan để ghi nhớ tuy nhiên những thông tin được lưu trữ lại thường chỉ

là những thông tin đã gây ấn tượng mạnh với các em

Đặc điểm tưởng tượng: tưởng tượng của học sinh lứa tuổi đầu tiểu học được hình thành và phát triển trong các hoạt động học và các hoạt động khác phong phú hơn rất nhiều so với độ tuổi khi chưa đến trường, hình ảnh tưởng tượng tuy còn đơn giản hay thay đổi và thiếu tính bền vững xong ngày càng mang tính hiện thực hơn hay nói chính xác hơn thì tưởng tượng của học sinh đầu tiểu học dần thoát khỏi những ấn tượng trực tiếp mà gắn liền với hiện thực, gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ

Đặc điểm tư duy: trong độ tuổi 6-7 tuổi, tư duy của trẻ là tư duy cụ thể còn mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Thông qua quá trình học tập, học sinh dần dần học được các khái niệm khoa học, chúng biết cách xem xét, phân biệt những thuộc tính, dấu hiệu của các đối tượng…và dần chuyển từ nhận thức bên ngoài vào nhận thức bên trong, tức nhận thức được bản chất sự việc Nhưng nhìn chung, tư duy của trẻ đầu tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối mà chỉ mang ý nghĩa tương đối

Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học

Tính cách: tính cách của trẻ em thường được hình thành sớm trước tuổi

đi học, có em nhút nhát, có em sôi nổi song những nét tính cách ấy mới chỉ hình thành và chưa ổn định Ở lứa tuổi đầu tiểu học, các em dễ có khuynh hướng hành động ngay tức khắc dưới sự tác động của các kích thích bên trong

và bên ngoài, các em thường bướng bỉnh và thất thường Phần lớn các em đều

Trang 30

có nhiều tính cách tốt như hồn nhiên, chân thực, ham hiểu biết và rất cả tin, tất nhiên tất cả đều còn cảm tính và chưa có lí trí

Nhu cầu nhận thức: khi bước vào những ngày tháng đầu tiên của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của các em phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xunh quanh và khát vọng hiểu biết., tuy nhiên sự tìm tòi của các em mới chỉ dừng lại ở các sự vật sự việc đơn lẻ và đặc biệt ở lưá tuổi này

sẽ xuất hiện nhu cầu đọc rất mạnh mẽ Tuy nhiên, nhu cầu nhận thức của học sinh chỉ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động đa dạng và phong phú trong trường học, ngoài xã hội và cả trong gia đình, các em cần có niềm vui, niềm tin vào sức mạnh trí tuệ của mình để từ đó tự hình thành nhu cầu nhận thức cho bản thân, các em sẽ tự có động lực khắc phục khó khăn, tự mình chiếm lĩnh tri thức và tự giác học tập

Tình cảm: đối với trẻ em lứa tuổi 6-7 luôn luôn có một vai trì đặc biệt,

nó là khâu kết nối gắn liền nhận thức và hành động Các em rất dễ xúc động, xúc cảm và khó khăn trong việc kìm hãm cảm xúc của mình, những cảm xúc tình cảm này vẵn gắn liền với các đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể Tình cảm của các em lúc này còn mong manh, chưa bền vững và chưa sâu sắc, cảm xúc của các em cũng dễ dàng chuyển hoá một cách nhanh chóng, tuy nhiên những ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc thì vẫn sẽ ghi dấu lại trong tâm hồn của các em

Sự phát triển của năng khiếu: đây là yếu tố mang tính chất cá nhân thể hiện rõ nét hơn những năm ở lứa tuổi mẫu giáo, các em thể hiện rõ ràng điểm mạnh yếu của cá nhân và đây cũng là tiền đề cho việc hình thành cá tính riêng biệt của các ems au này

Ảnh hưởng của khó khăn về nói tác động đến trẻ

Ngôn ngữ chung và ngôn ngữ nói/tật ngôn ngữ nói riêng có liên quan trực tiếp đến các quá trình tâm lý Khi trẻ có khó khăn về nói sẽ làm ảnh

Trang 31

hưởng đến các quá trình tâm lý, thậm chí có thể bị thay đổi muốn hiểu được ý nghĩa của lời nói mà người khác diễn đạt, trẻ phải nghe được tốt và hiểu được giá trị của mỗi thành phần âm thanh Khi có khó khăn về nói trẻ thường gặp khó khan trong việc tri giác ngữ nghĩa Sai lệch trong các tri giác ngữ âm sẽ dẫn đến những sai lệch trong cách hiểu nghĩa Hiểu sai ngữ nghĩa sẽ hình thành những biểu tượng sai lệch trong mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa khái niệm Sự sai lệch về ý nghĩa khái niệm trong sự tương ứng với ngôn ngữ

sẽ làm sai lệch quá trình tư duy của trẻ Nói cách khác, sự sai lệch trong tri giác âm thanh hoặc tri giác âm thanh khi phát âm ra cũng sẽ làm sai lệch hoặc ảnh hưởng đến chất lượng thong tin, đây là nguyên nhân tạo ra các phản ứng không phù hợp và gây ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp

Ngôn ngữ nói có ảnh hưởng đến hành vi và quá trình thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường, học sinh hoạt động theo những yêu cầu và hướng dẫn của thầy cô giáo, đồng thời dung ngôn ngữ để đặt ra kế hoạch hành động của mình cho việc thức hiện các nhiệm vụ học tập Trong quá trình đó, học sinh

sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt hành vi thực hiện và tiếp nhận, vì vậy nếu trẻ có khó khan về nói sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến các thông tin và quá trình trao đổi thong tin, ảnh hưởng đến nhiệm vụ và mục đích của các hoạt động

Ngôn ngữ nói giữ một vài trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành mối quan hệ tình cảm giữa trẻ đối với mọi người xunh quanh Ngôn ngữ nói

là cầu nối ngắn nhất gắn liền tình cảm giữa các thành viên với nhau, giúp cho mọi người gần gũi và chia sẻ Ngôn ngữ nói chính là điều kiện tạo bầu không khí tâm lý tập thể đầm ấm, gắn kết, thân tình Nhờ có ngôn ngữ nói mà trẻ có thể thể hiện tình cảm của mình với người khác, đồng thời ngôn ngữ cũng giúp cho người khác hiểu được tình cảm mà trẻ muốn thể hiện Trong trường học thong qua lời nói, thầy trò bạn bè hiểu nhau, động viên, khích lệ nhau, giúp đỡ nhau trong mọi lĩnh vực và có kết quả tốt hơn

Trang 32

Bắt đầu vào lứa tuổi đầu tiểu học, ngôn ngữ nói ảnh hưởng rất nhiều đến tâm tư tình cảm của trẻ Trẻ sẽ cảm thấy buồn bã, tủi than và xấu hổ về việc khó khăn về nói của mình Vì thế, trẻ rất dễ trở nên nhút nhát, tự ti, mặc cảm, ngại giao tiếp, khôngthichs tham gia các hoạt động tập thể, trầm trọng hơn có thể trẻ sẽ thu mình hoàn toàn trước mọi người

Ngôn ngữ nói là một trong các phương tiện thể hiện tư tuy và giao tiếp,

vì vậy, khi trẻ có khó khan về nói thì sự phát triển của tư duy cũng bị chậm lại

và quá trình nhận thức cũng bị ảnh hưởng Những hậu quả thứ phát này sẽ làm hạn chế đáng kể đến sự phát triển toàn diện của trẻ Đồng thời, ở trẻ sẽ dần nảy sinh những nét tâm lý khác gây khó khan cho sự hoà nhập cộng đồng Ngoài ra, ngôn ngữ nói cũng ảnh hưởng đến hầu như tất cả các quá trình tâm lí khác của trẻ Trẻ tri giác các sự vật hiện tượng xunh quanh, rồi phân tích, tổng hợp, so sánh và biểu thị ra bằng ngôn ngữ Các kết quả tri giác, được ghi nhớ bằng từ ngữ làm cho trí nhớ của trẻ mang tính logic và có ý nghĩa Ngôn ngữ có vai trò chủ yếu trong các quá trình ý chí của trẻ, trẻ hành động theo những động cơ, mục đích được kế hoạch hoá bằng ngôn ngữ Ngược lại, trẻ cũng hoạt động theo yêu cầu, mệnh lệnh, lời khuyên của người khác được cụ thể hoá bằng ngôn ngữ, do đó yếu tố liền mạch, trôi chảy có ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp nhận, bày tỏ và chất lượng của các yếu tố trên Trong quan hệ tình cảm, nhờ ngôn ngữ trẻ cũng như mọi người diễn đạt được tình cảm của mình, những lời hay ý đẹp được thể hiện một cách trơn tru cũng làm khơi dậy tình cảm của người nghe… Như vậy, cùng với các yếu tố khác, ngôn ngữ nói có khó khan đã ảnh hưởng trầm trọng đến chức năng giao tiếp, đến hoạt động nhận thức và quá trình hình thành nhân cách của trẻ

 Ảnh hưởng của gia đình và cộng đồng nơi trẻ sinh sống đến việc cải thiện độ lưu loát lời nói

Quá trình học ngôn ngữ bắt đầu từ khi trẻ mới chào đời, ngôn ngữ phát

Trang 33

triển là nhờ quá trình tương tác, giao tiếp thông qua mọi hoạt động của cha

mẹ và con cái trong mọi sinh hoạt thường ngày, mọi lúc mọi nơi Cha mẹ trò chuyện với trẻ khi đang chơi đùa, khi làm các công việc cá nhân, khi cùng nhau đọc sách hay học bài… cha mẹ tương tác với trẻ và mong đợi trẻ phản hồi Cha mẹ sẽ nhận ra sự khó khăn của trẻ, hiểu tâm trạng, cảm giác của trẻ nhiều nhất và cũng là người có cơ hội tương tác trực tiếp nhiều nhất với trẻ Với lợi thế này, để cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ thì chắc chắn cha mẹ sẽ

là một trong những người có ảnh hưởng nhiều nhất Nếu cách biểu hiện trong tương tác của cha mẹ phù hợp sẽ khiến trẻ tiến bộ nhanh chóng, và ngược lại nếu cha mẹ không thể tác động những cách thức tích cực thì sẽ là yếu tố kìm hãm và làm trẻ khó khan nhiều hơn trong việc cải thiện độ lưu loát lời nói Cha mẹ không nhất thiết phải “dạy dỗ con” một cách bài bản, khi trẻ có khó khăn trong việc nói, trẻ nói sai, nói chưa đúng, cha mẹ không cố gắng chỉnh sửa trẻ, không chờ đợi và bắt buộc trẻ lặp lại theo lời nói của mình nói Không có các đồ chơi hay các thiết bị đặc biệt mà cũng chẳng dùng phấn bảng hay bàn ghế nhưng bằng chính tình yêu thương và sự chăm sóc chu đáo của cha mẹ đã tạo nền tảng và cơ sở tâm lí vững chắc để trẻ điều chỉnh và phát triển ngôn ngữ

 Ảnh hưởng từ môi trường giao tiếp ở trường, lớp (từ thầy cô, bạn bè ): Như chúng ta đã biết, trẻ có khó khăn về nói, các em cơ bản đều có trí lực và thể lực phát triển theo chuẩn thông thường, mọi hoạt động phục vụ và

tự phục vụ vẫn rất tốt Tuy nhiên các em sẽ gặp rất nhiều khó khan trong quá trình giao tiếp, học tập tại trường lóp nếu không được hỗ trợ, quan tâm và hướng dẫn Bởi lẽ, kết quả học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ được hình thành trong quá trình dạy và học Ở trường học, mối quan

hệ thầy trò luôn ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh Giáo viên dung ngôn ngữ nói và viết để hướng dẫn học sinh tiếp cận kiến thức,

Trang 34

kinh nghiệm học tập Những thông tin cung cấp nếu học sinh tiếp cận được một cách dễ dàng sẽ giúp các em phát triển khả năng học tập và tích lũy được nhiều kiến thức

Nếu học sinh có khó khăn về nói, sau khi tiếp nhận vấn đề nhưng lại khó khăn trong việc phản hồi, trao đổi, diễn đạt không trọn vẹn, bị ngắt quãng …

sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tiếp nhận từ đó gây ảnh hưởng đến chất lượng học tập

Trẻ có khó khăn về nói vẫn cùng tham gia tất cả các hoạt động học tập với các học sinh khác, những khiếm khuyết do diễn đạt (nói lắp) của trẻ sẽ làm gia tăng rất nhiều đến sự phối hợp, chia sẻ, trao đổi giữa bản thân trẻ và các học sinh khác Hạn chế này nếu không được hỗ trợ, can thiệp và định hướng đúng đắn thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động chung của nhóm học tập, đến các cá nhân khác và trầm trọng nhất là ảnh hưởng đến mối quan hệ bạn bè của trẻ

Hiệu quả hoạt động dạy học của thầy cô trong trường học phụ thuộc rất nhiều vào quá trình truyền đạt lĩnh hội và phản hồi lại thong tin, từ đó sẽ hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho trẻ… Nếu học sinh, hiểu chưa đúng hoặc chưa trọn vẹn vấn đề nhưng việc khó khăn về nói trong quá trình diễn giải lại cũng gặp khó khăn, trẻ sẽ ngại bày tỏ và bày tỏ đứt quãng không rõ ý nghĩa…điều này khiến cho chất lượng việc tiếp nhận thông tin không chính xác, hay nói cách khác giáo viên sẽ không đánh giá được chính xác chất lượng học tập của học sinh

Ngoài hoạt động học tập chủ đạo trong nhà trường, các hoạt động trong lứa tuổi 6-7 vẫn còn mang nhiều nét hoạt động vui chơi Trẻ tương tác, giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa thông qua ngôn ngữ nói là chủ yếu Nếu trẻ gặp khó khăn về nói sẽ rất khó khăn để bày tỏ rõ ràng và trọn vẹn nhu cầu, mong muốn hay tâm tư, tình cảm của trẻ với bạn bè, điều này gây khó khan trong

Trang 35

giao tiếp và tương tác trực tiếp với bạn bè Thêm một yếu tố có nhiều khả năng xảy ra và vô cùng quan trọng là trẻ 6-7 tuổi còn rất vô tư, chúng bạn rất thoải mái đưa ra những lời trêu ghẹo khiến trẻ mất tự tin và tổn thương Do đó, trẻ càng nhút nhát, tự ti, tránh né dùng ngôn ngữ nói để giao tiếp và rõ ràng như vậy, trẻ càng mất đi cơ hội rèn luyện, luyện tập để cải thiện độ lưu loát, cải thiện vấn đề khó khan trong việc nói của trẻ

Từ các yếu tố trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự tác động không nhỏ của thầy cô và bạn bè đến trẻ Luôn luôn tồn tại hai mặt của vấn đề, thầy cô, bạn bè có thể giúp trẻ cải thiện độ lưu loát của lời nói rất rất nhiều nếu chịu khó chờ đợi, động viên và giúp đỡ trẻ nhưng ngược lại các yếu tố trong trường học hoàn toàn có thể khiến tình trạng của trẻ trở nên trầm trọng hơn

1.2.5 Các hướng tiếp cận trong việc xây dựng biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói

Qua quá trình tìm hiểu và hồi cứu tài liệu, chúng tôi nhận thấy có 2 hướng tiếp cận chính trong việc xây dựng các biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói: tiếp cận theo hướng trị liệu và tiếp cận theo hướng giáo dục

Tiếp cận theo hướng trị liệu ngôn ngữ và lời nói:

Tiếp cận theo hướng trị liệu nghĩa là các nhà trị liệu thực hiện các tác động trực tiếp đến đối tượng cần trị liệu mà cụ thể ở đây là trẻ có khó khăn về nói, thực hiện tương tác trực tiếp với đối tượng thông qua rất nhiều các bài tập, thực hành có thể sử dụng những dụng cụ chuyên dùng trong trị liệu… nhằm thay đổi trẻ và trở nên hoàn thiện hơn Ví dụ như các trị liệu ngôn ngữ, trị liệu vận động, trị liệu tâm lí, trị liệu bằng nước, trị liệu bằng âm nhạc… trong các hoạt động trị liệu, các nhà trị liệu hướng đến việc thay đổi hành động, cung cấp cách thức, kỹ năng cho trẻ để trẻ trực tiếp thao tác

Trang 36

Tiếp cận theo hướng trị liệu có các biện pháp như: Hình thành sự tự tin cho trẻ, nâng cao sự tự nhận thức bản thân, sử dụng kỹ thuật Demosthenes, kiểm soát các nhóm cơ, phương pháp nghiên cứu của Dean William…

Tiếp cận theo Giáo dục đặc biệt:

Với cách tiếp cận giáo dục đặc biệt, nhà giáo dục thông qua các hoạt động học tập, cung cấp kiến thức nhằm thay đổi nhận thức, quan điểm, hình thành các kỹ năng từ bên trong giúp trẻ càng ngày càng hoàn thiện bản thân Tiếp cận theo hướng giáo dục thường cần một thời gian dài và thường sử dụng các biện pháp như: biện pháp xây dựng môi trường trường học thân thiện, biện pháp xây dựng vòng tay bạn bè, biện pháp dạy học cá nhân, biên pháp khen thưởng động viên

Mỗi nhà nghiên cứu ở mỗi lĩnh vực khác nhau đều đưa ra các quan điểm

và cách nhìn khác nhau về tật nói lắp, tuy nhiên có rất nhiều nhà nghiên cứu

Trang 37

cùng đề cập đến các yếu tố tâm lí, yếu tố thể chất thể hiện ở bộ máy các cơ quan phát âm, các yếu tố liên quan đến việc kiểm soát hơi thở hay các nhóm cơ… Nhằm xây dựng các chương trình trị liệu, chương trình giáo dục nhằm cải thiện, sủa chữa tật nói lắp cho trẻ

Các nhà nghiên cứu tuỳ theo đặc trưng từ chuyên ngành mà họ nghiên cứu mà đưa ra các cách điều trị khác nhau, tuy nhiên nổi bật hơn cả cho tới thời điểm hiện tại vẫn là nhóm những biện pháp trị liệu kết hợp với hỗ trợ tâm

lí và giáo dục để giúp trẻ hồi phục Việc trị liệu có thể diễn ra ở trường học hoặc tại Gia đình nhưng nhìn chung các chương trình trị liệu tại nhà vẫn đang được ưa chuộng hơn cả, vì vậy chúng ta cần nghiên cứu và đẩy mạnh thực hiện các biện pháp trong nhà trường để hỗ trợ cải thiện độ lưu loát cho trẻ

Trang 38

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ĐỘ LƯU LOÁT LỜI NÓI CỦA TRẺ 6-7 TUỔI VÀ CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐỘ LƯU

LOÁT LỜI NÓI CHO TRẺ 2.1 Mô tả về khảo sát

2.1.1 Mục đích

Nghiên cứu thực tế các trường hợp trẻ 6-7 tuổi mất lưu loát lời nói và tìm hiểu thực trạng của việc dạy học cho trẻ có khó khăn về nói 6-7 tuổi và mức độ kém lưu loát của trẻ nhằm có thêm cứ liệu thực tế cho việc xây dựng và thử nghiệm các biện pháp cải thiện độ lưu loát cho trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói

2.1.2 Nội dung

- Khảo sát chung học sinh trong lớp về độ lưu loát lời nói

- Khảo sát cá nhân trẻ có khó khăn về nói

- Khảo sát thực tế dạy học và hỗ trợ cá nhân cho những trẻ có khó khăn

về nói trong lớp học và trong trường học

2.1.3 Phương pháp khảo sát

Đo nghiệm độ lưu loát lời nói

Phương pháp đo nghiệm độ lưu loát lời nói áp dụng trong khảo sát thực tiễn ở lớp hòa nhập học sinh 6-7 tuổi có khó về nói và trong đánh giá sự tiến

bộ trong cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp thực nghiệm sư phạm Theo Bài giảng & giáo trình trị liệu nói lắp của Đại học Newcastle sử dụng ở khóa đào tạo thạc sĩ về Trị liệu ngôn ngữ tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc

Thạch (2015), độ lưu loát lời nói được đo nghiệm theo 3 thông số: 1) Tỉ lệ lỗi

lặp (Percentage of syllables stuttered / % SS) tính bằng tỉ lệ % âm tiết nói lắp

trên tổng số âm tiết nói ra; 2) Tốc độ nói (Syllables per minute / SPM) tính

bằng mức trung bình số âm tiết nói ra trên một phút; và 3) Mức độ tự nhiên

Trang 39

của lời nói (Speech naturalness / NAT), tính theo thang từ mức 1 = tự nhiên

nhất đến mức 9 = kém tự nhiên nhất

Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các biện pháp khác như sau:

- Quan sát lớp học về mức độ giao tiếp và ứng xử của giáo viên, của bạn

bè với trẻ

- Phỏng vấn giáo viên và phụ huynh nhằm tìm hiểu nguyên nhân và hướng khắc phục

2.1.4 Mẫu khảo sát:

- 30 học sinh 6-7 tuổi ở 3 lớp khác nhau

- 3 học sinh mất lưu loát lời nói

- 3 phụ huynh của trẻ mất lưu loát lời nói

- 5 giáo viên dạy trẻ 6-7 tuổi trong đó có trẻ mất lưu loát lời nói

2.1.5 Bộ công cụ và xử lí dữ liệu:

- Truyện “ba chú lợn con”

- Đồng hồ bấm giờ

- Máy ghi âm

- Mẫu phiếu quan sát các tiết học

- Mẫu phiếu phỏng vấn giáo viên

- Mẫu phiếu phỏng vấn phụ huynh

- Xử lí mô tả định tính

- Xử lí mô tả định lượng bằng

2.1.6 Địa điểm khảo sát và cách tiến hành:

- Địa điểm: Khảo sát và thực nghiệm được tiến hành tại trường tiểu học

Nhựt Tân trên địa bàn quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh Đây là một trong số ít các trường tiểu học tư thục hiếm hoi hỗ trợ học tập cho học sinh hoà nhập, hỗ

Trang 40

trợ các khó khăn về đọc viết, khó khăn về nói tại trường học mà có sự tham gia thường trực của các giáo viên giáo dục đặc biệt

Tiến hành cách lấy mẫu lời nói của trẻ trong khoảng thời gian 3 phút trẻ

kể lại một câu chuyện cho người khác (Nghe CD đính kèm)

Tiến hành quan sát trẻ trong các tiết học tại lớp học

2.2 Kết quả thực trạng

2.2.1 Độ lưu loát lời nói của trẻ 6-7 tuổi

Để đo độ lưu loát lời nói của trẻ, trong khảo sát này, chúng tôi tiến hành lấy mẫu lời nói của trẻ trong khoảng thời gian 3 phút mỗi trẻ Trẻ được nghe

kể một câu chuyện quen thuộc trước đó và được yêu cầu kể lại câu chuyện đó Quá trình lấy mẫu lời nói được tiến hành tại môi trường quen thuộc và thoải mái, tại phòng chơi với bạn bè thân quen để hạn chế các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tập trung, tâm lí hoặc các yếu tố khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của thử nghiệm

Để tìm hiểu được điểm chung trong kết quả thực trạng nghiên cứu toàn mẫu chúng tôi sử dụng công thức tính theo điểm trung bình đối với những câu hỏi phải lựa chọn một trong ba mức độ Công thức tính giá trị trung bình:

n : là số khách thể

X1i : là tổng số điểm

Ngày đăng: 02/04/2017, 13:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo – Dự án phát triển giáo viên tiểu học (2006). Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở tiểu học (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở tiểu học (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo – Dự án phát triển giáo viên tiểu học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
2. Trịnh Thị Hà Bắc (2013), Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, Tài liệu hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em
Tác giả: Trịnh Thị Hà Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2013
4. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2000). Dẫn luận Ngôn ngữ học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
6. Tương Thị Khánh Hà (2013), Giáo trình tâm lý học phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học phát triển
Tác giả: Tương Thị Khánh Hà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
9. Nguyễn Xuân Hải (2009), Giáo dục học trẻ khuyết tật, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học trẻ khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Xuân Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2009
10. Nguyễn Xuân Hải (2009), Quản lý trường lớp dạy trẻ có nhu cầu đặc biệt, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trường lớp dạy trẻ có nhu cầu đặc biệt
Tác giả: Nguyễn Xuân Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
11. Nguyễn Kế Hào (Chủ biên) (2009). Giáo trình Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí "học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
12. Vũ Thị Bích Hạnh, Đặng Thị Thái Hương (2010), Thực hành Âm ngữ trị liệu. NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Âm ngữ trị liệu
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh, Đặng Thị Thái Hương
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2010
14. Nguyễn Thị Kim Hiền (2008). Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hiền
Năm: 2008
17. Bùi Thế Hợp, Lê Thị Tố Uyên (2013), Phương pháp hướng dẫn và hỗ trợ học sinh khó khăn về ngôn ngữ, giao tiếp, Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí, giáo viên về giáo dục hòa nhập trong trường trung học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp hướng dẫn và hỗ trợ học sinh khó khăn về ngôn ngữ, giao tiếp
Tác giả: Bùi Thế Hợp, Lê Thị Tố Uyên
Năm: 2013
18. Nguyễn Công Khanh (2000), Tâm lý trị liệu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trị liệu
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
21. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
24. Trần Thị Lệ Thu (2003), Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ
Tác giả: Trần Thị Lệ Thu
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
25. Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đỗ Thị Thảo (H.2010). Giáo trình Đại cương giáo dục trẻ KTTT .NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đại cương giáo dục trẻ KTTT
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
26. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2012). Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản. NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2012
28. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Trung tâm Giáo dục trẻ có tật, Nội dung phương pháp giáo dục trẻ tật ngôn ngữ, Tài liệu huấn luyện giáo viên, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung phương pháp giáo dục trẻ tật ngôn ngữ
29. Jonathan Levy, Những việc bạn có thể thực hành ngay để giúp con, tài liệu thực hành tham khảo, 10 kỹ năng công hiệu để giúp con hòa nhập tốt và lâu dài.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những việc bạn có thể thực hành ngay để giúp con", tài liệu thực hành tham khảo, 10 kỹ năng công hiệu để giúp con hòa nhập tốt và lâu dài
31. David Ward, Stuttering and cluttering – frameworks for understanding and treatment, Psychology Press, 27 Church Road, Hove, East Sussex BN3 2FA, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stuttering and cluttering – frameworks for understanding and treatment
32. Fraser Malcom, Self - therapy for the stutter, Stuttering Foundation, 2002 33. Fluency Disorders by Kenneth Logan. Published by PluralPublishing, San Diego (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Self - therapy for the stutter, "Stuttering Foundation, 2002 33. "Fluency Disorders
34. Kehoe, Thomas David, Overcoming stuttering in 6 months, a multifactorial guide to speech therapy, Casa Futara Technologies, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overcoming stuttering in 6 months, a multifactorial guide to speech therapy

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng độ lưu loát trong lời nói - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 2.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng độ lưu loát trong lời nói (Trang 41)
Bảng 2.2. Kết quả phân chia mức độ tốc độ nói ở trẻ 6 -7 tuổi - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 2.2. Kết quả phân chia mức độ tốc độ nói ở trẻ 6 -7 tuổi (Trang 43)
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát mức  độ tự nhiên của lời nói (NAT) - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát mức độ tự nhiên của lời nói (NAT) (Trang 45)
Bảng 3.1: Các chỉ số mức độ lưu loát lời nói của 3 trường hợp trước thực - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 3.1 Các chỉ số mức độ lưu loát lời nói của 3 trường hợp trước thực (Trang 69)
Bảng 3.2. Chỉ số tốc độ nói qua quá trình thực nghiệm - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 3.2. Chỉ số tốc độ nói qua quá trình thực nghiệm (Trang 70)
Bảng 3.3. Tỉ lệ % lỗi lặp qua quá trình thực nghiệm - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 3.3. Tỉ lệ % lỗi lặp qua quá trình thực nghiệm (Trang 71)
Bảng 3.4. Chỉ số mức độ tự nhiên của lời nói qua thực nghiệm - Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Bảng 3.4. Chỉ số mức độ tự nhiên của lời nói qua thực nghiệm (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w